
posted: 29.1.2006
|
“Năm nay sẽ về nhà ăn Tết !”. Kể từ đã mấy mươi năm xa quê,
câu nói ấy hầu như hàng năm được tôi lặp lại, mỗi khi những ngày cuối
của tháng 12 bên ni dương lịch lụn dần, theo với mùa tuyết đổ, rồi
cũng theo với trận gió thổi tuyết tan bất ngờ, cảm giác mơ hồ như có
ai đến sau lưng gõ nhẹ trên vai nhắc nhở rằng bên nớ năm tháng âm lịch
cũng đang nghiêng mau, Tết nay mai sắp đến. Có khi tôi nói câu ấy âm thầm,
như căn dặn với mình hay như vỗ về một cái tôi tưởng đã mất hút
trong vô thức hồi nào đang lửng thửng trở về
từ một nẻo rất xa, mà hình như nẻo xa ấy chính là con đường
đã đi những ngày Tết của tuổi thơ. Có khi tôi nói câu ấy như một lời
bâng quơ, ai nghe được thì nghe, có khi câu ấy bỗng trở thành như một lời
tuyên bố công khai quả quyết rằng, việc về nhà ăn Tết của tôi là
nghiêm trang cần phải thực hiện cho bằng được. Ấy vậy mà những mấy
mươi năm đã trôi qua, nhiều lần trở về quê, trong năm có khi hai lần,
tôi vẫn vụng về tính ngày tháng làm sao mà cứ hụt hoài cái Tết, đến
nỗi chưa được ăn “nó” một lần ở nhà.
Nói ra thì mọi chuyện đều lơ mơ, chẳng có cái chi là xác
quyết, đến nỗi đã nhiều chuyến định về ăn Tết hóa ra một nửa chừng
xuân, trở thành chuyện nực cười cho thiên hạ và cả cho người thân. Mơ
hồ lắm! mà quả thật là mơ hồ chỉ nội cái chữ “về nhà ăn tết”
ấy. Con tôi sẽ bảo “thì nhà mạ ở Muenchen đây nì”, ăn Tết ở đây
cũng là ăn Tết ở nhà, chơ có đi mô xa, nhưng rồi chính con đọc thấy
trong mắt mẹ một nỗi ngờ, e chữ “nhà” ấy tuồng như là một cưỡng
bách, vì nó chỉ đúng với mẹ một phần, phần bên kia đại dương cũng
là nhà mẹ, dù bao nhiêu người thân đã ra đi. Cứ thế “cái nhà” treo
lơ lửng lưng chừng, đến nỗi lắm chuyến về ăn Tết thành ra dở dang…cũng
vì cái nhà nọ níu kéo cái nhà kia…mà thành ra lỡ chuyện. Cái nhà đã lơ lửng thinh không…
thì “ăn Tết” ở đâu mới là nhà? Hay “ăn Tết” chỉ là một thứ mộng
triệu, một ước mơ của những người xa quê?
Thật tình, hai chữ “ăn Tết” hình
như đối với người xa quê có một điều chi lạ lùng, hai chữ ấy không
phải đơn giản chỉ là “ăn” như ăn cơm, ăn kẹo, ăn bánh.., một khi
ăn xong, thưởng thức xong, được no, được thỏa là có thể quên, bụng
dạ và đầu óc thảnh thơi có thể nghĩ đến những bận bịu bổn phận
này hay công danh khác. Chúng cũng không có nghĩa bóng của những thứ ăn tạp
kiểu ăn gian, ăn tham như ăn hối lộ, ăn bớt, ăn xén, ăn vụng...ăn xong
là phải dấu diếm hoặc phải xấu hổ, hay đi sám hối vì cảm thấy tội
lỗi đã lỡ phạm vào những cuộc ăn như thế (có người sẽ mĩm cười
nói thời kinh tế thị trường này ai có thì giờ đi sám hối, nhưng…đó
cũng chỉ là chuyện kinh tế thị trường! ). Ở mỗi thứ ăn nói trên, đối
tượng ăn cụ thể, được định hình bằng hiện vật rõ ràng, dù phẩm
chất ăn khác xa nhau một trời một vực, trong lúc hai chữ ăn Tết đối với
người xa quê thường có những âm vang bí nhiệm kêu gọi một sự quay về,
một hồi hướng hầu như không thể gọi được gọn ghẽ một tên chính
xác, bởi vì chúng nói lên nhiều thứ, nhiều điều, đến nỗi nếu ta thử
nói lên một điều nào là lập tức đã thấy thiếu điều kia, vừa kể
xong điều này là đã thấy ngay chưa vừa, chưa đủ điều nọ... cho nên...mới
gọi là ăn...Tết : ăn cả một cái Tết nhưng ăn gì nơi cái Tết ấy? Chữ
Tết nghe như nhiều, nhiều lắm, nhiều đến “ăn” không hết mà lại
“ăn” mấy cũng chưa vừa cho những kẻ xa quê, nó vượt lên trên mọi
thứ “ăn” thường tục để đến nỗi có thể trở thành thiêng liêng
