
Người Hà-Nội Tôi sinh ra ở Hà-Nội, nhưng hiện sống
ở nước ngoài. Tôi là một cư sĩ Phật
Giáo, đúng vậy, vì trên hình thức, tôi đã quy y Tam Bảo, nhưng vốn liếng
của tôi về Phật Giáo chỉ vừa đủ dùng cho tôi, vừa đủ thôi chứ
không nhiều, không ít, chẳng thừa mà cũng chẳng thiếu. Vì bận rộn với công việc làm ăn, kể cả
làm “việc Chùa”, cho nên tôi không có nhiều thì giờ rảnh rỗi. Thỉnh thoảng tôi mới có dịp ghé thăm,
hoặc trang nhà Phật Giáo như Đạo Phật Ngày Nay (Buddhismtoday.com), hoặc Quảng
Đức (Quangduc.com), hoặc Thư Viện Hoa Sen (thuvienhoasen.org), hoặc Buddhasasana
(Budsas.org) v..v.. để tìm hiểu và học hỏi thêm về Đạo Phật. Gần đây, vào trang nhà Đạo Phật Ngày
Nay, tôi có đọc bài “Về bài giảng "Giáo đoàn Tỳ kheo-Ni và Bát
Kỉnh Pháp”” và 2 bài “Nói
Thêm Về Các Ngụy Biện Của Nhóm Pháp Thoại” của Tỳ Kheo Thích Phước
Huệ. Từ đó tôi tìm hiểu vấn đề
và đọc thêm trên phapthoai.net thì được biết là bài giảng về "Giáo
đoàn Tỳ kheo-Ni và Bát Kỉnh Pháp” của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã
gây nên một sự chống đối trên trang nhà phapthoai.net. Tôi nói là chống đối chứ không phải
là một cuộc thảo luận trí thức để cùng nhau tìm hiểu lẽ thật qua
tinh thần “Kiến hòa đồng giải” và “Ý hòa đồng duyệt” trong Lục
Hòa của Phật Giáo. Vì vậy, không ngại
ngùng vì chỉ là một cư sĩ thấp kém, tôi xin phép được góp vài ý kiến,
dựa trên sự hiểu biết rất giới hạn của tôi về Kinh Điển Phật Giáo. Thật ra, đọc mấy bài của Tỳ Kheo
Thích Phước Huệ cũng đủ để cho chúng ta nhận định rõ vấn đề và
thực chất bài giảng của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ cũng như thực chất của
phapthoai.net. Nhưng tôi vẫn cảm thấy
thiếu một tiếng nói của cư sĩ. Viết
bài này, tôi không dám gửi đến các trang nhà Buddhismtoday.com hay
phapthoai.net vì tôi tin rằng các trang nhà đó sẽ không đăng. Các quý thầy thường không coi tiếng nói
của cư sĩ vào đâu, vì nam cư sĩ ngày nay đã trở thành hàng thấp kém nhất
trong Tứ Chúng, dưới cả Ưu Bà Di.. Chẳng
vậy mà có một quý thầy viết trên phapthoai.net dưới tên anhsangbinhminh đã
phán: “Nếu là 1 cư sĩ họ không biết gì về giới luật họ chỉ nghe
nói mà họ lên tiếng thì chúng tôi không có đề cập, cho dù có đề cập
với vị cư sĩ đó cũng vô ích mà thôi.” Biết
là vô ích, nhưng vô cũng là hữu, cho nên tôi chỉ còn nước đánh liều gửi
bài cho trang nhà Giao Điểm [giaodiem.com], may ra Giao Điểm có mở lượng hải
hà cho đăng chăng, vì bài viết này không phải chỉ vì nghe nói mà lên tiếng,
mà thật ra tôi cũng biết chút ít về giới luật, vừa đủ để dùng cho
mình thôi. Trước khi đi vào phần góp ý kiến,
tôi nghĩ rằng tôi cần phải tự nhắc lại để khỏi quên [tôi nghĩ, chắc
nhiều người cũng đã quên] vài điều
căn bản trong Phật Giáo mà tôi tin rằng không ai trong chúng ta có thể phủ
nhận. Thứ nhất là Kinh Phật thuyết cho người
dân Kalama. Đây là một Kinh rất quen
thuộc trong Phật Giáo. Quý độc giả
có thể tìm đọc Kinh này trong hầu hết các cuốn sách viết về Kinh Điển
Phật Giáo. Tỳ Kheo Thích Nhật Từ cũng
viết Kinh này dưới tên Nền Tảng Đức Tin trong cuốn Kinh Tụng Hằng Ngày, Đạo Phật Ngày
Nay, Phật Lịch 2546, trang 98-99, trong đó có những điều đặc biệt sau đây: -
Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ
vì điều đó thuộc về truyền thống. -
Bốn
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong
kinh điển hay sách vở. -
Bảy
là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên
những dữ kiện hời hợt. -
Tám
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định
kiến của mình. -
Mười
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền
giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết. Thứ nhì, tôi cũng còn nhớ đã đọc
là chính Đức Phật đã nói: ““Đừng vì
lòng tôn kính mà chấp nhận những giáo lý của Ta, mà trước hết hãy thử
những giáo lý đó như người thợ vàng thử vàng vậy.” Thứ ba, Kinh điển Phật Giáo, nhất
là Luật Tạng, đã cho thấy rõ là: “Nguyên
thủy, Đức Phật không đưa ra một luật nào.
Khi Tăng đoàn trở nên lớn thì có nhiều vấn đề xảy ra,
trong nội bộ Tăng đoàn cũng như trong khi Tăng thực hành hạnh tu của
mình. Cho nên giới luật mà Đức Phật
đưa ra hầu hết là để giải quyết những khó khăn gặp phải khi Đức
Phật còn tại thế, trong xã hội và trong Tăng Đoàn của Đức Phật thời
đó. Đức Phật cũng có nói: “Về
sau những tiểu luật không còn thích hợp thì phải bỏ.” [Trên thực tế, nhìn quanh chúng ta thấy
ngày nay “người ta” đã bỏ đi rất nhiều luật của Đức Phật rồi,
chẳng phải chỉ là tiểu luật mà cả đại luật nữa] Và cuối cùng, đây là diểm quan trọng
nhất: Đức Phật không hề viết một
chữ. Các Kinh sách chỉ xuất hiện sau
khi Đức Phật đã tịch diệt nhiều trăm năm và sau nhiều lần kết tập
để ôn lại những lời Phật dạy. Do
đó, thật là ngây thơ nếu chúng ta
cho rằng Kinh điển Phật Giáo mà chúng ta có ngày nay hoàn toàn không có
gì sai lầm hay không có gì mâu thuẫn vì trải qua hơn 2500 năm con người có
rất nhiều cơ hội để cho những điều này xảy ra. Lẽ dĩ nhiên, những thêm thắt sai lầm hay
mâu thuẫn không phải là của Đức Phật. Điều
mà các học giả nghiên cứu về Phật Giáo ngày nay không còn nghi ngờ gì
nữa là: “Một số điều trong Luật
Tạng – bao gồm một số Luật – không thể được coi là chính những lời
của Phật dạy, mà được thêm thắt vào sau này.
Những sự thêm thắt này không chỉ giới hạn trong Luật Tạng,
mà còn thấy trong các Kinh điển khác.” Tỳ
kheo Sangharakshita có viết đoạn trên trong cuốn Who Is The Buddha?,
Barnes & Noble Books, New York, 2003, trang 90: “As
far as modern scholars can discern, some of the material in the Vinaya – and this
includes some of the rules – cannot be counted as literally the actual word of the
Buddha, but was added later by disciples. This
later incorporation of extra material is not unique to the Vinaya, incidentally, but
applies to practically all branches of the Scriptures.” Tỳ kheo Sangharakshita là tác giả của nhiều
cuốn sách rất có giá trị về Phật Giáo và đã thuyết giảng về Phật
Giáo ở nhiều nơi trong 50 năm qua. Từ
1964, Ngài là một khuôn mặt lớn trong nỗ lực diễn giảng truyền thống
Phật Giáo cho Tây Phương (Since 1964, he has been a major figure in the effort to interpret Buddhist tradition for
the West.) Với vài điều căn bản trên, nay
chúng ta có thể đi vào bài giảng về "Giáo đoàn Tỳ kheo-Ni và Bát
Kỉnh Pháp” của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ và tìm hiểu tại sao bài giảng
đó lại gây ra sự chống đối trên trang nhà phapthoai.net. Đọc kỹ bài giảng và những luận cứ chống
đối, tôi thấy nguyên nhân của sự chống đối là sự bất khả tương hợp
trong vấn đề tin và hiểu Phật Pháp, hay nói đúng hơn, trong lãnh vực học
thuật và tín ngưỡng. Được đào tạo
trong môi trường đại học, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ tất nhiên quen thuộc
với vấn đề học thuật (scholarship) trong giới trí thức khoa bảng mà những
điều căn bản trong học thuật là nghiên cứu, phân tích để tìm ra lẽ
thật trong sự lương thiện trí thức. Vấn
đề nghiên cứu một cổ Kinh của Phật Giáo, thí dụ như Bát Kỉnh Pháp, trong lãnh vực học thuật, không thể chỉ
đặt trên tiền đề đó là Kinh Phật nên chỉ cần hiểu được ý nghĩa, mà còn phải xét trên nhiều phương diện
khác, thí dụ như: ngữ pháp Đức Phật thường dùng, bối cảnh xã hội
trong thời Đức Phật còn tại thế, trường hợp thuyết Kinh và đặt
trong toàn bộ tư tưởng thuyết giảng của Đức Phật xem có sự mâu thuẫn
nào không, rồi mới có thể đưa ra một kết luận. Trong nhiều trường hợp, những kết luận
trong học thuật có thể gây nên những cú “sốc” trong đại chúng, hay
ngay cả trong tôn giáo của mình, trong lớp người không ở trong lãnh vực
học thuật. Cũng vì vậy, bài giảng của
Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã gây nên một
cú “sốc” trên trang nhà phapthoai.net. Đây là vấn đề rất thường xảy
ra trong thế giới Âu Mỹ. Tôi xin lấy
một thí dụ. Trước sự tiến bộ trí
thức của nhân loại, Giáo Hoàng Công Giáo John Paul II đã phải lên tiếng
tuyên bố là không làm gì có thiên đường trên các tầng mây, cũng như không
làm gì có hỏa ngục dưới lòng đất. Ngài
cũng đã chính thức lên tiếng công nhận thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ
trụ, và thuyết Tiến Hóa về nguồn gốc con người. Điều này không gây nên phản ứng gì
trong giới trí thức và hầu hết trong các cấp lãnh đạo Công Giáo. Nhưng đối với đa số tín đồ Ki Tô
Giáo nói chung thì những lời tuyên bố trên là một cú “sốc” nặng cho
họ, nhất là đối với Tin Lành, vì Tin Lành tin rằng cuốn Thánh Kinh là
những lời của Thượng đế nên không thể sai lầm. Một thí dụ khác: Hội Jesus Seminar gồm trên trăm tu sĩ, học
giả Ki-Tô đã mang Tân Ước ra nghiên cứu, phân tích v..v.. và đưa ra kết
luận: “Hơn 80% những lời mà chúng
ta tin là của Giê-su nói thật ra không phải là của Giê-su”. Điều này cũng không gây phản ứng gì
trong giới trí thức nhưng cũng gây ra một làn sóng phẫn nộ trong nhiều cộng
đồng Ki-Tô. Cho nên, tôi không lấy gì làm lạ khi
trang nhà phapthoai.net có những phản ứng chống đối, chống đối với nhiều
văn phong không thể gọi là Pháp Thoại, và lẽ dĩ nhiên không thuộc lãnh
vực học thuật. Để cho vấn đề
được rõ ràng, tôi xin phép được trích dẫn vài đoạn trong bài giảng của
Tỳ Kheo Thích Nhật Từ cũng như vài “luận cứ” chống đối. Trước hết là đoạn sau đây trong
bài giảng: Đề tài sự thiết lập Ni đoàn Phật
giáo và Bát kỉnh pháp khá hấp dẫn. Hấp dẫn vì nó đề cập đến một
số vấn đề gây tranh luận về học thuật giữa các trường phái
Phật giáo và nó tạo ra rất nhiều tiền đề của nghị sự. Khi đề cập
đến đề tài nay thì chúng tôi cố gắng trình bày một cách rất là
khách quan, không hề có dụng ý là bài bác các quan điểm trước đây, lại
càng không có dụng ý ủng hộ Ni giới, mà chỉ phân tích một vấn đề
đặt ra trong nền tảng của lịch sử với nhiều vấn nạn mà chúng tôi
cho rằng, nếu chúng ta không dám mạnh dạng đặt ra thì sự bất lợi cho
Phật giáo nói chung là chúng ta không thể tránh khỏi. Đặt vấn đề
đó trong một bối cảnh lớn hơn, quan trọng hơn thì chính tác giả của vấn
đề được gán cho đức Phật thì có thể tạo ra rất nhiều nỗi oan
trái ở trong cuộc đời này (3p:11s). Cho nên mạnh dạng nói, mạnh dạng
phân tích là một trong những cách thức mà chúng ta cần phải được mời
gọi. Sự đồng tình hay không là thuộc quan điểm của rất nhiều người.
Rất là khó tìm được tiếng nói đồng tình của Tăng bộ bởi vì Bát kỉnh
pháp dường như tạo ra nhiều ưu quyền cho Tăng chúng dữ lắm. Trong khi đó
khi trình bày đề tài này thì dĩ nhiên là Ni giới sẽ hoan hỉ hơn, vì họ
cảm thấy rằng mình được quan tâm. Các vấn đề trong lịch sử được
đặt lại, sự trình bày của chúng tôi không nằm trong chỗ là không ủng
hộ quý Thầy mà ủng hộ chư Ni, chuyện đó không có. Chỉ có con
đường duy nhất là ủng hộ Phật pháp thôi. Nói những gì cần nói
và nói một cách khách quan có cơ sở dữ liệu chứ không có nói theo cảm
tính. Tỳ Kheo Thích Nhật Từ đã khẳng định
rất rõ ràng mục đích của mình khi giảng bài "Giáo đoàn Tỳ
kheo-Ni và Bát Kỉnh Pháp”. Sau một
phần có thể nói là Dẫn Nhập điểm qua một số khía cạnh liên quan đến
xuất xứ của Bát Kỉnh Pháp [Xin quý độc giả đọc nguyên bản trong
trang nhà phapthoai.net do “AnhSangBinhMinh” ghi lại], Tỳ Kheo Thích Nhật Từ
đã đi vào từng điều một trong Bát Kỉnh Pháp, trước hết nêu lên những
luận cứ bảo vệ rồi đưa ra những
luận cứ phản biện với những lý luận rất chặt chẽ, phân tích rõ
ràng, để đi đến kết luận. Nếu đọc
kỹ, chúng ta thấy chủ đích của bài giảng này không gì khác hơn là đánh
giá đúng trí tuệ và vị thế của Đức Phật, cùng lúc trả lại công bằng
cho vai trò của Giáo Đoàn Ni trong Phật Giáo mà trong quá khứ đã không
được đánh giá đúng mức vì sự chấp chặt vào Bát Kỉnh Pháp, được
cho là do chính Đức Phật tuyên dạy. Đây
là một việc làm rất sáng suốt và cần thiết trong thời đại ngày nay
và cần phải có nhiều kiến thức Phật Giáo, nghị lực, và dũng cảm lắm
mới có thể làm nổi. Nhưng tiếc
thay, công việc đòi hỏi nhiều khả năng trí tuệ trong lãnh vực học thuật
này đã gây nên sóng gió trong một lãnh vực khác, và sự chống đối đã
nổi lên. Chỉ có điều, tất cả các
sự chống đối đều không đi vào những luận điểm của Tỳ Kheo Thích
Nhật Từ để thảo luận và tìm ra lẽ thật đúng sai, mà chỉ phản ảnh
cảm tính cá nhân, qua văn phong đáng lẽ không nên dùng, và qua sự hiểu
biết có vẻ khá thiếu sót về Phật Pháp. Tôi
cũng còn cho rằng, đa số những người chống đối bài giảng của Tỳ
Kheo Thích Nhật Từ có vẻ như hoặc là không đọc kỹ bài giảng của Tỳ
Kheo Thích Nhật Từ, hoặc là chưa đủ trình độ để “đối thoại” với
Tỳ Kheo Thích Nhật Từ trong lãnh vực học thuật. Cũng vì vậy mà đã có những lời lên án
Tỳ Kheo Thích Nhật Từ một cách hỗn hào có tính cách chụp mũ là: “Thầy
kết án đức Phật thiếu từ bi, thiếu trí tuệ như giọng điệu của những
kẻ ngoại đạo tà giáo.” Bây giờ, để thấy rõ vấn đề,
chúng ta hãy xét đến vài đoạn chống đối trên trang nhà phapthoai.net: 1. Của
TieuTang [Tiểu Tăng ?]: Thầy [Nhật Từ] quên rằng
ngữ cảnh của nữ giới khác với ngữ cảnh của nam giới chứ, vì chúng
lệ thuộc vào nghiệp lực ngữ cảnh của hai giới tính đó. Trên mặt
tánh, thì chúng bình đẳng nhưng trên mặt tướng thì chúng phải khác nhau
do nghiệp lực mà hiện thân tướng Thầy không hiểu điều này sao?
và đức Đạo sư cũng căn cứ vào tướng nghiệp của chúng sinh mà cho thuốc.
Vậy thì Bát kỉnh pháp chính là thuốc để đối trị với nghiệp mang
thân nữ của họ (sic). Có
lẽ Thầy không học về luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo Ni nên không nắm vững
được thâm ý của đức Đạo sư. Tại sao Luật tỳ-kheo đức Phật chế
ra 250 giới ngược lại luật Tỳ-kheo-ni đức Đạo sư lại chế ra 348 giới.
Sự khác biệt về giới tướng này đã nói lên được sự chính xác của
Phật trong vấn đề chế ra Bát kỉnh pháp (sic) và đó cũng chính
là lòng từ bi của đức Đạo sư đã thể hiện, trong khi theo lý luân của
Thầy vì sợ hãi thời đại khoa học, mà Thầy kết án (sic) đức
Phật thiếu từ bi, thiếu trí tuệ như giọng điệu của những kẻ ngoại
đạo tà giáo. Vì giới luật đức Phật luôn luôn căn cứ vào tướng
phạm của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo Ni để chế giới, chứ Ngài không bao
giờ chế giới trước khi đệ tử của mình phạm (sic). Vậy
giữa 250 giới và 348 giới là một sự cách biệt khá lớn (sic),
có lẽ Thầy không nhận thấy điều này, và cũng chính đều này đã
nói lên những nhận thức sai lầm què quặt thiếu hiểu biết của Thầy
là một điều đáng hổ thẹn cho một con người mang danh học vị tiến
sĩ. Thật ra Thầy có kiến thức rộng đó nhưng không có chiều sâu,
nên cẩn thận mà sống mà thể hiện kiến thức của mình. Thầy cứ nghĩ
rằng học vị Tiến sĩ của mình là nhất cho nên muốn nói sao thầy nói cũng
đúng được hay sao??!!! Có lẽ vì Thầy và quí sư cô trẻ thấy vấn
đề này đã lỗi thời vì thời gian, và trong hiện tại việc bình đẳng
nam nữ được mọi người trên thế gian các các ngoại đạo đang quan tâm
trên tòan thế giới và họ cố gắng xóa bỏ những qui luật trọng nam
khinh nữ bất công trong xã hội được chừng nào hay chừng đó, để mở
ra một trang sử mang bộ mặt khoa học tiến bộ và sợ đạo mình sẽ tụt
hậu, nên đã được Thầy đặt lại vấn đề có nên hay không nên bỏ
bát kỉnh pháp chăng? Điều rõ ràng là đây không phải là
tinh thần đối thoại trí thức, mà là “ám sát uy tín cá nhân”
[character assassination]. Do đó, tôi tin rằng
Tỳ Kheo Thích Nhật Từ sẽ không lên tiếng hồi đáp vì hai lý do: văn
phong không thích đáng, và kiến thức về giới luật chưa đủ trình độ. Để nhận rõ vấn đề, tôi xin mạn phép
quý Thầy và quý độc giả để phê bình vài câu trong đoạn trên, phê
bình về kiến thức Phật Giáo chứ không phê bình văn phong. Phải chăng Bát kỉnh pháp chính
là thuốc để đối trị với nghiệp mang thân nữ của họ? Đối trị như thế nào? Chính Đức Phật cũng từ thân nữ mà ra
chứ chẳng phải từ trên trời rớt xuống.
Tại sao đến thời buổi này mà còn có thể viết lên một
câu như vậy? TieuTang viết: Tại sao Luật
tỳ-kheo đức Phật chế ra 250 giới ngược lại luật Tỳ-kheo-ni đức Đạo
sư lại chế ra 348 giới?…. Vì giới luật đức Phật luôn luôn căn cứ vào
tướng phạm của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo Ni để chế giới, chứ Ngài không bao giờ chế giới trước khi
đệ tử của mình phạm ? Vậy
thì các nữ đệ tử của Đức Phật đã phạm 348 giới nên Đức Phật mới
phải chế ra 348 giới cho Tỳ Kheo Ni. Và
các nam đệ tử của Phật cũng đã phạm 250 giới cho nên Đức Phật mới
phải chế ra 250 giới cho Tỳ Kheo? Nhưng
thử hỏi trong bộ giới luật thì có bao nhiêu giới luật được chế ra
nguyên do vì phạm giới? Tôi xin hỏi,
Tieu Tang đã đọc kỹ bản giới luật cho Tỳ Kheo và cho Tỳ Kheo Ni chưa? Tôi tin rằng chưa. Này nhé, Giới luật thứ 51 trong 100 Giới
Học ngăn cấm Tỳ Kheo Ni không được đứng mà đại tiện hay tiểu tiện. Phải chăng Đức Phật thấy Tỳ Kheo Ni,
hay được báo cáo là Tỳ Kheo Ni, đã đứng mà đại tiện hay tiểu tiện
nên ra luật cấm này? Mà có thật
là Đức Phật đã chế ra 348 giới luật cho Tỳ Kheo Ni không? Theo bản dịch của Tỳ Kheo Thích Trí Quang
thì trong phần 100 Giới Học, từ Giới thứ 60 [Không được ngủ nghỉ
trong tháp Phật, trừ ra để coi giữ, phải học.] và những giới cấm
như sau: 74.- Không được đại tiện tiểu tiện nơi tháp Phật, phải học.
Thứ 75.- Không được hướng về tháp Phật mà đại tiện tiểu tiện, phải
học. Thứ 76.- Không được đại tiện tiểu tiện bốn phía tháp Phật để
hơi thối bay vào, phải học. Thứ 77.- Không được mang ảnh tượng của
Phật đến chỗ đại tiện tiểu tiện, phải học. Thứ 78.- Không được
ở nơi tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 79.- Không được hướng về
tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 80.- Không được bốn phía tháp
Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 81.- Không được nơi tháp Phật mà hỉ
mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 82.- Không được hướng về tháp Phật mà
hỉ mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 83.- Không được bốn phía tháp Phật
mà hỉ mũi khạc nhổ, phải học… đến Giới Thứ 84.- Không được ngồi
duỗi chân trước tháp Phật, phải học. đều liên quan đến “Tháp Phật”
hay “ảnh tượng” của Phật. Vậy
“Tháp Phật” và “ảnh tượng” của Phật là gì, có trong khi Phật
còn tại thế hay là sau khi Đức Phật đã tịch diệt? Vậy mà TieuTang dám phê phán Tỳ Kheo Thích
Nhật Từ là “Có lẽ Thầy không học về luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo
Ni nên không nắm vững được thâm ý của đức Đạo sư” và “nhận thức sai lầm què quặt thiếu
hiểu biết của Thầy là một điều đáng hổ thẹn cho một con người
mang danh học vị tiến sĩ.” Ai
sai lầm què quặt thiếu hiểu biết ở đây?
Chỉ có bộ Giới Luật của Tỳ Kheo Ni mà cũng chẳng đọc kỹ,
chẳng hiểu tác giả là những ai mà cũng tỏ vẻ cao ngạo chê bai người
có sở học chân truyền. Tôi tin chắc
Tỳ Kheo Thích Nhật Từ không thể không biết đến những mâu thuẫn và giới
cấm bất khả thi trong 348 giới cấm cho Tỳ Kheo Ni mà người ta thường
cho là chính Đức Phật đã tuyên dạy, khoan nói đến Bát Kỉnh Pháp.. Ai
muốn nghĩ sao thì nghĩ chứ thực tình tôi không thể tin là một người đã
đi đến tột đỉnh giác ngộ như Đức Phật lại còn phải quan tâm đến
những việc nhỏ nhặt như đi đại tiện, tiểu tiện, hay xỉa răng của Tỳ
Kheo Ni, trong khi còn bao nhiêu điều quan trọng hơn cho vấn đề tu tập mà
Người cần dạy cho các đệ tử. Nên
nhớ, những điều Người dạy cho đệ tử mới chỉ là nắm lá trong tay
so với những hiểu biết như lá trong rừng của Người. Những đoạn trích dẫn ở trên về “tháp
Phật” và “ảnh tượng của Phật” chứng tỏ rằng đó không thể là
Phật ngôn. Vậy mang hai con số 250 và
348 ra để chất vấn Tỳ Kheo Thích Nhật Từ thì có vẻ hơi yếu, vì đã
được đặt trên một căn bản sai lầm. Trong số những người chống đối bài
giảng của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ thì TieuTang là người năng nổ nhất. Nhưng tiếc rằng trình độ và văn phong
chưa xứng nên tôi cho rằng những sự chống đối của TieuTang không có mấy
giá trị đối với một cư sĩ thấp kém như tôi, khoan nói đối với các
bậc xuất gia đạo cao đức trọng. 2. Của Dieu Ho Que Huong: Người năng nổ thứ hai trên
phapthoai.net chống đối bài giảng của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ là Dieu Ho
Que Huong. Chúng ta hãy bỏ qua đoạn chụp
mũ cộng sản theo sách lược của thế lực đen ở hải ngoại: không hợp
ý mình thì tất nhiên phải là cộng sản, một đoạn không đáng để phê
bình, mà chỉ xét vài “tư tưởng” của tác giả trong đoạn sau đây. Đức Thế Tôn vì lòng từ bi mở
bày bao nhiêu là phương tiện pháp môn để dẫn dắt chúng sanh vào dòng Phật,
chứng đắc giải thoát. Có thể nói đại lượt là theo hai con đường :
Tuỳ pháp hành và Tuỳ tín hành,và có Tứ y, để xác định, dù là tuỳ
pháp hay tuỳ tín đều phải có lòng tin quyết định, nếu lòng tin
không kiên cố, thì dầu ở trong Phật pháp cũng không gặt hái được lợi
ích gì, vì thế mà Ngài Mã Minh làm ra Đại Thừa Khởi Tín, Ngài Tăng
Xán làm Tín Tâm minh… tất cả đều nhằm cho kẻ hậu học chúng ta có
Tín Tâm kiên cố, kẻ có Tín Tâm như người có hai tay, ngừơi không có
tín Tâm như kẻ cụt tay, người học đạo ở trong Phật pháp mà không có
Tín, thì không gặt hái được kết quả gì, như ngừơi cụt tay mà vào
núi báu, khi về chẳng mang được gì cả . Cho nên đức Thế Tôn trải tam
a-tăng-kỳ kiếp tu hành thành đạo Chánh Đẳng Chánh giác, không nói a-tăng-kỳ
là bao nhiêu năm hễ tu tập thành tựu được Tín bất thối là một
a-tăng-kỳ thứ nhất, vậy như thế nào là Tín bất thối thử hỏi vị
TS Nhật Từ đã hiểu chưa? Và như thế nào là bình đẳng? TS Nhật Từ
đã hiểu chưa? Nếu chưa hiểu thì hãy nên thành tâm sám hối những lời
nói ngông cuồng của mình, rồi quán chiếu tu tập để được có trí tuệ
mà thấu triệt những lời dạy của Phật. Nếu đã cho là mình thấu hiểu
rồi, thì khỏi cần bàn nữa, vì những kẻ này chỉ là hạng nhất xiển
đề đối với Tam bảo không có lòng tin, chỉ là những ma quân đầu thai
vào Phật pháp để phá hoại, nói như vậy, vì xét theo lịch sử truyền
thừa hơn 2500 năm chưa có vị Tổ sư nào dám sửa đổi luật do Đức Phật
nói ra, bây giờ TS Nhật Từ là thứ nhất, phải nói vị này chưa có một
lòng tin nào về Phật, chưa hiểu được danh từ “Phật bảo” là như thế
nào? Trước hết, tôi thành thực khuyên
Dieu Ho Que Huong hay đọc lại Kinh Phật thuyết cho người dân Kalama và lời
dạy sau đây của chính Đức Phật: ““Đừng
vì lòng tôn kính mà chấp nhận những giáo lý của Ta, mà trước hết hãy
thử những giáo lý đó như người thợ vàng thử vàng vậy.” để hiểu rõ về chữ Tín trong Phật Giáo. Dieu Ho Que Huong mấy lần hỏi Tỳ
Kheo Thích Nhật Từ là “đã hiểu chưa?”, vậy chắc hẳn là Dieu Ho Que
Huong đã hiểu rồi, hiểu cả thế nào là Tin Bất Hối của hàng Bồ Tát,
nghĩa là tin vào Đạo Quả Bồ Đề chứ chẳng phải tin vào Bát Kỉnh
Pháp, có phải không? Trong Phật Giáo không có chuyện mù lòa tin bướng
tin càn [lời của Thượng Tọa Thích Mật Thể] mà chữ Tín này phải là kết
quả của sự hiểu biết qua quán chiếu, suy tư và thực nghiệm. Không phải cứ bảo rằng đây là Kinh Phật
là cứ việc nhắm mắt mà tin. Cần phải
biết xem đó có đúng là Kinh Phật hay không, có đúng là Phật nói như vậy
không, có thể áp dụng được không, áp dụng có lợi hay có hại v..v.. rồi
bấy giờ mới có thể tin, nếu sự áp dụng chúng mang lại lợi ich cho người
cho ta và giúp ta thăng tiến trên con đường tu học. Đây chính là lãnh vực của học thuật
ngày nay. Mặt khác Kinh Hoa Nghiêm cho
chúng ta một con số chính xác về một a-tăng-kỳ nếu biết tính toán một
chút.. Nhưng mà tại sao Dieu Ho Que Huong
chống đối bài giảng của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ. Có phải là vì cho rằng mình đã thấu hiểu
đúng mà Tỳ Kheo Thích Nhật Từ hiểu sai. Vì
vậy mới chống đối chứ, có phải không. Nhưng
“Nếu đã cho là mình thấu hiểu rồi, thì khỏi cần bàn nữa,
vì những kẻ này chỉ là hạng nhất xiển đề đối với Tam bảo không
có lòng tin, chỉ là những ma quân đầu thai vào Phật pháp để phá hoại” Vậy là Dieu Ho Que Huong đã tự mình xếp
hạng mình rồi đó. Đúng vậy, nếu
đúng là Luật của Đức Phật và ngày nay vẫn còn áp dụng được trong
bước đường tu hành thì không ai có thể sửa được luật đó. Nhưng nếu Luật đó không do Đức Phật nói
ra, thì Tỳ Kheo Thích Nhật Từ có mang tội sửa đổi luật của Đức Phật
không? Ai dám khẳng định là Bát Kỉnh
Pháp cũng như 348 giới luật cho Tỳ Kheo Ni là do chính Đức Phật nói ra. 3. Của Mary: Rồi lại có một Sư Cô pháp danh
Thích nữ Đàm Lan góp ý kiến dưới tên Mary (Sư cô có lẽ không ý
thức được rằng mình đã dùng tên của Mẹ Thiên Chúa trong Ki Tô Giáo,
hay còn dụng ý nào khác?) như sau, sau khi khẳng định Bát Kỉnh Pháp do
chính Đức Phật chế ra: Có thể nói: chính Bát Kỉnh Pháp đã
ăn sâu vào tư tưởng của số đông chư Tăng ngày nay, nên nữ giới khó
có thể phát huy được tài năng của chính mình. Đó cũng là sự khác biệt
rõ ràng giữa Tăng sĩ thời đức Phật và Tăng sĩ thời hiện đại. Cho nên
ý tưởng bỏ Bát Kỉnh Pháp hoàn toàn không hợp lý mà chỉ có thể thay
đổi. Dieu Ho Que Huong khẳng định là
xét theo lịch sử truyền thừa hơn 2500 năm chưa có vị Tổ sư nào dám
sửa đổi luật do Đức Phật nói ra và lên án Tỳ Kheo Thích Nhật Từ
là người thứ nhất dám sửa đổi luật của Đức Phật, dù rằng Tỳ
Kheo Thích Nhật Từ chẳng có chỗ nào ngỏ ý muốn sửa đổi luật của
Đức Phật. Nhưng Sư Cô Mary ở
đây không những không muốn sửa đổi mà còn muốn cả thay đổi luật của
Đức Phật nữa. Như vậy là thế
nào? Tôi chỉ đặt câu hỏi chứ
không dám phê bình, vì đụng tới Mary phiền lắm. Người ngoại đạo có thể đánh tôi mất
mạng. Đức Phật có nói được sinh
ra làm người hiếm quý lắm, tôi không muốn hi sinh vô ích vì những chuyện
đâu đâu. Sau hết, tôi xin phép được trả lời
câu hỏi của TieuTang: Tại sao Luật tỳ-kheo đức Phật chế ra 250 giới
ngược lại luật Tỳ-kheo-ni đức Đạo sư lại chế ra 348 giới.? Trước hết là Phật Giáo có 6 Bộ
Giới Luật khác nhau: Luật Pali, Luật Tứ Phần, Luật Thập Tụng, Luật Ngũ
Phần, Luật Tăng Kỳ, Luật Hữu Bộ. Trong
6 Bộ Luật này, con số giới điều của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni đều khác
nhau. Con số mà TieuTang dua ra hỏi là nằm
trong Bộ Luật Tứ Phần mà tôi vừa chứng minh ở trên là những điều luật
từ số 60 tới 84, hay 85, không thể nào là do Phật chế ra. Nếu khôn ra thì TieuTang đã hỏi về Bộ
Luật Pali. Bộ Luật Pali không có những
điều trên trong Bộ Luật Tứ Phần và gồm có 227 giới luật cho Tỳ Kheo
và 311 giới luật cho Tỳ Kheo Ni, như vậy tránh được cái kẹt về những
điều luật liên quan đến “tháp Phật” và “ảnh tượng Phật” Một câu hỏi tương tự đã được
đặt cho Tỳ Kheo Chatsumarn Kabilsingh, Ph. D., về Bộ Luật Pali: “Tại sao Tỳ Kheo Ni phải tuân theo nhiều
giới luật hơn Tỳ Kheo?” (Why do bhikkhunis follow more precepts (sikkhapada)
than monks?). Và phần trả lời như sau: Trong Phật Giáo Nguyên Thủy, Tỳ
Kheo có 227 giới luật và Tỳ Kheo Ni có 311 giới luật. Sự khác biệt này dẫn đến sự hiểu lầm
là thật ra Đức Phật không muốn cho phụ nữ gia nhập Giáo Đoàn cho nên
đã đặt ra những luật như là hàng rào để ngăn giới phụ nữ ngay từ
đầu. Trong công cuộc khảo sát đối chiếu
giữa Ba-la-đề mộc xoa [Giới Phẩm] cho Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni (được trình
bày trong cuộc Hội Thảo Quốc tế về Thái Lan, Chiengmai, ngày 14-17 tháng
10, 1996), đếm từng phần, hay nhóm, Giới Phẩm cho Tỳ Kheo có tám phần so
với bảy phần cho Tỳ Kheo Ni. Một phần
dành riêng cho Tỳ Kheo gọi là “Bất Định” (Aniyata). Trong phần này, có hai luật của Visakha,
một nữ cư sĩ nổi bật trong thời đầu của Phật Giáo. Một luật cấm Tỳ Kheo không được ở một
mình với một phụ nữ trong nhà đóng kín và một luật khác cấm Tỳ Kheo
không được ở với một phụ nữ dù không ở nơi đóng kín nhưng không
được xa ngoài tầm nghe của những người khác. [Vậy 2 luật này không phải là do
Phật chế ra. TCN] Trong Phần đầu tiên của Ba-la-đề-mộc-xoa,
Phần “Ba-la-di”, viết về những vi
phạm nghiêm trọng nhất mà Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni nào vi phạm bất cứ một
điều nào đều bị khai trừ ra khỏi Giáo đoàn ngay khi vi phạm. Có 4 điều
luật cho Tỳ Kheo và 8 điều luật cho Tỳ Kheo Ni.
4 điều luật mà Tỳ Kheo Ni phải tuân hành thêm so với Tỳ
Kheo cũng được áp dụng cho Tỳ Kheo nhưng lại được xếp trong Phần “Tăng Tàng”, phần thứ
hai của Ba-la-đề-mộc-xoa, ít nghiêm khắc hơn.
Vi phạm những luật này, Tỳ Kheo tạm thời tự đặt mình ra
khỏi Giáo đoàn. Tưởng cũng nên
ghi rằng thật dễ dàng để nhận ra là sự sắp xếp như vậy là tác phẩm
trong thời kỳ sau của giới Tỳ Kheo. Trong Phần “Hối Quá”, có 8 giới
luật cho Tỳ Kheo Ni, nhưng nội dung những luật này chỉ kể là một và
được xếp trong Phần “Chúng Học” đối với giới Tỳ Kheo. Đó là một lý do mà số giới luật cho Tỳ
Kheo Ni nhiều hơn số giới luật cho Tỳ Kheo. Trong Phần “Tội Đọa” , có 166 giới
luật cho Tỳ Kheo Ni và 92 giới luật cho Tỳ Kheo.
Trong số này có 70 luật chung cho cả hai giáo đoàn. Rồi Tỳ kheo có thêm 22 giới luật riêng
cho Tỳ Kheo, và Tỳ Kheo Ni có thêm 76 giới luật riêng cho Tỳ Kheo Ni. Trong số 76 giới luật này chúng ta nhận
thấy là có nhiều giới luật về qui chế xuất gia mà Tỳ Kheo cũng phải
theo nhưng không được kể trong Ba-la-đề-mộc-xoa cho Tỳ Kheo. Điều này cũng đưa đến kết quả là số giới luật cho Tỳ Kheo Ni có vẻ
nhiều hơn. Vì những lý do trên, Tỳ Kheo Ni có
nhiều giới luật trong Ba-la-đề-mộc-xoa
hơn là Tỳ Kheo, nhưng trên thực tế, cả hai giáo đoàn đều theo một tập
hợp giới luật giống nhau. (In Theravada, monks follow 227 precepts
and bhikkhunis follow 311 precepts. This difference often leads to misunderstanding that
the Buddha in fact did not want women to join the Order, and so he set up rules as barrier
to fence off women right at the start. From a comparative study between the monks
and nuns patimokkha (presented at an International Conference on Thai Studies, Chiengmai,
Oct. 14-17, 1996) it is shown that counting by section, bhikkhus observe eight sections as
compared to seven sections by nuns. One section exclusively for monks is called
"Aniyata." In this section, there are two rules introduced by Visakha, the
leading female lay supporter in early Buddhism. One of them forbids the monks from staying
alone with a female in a covered place and another one forbids monks from staying alone
with a female in an open place beyond hearing of others. In Parajika, the first section of the
patimokkha which is concerned with the most severe offences, any monk or nun who has
transgressed any one of these rules is "defeated" at the moment of committing
that act. There are four rules for monks and eight rules for nuns. The extra rules that
nuns have to observe in this section may be found for monks also but are classified under Sanghadisesa,
the second section which is less severe. Having transgressed it a monk will have to go
through 'manatta' period, a temporary self-expulsion from the Sangha. It is worth noting
that classification of the rules can easily be the work of a later period at the hands of
the monks. In Patidesaniya section, there are
eight rules for bhikkhunis. Bhikkhus have the same content of the rules but they are
counted as one and classified under Sekhiya, another section. This is one of the
reasons responsible for the bloated number of rules for bhikkhunis. In the Pacittiya section, bhikkhunis
follow 166 rules as compared to 92 for bhikkhus. There are 70 common rules shared by both
Sanghas. Then bhikkhus have another set of 22 exclusively for bhikkhus and bhikkhunis have
another set of 76 rules exclusively for bhikkhunis. Within 76 rules exclusively for
bhikkhunis, it is notable that there are many rules regarding ordination requirements
which the bhikkhus also have to follow, but for bhikkhus they are not counted in the
Patimokkha. This also results in a seemingly larger number of Patimokkha rules for
bhikkhunis. Due to the above reasons, the bhikkhunis
carry a higher number of rules in the Patimokkha than the monks, but in reality they
follow a similar set of rules.) Hi vọng phần trả lời trên có thể
giải đáp phần nào câu hỏi về sự khác biệt về con số giới luật áp
dụng cho Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. Nhìn
vào thực tế, xã hội truyền thống Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế
khác xa với xã hội của chúng ta ngày nay, và ngày nay có vị Tỳ Kheo Việt
Nam nào theo đủ 250 giới , và có vị Tỳ Kheo Ni Việt Nam nào theo đủ 348
giới, giả thử cho rằng tất cả là do chính Đức Phật nói ra. Riêng về
Bát Kỉnh Pháp cũng vậy, ngày nay có Sư Ni nào theo đúng 8 điều trong đó,
và nội dung những điều đó có thực tế không, có còn áp dụng được
không. Nếu không còn áp dụng thì có
giữ cũng chỉ để làm một cây kiểng mà thôi.
