giaodiem copyright
posted: 15.02.2006

   Lê Cungbài 3

            III.  PHONG TRÀO PHẬT GIÁO HUẾ NĂM 1963. 

            Suốt 9 năm thống trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, khi bình thường, khi ẩn hiện cuộc đấu tranh đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo của tín đồ Phật giáo Huế liên tục diễn ra. Mở đầu là cuộc đấu tranh “đòi ngày Phật đản”. Đại hội đồng hội Việt Nam Phật học tổ chức vào tháng 3-1957 tại chùa Từ Đàm đã sôi nổi thảo luận và đánh điện yêu cầu Tổng hội Phật giáo Việt Nam “liên tục tích cực can thiệp lên chính phủ và quốc hội công nhận ngày Phật đản mồng Tám tháng Tư âm lịch là ngày lễ hợp pháp của quốc gia” 1 .

Phong trào đấu tranh "đòi ngày Phật đản" âm ỉ, liên tục tiếp diễn. Ba năm sau, khi thấy tình hình không thể không ghi ngày Phật đản vào danh sách ngày nghỉ lễ, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải công nhận ngày Phật đản trở lại. Mặc dầu vậy, số lễ và số ngày nghỉ lễ của Phật giáo luôn luôn ít hơn ngày lễ Thiên Chúa giáo. Theo bản kê các ngày nghỉ (Bản tin số 4287 ngày 1-12-1962) cho năm 1963 thì “Thiên chúa giáo  có 4 lễ, ngày nghỉ: 2 ngày rưỡi; Phật giáo có 2 lễ, ngày nghỉ: 1 ngày rưỡi” 2 .

            Từ những năm 1960 trở đi khi chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức khủng bố Phật giáo thì cũng chính lúc này rất nhiều đơn thư khiếu nại từ khắp các tỉnh giáo hội, quận hội, khuôn hội gởi đến giới lãnh đạo Phật giáo tại Huế yêu cầu can thiệp với chính quyền Ngô Đình Diệm để có được một chính sách bình đẳng tôn giáo. Đặc biệt là trong  kháng thư gởi Ngô Đình Diệm ngày 20-2-1962, giới lãnh đạo Phật giáo Trung Phần tại Huế đã khẳng định: “Hàng ngày chúng tôi nhận được thư từ kêu van từ nhiều nơi gởi về tỏ sự khủng bố, áp bức, bất công ở hạ tầng đối với Phật giáo chúng tôi không kể xiết” và yêu cầu Diệm “công minh xét đoán gấp những nguyện vọng khẩn thiết trên cho hàng Phật tử” 3. Kháng thư gởi Quốc hội chế độ Diệm viết: “Tình trạng giết chóc, bắt bớ, đàn áp bất công ở hạ tầng đã gây nên hoang mang, khủng khiếp trong hàng Phật tử chúng tôi và làm cho họ gần như mất hết tin tưởng cần thiết. Đề đạt tập hồ sơ này đến quốc hội, chúng tôi muốn tránh cho dân tộc một chấm đen đồng thời muốn ngăn ngừa một tai họa quốc gia khi mà hàng Phật tử chúng tôi thấy cần bảo vệ đúng mức tôn giáo của mình” 4. Rõ ràng về phía tín đồ Phật giáo, họ cũng đã đến lúc cần phải vùng lên chống lại chế độ bạo tàn chính quyền Ngô Đình Diệm.

              1.  Sự kiện mở đầu phong trào.  Như đã trình bày ở trên, trong suốt 9 năm thống trị, chính quyền Ngô Đình Diệm đã thi hành chính sách kỳ thị Phật giáo hết sức nặng nề. Tiến thêm một bước nữa trong chính sách kỳ thị Phật giáo, vào dịp lễ Phật đản năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo khiến cho phong trào Phật giáo Huế chống chính quyền Ngô Đình Diệm tất yếu bùng nổ; và từ Huế phong trào đã nhanh chóng lan rộng khắp các đô thị miền Nam.