như một thứ đi mà chưa đến, một kiểu hành hương... Dĩ nhiên mỗi khi xuân về Tết đến,
người xa quê nào cũng ráng “ăn một cái tết” ra hồn ngay trên mảnh đất
tha phương mà mình đang sống, dù ở nơi hẻo lánh hay nơi chốn phồn hoa tấp
nập, dù trong trại tị nạn, ngay cả trong ngục tù, trong căn phòng chật
chội hay trong căn nhà rộng lớn, một mình hay với bạn bè đồng hương,
lắm khi đầy đủ lễ nghi rình rang còn hơn ở quê nhà, cũng chợ hoa,
cũng thiệp chúc Tết tưng bừng, cũng hội chợ ngày xuân, có khi cả bài
chòi bài tới, bầu cua cá cọp…. Và họ có thể ăn lu bu, ăn kỹ lưỡng,
ăn đến nơi, đến chốn, cái gọi là “cliché” ngày Tết, đại khái như
“thịt mỡ, dưa hành,...bánh chưng xanh”, và lắm khi cũng “ăn” luôn những
“câu đối đỏ” , “nêu cao” ngất nghểu, “pháo nổ” dòn dã nơi những
góc trời xa ngái Mỹ Âu. Chẳng thiếu
một thứ nào trong những buổi chơi xuân, đón Tết ở quê người. Ấy vậy
mà sao nghe như có một điều chi chưa trọn, chưa tròn, chưa tự nhiên, chưa
thật, đến nỗi mỗi khi tiệc tan, trên đường về…sau tiếng cười hầu
như còn đọng lại một điều chi nghẹn ngào trong cổ, có lẽ một tiếng
nấc chưa thành hay một thứ gai lạnh làm rùng mình, chợt tĩnh về nỗi cô
đơn trong những ngày đầu xuân… người
xa quê bỗng càng nhớ Tết…Mỗi cái Tết xa quê
trở nên một cái “bồng binh” dồn nỗi nhớ Tết quê hương… Xin đừng hỏi nhớ điều chi nơi Tết
quê hương ấy. Một nhánh mai? Vị mứt gừng cay lưỡi trong cơn lạnh mưa
xuân, hoa hải đường trước sân hay cành đào trước ngõ? Đòn bánh chưng
bánh tét thơm mùi nếp mới? Hay nhớ tuổi thanh xuân? Hay tiếng chào năm mới?
Tết là một tiếng vọng từ trong lòng đất sinh thành thoát ra, chập chờn
như một nhắc nhở quay về của người xa quê. Có lẽ tính vô thường của
thời gian, sự đổi thay cũ mới, sự hóa nhập từ đông sang xuân sẽ dễ
dàng được chịu đựng, được cảm nhận vẹn toàn, được cảm khái
hoan hỉ khi chúng xảy ra chính trong không gian sống của con người, bứng
ra nơi khác, vô thường hóa ra cô đơn, cũ mới trở nên khắc khoải, và
mùa xuân hiển hiện lại làm cho kẻ tha hương càng thấy như mình đang ngồi
bên vệ đường trông ngóng xuân sang mà chưa có lần nhập cuộc. Đáng thương là sự ngóng xuân nơi đất
khách ấy, nhất là những kẻ lẻ loi- mà ai không một lần lẻ loi trong
khi lênh đênh trên đất khách?
Mỗi khi xuân về tết đến, làm người
khách lạ nơi chốn lạ thật khó làm sao! Những lúc ấy thấy thương thân
mình gấp bội và nỗi ao ước “năm sau về nhà ăn Tết” trở thành một hối thúc tự nhiên, bỏ
vào cái bồng binh năm tháng, nhốt nó lại nhiều năm cho đến khi thành hai
câu đối dán lên trên cột ba ngày Tết, đóng đinh nỗi nhớ xuân quê, mà
cụ nghè Chu Mạnh Trinh có lần đã viết cho một người khách lưu lạc:
Bao nhiêu năm ấm ức nó có thể trở
thành tâm bệnh. Cho nên phải đập vỡ bồng binh dồn và nhốt nhớ Tết
quê hương, tôi khăn gói lên đường tìm về cái Tết nhớ mấy mươi năm.
Cuộc đi còn chưa đến…Tết chưa về, bỗng nhiên ngập ngừng trong dòng
người ào ạt như thác đổ nơi thành phố một thời là hòn ngọc viễn
đông, tự hỏi mình đi VỀ đâu? Có phải Tết năm nay là cái Tết ở
nhà? Câu trả lời nghe xa, như tôi đang
thấy mình còn lạ. Chỉ biết một điều, tôi sẽ trở
về dòng sông ấy, ngắm núi mùa xuân trong lòng sông, thả con thuyền buộc
mối tình nhà về bến, để trả lời một câu thơ hầu như là định mệnh
của kẻ tha hương : “Xuân lai giang thượng kỷ nhân hoàn” (Xuân tới
trên sông đã mấy người trở về) rằng đã có người ĐANG về…ăn… Tết. Huế 09.01.2006
|
In ra @
© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: