
PTs.
Lê Cung
Ngay sau khi được Mỹ đưa về làm thủ tướng bù nhìn ở miền
Tất cả những chính sách và biện pháp trên đây thực chất là chống
lại khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước của nhân
dân ta. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào yêu nước
và cách mạng của nhân dân miền Trước hết phải thấy
rằng Huế là trung tâm chính trị thứ hai ở miền Điều quan trọng hơn
nữa là Huế có cả một bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng,
là nơi mà phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã diễn
ra rất sôi nổi và giành được những thắng lợi lớn lao. Tất cả đã
trở thành một lực lượng to lớn cản trở chính sách thống trị của
chính quyền Ngô Đình Diệm ở Huế. Do tính chất và đặc
điểm của Huế như vậy, nên chính quyền Ngô Đình Diệm đã thiết lập ở đây một bộ máy cai
trị cực mạnh và cho thi hành một chính sách thống trị hết sức tàn bạo
nhằm bắt nhân dân Huế đi theo quĩ đạo của chúng, tiến đến đè bẹp
phong trào cách mạng. Ngoài bộ máy chính quyền Thừa Thiên, thành phố Huế,
chính quyền Ngô Đình Diệm đã thiết lập ở đây một bộ máy cai trị cấp
miền (gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận và các tỉnh Tây
Nguyên), như tòa Đại biểu chính phủ,
Nha cảnh sát Quốc gia, Tòa Tổng lãnh sự Mỹ, Đội công tác đặc biệt
miền Trung, đảng Cần lao Nhân vị, phong trào Cách mạng quốc gia, v.v...
Ngoài ra có cả Ngô Đình Thục, anh ruột của Ngô Đình Diệm giữ chức Tổng
Giám mục địa phận Huế. Có thể
nói Huế là “một triều đình thứ hai” sau Sài Gòn của chính quyền
Ngô Đình Diệm mà kẻ cai trị trực tiếp là lãnh chúa miền Trung Ngô Đình
Cẩn. Dưới bàn tay bạo
chúa Ngô Đình Cẩn, chính quyền Ngô Đình Diệm đã triển khai chính sách
“tố Cộng, diệt Cộng” hết sức ác liệt với mục tiêu là tiêu diệt
tận gốc mầm mống cách mạng trong nhân dân bằng nhiều thủ đoạn thâm
độc như “dĩ Cộng trị Cộng”, “khuấy nước động bùn”, “tát nước
bắt cá”, “thà giết lầm còn hơn bỏ sót”. Sau đây là một số tư liệu
cụ thể: Theo Công văn số
164-VP/CT/1M ngày 16-8-1956 của Tỉnh trưởng Thừa Thiên gởi Đại biểu chính
phủ tại Trung Việt thì trong vòng chưa đầy một tháng rưỡi, từ ngày
29-6 đến ngày 8-8-1956, theo lệnh Ngô Đình Cẩn, nhân viên Ban khai thác Nha
Cảnh sát Công an Trung Việt đã bắt tra tấn và giam cầm trái phép 25 người,
với tội gán cho là “hoạt động cộng sản”, trong đó có 22 người trú
tại Huế. Chính chính quyền Ngô Đình Diệm tại Thừa Thiên cũng phải thú
nhận rằng đây là “việc bắt người sai nguyên tắc ... là những việc làm hiển nhiên đã xảy ra
trong tỉnh” 1. Trong những cuộc chỉnh
huấn, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm nhằm
khuất phục những người yêu nước. Có những người không chịu nổi sự
truy bức của chúng đã thắt cổ tự tử, như trường hợp ông Phạm Lách
học viên lớp chỉnh huấn ở xã Nghi Giang, quận Vinh Lộc đã thắt cổ tự
tử đêm 16-5-1957; ông Dương Cật cũng học viên lớp chỉnh huấn ở xã
Vinh Giang tự sát ngày 20-5-1957 2. Những cuộc tra tấn
của thủ hạ Ngô Đình Cẩn hết sức dữ dội. Có người sau cuộc sơ vấn
của địch đã tìm cách tự sát, như ông Phan Châu bị bắt vào lúc 22 giờ
ngày 23-8-1956 đến 2 giờ 20 sáng ngày 24-8-1956 đã nhảy xuống giếng sâu tự
sát (1). Có người phải quyên sinh khi được tin sắp bị bắt, như ông
Nguyễn Đình Cát (Phú Lộc) đã uống thuốc độc tự tử ngày 22-2-1957
(2). Chính quyền Ngô Đình
Diệm với tham vọng không chỉ nắm lấy quyền lực về mặt chính trị
mà cả độc quyền về kinh tế, do đó nạn nhân của chế độ tại Huế
còn là những người có thế lực kinh tế. Từ năm 1957, Ngô Đình Cẩn và
tay chân đã tạo ra “Vụ án gián diệp miền Trung” giả tạo. Với vụ
án này, hầu hết các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị vào Khánh Hòa, không
có tỉnh nào không có người bị Ngô Đình Cẩn và tay chân ghép vào tội
làm gián điệp cho Pháp, tập trung nhất là ở Huế. Trong tác phẩm “Chín
năm máu lửa dưới chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm”,
Nguyệt Đạm và Thần Phong đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh hết sức
sinh động về tính chất dã man của những cuộc tra tấn hiểm độc; về
những thủ đoạn tống tiền; về cách thức làm phi tang những nạn nhân bị
giết hại do Ngô Đình Cẩn và tay chân gây ra:
Ông Nguyễn Văn Yến chủ khách sạn Morin (Huế) không đồng ý cho
Ngô Đình Cẩn mua khách sạn với giá rẻ mạt, liền bị gán tội làm
gián điệp cho ngoại bang. “Ông Nguyễn Văn
Yến đã bị bắt giam ở Chín hầm và chịu tất cả cực hình; đổ nước,
quay điện, cực hình assis debout nhìn bóng đèn điện 500 watts để da mặt phồng lên, ông này
tiêu tan cả sự nghiệp, mẹ và vợ buồn rầu nên qua đời” (3) .