              Lúc 20 giờ 30 ngày 6-5-1963, bức Công điện số 9195 của Phủ Tổng thống Ngô Đình Diệm về việc cấm treo cờ Phật giáo đã được chuyển đến chùa Từ Đàm. Công điện triệt hạ cờ Phật giáo lập tức vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của Tăng Ni, Phật tử miền Nam, trước hết là ở Huế. Ngay trong đêm 6-5-1963, từ 21 giờ, giới lãnh đạo Phật giáo đã mở ngay một cuộc họp tại chùa Từ Đàm và đã đi đến thống nhất việc phản đối công điện 9195 của chính quyền Ngô Đình Diệm qua 3 bức điện văn: Một gởi Phật giáo thế giới; một gởi Ngô Đình Diệm; một gởi cho các đoàn thể Phật giáo các cấp. Điện văn gởi Ngô Đình Diệm viết: “Phật giáo rất xúc động nhận được công điện số 9195 không cho treo cờ Phật giáo ngay trong ngày đại lễ Phật đản quốc tế. Chúng tôi không tin rằng quyết định đó xuất phát từ Tổng thống. Thỉnh cầu Tổng thống ra lệnh điều tra và thu hồi công điện nói trên. Trân trọng” 1 .

              Điện văn gởi các tập đòan Phật giáo Việt Nam: “Cờ Phật giáo bị triệt hạ bởi công điện số 9195. Đã điện Phật giáo thế giới can thiệp và điện Tổng thống thỉnh cầu đình chỉ.  Nhưng các tập đòan vẫn thông báo các đơn vị và chờ chỉ thị” 2.

              Trước sự phản ứng mạnh mẽ của Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải tìm cách thương lượng. 9 giờ   ngày 7-5-1963, Tỉnh trưởng Thừa Thiên đến chùa Từ Đàm yêu cầu giới lãnh đạo Phật giáo tạm thời đình chỉ việc đánh đi các điện văn nói trên và mời họ về tư dinh Ngô Đình Cẩn để hội kiến. Cuộc hội kiến giữa hai bên đã đi đến thống nhất: Bộ trưởng Bộ Nội vụ là Bùi Văn Lương hiện có mặt tại cuộc hội kiến lãnh trách nhiệm về Sài Gòn yêu cầu Diệm thu hồi công điện cấm treo cờ Phật giáo tại miền Trung, tối thiểu là ở Huế không thi hành công điện ấy.            

               Phản bội lại những điều đã thống nhất, ngay sau cuộc hội kiến, từ văn phòng Cố vấn chỉ đạo miền Trung của Ngô Đình Cẩn, Tỉnh trưởng Thừa Thiên đã truyền khẩu lệnh cho Trưởng cảnh sát quốc gia thành phố Huế huy động cảnh sát mật vụ thi hành việc triệt   hạ cờ Phật giáo. Khi cảnh sát mật vụ được tung ra để triệt hạ cờ Phật giáo tại các tự viện, tư gia ở thời điểm cờ Phật giáo đang được treo nhiều nhất để đón mừng lễ Phật đản, nhiều đòan đại diện của các khuôn hội liên tiếp kéo đến chùa Từ  Đàm báo cáo với giới lãnh đạo Phật giáo về việc cảnh sát Diệm tự tay triệt hạ cờ Phật giáo, giành giật, xé nát và vất xuống đường đi, công khai đánh chưởi, hăm bắt và bỏ tù tất cả Phật giáo đồ . Lọat này đang nói, lọat khác kéo đến.  Số Phật tử càng lúc kéo đến càng đông hơn, họ yêu cầu giới lãnh đạo Phật giáo phải có ngay  thái độ để phản đối cái mệnh lệnh vô lý và thâm độc trên đây của chính quyền Ngô Đình Diệm.