Người cư sĩ Kính Phật, Trọng Tăng nhưng đâu có phân biệt
Tý Kheo Ni với Tỳ Kheo. Tại sao trong nội
bộ Giáo hội còn có khuynh hướng duy trì một bản Kinh mà nội dung đã đặt
Giáo đoàn Tỳ Kheo Ni hoàn toàn phụ thuộc vào Giáo đoàn Tỳ Kheo? Trong phần trả lời một câu hỏi
khác về cách đối xử của Tỳ Kheo đối với Tỳ Kheo Ni khi mới gia nhập
Giáo đoàn, Tỳ Kheo Chatsumarn Kabilsingh cho biết, theo truyền thống Ấn Độ
thời bấy giờ, các Tỳ Kheo coi Tỳ Kheo Ni như những người hầu hạ, dọn
giường, quét nhà, giặt quần áo v..v.. Về
sau, giới cư sĩ (chúng tôi) thấy thế không được ổn, nên đến trình sự
vụ với Đức Phật, xin Đức Phật giải quyết vấn đề. Đức Phật bèn tập hợp cả hai giáo đoàn
Tăng Ni lại và giải quyết vấn đề như sau: Người bèn đặt luật cho Tỳ Kheo
không được đòi hỏi Tỳ Kheo Ni phải làm những việc trong nhà. Mỗi người đều phải tự làm những điều
căn bản cần thiết cho mình và để thì giờ để tu tập đi đến giác ngộ. Đòi hỏi các Tỳ Kheo Ni hầu hạ Tỳ Kheo
là ngược lại mục đích mà Đức Phật cho phép phái nữ gia nhập giáo
đoàn, căn bản là để cho họ học hỏi và thực hành giáo lý của Người. (He then laid down vinaya for the monks not
to ask the bhikkhunis to perform such service… Each ordained person is to take care of
his or her own basic requirement and spend time to pursue one's spiritual goal, namely to
strive for enlightenment… To expect the bhikkhunis to serve the bhikkhus contradicts the
underlying principle by which the Buddha allowed women to join the Order, basically to
allow them to study and practice His teaching.. ) Dù trong thời Đức Phật còn tại
thế, Bát Kỉnh Pháp có thể thích hợp để bảo vệ Giáo đoàn Tỳ Kheo Ni
trong hoàn cảnh xã hội Ấn Độ thời đó, phù hợp với xu hướng Nam trọng
Nữ khinh đã ăn sâu trong xã hội Ấn Độ, nhưng ngày nay, trên thực tế,
những điều luật đó đã không còn hợp thời, không còn hợp với những
hoàn cảnh xã hội hiện đại, và không
còn được áp dụng theo đúng tinh thần của Bát Kỉnh Pháp, dù người ta
cho đó chính là Kinh Phật, điều mà
những nghiên cứu trong lãnh vực học thuật đã đặt nghi vấn. Với trình độ của con người ngày nay, những
phương pháp nghiên cứu trong lãnh vực học thuật không thể bỏ qua, dù đối
với những Kinh điển mà người ta thường cho là Kinh Phật. Bởi vì điều cần thiết đối với chúng
ta ngày nay là phải tìm ra lẽ thật, xem lời nào đích thực của Đức Phật
và lời nào được thêm thắt về sau. Điều
này không những có lợi cho Phật Giáo trong vấn đề áp dụng đúng giáo
lý của Đức Phật mà còn có tác dụng ngăn ngừa ngoại đạo từ xưa tới
nay luôn luôn tìm cách diễn giải xuyên tạc Kinh điển Phật Giáo để hạ
thấp giáo lý của Đấng Từ Phụ. Để kết thúc bài góp ý kiến này,
tôi muốn kể một câu chuyện trong Phật Giáo không xa mấy với nội dung
bài viết của tôi. Phật Giáo có nhiều
chuyện hay lắm, nhưng chuyện rất quen thuộc sau đây có vẻ vui vui, và hi
vọng tạo được sự thoải mái trong đầu sau khi đọc. Câu chuyện có thể không đúng nguyên văn
nhưng xin quý độc giả hội ý xả lời. Có 2 vị sư, một đã đứng tuổi,
trông rất hiền từ, tôi tạm gọi là Từ Tăng, và một còn trẻ và vóc
người hơi nhò, tôi tạm gọi là Tiểu Tăng, trong một cuộc hành trình,
đi đến ngang một bờ suối. Suối
không rộng lắm, không sâu lắm, và nước cũng không chảy xiết lắm. Bên bờ suối 2 vị sư thấy một cô gái
trẻ đẹp, có thể tên là Ma-Ly, đang lúng túng loay hoay không biết làm thế
nào đi qua bờ suối bên kia, có thể vì sợ ướt bộ quần áo thướt tha
trên người, mà cũng có thể sợ hư đôi giép da đang mang. Không biết là vị Từ Tăng đề nghị hay
cô gái Ma-Ly nhờ giúp mà vị Từ Tăng đã bồng cô gái mang sang bờ suối
bên kia. Sau đó hai vị sư tiếp tục
cuộc hành trình. Đầu óc của Tiểu Tăng
cứ bị ám ảnh bởi hình ảnh Từ Tăng bồng cô gái sang suối . Sau một lúc lâu,
không nhịn được nữa, Tiểu Tăng lên tiếng trách cứ Từ Tăng:
“Tại sao sư ca lại có thể bồng cô gái đó qua suối, giới luật của
Đức Phật là không được đụng vào, hay cọ xát thân thể phái nữ kia
mà?” Vị Từ Tăng cười xòa trả
lời: “Ta đã đặt cô gái đó bên bờ suối từ lâu rồi, mà sao nhà
ngươi vẫn còn mang cô ta trong đầu.” Trong bài này có chỗ nào không phải,
không hợp ý, cúi xin quý vị Tăng, Ni, Cư Sĩ, độc giả trong đạo ngoài
đạo v..v.. đánh cho chữ xả và đại
xá. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com