Ông Phan Văn Thí, chủ hiệu buôn Đức Sinh ở số 77, Trần Hưng Đạo
(Huế) bị gán tội làm gián điệp cho Pháp đã bị bắt giam ngày 12-9-1957,
bị tra tấn hết sức tàn nhẫn. “Ông Đức
Sinh đã phải trả một giá quá đắt: Nộp cho tên trùm mật vụ Phan Quang
Đông 1.500.000$00, phải làm văn tự bán cho Đông một cái nhà 2 triệu đồng
mà thực ra ông Đức Sinh không lấỵ một đồng nào cả” (4)*.
Ông Nguyễn Đắc Phương, thầu khoán ở Huế, bị vu cáo chứa chấp
thuốc phiện lậu và làm gián điệp cho Pháp, bị Ngô Đình Cẩn ra lệnh bắt,
tra tấn. Nguyễn Đắc Phương bị chết ngày 16-5-1857 do Cẩn ra lệnh xô từ
trên lầu xuống. Các cuộc điều tra sau đó cho bíết Nguyễn Đắc Phương
chết vì “đã được đấu thầu tu bổ điện Thái Hòa và những công
tác khác, trong lúc đó bà Cả Lễ (chị ruột Ngô Đình Cẩn) không được
đấu thầu” (4).
Ông Trần Bá
“Không nhận tội làm gián điệp, không chịu ký chi phiếu, nạn
nhân bị đánh đập dần đến chết, thây bị liệng xuống phía sau sở
vôi Long Thọ” (1). Ông Bửu Bang, chủ hiệu
Rồng Vàng, số 105 Trần Hưng Đạo bị bắt cóc ngày 16-11-1960, và bị gán
tội hoạt động chính trị, bị bắt giam ở Chín hầm. Ông Lê Văn Châu,
chủ hiệu sách Nam Hưng số 125, Trần Hưng Đạo, bị bắt ngày 18-11-1960,
phải chịu tống tiền mới được thả, v.v....... Chính sách tàn bạo của
chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị chính những nạn nhân vạch trần.
Đơn tố cáo ngày 16-11-1963 của ông Đức Sinh viết: “Tại miền Nam Việt
Nam, Ngô Đình Nhu lợi dụng chức Cố vấn chính trị, cùng vợ y là Trần
Lệ Xuân, dùng nhiều biện pháp con buôn chính trị, bóc lột đồng bào, đục
khoét ngân khố quốc gia, gây lũng đoạn
kinh tế, sát hại nhân tài, tiêu diệt khủng khiếp những phe đối lập và
tàn sát Phật giáo đồ. Trong lúc đó, tại
Trung phần, Ngô Đình Cẩn với bề tôi gồm một số sĩ quan và cận vệ
khát máu đã nhiễu hại đồng bào, bắt giam trái phép và tra tấn dã man
đa số thương gia và kĩ nghệ gia, để cưỡng đoạt tài sản của họ,
Ngô Đình Cẩn không biết hổ mặt là một lãnh chúa miền Trung” (2). Tới đầu những năm
1960, khi phong trào cách mạng miền Nam đã có những bước phát triển nhảy
vọt, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tấn công trực diện vào
thành trì của “Việt Nam Cộng Hòa” thì chính thời kỳ này, chính quyền
Ngô Đình Diệm càng ra sức bắt bớ giam cầm khủng bố những người yêu
nước. Ban An ninh ngụy quyền Thừa Thiên trong phiên họp ngày 11-11-1960, đã
xử an trí tại Trung tâm cải huấn Thừa Thiên 32 người từ 6 tháng tới 2 năm, trong đó có 31 người
quê quán Thừa Thiên và 1 người bị đưa ra truy tố trước Tòa án quân sự.
Hoặc có trường hợp mãn hạn án 4 năm tù vẫn bị địch bắt phải quản
thúc 4 năm nữa, vì theo chính quyền Ngô Đình Diệm “tuy đã mãn hạn án,
nhưng thuộc thành phần nguy hiểm, hiện còn mang nặng tư tưởng cộng sản,
tha ra không có lợi cho công cuộc an ninh, cần phải lưu giam để giáo hóa”,
như trường hợp ông Hoàng Giám và Lê Sĩ (tức Thiệu) đều quán thôn Hiền
Sĩ, quận Phong Điền (3). Nhà giam của chính
quyền Ngô Đình Diệm tại Huế chật ních tù chính trị. Theo Công văn số
3630/TTNA-CT-BM, ngày 12-12-1961 của Tỉnh trưởng Thừa Thiên gởi Tổng Quản
đốc các Trung tâm Cải huấn Sài Gòn thì: “Số phòng ốc hiện hữu của
Trung tâm cải huấn Thừa Thiên chỉ vừa đủ cho 600 can nhân mà hiện nay
đã giam đến 700 người nên không thể nhận thêm can nhân để hướng nghiệp”
(1). Đối với Phật giáo,
chính quyền Ngô Đình Diệm xem như là ma quỷ. Cùng với lực lượng cách
mạng, Phật giáo là đối tượng cần phải được triệt hạ. Theo Chu Bằng
Lĩnh thì: “Người vào Đảng Cần Lao là phải tuyên thệ “đem hết thể
xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chống cộng sản vô thần,
chống Phật giáo ma quỷ và chống các Đảng phái quốc gia” (2). Do vậy,
dù Huế là nơi mà tín đồ Phật giáo chiếm đa số trong nhân dân, nhưng tại
đây chính quyền Ngô Đình Diệm đã thi hành một chính sách kỳ thị đối
với Phật giáo hết sức nặng nề hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây.