              Ngay lúc ấy một phái đòan Phật giáo cùng với một số quần chúng Phật tử kéo đến Tỉnh tòa để yêu cầu giải quyết. Tin này được loan đi rất nhanh, quần chúng Phật tử rất căm phẫn và thấy cần phải hậu thuẫn cho GLĐPG nên đã tấp nập đổ về phía Tỉnh tòa:  Khí thế của quần chúng Phật tử ngày hôm ấy được mô tả qua đọan hồi ký sau đây: “Phố phường như bừng dậy trong một cuộc động quân.  Khắp các đường phố từ trong thành, Đông Ba, Gia Hội từng đòan người lũ lượt kéo qua cầu Trường Tiền.  Từ Vỹ Dạ lên, ở trên Ga xuống, phía Kho Rèn, An Cựu về, dân thị xã và phụ cận đổ xô về phía tỉnh đường đông nghịt cả người, đông một cách đáng sợ, như cuồng phong tới, như bão tố lên...” 1 .

              Trong lúc ở bên trong Tỉnh tòa, giới lãnh đạo Phật giáo đang đưa yêu sách thì ở bên ngòai quần chúng đã phá tung cửa chính xông vào Tỉnh tòa. Trước thái độ cương quyết cuả giới lãnh đạo Phật giáo được sự hổ trợ của đông đảo quần chúng bên ngòai đóng một vai trò hết sức quan trọng, viên Tỉnh trưởng buộc phải thú nhận là: “Chính quyền chỉ có ra khẩu lệnh cho cảnh sát đi khuyên đồng bào triệt hạ cờ, họ nghe thì tốt, họ không nghe thì thôi” 2 . Đáp lại, giới lãnh đạo Phật giáo đòi hỏi nhà cầm quyền Thừa Thiên: “Phải cho chính xe thông tin chính quyền đi loan báo trước 21 giờ, rằng cờ và đèn Phật giáo vẫn được treo như cũ để cử hành đại lễ Phật đản” 3 .   Viên Tỉnh trưởng buộc phải chấp nhận.  Đứng trên thềm ban công Tỉnh tòa, trước đông đảo quần chúng, viên Tỉnh trưởng tuyên bố: “Tỉnh tòa sẽ cho 2 xe thông tin đi loan báo để đồng bào treo giáo kỳ lại như cũ” 4 . Ngay khi ấy, một lá cờ Phật giáo cỡ lớn được phất cao lên trước sân tỉnh tòa cùng với tiếng hoan hô của quần chúng.   Công điện triệt hạ cờ Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị nhân dân Huế bẻ gãy ngay từ cuộc đụng độ đầu tiên. Sự kiện này đánh dấu sự mở đầu phong trào Phật giáo Huế năm 1963.

              2. Sự ra đời Tuyên ngôn ngày 10-5-1963 và cuộc đấu tranh đời thực thi tuyên ngôn.  Tối ngày 7-5-1963, một cuộc họp mật của giới lãnh đạo Phật giáo được tổ chức tại chùa Từ Đàm. Phân tích tình hình, giới lãnh đạo Phật giáo cho rằng chính quyền Ngô Đình Diệm không đơn giản chịu từ bỏ chính sách kỳ thị Phật giáo. Điều quan trọng là họ thấy được rằng quần chúng Phật tử đã quyết tâm vùng dậy, “họ không muốn tiếp tục sống như trước nữa”. Thời cơ cho việc phát động một phong trào đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm đã đến. Hội nghị quyết định đoàn rước Phật sáng hôm sau (8-5) từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm “sẽ là một cuộc biểu tình có tổ chức, chính thức mở màn cho cuộc vận động của Phật giáo Việt Nam dưới hình thức công khai” 1 .

              Về sách lược đấu tranh, hội nghị đưa ra những nét đại cương như sau: “Tính chất: Thuần túy tín ngưỡng; Mục tiêu: Bình đẳng và tự do cho tín ngưỡng Phật giáo (trong phạm vi nhân quyền); Phương pháp: Bất bạo động; Đối tượng: Chỉ phản đối chính sách bất công, không coi chính phủ, nhất là không coi Thiên Chúa giáo là kẻ đối lập” 2 .

              Sáng ngày 8-5-1963, cuộc rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm bắt đầu từ 6 giờ 30. Khi đoàn rước Phật đi được nửa đường thì một biểu ngữ có nội dung chống chính quyền Ngô Đình Diệm xuất hiện. Một số vị sư trong giới lãnh đạo Phật giáo yêu cầu quần chúng hạ các biểu ngữ xuống, nhưng sau đó các biểu ngữ được trương lên nhiều hơn. Mỗi khẩu hiệu được đọc và hô to nhiều lần, nhất là khi đi qua trước Tỉnh tòa, và cứ thế cho đến khi đoàn rước Phật về tới chùa Từ Đàm.

              Tại lễ đài chùa Từ Đàm, trước lúc cử hành lễ chính thức, ông Hội trưởng hội Phật giáo Trung Phần đã giải thích từng câu biểu ngữ và cho rằng: “Nguyện vọng của Phật giáo đồ rất chính đáng và có tính cách xây dựng, không chỉ có lợi cho Phật giáo, các tôn giáo khác, mà còn lợi ích cho cả chính phủ nữa” 3.  Ông tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tôn giáo và đòi thi hành một chính sách bình đẳng  tôn giáo. Quần chúng đồng tình và hoan hô nhiệt liệt.          

Theo chương trình đã được loan báo, buổi lễ Phật đản đã được tổ chức tại chùa Từ Đàm vào sáng ngày 8-5-1963 sẽ được Đài phát thanh Huế truyền thanh lại vào 20 giờ 05 cùng ngày. Tuy nhiên đến giờ đó, chương trình truyền thanh lại buổi lễ Phật đản đã bị hủy bỏ. Một lần nữa chính quyền Ngô Đình Diệm lại “tự kêu gọi” quần chúng xuống đường.

              Tại chùa Từ Đàm khi nghe tin này giới lãnh đạo Phật giáo đã cấp tốc đến Đài phát thanh để can thiệp, đông đảo Phật tử đã cùng đi theo. Khỏang 21 giờ, Đài phát thanh Huế đã bị đông đảo quần chúng bao vây. Khi cuộc đàm phán đang diễn ra bên trong Đài phát thanh giữa giới lãnh đạo và viên Tỉnh trưởng thì ở bên ngoài xe tăng, binh lính và cảnh sát được điều động đến và cuộc đàn áp diễn ra. Hậu quả là 8 Phật tử bị thiệt mạng và nhiều người bị thương. Đây là một bằng chứng không thể chối cãi được về tội ác của chính quyền Ngô Đình Diệm trước dư luận trong và ngoài nước.

              Ngày hôm sau (9-5), đông đảo quần chúng Phật tử đổ ra đường biểu tình. Họ tố cáo sự tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm và yêu cầu giới lãnh đạo Phật giáo tiếp tục cuộc đấu tranh để bảo vệ  Đạo pháp. Sáng ngày 10-5, được lệnh triệu tập của giới lãnh đạo Phật giáo, tín đồ Phật tử các phường và các xã phụ cận đổ về chùa Từ Đàm. Quần chúng dương cao nhiều biểu ngữ: “Đả đảo hành động sát nhân, vu khống; Hãy giết chúng tôi đi; Máu đã chảy, chúng tôi sẵn sàng đổ máu, v.v....”.

              Trước đông đảo quần chúng Phật tử, Hội trưởng hội Phật giáo Trung Phần khẳng định lại một lần nữa về chủ trương đấu tranh hòa bình, bất bạo động, không đặt một tôn giáo nào làm đối tượng mà chỉ nhằm mục đích công bằng xã hội. Tiếp theo, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết - Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, công bố “Bản Tuyên ngôn của Tăng, tín đồ Phật giáo Việt Nam”, trong đó gồm năm nguyện vọng đòi thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo và khẳng định quyết tâm tranh đấu của tăng, tín đồ Phật giáo miền Nam: “Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến lúc nào những nguyện vọng hợp lý  trên đây được thực hiện” 1 .

              Ngay sau khi nhận được tin vụ đàn áp đẫm máu của chính quyền Ngô Đình Diệm diễn ra ở Huế, khắp nơi trong cả nước không chỉ riêng Phật giáo mà tất cả các tổ chức cách mạng, các đoàn thể quần chúng, các tôn giáo đều lên tiếng tố cáo chính quyền Ngô Đình Diệm và ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo Huế. Ngày 14-5, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam   ra tuyên bố vạch rõ: “Cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền phát-xít Mỹ-Diệm đối với đồng bào biểu tình tay không ngày 8-5 ở Huế là một hành động tội ác tày trời không thể tha thứ được đối với nhân dân ta nói chung và đối với đồng bào theo đạo Phật nói riêng .... và nhất định nó sẽ càng nung nấu thêm lòng căm thù và chí kiên quyết tiêu diệt chúng   của tín đồ các tôn giáo ở miền Nam Việt Nam2. Bản Tuyên bố ủng hộ 5 nguyện vọng đã nêu trong Tuyên ngôn ngày 10-5-1963 của tăng, tín đồ Phật giáo miền Nam.

              Xã luận báo Nhân Dân ngày 15-5 đã lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Phật giáo Huế. Bài xã luận viết: “Cuộc đấu tranh của đồng bào theo đạo Phật và các tầng lớp đồng bào khác ở Huế là một cuộc đấu tranh chính nghiã được nhân dân cả nước ủng hộ. Nhân dân miền Bắc vô cùng khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng bào Huế được sự ủng hộ rộng rãi ở miền Nam. Chúng ta tin chắc cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng của đồng bào Huế và ở toàn miền Nam mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ nhưng nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng” 1 .

              Cũng ở thời điểm đầu tiên này những người Thiên Chúa giáo chân chính đã lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo. Ngày 12-5, linh mục Lê Quang Oánh đã gởi cho giới lãnh đạo Phật giáo Huyết lệ thư nói rõ: “Rất đau buồn cho thế đạo nhân tâm: Xin kính cẩn phân ưu cùng quí vị và các Phật tử trong cuộc tang thương vào dịp lễ Phật đản năm nay ở Huế, tán đồng đấu tranh cho “tín ngưỡng tự do ... Chúng tôi lên án “tội bất công” đã giết hại đồng bào vô tội. Thật là tàn bạo, dã man, phản dân chủ, phản tự do, phản đạo đức, làm nhục cho quốc thể Việt Nam, một nước văn hiến trên bốn ngàn năm lịch sử. Dám quả quyết rằng nhân nghĩa sẽ thắng” 2 .

              Tại Sài Gòn, ngày 15-5-1963, Ngô Đình Diệm tiếp đoàn đại biểu Phật giáo. Cuộc tiếp kiến kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ, nhưng không một nguyện vọng nào của Phật giáo được giải quyết, ngược lại Ngô Đình Diệm cho rằng thủ phạm tại Đài phát thanh Huế chính là cộng sản.

              Ngày 23-5-1963, tại Huế giới lãnh đạo Phật giáo công bố Bản phụ đính của “Bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963”. Đây là một văn kiện rất quan trọng vì nó giải thích rõ ràng, cụ thể về năm nguyện vọng, khẳng định mục tiêu và phương pháp đấu tranh: “Tranh đấu cho lý tưởng công bình, chứ không phải tranh đấu với tư cách một tôn giáo chống một tôn giáo” và phương pháp đấu tranh là “bất bạo động” 3

              Ngày 30-5-1963, cuộc tuyệt thực của giới lãnh đạo Phật giáo được tiến hành trên toàn miền Nam. Tại Huế, tham gia cuộc tuyệt thực ngoài Tăng Ni còn có cả một số giáo sư và sinh viên Phật tử. Trước khi bắt đầu cuộc tuyệt thực, đoàn sinh viên Phật tử Huế gởi thư cho toàn thể sinh viên, học sinh miền Nam, khẳng định cuộc đấu tranh của Phật giáo là phù hợp với : “Lý tưởng Tự do và Bác ái” 4 .

              Sáng ngày 1-6-1963, khi cuộc tuyệt thực sắp chấm dứt, song năm nguyện vọng của Phật giáo vẫn không được chính quyền Ngô Đình Diệm thỏa mãn, quần chúng Phật tử hết sức công phẫn, từ chùa Từ Đàm và chùa Diệu Đế, họ kéo về phía Tỉnh tòa biểu tình dâng kiến nghị, khẳng định quyết tâm tranh đấu của mình: “Hôm nay chúng ta họp mặt ở đây đồng lòng cùng sống chết dẫu một mất một còn cũng cương quyết đấu tranh cho đến cùng và đồng thanh dâng kiến nghị lên Tổng thống và Chính phủ yêu cầu giải quyết thỏa đáng và mau chóng năm nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam” 1. Sau đó đoàn người trở về chùa Từ Đàm để tiếp tục cuộc tuyệt thực thêm 24 giờ đồng hồ nữa.

            Ngày 2-6-1963, đoàn sinh viên Phật tử Huế và một số sinh viên Phật tử Sài Gòn có mặt tại Huế gởi điện khẩn cho Ngô Đình Diệm, yêu cầu giải quyết mau chóng năm nguyện vọng và “thệ nguyện đem tánh mạng của mình để hiến cho 5 nguyện vọng của Phật giáo liên hệ đến lý tưởng tự do bình đẳng” 2 . Để biểu thị tinh thần này, sáng ngày 3-6, 500 sinh viên Huế biểu tình trước trụ sở “Đại biểu chính phủ”. Cuộc biểu tình đã bị lực lượng cảnh sát Diệm đàn áp và giải tán bằng hơi cay.

            Mặc dầu chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành những biện pháp hết sức gắt gao nhằm ngăn chận làn sóng người tham gia đấu tranh, song quần chúng Phật tử vẫn không chịu lùi bước. Thực hiện chủ trương bất bạo động như giới lãnh đạo Phật giáo đã đề ra: “Trên đường đi đến chùa, nếu bị ngăn chặn ở đâu thì xin phép đi từng người một” (điểm 3); “Phật tử tuyệt đối chấp tay niệm Phật khi bị ngăn chận hay bị hành hung” (điểm 4) 3, nên khi quần chúng Phật tử và sinh viên đến cầu Bến Ngự bị các lực lượng vũ trang của Diệm ngăn chận, họ ngồi xuống chấp tay cầu nguyện. Tuy vậy, lực lượng vũ trang của Diệm vẫn thẳng tay đàn áp, chúng ném lựu đạn cay, lựu đạn khói vào giữa đám đông, thả chó becger  để cắn xé đồng bào, tiếp theo là hàng loạt chai acit ném tới tấp vào đoàn người tay không. Cuộc đàn áp đẫm máu này làm 142 người bị thương, trong đó có 49 người bị thương nặng phải đưa vào bệnh viện Trung ương Huế điều trị, 35 người khác bị bắt.

