giaodiem copyright
posted: 14.02.2006
CHƯƠNG 1
PHONG TRÀO ĐÔ THỊ HUẾ (1954 - 1963)

PTs. Lê Cung

            I. CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ CỦA CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM Ở HUẾ.

            206-diem-3.jpg (22482 bytes)Dictator Diem by cartoonist Louis

            Ngay sau khi được Mỹ đưa về làm thủ tướng bù nhìn ở miền Nam, Ngô Đình Diệm đã cho thi hành một loạt những chính sách cực kỳ phản động. Đi theo đường lối của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, từ chối tái lập quan hệ hai miền Bắc - Nam; tổ chức tổng tuyển cử riêng rẽ, bầu cử Quốc hội lập hiến; ban hành Hiến pháp 1956, lập đảng Cần lao Nhân vị, phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới... Mặt khác, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố những người tán thành hòa bình, những người tham gia kháng chiến. Dưới chiêu bài chống cộng, coi chống cộng là quốc sách, chính quyền Ngô Đình Diệm kiện toàn bộ máy đàn áp. Tổng ủy Công dân vụ thành lập tháng 3-1955 và ngày càng được tăng cường, chuyên lo việc đàn áp chính trị. Các luật lệ phát-xít liên tiếp được ban hành: Dụ số 6 (11-1-1956) qui định về việc thành lập các trại tập trung để giam giữ những người gọi là “nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh”; Dụ số 13 (20-2-1956) bóp nghẹt quyền tự do báo chí; Luật 10/59 (5-1959) về việc thành lập các tòa án quân sự đặc biệt, đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Cùng với những chính sách trên là các chương trình “Cải cách điền địa”, “Khu dinh điền”, “Khu trù mật”, “Ấp chiến lược”, ....

            Tất cả những chính sách và biện pháp trên đây thực chất là chống lại khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân miền Nam. Phong trào đô thị Huế không đi ra ngoài quĩ đạo đó, song nó vẫn có những nguyên nhân riêng của nó.

Trước hết phải thấy rằng Huế là trung tâm chính trị thứ hai ở miền Nam sau Sài Gòn, tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Huế vốn là kinh đô của Việt Nam, nơi đây tập trung nhiều nhà khoa bảng. Huế có Viện đại học, đa số con em miền Trung về đây học tập. Huế là nơi Phật giáo có chỗ đứng khá vững chắc, ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu đậm trong đời sống văn hóa nhân dân. Từ những ngày đầu giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 và trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Phật giáo Huế đã sớm có mặt trong đội ngũ của những người cách mạng.

Điều quan trọng hơn nữa là Huế có cả một bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng, là nơi mà phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã diễn ra rất sôi nổi và giành được những thắng lợi lớn lao. Tất cả đã trở thành một lực lượng to lớn cản trở chính sách thống trị của chính quyền Ngô Đình Diệm ở Huế.

Do tính chất và đặc điểm của Huế như vậy, nên chính quyền Ngô Đình Diệm  đã thiết lập ở đây một bộ máy cai trị cực mạnh và cho thi hành một chính sách thống trị hết sức tàn bạo nhằm bắt nhân dân Huế đi theo quĩ đạo của chúng, tiến đến đè bẹp phong trào cách mạng. Ngoài bộ máy chính quyền Thừa Thiên, thành phố Huế, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thiết lập ở đây một bộ máy cai trị cấp miền (gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên), như  tòa Đại biểu chính phủ, Nha cảnh sát Quốc gia, Tòa Tổng lãnh sự Mỹ, Đội công tác đặc biệt miền Trung, đảng Cần lao Nhân vị, phong trào Cách mạng quốc gia, v.v... Ngoài ra có cả Ngô Đình Thục, anh ruột của Ngô Đình Diệm giữ chức Tổng Giám mục địa phận Huế.  Có thể nói Huế là “một triều đình thứ hai” sau Sài Gòn của chính quyền Ngô Đình Diệm mà kẻ cai trị trực tiếp là lãnh chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn.

Dưới bàn tay bạo chúa Ngô Đình Cẩn, chính quyền Ngô Đình Diệm đã triển khai chính sách “tố Cộng, diệt Cộng” hết sức ác liệt với mục tiêu là tiêu diệt tận gốc mầm mống cách mạng trong nhân dân bằng nhiều thủ đoạn thâm độc như “dĩ Cộng trị Cộng”, “khuấy nước động bùn”, “tát nước bắt cá”, “thà giết lầm còn hơn bỏ sót”. Sau đây là một số tư liệu cụ thể:

Theo Công văn số 164-VP/CT/1M ngày 16-8-1956 của Tỉnh trưởng Thừa Thiên gởi Đại biểu chính phủ tại Trung Việt thì trong vòng chưa đầy một tháng rưỡi, từ ngày 29-6 đến ngày 8-8-1956, theo lệnh Ngô Đình Cẩn, nhân viên Ban khai thác Nha Cảnh sát Công an Trung Việt đã bắt tra tấn và giam cầm trái phép 25 người, với tội gán cho là “hoạt động cộng sản”, trong đó có 22 người trú tại Huế. Chính chính quyền Ngô Đình Diệm tại Thừa Thiên cũng phải thú nhận rằng đây là “việc bắt người sai nguyên tắc ... là những việc làm hiển nhiên đã xảy ra trong tỉnh” 1.

Trong những cuộc chỉnh huấn, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm nhằm khuất phục những người yêu nước. Có những người không chịu nổi sự truy bức của chúng đã thắt cổ tự tử, như trường hợp ông Phạm Lách học viên lớp chỉnh huấn ở xã Nghi Giang, quận Vinh Lộc đã thắt cổ tự tử đêm 16-5-1957; ông Dương Cật cũng học viên lớp chỉnh huấn ở xã Vinh Giang tự sát ngày 20-5-1957 2.

Những cuộc tra tấn của thủ hạ Ngô Đình Cẩn hết sức dữ dội. Có người sau cuộc sơ vấn của địch đã tìm cách tự sát, như ông Phan Châu bị bắt vào lúc 22 giờ ngày 23-8-1956 đến 2 giờ 20 sáng ngày 24-8-1956 đã nhảy xuống giếng sâu tự sát (1). Có người phải quyên sinh khi được tin sắp bị bắt, như ông Nguyễn Đình Cát (Phú Lộc) đã uống thuốc độc tự tử ngày 22-2-1957 (2).

Chính quyền Ngô Đình Diệm với tham vọng không chỉ nắm lấy quyền lực về mặt chính trị mà cả độc quyền về kinh tế, do đó nạn nhân của chế độ tại Huế còn là những người có thế lực kinh tế. Từ năm 1957, Ngô Đình Cẩn và tay chân đã tạo ra “Vụ án gián diệp miền Trung” giả tạo. Với vụ án này, hầu hết các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị vào Khánh Hòa, không có tỉnh nào không có người bị Ngô Đình Cẩn và tay chân ghép vào tội làm gián điệp cho Pháp, tập trung nhất là ở Huế. Trong tác phẩm “Chín năm máu lửa dưới chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm”, Nguyệt Đạm và Thần Phong đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh hết sức sinh động về tính chất dã man của những cuộc tra tấn hiểm độc; về những thủ đoạn tống tiền; về cách thức làm phi tang những nạn nhân bị giết hại do Ngô Đình Cẩn và tay chân gây ra:

            Ông Nguyễn Văn Yến chủ khách sạn Morin (Huế) không đồng ý cho Ngô Đình Cẩn mua khách sạn với giá rẻ mạt, liền bị gán tội làm gián điệp cho ngoại bang. “Ông Nguyễn Văn Yến đã bị bắt giam ở Chín hầm và chịu tất cả cực hình; đổ nước, quay điện, cực hình assis debout nhìn bóng đèn điện  500 watts để da mặt phồng lên, ông này tiêu tan cả sự nghiệp, mẹ và vợ buồn rầu nên qua đời” (3) .

            Ông Phan Văn Thí, chủ hiệu buôn Đức Sinh ở số 77, Trần Hưng Đạo (Huế) bị gán tội làm gián điệp cho Pháp đã bị bắt giam ngày 12-9-1957, bị tra tấn hết sức tàn nhẫn. “Ông Đức Sinh đã phải trả một giá quá đắt: Nộp cho tên trùm mật vụ Phan Quang Đông 1.500.000$00, phải làm văn tự bán cho Đông một cái nhà 2 triệu đồng mà thực ra ông Đức Sinh không lấỵ một đồng nào cả” (4)*.

            Ông Nguyễn Đắc Phương, thầu khoán ở Huế, bị vu cáo chứa chấp thuốc phiện lậu và làm gián điệp cho Pháp, bị Ngô Đình Cẩn ra lệnh bắt, tra tấn. Nguyễn Đắc Phương bị chết ngày 16-5-1857 do Cẩn ra lệnh xô từ trên lầu xuống. Các cuộc điều tra sau đó cho bíết Nguyễn Đắc Phương chết vì “đã được đấu thầu tu bổ điện Thái Hòa và những công tác khác, trong lúc đó bà Cả Lễ (chị ruột Ngô Đình Cẩn) không được đấu thầu” (4).

            Ông Trần Bá Nam, thầu khoán ở Huế, bị thủ hạ Ngô Đình Cẩn chận bắt trong khi đang cùng vợ con đi xe hơi từ Savanakhet về Huế. Trần Bá Nam bị gán tội làm gián điệp cho Pháp và bị tra tấn, bộ hạ Cẩn ép ông Nam nhận tội làm gián điệp để cưỡng đoạt tập chi phiếu ba triệu đồng, do ngân khố Savannakhet cấp phát.

            “Không nhận tội làm gián điệp, không chịu ký chi phiếu, nạn nhân bị đánh đập dần đến chết, thây bị liệng xuống phía sau sở vôi Long Thọ” (1).

Ông Bửu Bang, chủ hiệu Rồng Vàng, số 105 Trần Hưng Đạo bị bắt cóc ngày 16-11-1960, và bị gán tội hoạt động chính trị, bị bắt giam ở Chín hầm. Ông Lê Văn Châu, chủ hiệu sách Nam Hưng số 125, Trần Hưng Đạo, bị bắt ngày 18-11-1960, phải chịu tống tiền mới được thả, v.v.......

Chính sách tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị chính những nạn nhân vạch trần. Đơn tố cáo ngày 16-11-1963 của ông Đức Sinh viết: “Tại miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Nhu lợi dụng chức Cố vấn chính trị, cùng vợ y là Trần Lệ Xuân, dùng nhiều biện pháp con buôn chính trị, bóc lột đồng bào, đục khoét ngân khố quốc gia, gây  lũng đoạn kinh tế, sát hại nhân tài, tiêu diệt khủng khiếp những phe đối lập và tàn sát Phật giáo đồ. Trong lúc đó, tại Trung phần, Ngô Đình Cẩn với bề tôi gồm một số sĩ quan và cận vệ khát máu đã nhiễu hại đồng bào, bắt giam trái phép và tra tấn dã man đa số thương gia và kĩ nghệ gia, để cưỡng đoạt tài sản của họ, Ngô Đình Cẩn không biết hổ mặt là một lãnh chúa miền Trung” (2).

Tới đầu những năm 1960, khi phong trào cách mạng miền Nam đã có những bước phát triển nhảy vọt, từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tấn công trực diện vào thành trì của “Việt Nam Cộng Hòa” thì chính thời kỳ này, chính quyền Ngô Đình Diệm càng ra sức bắt bớ giam cầm khủng bố những người yêu nước. Ban An ninh ngụy quyền Thừa Thiên trong phiên họp ngày 11-11-1960, đã xử an trí tại Trung tâm cải huấn Thừa Thiên 32 người từ   6 tháng tới 2 năm, trong đó có 31 người quê quán Thừa Thiên và 1 người bị đưa ra truy tố trước Tòa án quân sự. Hoặc có trường hợp mãn hạn án 4 năm tù vẫn bị địch bắt phải quản thúc 4 năm nữa, vì theo chính quyền Ngô Đình Diệm “tuy đã mãn hạn án, nhưng thuộc thành phần nguy hiểm, hiện còn mang nặng tư tưởng cộng sản, tha ra không có lợi cho công cuộc an ninh, cần phải lưu giam để giáo hóa”, như trường hợp ông Hoàng Giám và Lê Sĩ (tức Thiệu) đều quán thôn Hiền Sĩ, quận Phong Điền (3).

Nhà giam của chính quyền Ngô Đình Diệm tại Huế chật ních tù chính trị. Theo Công văn số 3630/TTNA-CT-BM, ngày 12-12-1961 của Tỉnh trưởng Thừa Thiên gởi Tổng Quản đốc các Trung tâm Cải huấn Sài Gòn thì: “Số phòng ốc hiện hữu của Trung tâm cải huấn Thừa Thiên chỉ vừa đủ cho 600 can nhân mà hiện nay đã giam đến 700 người nên không thể nhận thêm can nhân để hướng nghiệp” (1). 

Đối với Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm xem như là ma quỷ. Cùng với lực lượng cách mạng, Phật giáo là đối tượng cần phải được triệt hạ. Theo Chu Bằng Lĩnh thì: “Người vào Đảng Cần Lao là phải tuyên thệ “đem hết thể xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma quỷ và chống các Đảng phái quốc gia” (2). Do vậy, dù Huế là nơi mà tín đồ Phật giáo chiếm đa số trong nhân dân, nhưng tại đây chính quyền Ngô Đình Diệm đã thi hành một chính sách kỳ thị đối với Phật giáo hết sức nặng nề hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây.

            Dưới thời Pháp thuộc, số ngày nghỉ lễ của Phật giáo bao giờ cũng bằng nửa so với Thiên Chúa giáo. Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm  đã hủy bỏ ngày lễ Phật đản trong danh sách những ngày nghỉ lễ tôn giáo dành cho công chức và binh sĩ.

            Đối với những tác phẩm văn học mà nặng lời chỉ trích Phật giáo được chính quyền Ngô Đình Diệm đánh giá cao, như tác phẩm “Văn chương bình dân” của Thanh Lãng đã viết về Phật giáo như sau: “Đối với Phật cũng như đối với hạng thầy tu, dân chúng đều coi khinh; theo họ Phật đi tu vì bất mãn tình duyên, nhà sư đi tu vì thích oản chuối ..... Người Việt Nam có một quan niệm rất cao siêu về Trời mà họ coi tin như một Thiên Chúa toàn năng. Người dân quê, qua các tài liệu văn hóa, ta thấy luôn luôn có tính cách chống đối Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo v.v..... Nhưng không bao giờ có ý tưởng chống Trời” (3). Tác phẩm này đã được chính quyền Ngô Đình Diệm xếp giải nhất trong 13 giải được giải thưởng Văn chương toàn quốc năm 1957.

            Chính quyền Ngô Đình Diệm còn bắt những viên chức nhà nước, dù là tín đồ Phật giáo, phải về Trung tâm huấn luyện Nhân vị Vĩnh Long để học tập chủ thuyết nhân vị. Khi về đây họ chỉ nghe các linh mục giảng dạy gần như hoàn toàn là giáo lý Thiên Chúa giáo, mua chuộc họ theo Thiên Chúa giáo, đồng thời chỉ trích giáo lý Phật giáo. Tài liệu dùng cho việc giảng dạy của trung tâm viết: “Theo Phật giáo nguyên thủy, thì Đức Phật không bàn đến nguồn gốc vũ trụ. Ngài cho rằng vũ trụ biến chuyển, có có không không, mà hồn vũ trụ là Brahma (Phạm Thiên) cũng bị lôi cuốn trong vòng biến chuyển ấy.

            “Tư tưởng này của Đức Thích Ca được phái Tiểu thừa nhất loạt tuân theo.

            “Nhưng vì thấy quan điểm này quá hẹp hòi, phản tiến hóa, nên đạo sĩ Asvagosha mới lập ra phái Đại thừa” (1).

            Từ năm 1957, Ngô Đình Diệm cho thành lập Viện Đại học Huế. Bất chấp miền Trung và Huế nói riêng là nơi có đa số dân cư là tín đồ Phật giáo, Ngô Đình Diệm đã cử linh mục Cao Văn Luận giữ chức Viện trưởng. Theo Đỗ Mậu “đặt một linh mục làm viện trưởng một trường đại học tại một địa phương mà đa số dân chúng tôn sùng đạo Phật, nhà Ngô muốn thi hành chính sách trồng người bằng cách tạo ảnh hưởng Thiên Chúa giáo vào lớp sinh viên và đào tạo họ thành những cấp chỉ huy trong các ngành sinh hoạt quốc gia sau này. Ngoài ra, họ còn dùng chính sách “thi ân” cho một số sinh viên du học để khi về nước sẽ chiếm giữ những địa vị quan trọng trong bộ máy chính quyền. Những sinh viên đã chịu ơn nhà Ngô vô tình hay cố ý đều phải  thực hiện chính sách Thiên Chúa giáo miền Nam của nhà Ngô” (2).

            Từ ngày Ngô Đình Thục về nhậm chức Tổng giám mục địa phận Huế, áp lực Cần lao Thiên Chúa giáo của Ngô Đình Cẩn càng đè nặng lên đời sống tinh thần của tín đồ Phật giáo Huế. Chính Đỗ Thọ, một tay chân thân tín của Diệm cũng phải thừa nhận rằng: “Tại Huế, hằng năm ngày lễ Giáng sinh được tổ chức rất tưng bừng. Cờ công giáo treo dọc đường ăn lan đến cầu Trường Tiền. Cổng chào dựng lên khắp nơi, nhất là phía tả ngạn sông Hương. Điều này làm cho quần chúng Phật giáo bất bình. Vì từ xưa những cuộc lễ lớn về công giáo chỉ tổ chức qui mô bên địa phận Phú Cam mà thôi” (3).

Ngô Đình Thục còn chiếm lấy Viện bài lao Huế. Trong thư văn đề ngày 6 - 5 - 1961, Ngô Đình Thục "chuyển đến Bộ Y tế một hồ sơ xin cho Tòa Tổng Giám mục Huế được giao quyền khai thác Viện bài lao Huế mà Hiệp hội "Ligue des Amis de L' Annam" đã đồng ý trao trả lại cho chính phủ" (4). Tiếp theo, ngày 22 - 5 - 1961, Ngô Đình Thục nhân danh Tòa Tổng Giám mục Huế gởi thư văn đến Bộ trưởng Phủ Tổng thống, cho biết mục đích của Tòa Tổng Giám mục trong việc xin cấp quyền khai thác Viện bài lao này với hai lý do: 

"- Hiệp hội "Ligue des Amis de L' Annam"  nhận thấy nhiều khó khăn và trở ngại  về tài chánh trong việc khai thác nên tỏ ý muốn giao hoàn lại cho chính phủ Viện bài lao".

"- Nhận thấy đây là một công tác xã hội cao cả mà Tòa Tổng giám mục  Huế có thể trợ giúp được phần nào chính phủ và dân chúng về phần xác lẫn phần hồn nên Tòa Tổng Giám mục nhận thấy nên thay thế Hiệp hội khai thác Viện bài lao" (1).

Dựa vào thế lực người em làm Tổng thống, trong thư văn nói trên, Ngô Đình Thục đã buộc chính quyền Ngô Đình Diệm phải chấp thuận những đề nghị nói trên. Thư văn viết tiếp: "Bộ Y tế cũng không thấy gì trở ngại trong thủ tục này nhưng theo nguyên tắc sẽ đệ trình hồ sơ lên Tổng thống chuẩn y.

 "Chúng tôi kính xin ông Bộ trưởng khi tiếp được hồ sơ của Bộ Y tế đệ trình sớm lên Tổng thống với ý kiến thuận để sự việc kết quả mỹ mãn"  (2). Và tới ngày 2 - 6 - 1961, Bộ trưởng Phủ Tổng thống gởi công văn cho Ngô Đình Thục cho biết: "Phủ Tổng thống chấp thuận việc giao cho quý Tòa quyền khai thác Viện bài lao tại Huế với trọng quyền sử hữu các tài sản liên quan đến Viện này.

"Tôi đã chuyển đến Bộ Tài chánh hồ sơ về việc nói trên để hợp thức hóa vấn đề" (3).

Tệ hại hơn nữa, Ngô Đình Thục còn tổ chức một lực lượng vũ trang riêng. Tờ Newsweek (New York) ngày 27-5-1963 cho biết: “Ở vùng phía Bắc quanh Huế có nhiều đơn vị nhỏ .... được mệnh danh là “quân đội Tổng giám mục” chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng giám mục và có nhiệm vụ chủ yếu là để bảo vệ nhà thờ và linh mục” (4).

            Dưới bàn tay bạo chúa Ngô Đình Cẩn có biết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng, tín đồ Phật giáo Huế bị chém giết và bị quăng vào Chín hầm. Trường hợp như một huynh trưởng Phật tử ở khuôn hội Kim An, Kim Long đã bị giết chết một cách thê thảm, nguyên nhân chỉ vì “đã hoạt động tổ chức đoàn cung nghinh Xá Lợi trong dịp Đại lễ Phật đản năm 1955” (5).  “Ngay bên cạnh chùa Từ Đàm tháng Hai 1962, một tăng sĩ trẻ tên Trần Kim Phú đã bị công an mật vụ chế độ trùm bao bố, bóp cổ bắt cóc đem giam trên Chín hầm” (6).

            Điều cần chú ý thêm rằng chính quyền Ngô Đình Diệm còn ban hành nhiều nghị định bắt nhân dân miền Nam nói chung và Phật giáo Huế nói riêng phải hạn chế một số hoạt động kinh tế để thực hiện những tín điều của Thiên Chúa giáo. Ở mặt này thật khó tin được nếu không có những tư liệu cụ thể. Ngày 6-8-1961, Diệm ra Nghị định số 1182-BKT/NTT/NĐ qui định: “Cấm hạ và bán thịt heo trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, 3 ngày trong tuần lễ: thứ Ba, thứ Sáu và Chúa nhật, cho đến khi có lệnh mới .... Trong ba ngày cấm trên đây, thịt heo quay, thịt heo ướp lạnh của những ngày trước còn lại cũng không được phép bán trong các tiệm, các chợ, mặc dầu dưới hình thức nào” (1).

            Từ năm 1960 trở đi, chính sách khủng bố Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm được đẩy đến đỉnh cao nhất với hàng loạt gia đình bị buộc phải “cải đạo”, bị bắt di dân, có trường hợp bị thủ tiêu bằng cách chôn sống.

            Một số tư liệu tiêu biểu trên đây cho thấy chính sách thống trị của chế độ Ngô Đình Diệm ở Huế là hết sức tàn bạo và điển hình, đã động chạm đến hầu hết mọi tầng lớp nhân   dân. Điều này giải thích tại sao Huế là nơi có phát khởi phong trào đô thị đầu tiên có qui mô rộng lớn và tiêu biểu cho phong trào đô thị toàn miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

II.  PHONG TRÀO ĐÔ THỊ HUẾ (1954 - 1963).

            1. Phong trào Hòa bình.  Ngay khi hiệp định Genève (1954) vừa được kí kết, nhân dân Huế đã dấy lên một phong trào đấu tranh đòi địch thi hành hiệp định Genève, chống khủng bố những người kháng chiến, đòi dân sinh dân chủ. Chị em tiểu thương chợ Đông Ba đã thả hàng ngàn bồ câu bày tỏ sự phấn chấn và khát vọng hòa bình của mình, hàng vạn bản Hiệp định Genève được in ra và phổ biến trong nhân dân thành phố và các huyện, Đội Văn nghệ “Chim Xanh” ở chiến khu Dương Hòa đã lưu động biểu diễn nhiều nơi ở vùng ven thành phố như An Cựu, Vỹ Dạ, Phú Vang, Hương Thủy,... nổi bật và có tiếng vang hơn cả là Phong trào Hòa bình.

            Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Phong trào Hòa bình đã thu hút được nhiều trí thức tên tuổi tham gia, như bác sĩ Lê Khắc Quyến, giáo sư Tôn Thất Dương Kyỹ, Võ Đình Cường, bác sĩ Thân Trọng Phước, nhà văn Phạm Bá Nguyên, nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, v.v......

            Phong trào Hòa bình cho ra Tập Văn “Ngày Mai”, có nội dung tuyên truyền chủ trương hòa bình của Đảng, chống khủng bố, bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp nhân dân, đề cập đến nhiều lãnh vực của đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, được quần chúng hoan nghênh đón nhận. Ngay từ số đầu tiên ra ngày 4-8-1954, Tập Văn “Ngày Mai” đã lên án những tội ác của chiến tranh và nêu lên phương châm “Thực hiện hòa bình chưa đủ, cần phải duy trì hòa bình” (1); đả kích cái mà chính quyền Ngô Đình Diệm gọi là “Tự do cá nhân trên hết”. Bài “Tự Do” của Việt Hà viết: “Khi bạn nghe ai bệ vệ tuyên bố: “Tự do cá nhân trên hết, Quốc gia Xã hội chỉ để phục vụ cá nhân” thì bạn đừng quên đặt ngay câu hỏi: “Xã hội nào, cá nhân nào?” (2). Đến số 5 ra giữa năm 1955 thì bị ngụy quyền đình chỉ xuất bản.

            Mặt khác, phong trào Hòa bình còn có nhiều hình thức hoạt động khác như tổ chức cứu đói, chống đói, xóa nạn mù chữ. Nhân dân thành phố đã đưa lương thực, thực phẩm về các huyện giúp dân khắc phục nạn đói và tổ chức sản xuất. Ban bình dân học vụ gồm một số phụ lão, trí thức, giáo viên thành phố đã về phát triển lớp học ở các huyện. Ngoài việc dạy chữ, mở mang dân trí, các ban bình dân học vụ đã dựa vào lớp học để vận động nhân dân đấu tranh đòi thi hành hiệp định Genève, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống khủng bố, đòi dân sinh dân chủ. Ngày 1-5-1955, 3 vạn nhân dân Thừa Thiên - Huế tham gia cuộc biểu tình tại Phu Văn Lâu. Đoàn biểu tình đã giương cao khẩu hiệu: “Phải đắp đập Thuận An ngăn mặn để cho dân tăng gia sản xuất” cùng với nhiều khẩu hiệu khác đòi dân sinh dân chủ, chống khủng bố, đòi thiết lập quan hệ  Bắc - Nam.

            Bằng những hoạt động văn hóa xã hội, phong trào Hòa bình đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân hướng đến cuộc đấu tranh chống chiến tranh, đòi hòa bình, chống chia cắt đất nước. Phong trào Hòa bình Huế đã phối hợp có hiệu quả với phong trào Hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn và các đô thị khác, hình thành một phong trào rộng lớn, mạnh mẽ ở miền Nam trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.

            2. Cuộc đấu tranh của tù chính trị.  Hơn một tháng sau khi hiệp định Genève được ký kết, chính quyền Ngô Đình Diệm ở Thừa Thiên vẫn không chịu trao trả những tù chính trị. Không thể cam chịu, anh em tù chính trị đã kiên quyết đấu tranh đòi phải được trả về với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tinh thần nầy được phản ánh trong nội dung tờ cam kết của họ gởi chính quyền Ngô Đình Diệm:

            “Chúng tôi ký tên và áp chỉ dưới đây là can cứu chính trị bị bắt trước ngày ngưng bắn, và hiện đang bị giam giữ tại lao xá Thừa Thiên.

            “Chúng tôi sẵn sàng đi trao trả cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo Hiệp định Genève và Qui ước Trung Giả đã ấn định” 1.

            Trước tinh thần đấu tranh của anh em tù chính trị, địch dự định  chuyển họ đi nơi khác nhằm che dấu thế yếu chính trị của chúng trước nhân dân. Biết được âm mưu này, ngày 25-8-1954, nhân dân Thừa Thiên - Huế đã kéo đến Tòa Khâm biểu tình đòi trả chồng con em họ về với gia đình. Mặc dầu chính quyền Ngô Đình Diệm tại Huế đã huy động lực lượng cảnh sát đến đàn áp, nhưng thái độ của nhân dân vẫn tỏ ra hết sức kiên quyết.   Công văn mật số 1453 VP/CT ngày 25-8-1954 của Tỉnh trưởng Thừa Thiên gởi Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt đã tường thuật về sự kiện này như sau: “Sáng ngày hôm nay một số chừng 5,6 chục người phần đông là ông già và bà già, tự xưng là thân nhân của phạm nhân.... đến la ó trước lao xá, yêu cầu cho các phạm nhân .... dù được tha hay không, cũng được ở Huế, khỏi phải đi nơi khác. Trước thái độ có phần sôi nổi của đoàn người ấy, ông quản đốc lao xá đã cho lệnh đóng cửa lại, nhưng họ vẫn xông đến đập phá cửa. Tỉnh tôi đã phải cho cảnh binh đến đàn áp và hiện đã giải tán xong đám biểu tình ấy. Nhưng mặc dầu chịu giải tán, họ vẫn tỏ ý sẽ tìm cách ngăn cản đưa phạm nhân đi và hiện nay một số người đang còn lãng vãng gần lao xá” 2.

            Trước sự phối hợp đấu tranh của anh em tù chính trị từ trong nhà lao cùng với nhân dân ở bên ngoài, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải chấp nhận trao trả. Sáng ngày 28-8-1954, địch dùng 20 xe GMC chở tù chính trị từ lao Tòa Khâm lên ga Huế để đưa đi Đà Nẵng thực hiện việc trao trả. Khi xe chạy qua một số đường trong thành phố, anh em tù chính trị đã hô vang các khẩu hiệu có nội dung như sau: “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm”, “Việt Nam Độc lập Dân chủ Thống nhất muôn  năm”, “Hòa bình dân chủ thế giới muôn năm.” 3.

            Riêng khẩu hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm” được viết căng trên một số xe. Theo Công văn mật số 1840 VP/CT-M ngày 9-9-1954 của Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt gởi chính quyền Ngô Đình Diệm thì “trong đoàn xe G.M.C. chở phạm nhân này, 5 chiếc xe giăng khẩu hiệu:“Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!” làm bằng giấy đỏ viết chữ trắng khổ độ 1m70 x 0m10” 4.

            Buổi chiều cùng ngày, cũng tại lao Tòa Khâm, địch định chở tiếp một số tù  chính trị vào Đà Nẵng. Nhưng lần nầy, họ phản đối không chịu đi, đòi trao trả tại chỗ. Khi địch cho xe đến và  gọi tên từng người lên xe, nhưng không một ai chấp hành. Khi địch vào nhà lao dùng áp lực buộc tù chính trị phải tuân lệnh, chúng   bị tù nhân tấn công. Theo tài liệu mật của địch thì: “Ông quản đốc lao xá, viên đại úy Pháp, trung đoàn Con Voi và cảnh vệ vào tận trong lao đem chúng ra, thì ông quản đốc lao xá đã bị phạm nhân nổi loạn lên xông vào đánh, gây cho công việc khó khăn và tất cả đành phải rút lui” 1.

            Tiếp đến, ngày 21-9-1954, số tù nhân chính trị chưa được trao trả tiếp tục đấu tranh. Họ đã gởi đơn cho viên giám đốc nhà lao, đơn nêu lên 3 yêu sách: “1. Yêu cầu Chính phủ Pháp chậm nhất đến ngày 30-9-1954, phải trao trả họ lại cho Chính phủ Việt Minh. Vì theo hiệp định Genève thì nay họ không phải tù nữa” ; 2. Yêu cầu viên Tỉnh trưởng Thừa Thiên cứ hai ngày gặp họ một lần”; “3. Yêu cầu cấp thêm thực phẩm, mền chiếu áo quần” 2. Địch buộc phải chấp nhận tăng số tiền cho một khẩu phần ăn từ 4 đồng lên 6-7 đồng/ ngày.

            Ngày 21-10-1954, lợi dụng lúc đi tắm, anh em tù chính trị, có khoảng  70 người kéo nhau đến tỉnh đường Thừa Thiên nêu yêu sách đòi trao trả như đã ký ở hiệp định Genève. Đoàn người biểu tình đã hô vang các khẩu hiệu: “Hoan hô Hiệp định Genève; Hồ Chủ tịch muôn năm; Đồng ý  trao trả” 3. Cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi khi viên tỉnh trưởng hứa trao trả  trong một ngày gần nhất họ mới chịu ra về.

            3. Phong trào công nhân.

            - Những cuộc đấu tranh của công nhân lái xe tuyến đường Đông Ba - Bao Vinh.  Nguyên xe đò chạy tuyến đường Đông Ba - Bao Vinh, bến xe đậu trước đình làng Bao Vinh, nhưng từ cuối tháng 6 - 1954, tiểu đoàn 606 của địch đóng ở Địa Linh cho rào thêm vị trí để giữ cầu Bao Vinh, bến xe buộc phải dời đến khoảnh đất ngoài sông trước mặt chợ Bao Vinh. Mỗi khi có mưa to, bến xe trở nên lầy lội, trở ngại cho việc đậu xe. Các lái xe đã chủ động tạm thời thay đổi vị trí bến xe. Viên quận trưởng quận Hương Trà triệu tập các lái xe về quận đường và buộc họ phải sửa chửa lại bến xe để tránh khó khăn, nhưng các lái xe cho việc sửa chửa bến xe là trách nhiệm của nhà chức trách nên không thực hiện. Cuối tháng 11-1954, tiết trời mưa to, bến xe quá hư hỏng, các lái xe cho dời bến xe đến đồn cảnh sát Ba Đình, nhưng khi đến đây khách hàng ít ỏi gây khó khăn cho đời sống của họ. Ngày 16-12-1954, các lái xe kéo đến quận đường Hương Trà đấu tranh đòi viên quận trưởng phải giải quyết bến đậu xe ở ngay bên trụ sở quận đường. Ngụy quyền Thừa Thiên phải nhượng bộ bằng cách giải quyết bến đậu xe tại ngã ba Cửa Hậu Ba Đình, một vị trí thuận lợi hơn 1.

            -  Cuộc đình công của công nhân xe vận tải công cộng tuyến Huế - Nong  Truồi - Cầu Hai - Đà Nẵng ngày  9-11-1955. Do việc ngụy quyền Thừa Thiên gây khó khăn trong việc vận chuyển khách và hàng hóa, thực chất là để kiểm soát chặt chẽ hơn nhằm đề phòng các xe chở tài liệu, truyền đơn “bất hợp pháp”. Ngày 6-9-1955, địch kiểm soát và phạt tiền chiếc xe vận tải mang số TVB. 193. Điều này đã gây bất mãn trong anh em công nhân lái xe và đưa đến cuộc đình công ngày 9-11-1955.

            Ngày đó, toàn bộ xe vận tải, gồm 16 chiếc chạy đường Huế - Nong - Truồi - Cầu Hai - Đà Nẵng kéo đến trụ sở Nghiệp đoàn vận tải công cộng đình công phản đối. Cuộc đình công của công nhân lái xe ở Huế đã biểu thị ý thức đoàn kết của họ trong cuộc đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm. Theo công văn mật số 9661 CSCA/TBIM của Giám đốc Nha cảnh sát và Công an Quốc gia tại Trung Việt gởi Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt và Tổng Giám đốc Cảnh sát và Công an Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn ngày 17-11-1955 thì “vụ đình công này có tính cách phá hoại mưu toan dùng sức mạnh của đoàn thể để phản đối chính quyền” 2.

            - Cuộc đấu tranh của công nhân hỏa xa. Ngày 10-11-1955, trong một phiên họp tại Huế, viên Khu trưởng Hỏa xa Trung Việt cho biết "hiện nay do ngân sách thiếu hụt nên cần phải sa thải một phần ba nhân viên” 3. Khi biết được tin này, ngày 12-11-1955, lúc 14 giờ 30, tại Ga Huế toàn thể  đoàn viên Nghiệp đoàn công nhân Hỏa xa Việt Nam địa phương Huế   đã tổ chức hội nghị bất thường. Hội nghị vạch rõ tính chất độc quyền của một nhóm người có quyền hành đối với hỏa xa, về những qui chế lỗi thời đang chi phối ngành hỏa xa Việt Nam; về đời sống khó khăn của công nhân hỏa xa. Hội nghị ra kiến nghị gởi Ngô Đình Diệm “cực lực phản đối lời tuyên bố nói trên của ông Khu trưởng hỏa xa Trung Việt” và “yêu cầu Chính phủ tìm mọi biện pháp thích ứng để cứu vãn tình thế nguy ngập của sở hỏa xa để giới công nhân chúng tôi khỏi phải lo âu vì đời sống không đưọc đảm bảo” 4. Bản kiến nghị có tới 101 chữ ký.

            - Cuộc đấu tranh của công nhân thợ giày.  Sau khi được tin chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ cho đấu thầu 2 lô giày ở Sài Gòn, ngày 20-4-1956, lúc 13giờ 30 tại số 42 đường Lê Thái Tổ - Huế, toàn thể công nhân thợ giày gồm 100 đoàn viên trong Nghiệp đoàn thợ giày Thừa Thiên tiến hành hội nghị bất thường. Hội nghị đã sôi nổi thảo luận về tình trạng thất nghiệp của công nhân và ra kiến nghị gởi Bộ trưởng Bộ Lao động và Tổng Liên đoàn Lao công Việt Nam của chính quyền Ngô Đình Diệm, yếu cầu cho đấu thầu 1 lô tại Huế để “đảm bảo quyền lợi và tránh nạn thất nghiệp phần nào cho công nhân cả miền Nam và Trung Việt” 1.

            - Cuộc đấu tranh của công nhân "ngành thủy điện" Huế.  Những năm sau hiệp định Genève, những cuộc đấu tranh của công nhân ngành thủy điện Huế đã diễn ra liên tục. Những yêu sách mà công nhân đặt ra buộc chủ hãng phải nhượng bộ và đáp ứng.

            Để chống lại việc chủ xưởng sa thải công nhân một cách thình lình và vô cớ; phủ nhận tự do nghiệp đoàn và đàn áp nhân viên trong ban Quản trị nghiệp đoàn tại Huế; trả lương cho công nhân dưới mức tối thiểu; không trả tiền phụ cấp gia đình; ngày 25-3-1955, Nghiệp đòan Thủy điện ở Huế đã họp hội nghị bất thường tại trụ sở Nghiệp đòan Trung Việt (35 Hàng Bè).   Hội nghị đã ra lệnh cho tòan thể công nhân thủy điện Huế đình công ngay lập tức, và cử một ban đại diện đến tỉnh đường Thừa Thiên nêu yêu sách.

            Viên tỉnh trưởng Thừa Thiên buộc phải mở ngay cuộc hòa giải giữa đại diện công nhân với chủ hãng. Cuộc hòa giải kéo dài đến 18 giờ cùng ngày, một số nguyện vọng của công nhân được giải quyết. Ngày hôm sau (26-3), cuộc đối thoại hai bên vẫn tiếp tục, và mãi đến 21 giờ mới kết thúc. Kết quả, chủ nhà đèn phải chấp nhận: "Thâu nhận 6 nhân viên đã bị đuổi; Tự do nghiệp đoàn; Trả lương theo qui chế lương tối thiểu do Chính phủ qui định; trả phụ cấp  gia đình cho nhân viên  2.

            Về cuộc hòa giải vụ tranh chấp giữa công nhân và chủ thủy điện Huế, theo báo cáo của Thanh tra lao động và An ninh xã hội Trung Việt trong công văn số 334/LĐ/ANXH ngày 29-3-1955 gởi Thanh tra Lao động và An ninh Xã hội Việt Nam (Sài Gòn) thì “trong vụ này, các công nhân đã tự động một cách quá đáng do Liên hiệp nghiệp đoàn Trung Việt xúi dục, đã bất chấp cả pháp luật mà tổng đình công, bên chủ nhân đã phản kháng cực lực” 3.