Dưới thời Pháp thuộc, số ngày nghỉ lễ của Phật giáo bao giờ cũng
bằng nửa so với Thiên Chúa giáo. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đã hủy bỏ ngày lễ Phật đản trong
danh sách những ngày nghỉ lễ tôn giáo dành cho công chức và binh sĩ.
Đối với những tác phẩm văn học mà nặng lời chỉ trích Phật
giáo được chính quyền Ngô Đình Diệm đánh giá cao, như tác phẩm “Văn
chương bình dân” của Thanh Lãng đã
viết về Phật giáo như sau: “Đối với Phật cũng như đối với hạng
thầy tu, dân chúng đều coi khinh; theo họ Phật đi tu vì bất mãn tình
duyên, nhà sư đi tu vì thích oản chuối ..... Người Việt
Chính quyền Ngô Đình Diệm còn bắt những viên chức nhà nước, dù
là tín đồ Phật giáo, phải về Trung tâm huấn luyện Nhân vị Vĩnh Long
để học tập chủ thuyết nhân vị. Khi về đây họ chỉ nghe các linh mục
giảng dạy gần như hoàn toàn là giáo lý Thiên Chúa giáo, mua chuộc họ
theo Thiên Chúa giáo, đồng thời chỉ trích giáo lý Phật giáo. Tài liệu
dùng cho việc giảng dạy của trung tâm viết: “Theo Phật giáo nguyên thủy,
thì Đức Phật không bàn đến nguồn gốc vũ trụ. Ngài cho rằng vũ trụ biến chuyển, có có
không không, mà hồn vũ trụ là Brahma (Phạm Thiên) cũng bị lôi cuốn trong
vòng biến chuyển ấy.
“Tư tưởng này của Đức Thích Ca được phái Tiểu thừa nhất loạt
tuân theo.
“Nhưng vì thấy quan điểm này quá hẹp hòi, phản tiến hóa, nên đạo
sĩ Asvagosha mới lập ra phái Đại thừa” (1).
Từ năm 1957, Ngô Đình Diệm cho thành lập Viện Đại học Huế. Bất
chấp miền Trung và Huế nói riêng là nơi có đa số dân cư là tín đồ Phật
giáo, Ngô Đình Diệm đã cử linh mục Cao Văn Luận giữ chức Viện trưởng.
Theo Đỗ Mậu “đặt một linh mục làm viện trưởng một trường đại học
tại một địa phương mà đa số dân chúng tôn sùng đạo Phật, nhà Ngô
muốn thi hành chính sách trồng người bằng cách tạo ảnh hưởng Thiên
Chúa giáo vào lớp sinh viên và đào tạo họ thành những cấp chỉ huy
trong các ngành sinh hoạt quốc gia sau này. Ngoài
ra, họ còn dùng chính sách “thi ân” cho một số sinh viên du học để
khi về nước sẽ chiếm giữ những địa vị quan trọng trong bộ máy
chính quyền. Những sinh viên đã chịu ơn nhà Ngô vô tình hay cố ý đều
phải thực hiện chính sách Thiên
Chúa giáo miền Nam của nhà Ngô” (2).
Từ ngày Ngô Đình Thục về nhậm chức Tổng giám mục địa phận
Huế, áp lực Cần lao Thiên Chúa giáo của Ngô Đình Cẩn càng đè nặng
lên đời sống tinh thần của tín đồ Phật giáo Huế. Chính Đỗ Thọ, một
tay chân thân tín của Diệm cũng phải thừa nhận rằng: “Tại Huế, hằng
năm ngày lễ Giáng sinh được tổ chức rất tưng bừng. Cờ công giáo treo dọc đường ăn lan đến cầu
Trường Tiền. Cổng chào dựng lên khắp nơi, nhất là phía tả ngạn sông
Hương. Điều này làm cho quần chúng Phật giáo bất bình. Vì từ xưa những
cuộc lễ lớn về công giáo chỉ tổ chức qui mô bên địa phận Phú Cam
mà thôi” (3). Ngô Đình Thục còn
chiếm lấy Viện bài lao Huế. Trong thư văn đề ngày 6 - 5 - 1961, Ngô Đình
Thục "chuyển đến Bộ Y tế một hồ sơ xin cho Tòa Tổng Giám mục Huế
được giao quyền khai thác Viện bài lao Huế mà Hiệp hội "Ligue des
Amis de L' Annam" đã đồng ý trao trả lại cho chính phủ" (4). Tiếp
theo, ngày 22 - 5 - 1961, Ngô Đình Thục nhân danh Tòa Tổng Giám mục Huế gởi
thư văn đến Bộ trưởng Phủ Tổng thống, cho biết mục đích của Tòa Tổng
Giám mục trong việc xin cấp quyền khai thác Viện bài lao này với hai lý
do: "- Hiệp hội
"Ligue des Amis de L' Annam" nhận
thấy nhiều khó khăn và trở ngại về
tài chánh trong việc khai thác nên tỏ ý muốn giao hoàn lại cho chính phủ
Viện bài lao". "- Nhận thấy đây
là một công tác xã hội cao cả mà Tòa Tổng giám mục Huế có thể trợ giúp được phần nào
chính phủ và dân chúng về phần xác lẫn phần hồn nên Tòa Tổng Giám mục
nhận thấy nên thay thế Hiệp hội khai thác Viện bài lao" (1). Dựa vào thế lực người
em làm Tổng thống, trong thư văn nói trên, Ngô Đình Thục đã buộc chính
quyền Ngô Đình Diệm phải chấp thuận những đề nghị nói trên. Thư
văn viết tiếp: "Bộ Y tế cũng không thấy gì trở ngại trong thủ tục
này nhưng theo nguyên tắc sẽ đệ trình hồ sơ lên Tổng thống chuẩn y. "Chúng
tôi kính xin ông Bộ trưởng khi tiếp được hồ sơ của Bộ Y tế đệ trình
sớm lên Tổng thống với ý kiến thuận để sự việc kết quả mỹ mãn" (2). Và tới ngày 2 - 6 - 1961, Bộ trưởng
Phủ Tổng thống gởi công văn cho Ngô Đình Thục cho biết: "Phủ Tổng
thống chấp thuận việc giao cho quý Tòa quyền khai thác Viện bài lao tại
Huế với trọng quyền sử hữu các tài sản liên quan đến Viện này. "Tôi đã chuyển đến Bộ Tài chánh hồ
sơ về việc nói trên để hợp thức hóa vấn đề" (3). Tệ hại hơn nữa, Ngô
Đình Thục còn tổ chức một lực lượng vũ trang riêng. Tờ Newsweek (
Dưới bàn tay bạo chúa Ngô Đình Cẩn có biết bao nhiêu chiến sĩ cách
mạng, tín đồ Phật giáo Huế bị chém giết và bị quăng vào Chín hầm.
Trường hợp như một huynh trưởng Phật tử ở khuôn hội Kim An, Kim Long
đã bị giết chết một cách thê thảm, nguyên nhân chỉ vì “đã hoạt động
tổ chức đoàn cung nghinh Xá Lợi trong dịp Đại lễ Phật đản năm 1955”
(5). “Ngay
bên cạnh chùa Từ Đàm tháng Hai 1962, một tăng sĩ trẻ tên Trần Kim Phú
đã bị công an mật vụ chế độ trùm bao bố, bóp cổ bắt cóc đem giam
trên Chín hầm” (6).
Điều cần chú ý thêm rằng chính quyền Ngô Đình Diệm còn ban hành
nhiều nghị định bắt nhân dân miền
Từ năm 1960 trở đi, chính sách khủng bố Phật giáo của chính quyền
Ngô Đình Diệm được đẩy đến đỉnh cao nhất với hàng loạt gia đình
bị buộc phải “cải đạo”, bị bắt di dân, có trường hợp bị thủ
tiêu bằng cách chôn sống.
Một số tư liệu tiêu biểu trên đây cho thấy chính sách thống trị
của chế độ Ngô Đình Diệm ở Huế là hết sức tàn bạo và điển hình,
đã động chạm đến hầu hết mọi tầng lớp nhân dân. Điều này giải thích tại sao
Huế là nơi có phát khởi phong trào đô thị đầu tiên có qui mô rộng lớn
và tiêu biểu cho phong trào đô thị toàn miền II. PHONG TRÀO ĐÔ THỊ HUẾ (1954 - 1963).
1. Phong trào Hòa bình. Ngay khi hiệp định Genève (1954) vừa
được kí kết, nhân dân Huế đã dấy lên một phong trào đấu tranh đòi
địch thi hành hiệp định Genève, chống khủng bố những người kháng chiến,
đòi dân sinh dân chủ. Chị em tiểu thương chợ Đông Ba đã thả hàng
ngàn bồ câu bày tỏ sự phấn chấn và khát vọng hòa bình của mình,
hàng vạn bản Hiệp định Genève được in ra và phổ biến trong nhân dân
thành phố và các huyện, Đội Văn nghệ “Chim Xanh” ở chiến khu Dương
Hòa đã lưu động biểu diễn nhiều nơi ở vùng ven thành phố như An Cựu,
Vỹ Dạ, Phú Vang, Hương Thủy,... nổi bật và có tiếng vang hơn cả là
Phong trào Hòa bình.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Phong trào Hòa bình đã thu hút được
nhiều trí thức tên tuổi tham gia, như bác sĩ Lê Khắc Quyến, giáo sư Tôn
Thất Dương Kyỹ, Võ Đình Cường, bác sĩ Thân Trọng Phước, nhà văn Phạm
Bá Nguyên, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, v.v......
Phong trào Hòa bình cho ra Tập Văn “Ngày Mai”, có nội dung tuyên
truyền chủ trương hòa bình của Đảng, chống khủng bố, bảo vệ quyền
lợi của các tầng lớp nhân dân, đề cập đến nhiều lãnh vực của đời
sống chính trị, văn hóa, xã hội, được quần chúng hoan nghênh đón nhận.
Ngay từ số đầu tiên ra ngày 4-8-1954, Tập Văn “Ngày Mai” đã lên án những
tội ác của chiến tranh và nêu lên phương châm “Thực hiện hòa bình chưa
đủ, cần phải duy trì hòa bình” (1); đả kích cái mà chính quyền Ngô
Đình Diệm gọi là “Tự do cá nhân trên hết”. Bài “Tự Do” của Việt
Hà viết: “Khi bạn nghe ai bệ vệ tuyên bố: “Tự do cá nhân trên hết,
Quốc gia Xã hội chỉ để phục vụ cá nhân” thì bạn đừng quên đặt
ngay câu hỏi: “Xã hội nào, cá nhân nào?” (2). Đến số 5 ra giữa năm 1955 thì bị ngụy
quyền đình chỉ xuất bản.
Mặt khác, phong trào Hòa bình còn có nhiều hình thức hoạt động khác
như tổ chức cứu đói, chống đói, xóa nạn mù chữ. Nhân dân thành phố
đã đưa lương thực, thực phẩm về các huyện giúp dân khắc phục nạn
đói và tổ chức sản xuất. Ban bình dân học vụ gồm một số phụ lão,
trí thức, giáo viên thành phố đã về phát triển lớp học ở các huyện.
Ngoài việc dạy chữ, mở mang dân trí, các ban bình dân học vụ đã dựa
vào lớp học để vận động nhân dân đấu tranh đòi thi hành hiệp định
Genève, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống khủng bố, đòi dân sinh
dân chủ. Ngày 1-5-1955, 3 vạn nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia cuộc biểu
tình tại Phu Văn Lâu. Đoàn biểu tình đã giương cao khẩu hiệu: “Phải
đắp đập Thuận An ngăn mặn để cho dân tăng gia sản xuất” cùng với
nhiều khẩu hiệu khác đòi dân sinh dân chủ, chống khủng bố, đòi thiết
lập quan hệ Bắc -
Bằng những hoạt động văn hóa xã hội, phong trào Hòa bình đã tập
hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân hướng đến cuộc đấu tranh chống
chiến tranh, đòi hòa bình, chống chia cắt đất nước. Phong trào Hòa bình
Huế đã phối hợp có hiệu quả với phong trào Hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn
và các đô thị khác, hình thành một phong trào rộng lớn, mạnh mẽ ở miền
Nam trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là
một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Mặt trận dân tộc thống
nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
2. Cuộc đấu tranh của tù chính trị. Hơn một tháng sau khi hiệp định Genève
được ký kết, chính quyền Ngô Đình Diệm ở Thừa Thiên vẫn không chịu
trao trả những tù chính trị. Không thể cam chịu, anh em tù chính trị đã
kiên quyết đấu tranh đòi phải được trả về với Chính phủ Việt
“Chúng tôi ký tên và áp chỉ dưới đây là can cứu chính trị bị
bắt trước ngày ngưng bắn, và hiện đang bị giam giữ tại lao xá Thừa
Thiên.
“Chúng tôi sẵn sàng đi trao trả cho Chính phủ Việt
Trước tinh thần đấu tranh của anh em tù chính trị, địch dự định chuyển họ đi nơi khác nhằm che dấu thế
yếu chính trị của chúng trước nhân dân. Biết được âm mưu này, ngày
25-8-1954, nhân dân Thừa Thiên - Huế đã kéo đến Tòa Khâm biểu tình đòi
trả chồng con em họ về với gia đình. Mặc dầu chính quyền Ngô Đình Diệm
tại Huế đã huy động lực lượng cảnh sát đến đàn áp, nhưng thái độ
của nhân dân vẫn tỏ ra hết sức kiên quyết.
Công văn mật số 1453 VP/CT ngày 25-8-1954 của Tỉnh trưởng Thừa
Thiên gởi Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt đã tường thuật về sự
kiện này như sau: “Sáng ngày hôm nay một số chừng 5,6 chục người phần
đông là ông già và bà già, tự xưng là thân nhân của phạm nhân.... đến la ó trước lao xá, yêu cầu cho các phạm
nhân .... dù được tha hay không, cũng được ở Huế, khỏi phải đi nơi
khác. Trước thái độ có phần sôi nổi của đoàn người ấy, ông quản
đốc lao xá đã cho lệnh đóng cửa lại, nhưng họ vẫn xông đến đập
phá cửa. Tỉnh tôi đã phải cho cảnh binh đến đàn áp và hiện đã giải
tán xong đám biểu tình ấy. Nhưng mặc dầu chịu giải tán, họ vẫn tỏ
ý sẽ tìm cách ngăn cản đưa phạm nhân đi và hiện nay một số người
đang còn lãng vãng gần lao xá” 2.
Trước sự phối hợp đấu tranh của anh em tù chính trị từ trong
nhà lao cùng với nhân dân ở bên ngoài, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc
phải chấp nhận trao trả. Sáng ngày 28-8-1954, địch dùng 20 xe GMC chở tù
chính trị từ lao Tòa Khâm lên ga Huế để đưa đi Đà Nẵng thực hiện
việc trao trả. Khi xe chạy qua một số đường trong thành phố, anh em tù
chính trị đã hô vang các khẩu hiệu có nội dung như sau: “Chủ tịch Hồ
Chí Minh muôn năm”, “Việt Nam Độc lập Dân chủ Thống nhất muôn năm”, “Hòa bình dân chủ thế giới
muôn năm.” 3.
Riêng khẩu hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm” được viết
căng trên một số xe. Theo Công văn mật số 1840 VP/CT-M ngày 9-9-1954 của Đại
biểu Chính phủ tại Trung Việt gởi chính quyền Ngô Đình Diệm thì “trong
đoàn xe G.M.C. chở phạm nhân này, 5 chiếc xe giăng khẩu hiệu:“Chủ tịch
Hồ Chí Minh muôn năm!” làm bằng giấy đỏ
viết chữ trắng khổ độ 1m70 x 0m10” 4.
Buổi chiều cùng ngày, cũng tại lao Tòa Khâm, địch định chở tiếp
một số tù chính trị vào Đà Nẵng.
Nhưng lần nầy, họ phản đối không chịu đi, đòi trao trả tại chỗ.
Khi địch cho xe đến và gọi tên từng
người lên xe, nhưng không một ai chấp hành. Khi địch vào nhà lao dùng áp
lực buộc tù chính trị phải tuân lệnh, chúng
bị tù nhân tấn công. Theo tài liệu mật của địch thì: “Ông quản
đốc lao xá, viên đại úy Pháp, trung đoàn Con Voi và cảnh vệ vào tận
trong lao đem chúng ra, thì ông quản đốc lao xá đã bị phạm nhân nổi loạn
lên xông vào đánh, gây cho công việc khó khăn và tất cả đành phải rút
lui” 1.
Tiếp đến, ngày 21-9-1954, số tù nhân chính trị chưa được trao trả
tiếp tục đấu tranh. Họ đã gởi đơn cho viên giám đốc nhà lao, đơn nêu
lên 3 yêu sách: “1. Yêu cầu Chính phủ Pháp chậm nhất đến ngày
30-9-1954, phải trao trả họ lại cho Chính phủ Việt Minh. Vì theo hiệp định Genève thì nay họ không
phải tù nữa” ; 2. Yêu cầu viên Tỉnh trưởng Thừa Thiên cứ hai ngày gặp
họ một lần”; “3. Yêu cầu cấp thêm thực phẩm, mền chiếu áo quần”
2. Địch buộc phải chấp nhận tăng số tiền cho một khẩu phần ăn từ
4 đồng lên 6-7 đồng/ ngày.
Ngày 21-10-1954, lợi dụng lúc đi tắm, anh em tù chính trị, có khoảng 70 người kéo nhau đến tỉnh đường Thừa
Thiên nêu yêu sách đòi trao trả như đã ký ở hiệp định Genève. Đoàn
người biểu tình đã hô vang các khẩu hiệu: “Hoan hô Hiệp định Genève;
Hồ Chủ tịch muôn năm; Đồng ý trao
trả” 3. Cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi khi viên tỉnh trưởng
hứa trao trả trong một ngày gần nhất
họ mới chịu ra về.
3. Phong trào công nhân.
- Những cuộc đấu tranh của công nhân lái xe tuyến đường Đông Ba
- Bao Vinh. Nguyên xe đò chạy tuyến
đường Đông Ba - Bao Vinh, bến xe đậu trước đình làng Bao Vinh, nhưng từ
cuối tháng 6 - 1954, tiểu đoàn 606 của địch đóng ở Địa Linh cho rào
thêm vị trí để giữ cầu Bao Vinh, bến xe buộc phải dời đến khoảnh
đất ngoài sông trước mặt chợ Bao Vinh. Mỗi khi có mưa to, bến xe trở nên
lầy lội, trở ngại cho việc đậu xe. Các lái xe đã chủ động tạm thời
thay đổi vị trí bến xe. Viên quận trưởng quận Hương Trà triệu tập
các lái xe về quận đường và buộc họ phải sửa chửa lại bến xe để
tránh khó khăn, nhưng các lái xe cho việc sửa chửa bến xe là trách nhiệm
của nhà chức trách nên không thực hiện. Cuối tháng 11-1954, tiết trời mưa
to, bến xe quá hư hỏng, các lái xe cho dời bến xe đến đồn cảnh sát Ba
Đình, nhưng khi đến đây khách hàng ít ỏi gây khó khăn cho đời sống của
họ. Ngày 16-12-1954, các lái xe kéo đến quận đường Hương Trà đấu
tranh đòi viên quận trưởng phải giải quyết bến đậu xe ở ngay bên trụ
sở quận đường. Ngụy quyền Thừa Thiên phải nhượng bộ bằng cách giải
quyết bến đậu xe tại ngã ba Cửa Hậu Ba Đình, một vị trí thuận lợi
hơn 1.
- Cuộc đình công của công
nhân xe vận tải công cộng tuyến Huế - Nong
Truồi - Cầu Hai - Đà Nẵng ngày 9-11-1955.
Do việc ngụy quyền Thừa Thiên gây khó khăn trong việc vận chuyển khách
và hàng hóa, thực chất là để kiểm soát chặt chẽ hơn nhằm đề phòng
các xe chở tài liệu, truyền đơn “bất hợp pháp”. Ngày 6-9-1955, địch
kiểm soát và phạt tiền chiếc xe vận tải mang số TVB. 193. Điều này đã
gây bất mãn trong anh em công nhân lái xe và đưa đến cuộc đình công
ngày 9-11-1955.
Ngày đó, toàn bộ xe vận tải, gồm 16 chiếc chạy đường Huế -
Nong - Truồi - Cầu Hai - Đà Nẵng kéo đến trụ sở Nghiệp đoàn vận tải
công cộng đình công phản đối. Cuộc đình công của công nhân lái xe ở
Huế đã biểu thị ý thức đoàn kết của họ trong cuộc đấu tranh chống
chính quyền Ngô Đình Diệm. Theo công văn mật số 9661 CSCA/TBIM của Giám
đốc Nha cảnh sát và Công an Quốc gia tại Trung Việt gởi Đại biểu Chính
phủ tại Trung Việt và Tổng Giám đốc Cảnh sát và Công an Quốc gia Việt
Nam tại Sài Gòn ngày 17-11-1955 thì “vụ đình công này có tính cách phá
hoại mưu toan dùng sức mạnh của đoàn thể để phản đối chính quyền”
2.
- Cuộc đấu tranh của công nhân hỏa xa. Ngày 10-11-1955, trong một
phiên họp tại Huế, viên Khu trưởng Hỏa xa Trung Việt cho biết "hiện
nay do ngân sách thiếu hụt nên cần phải sa thải một phần ba nhân viên”
3. Khi biết được tin này, ngày 12-11-1955, lúc 14 giờ 30, tại Ga Huế toàn
thể đoàn viên Nghiệp đoàn công
nhân Hỏa xa Việt Nam địa phương Huế
đã tổ chức hội nghị bất thường. Hội nghị vạch rõ tính chất
độc quyền của một nhóm người có quyền hành đối với hỏa xa, về những
qui chế lỗi thời đang chi phối ngành hỏa xa Việt
- Cuộc đấu tranh của công nhân thợ giày.
Sau khi được tin chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ cho đấu thầu 2 lô
giày ở Sài Gòn, ngày 20-4-1956, lúc 13giờ 30 tại số 42 đường Lê Thái Tổ
- Huế, toàn thể công nhân thợ giày gồm 100 đoàn viên trong Nghiệp đoàn
thợ giày Thừa Thiên tiến hành hội nghị bất thường. Hội nghị đã
sôi nổi thảo luận về tình trạng thất nghiệp của công nhân và ra kiến
nghị gởi Bộ trưởng Bộ Lao động và Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam
của chính quyền Ngô Đình Diệm, yếu cầu cho đấu thầu 1 lô tại Huế
để “đảm bảo quyền lợi và tránh nạn thất nghiệp phần nào cho công
nhân cả miền Nam và Trung Việt” 1.
- Cuộc đấu tranh của công nhân "ngành thủy điện" Huế. Những năm sau hiệp định Genève, những
cuộc đấu tranh của công nhân ngành thủy điện Huế đã diễn ra liên tục.
Những yêu sách mà công nhân đặt ra buộc chủ hãng phải nhượng bộ và
đáp ứng.
Để chống lại việc chủ xưởng sa thải công nhân một cách thình
lình và vô cớ; phủ nhận tự do nghiệp đoàn và đàn áp nhân viên trong
ban Quản trị nghiệp đoàn tại Huế; trả lương cho công nhân dưới mức
tối thiểu; không trả tiền phụ cấp gia đình; ngày 25-3-1955, Nghiệp đòan
Thủy điện ở Huế đã họp hội nghị bất thường tại trụ sở Nghiệp
đòan Trung Việt (35 Hàng Bè). Hội
nghị đã ra lệnh cho tòan thể công nhân thủy điện Huế đình công ngay lập
tức, và cử một ban đại diện đến tỉnh đường Thừa Thiên nêu yêu
sách.
Viên tỉnh trưởng Thừa Thiên buộc phải mở ngay cuộc hòa giải giữa
đại diện công nhân với chủ hãng. Cuộc hòa giải kéo dài đến 18 giờ
cùng ngày, một số nguyện vọng của công nhân được giải quyết. Ngày
hôm sau (26-3), cuộc đối thoại hai bên vẫn tiếp tục, và mãi đến 21 giờ
mới kết thúc. Kết quả, chủ nhà đèn phải chấp nhận: "Thâu nhận
6 nhân viên đã bị đuổi; Tự do nghiệp đoàn; Trả lương theo qui chế
lương tối thiểu do Chính phủ qui định; trả phụ cấp gia đình cho nhân viên 2.
Về cuộc hòa giải vụ tranh chấp giữa công nhân và chủ thủy điện
Huế, theo báo cáo của Thanh tra lao động và An ninh xã hội Trung Việt trong
công văn số 334/LĐ/ANXH ngày 29-3-1955 gởi Thanh tra Lao động và An ninh Xã hội
Việt Nam (Sài Gòn) thì “trong vụ này, các công nhân đã tự động một cách
quá đáng do Liên hiệp nghiệp đoàn Trung Việt xúi dục, đã bất chấp cả
pháp luật mà tổng đình công, bên chủ nhân đã phản kháng cực lực”
3.
Sang năm 1956, cuộc đấu tranh của công nhân thủy điện Huế càng trở
nên quyết liệt hơn. Ngày 1-3-1956, chủ
hãng Thủy điện Huế cho sa thãi 22 công nhân. Lập tức công nhân đã gởi
kiến nghị đến Nha Thanh tra Lao động và An ninh Xã hội Trung Việt đòi chủ
hãng phải thỏa mãn các các khoản sau: “1. Buộc chủ nhân thâu dụng lại 22 công nhân vừa
bị sa thải vô cớ ngày 1 - 3 - 1956”; “2. Yêu cầu chủ nhân hòan lại số
tiền lương đã khấu trừ sau ngày Tết làm 4 kỳ”; “3. Yêu cầu chủ
nhân trả phụ cấp gia đình theo hạng nhì cho thư ký và thợ chuyên môn”
1.
Kiến nghị còn ghi rõ quyết tâm đấu tranh của công nhân rằng “yêu
cầu thỏa mãn từ nay cho đến hết ngày 14-3-1956, nếu không công nhân sẽ
có biện pháp cứng rắn đối phó”.
Nhằm xoa dịu công nhân, chủ hãng thủy điện Huế đã thu nhận lại
2 công nhân. Ngòai việc khấu trừ lương
(15 ngày) đã cho mượn về dịp tết, chủ nhân cho khấu trừ lại làm 2 kỳ
và hứa sẽ xét các khỏan khác 2. Những đáp ứng nhỏ giọt trên đây
không làm cho công nhân thỏa mãn. Cuộc đấu tranh của công hãng thủy điện
Huế vẫn tiếp tục. Ngày 5-4-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải
mở cuộc hòa giải giữa công nhân với chủ hãng. Do sự đấu tranh kiên
quyết về phía công nhân, án trọng tài của chính quyền Ngô Đình Diệm
buộc phải tuyên bố: “Việc sa thải 22 công nhân là bất hợp pháp vì
không có lý do chính đáng và truyền chủ nhân phải trả ngòai phụ cấp
theo luật định tiền bồi thường thiệt hại về bãi ước quá lạm” 3
và buộc chủ nhân phải thi hành trong vòng 15 ngày.
Tới ngày 23-4-1956 đã quá thời hạn, song chủ hãng vẫn không chịu
thi hành, Liên hiệp nghiệp đòan Thừa Thiên đã gới công văn đến Thanh
tra Lao động và An ninh xã hội Trung Việt, vạch rõ sự bội ước của chủ xưởng và tuyên bố:
“Nếu đến hết mười hai giờ trưa ngày hai mươi lăm tháng tư năm một
nghìn chín trăm năm mươi sáu mà chủ sở thủy điện vẫn giữ thái độ
ngoan cố thì chúng tôi sẽ cương quyết đối phó bằng những biện pháp cứng
rắn và hợp pháp” 4. Đến 12 hai giờ trưa ngày 25-5-1956, chủ hãng thủy
điện Huế vẫn không chịu thi hành những điều khỏan đã thống nhất
trong bản án trọng tài ngày 5-4-1956, tòan thể công sở Thủy điện Huế
đã đình công theo lệnh của Liên hiệp nghiệp đoàn Thừa Thiên. Trước
áp lực đình công của công nhân, chủ hãng thủy điện Huế buộc phải
thỏa mãn những điều khoản đã được ghi trong bản án trọng tài ngày
5-4-1956.
4.
Phong trào sinh viên. Sau khi thiết lập ách thống trị ở
miền Nam, Mỹ và tay sai cho thực hiện nhiều chính sách khác nhau nhằm
tách tuổi trẻ miền Nam ra quỹ đạo cách mạng, chuyển bộ phận đầy
sinh lực này thành những kẻ lai căng, mất gốc, chỉ tìm thấy vật chất
trong cuộc sống, để rồi ngoan ngoãn trở thành kẻ tay sai cho chúng. Viện
Đại học Huế được thành lập (1-3-1957) nằm trong âm mưu của chính quyền
Ngô Đình Diệm nhằm biến Huế thành một trung tâm văn hóa, chính trị để
nắm lấy thanh niên trí thức, sinh viên, sử dụng bộ phận đầy sinh lực
này làm nòng cốt cho lực lượng chống phá cách mạng tại miền Trung. Nhưng trái với ý đồ
của chính quyền Ngô Đình Diệm, Viện Đại học Huế đã trở thành nơi
tập hợp lực lượng tuổi trẻ đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm.
Từ năm 1960, một số tổ chức biến tướng của Đảng được thành lập,
như Nhóm Chuyển ngữ ở trường Đại học Khoa học (1960), mà mục tiêu chủ
yếu là đòi sử dụng tiếng Việt trong giảng dạy, nhóm Văn nghệ ở Đại
học Văn khoa (1961), rồi hội Cờ tướng, v.v.... Có thực lực hơn cả là
Đoàn Sinh viên Phật tử Huế thành lập tháng 3-1962. Cùng với các tổ chức
trên, một số cuộc hội thảo được tổ chức như cuộc hội thảo của
200 sinh viên trường Đại học Khoa học (1960) chống lệnh tổng động viên;
cuộc hội thảo của sinh viên Đại học Huế tại Giảng đường C trường
Đại học Khoa học (1962) lên án chính sách giáo dục phản dân tộc của
chính quyền Ngô Đình Diệm, v.v.....
Tóm lại từ năm 1954
đến trước năm 1963, phong trào đô thị HuếƠ chống chính quyền Ngô Đình
Diệm tuy chưa tiến đến cao trào,
song ở những mức độ khác nhau đã liên tục diễn ra và thu hút hầu hết
các thành phần xã hội tham gia: Công nhân, nông dân, trí thức, sinh viên, học
sinh, tù nhân chính trị, tín đồ các tôn giáo. Phong trào cho thấy khát vọng
hòa bình, thống nhất đất nước của nhân dân ta, vạch trần bản chất
phản động độc tài, gia đình trị của chế độ Ngô Đình Diệm. Phong
trào góp phần tôi luyện và bước đầu tập hợp đội ngũ, chuẩn bị
cho trận chiến đấu cuối cùng để lật đổ chế độ bạo tàn Ngô Đình
Diệm. --đọc tiếp kỳ 3 – phong trào PG Huế năm 1963--
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com