            Sang năm 1956, cuộc đấu tranh của công nhân thủy điện Huế càng trở nên quyết  liệt hơn. Ngày 1-3-1956, chủ hãng Thủy điện Huế cho sa thãi 22 công nhân. Lập tức công nhân đã gởi kiến nghị đến Nha Thanh tra Lao động và An ninh Xã hội Trung Việt đòi chủ hãng phải thỏa mãn các các khoản sau: “1. Buộc chủ nhân thâu dụng lại 22 công nhân vừa bị sa thải vô cớ ngày 1 - 3 - 1956”; “2. Yêu cầu chủ nhân hòan lại số tiền lương đã khấu trừ sau ngày Tết làm 4 kỳ”; “3. Yêu cầu chủ nhân trả phụ cấp gia đình theo hạng nhì cho thư ký và thợ chuyên môn” 1.

            Kiến nghị còn ghi rõ quyết tâm đấu tranh của công nhân rằng “yêu cầu thỏa mãn từ nay cho đến hết ngày 14-3-1956, nếu không công nhân sẽ có biện pháp cứng rắn đối phó”.

            Nhằm xoa dịu công nhân, chủ hãng thủy điện Huế đã thu nhận lại 2 công nhân.  Ngòai việc khấu trừ lương (15 ngày) đã cho mượn về dịp tết, chủ nhân cho khấu trừ lại làm 2 kỳ và hứa sẽ xét các khỏan khác 2. Những đáp ứng nhỏ giọt trên đây không làm cho công nhân thỏa mãn. Cuộc đấu tranh của công hãng thủy điện Huế vẫn tiếp tục. Ngày 5-4-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải mở cuộc hòa giải giữa công nhân với chủ hãng. Do sự đấu tranh kiên quyết về phía công nhân, án trọng tài của chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải tuyên bố: “Việc sa thải 22 công nhân là bất hợp pháp vì không có lý do chính đáng và truyền chủ nhân phải trả ngòai phụ cấp theo luật định tiền bồi thường thiệt hại về bãi ước quá lạm” 3 và buộc chủ nhân phải thi hành trong vòng 15 ngày.

            Tới ngày 23-4-1956 đã quá thời hạn, song chủ hãng vẫn không chịu thi hành, Liên hiệp nghiệp đòan Thừa Thiên đã gới công văn đến Thanh tra Lao động và An ninh xã hội Trung Việt, vạch rõ sự  bội ước của chủ xưởng và tuyên bố: “Nếu đến hết mười hai giờ trưa ngày hai mươi lăm tháng tư năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu mà chủ sở thủy điện vẫn giữ thái độ ngoan cố thì chúng tôi sẽ cương quyết đối phó bằng những biện pháp cứng rắn và hợp pháp” 4. Đến 12 hai giờ trưa ngày 25-5-1956, chủ hãng thủy điện Huế vẫn không chịu thi hành những điều khỏan đã thống nhất trong bản án trọng tài ngày 5-4-1956, tòan thể công sở Thủy điện Huế đã đình công theo lệnh của Liên hiệp nghiệp đoàn Thừa Thiên. Trước áp lực đình công của công nhân, chủ hãng thủy điện Huế buộc phải thỏa mãn những điều khoản đã được ghi trong bản án trọng tài ngày 5-4-1956.

            4.  Phong trào sinh viên.  Sau khi thiết lập ách thống trị ở miền Nam, Mỹ và tay sai cho thực hiện nhiều chính sách khác nhau nhằm tách tuổi trẻ miền Nam ra quỹ đạo cách mạng, chuyển bộ phận đầy sinh lực này thành những kẻ lai căng, mất gốc, chỉ tìm thấy vật chất trong cuộc sống, để rồi ngoan ngoãn trở thành kẻ tay sai cho chúng. Viện Đại học Huế được thành lập (1-3-1957) nằm trong âm mưu của chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm biến Huế thành một trung tâm văn hóa, chính trị để nắm lấy thanh niên trí thức, sinh viên, sử dụng bộ phận đầy sinh lực này làm nòng cốt cho lực lượng chống phá cách mạng tại miền Trung.

Nhưng trái với ý đồ của chính quyền Ngô Đình Diệm, Viện Đại học Huế đã trở thành nơi tập hợp lực lượng tuổi trẻ đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm. Từ năm 1960, một số tổ chức biến tướng của Đảng được thành lập, như Nhóm Chuyển ngữ ở trường Đại học Khoa học (1960), mà mục tiêu chủ yếu là đòi sử dụng tiếng Việt trong giảng dạy, nhóm Văn nghệ ở Đại học Văn khoa (1961), rồi hội Cờ tướng, v.v.... Có thực lực hơn cả là Đoàn Sinh viên Phật tử Huế thành lập tháng 3-1962. Cùng với các tổ chức trên, một số cuộc hội thảo được tổ chức như cuộc hội thảo của 200 sinh viên trường Đại học Khoa học (1960) chống lệnh tổng động viên; cuộc hội thảo của sinh viên Đại học Huế tại Giảng đường C trường Đại học Khoa học (1962) lên án chính sách giáo dục phản dân tộc của chính quyền Ngô Đình Diệm, v.v.....

*
*         *  

Tóm lại từ năm 1954 đến trước năm 1963, phong trào đô thị HuếƠ chống chính quyền Ngô Đình Diệm  tuy chưa tiến đến cao trào, song ở những mức độ khác nhau đã liên tục diễn ra và thu hút hầu hết các thành phần xã hội tham gia: Công nhân, nông dân, trí thức, sinh viên, học sinh, tù nhân chính trị, tín đồ các tôn giáo. Phong trào cho thấy khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước của nhân dân ta, vạch trần bản chất phản động độc tài, gia đình trị của chế độ Ngô Đình Diệm. Phong trào góp phần tôi luyện và bước đầu tập hợp đội ngũ, chuẩn bị cho trận chiến đấu cuối cùng để lật đổ chế độ bạo tàn Ngô Đình Diệm.

--đọc tiếp kỳ 3 – phong trào PG Huế năm 1963--

© Copyright 2006 giaodiem.com
 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com