            Ngày 6-6-1963, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã gởi điện khẩn cho Đại sứ R. Goburdhun, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế ở Việt Nam. Bức điện khẳng định rằng: “Vụ đàn áp dã man đối với sinh viên và thanh niên Huế hôm 3-6-1963 xảy ra tiếp theo sau vụ khủng bố đẫm máu đối với các tín đồ Phật giáo hôm 8-5-1963 cũng tại thành phố Huế, sau khi giới Phật tử đưa 5 yêu cầu rất chính đáng mà chưa được giải quyết , chứng tỏ rằng chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn ngoan cố thực hiện chính sách chia rẽ các tôn giáo và phân biệt đối xử, đi đến việc dùng quân đội đàn áp giới Phật giáo, bao gồm đại đa số nhân dân miền Nam Việt Nam ... Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam nghiêm khắc lên án và cực lực phản đối hành động dã man trên đây của chính quyền Ngô Đình Diệm, chà đạp mọi quyền tự do dân chủ và tín ngưỡng của nhân dân miền Nam Việt Nam”, đồng thời yêu cầu Ủy ban Quốc tế buộc chính quyền Ngô Đình Diệm “chấm dứt ngay mọi hành động đàn áp khủng bố thanh niên, sinh viên và nhân dân Huế, trả lại tự do cho các sinh viên bị bắt ngày 3-6 vừa qua, chửa chạy cho những người bị thương và bồi thường thiệt hại cho họ; thực hiện 5 điểm yêu cầu của giới Phật giáo ở miền Nam Việt Nam, những yêu cầu chính đáng được toàn thể nhân dân Việt Nam từ Nam chí Bắc triệt để ủng hộ và dư luận thế giới đồng tình; chấm dứt chính sách chia rẻ các tôn giáo, đàn áp Phật giáo, bảo đảm mọi quyền tự do dân chủ cũng như mọi tự do tín ngưỡng của nhân dân miền Nam Việt Nam” 1 .

            Cũng ở thời điểm này, Mặt trận Dân tộc Giải phóng  Trung Trung bộ ra tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh của Phật giáo. Bản tuyên bố nhấn mạnh: “Lòng căm thù của đồng bào Phật giáo âm ỉ từ lâu, nay bốc lên thành ngọn lửa đấu tranh. Đó là điều không tránh khỏi. Máu đã đổ, nhưng cuộc đấu tranh đang tiếp tục lan rộng, điều đó nói lên ý chí bất khuất và lòng yêu chính nghiã của giới Phật tử và sinh viên học sinh kiên quyết cùng toàn dân ta lên án chế độ phát-xít Mỹ-Diệm ..... Ủy ban kêu gọi đồng bào các tầng lớp, các tôn giáo, các dân tộc ở Nam Trung bộ hãy ra sức cùng đồng bào cả nước và dư luận tiến bộ trên thế giới  làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh này” 2.

            Để giảm bớt tình hình căng thẳng, ngày 1- 6, Diệm cách chức các viên chức cao cấp trong bộ máy chính quyền Thừa Thiên. Tới ngày 4-6, chính quyền Ngô Đình Diệm cho thành lập Uặy ban Liên bộ  để “nghiên cứu và đề xuất từng bước nhằm giải quyết những vấn đề đang tồn tại từ ngày 8-5” 3, đồng thời bãi bỏ lệnh phong tỏa các chùa để được xem như là một “thiện chí” trong cách giải quyết vấn đề Phật giáo. Theo lời kêu gọi của giới lãnh đạo Phật giáo, tín đồ Phật tử trở lại cuộc sống bình thường, kiên nhẫn chờ đợi sự giải quyết của chính quyền Ngô Đình Diệm

            Tuy nhiên, trên thực tế chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn ngấm ngầm bắt cóc, thủ tiêu Tăng Ni, Phật tử. Tại Huế, chính quyền Ngô Đình Diệm xúi dục các gia đình có con em tử nạn trong vụ đàn áp tại Đài phát thanh rút tên ra khỏi danh sách Thánh tử đạo. Ngày 8-6, Trần Lệ Xuân ra thông cáo lên án Phật giáo. Trong tình thế đó, giới lãnh đạo Phật giáo buộc phải tiếp tục cuộc đấu tranh và đưa nó đến một mức cao hơn. Ngày 11-6-1963, tại Sài Gòn, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã anh dũng tự thiêu trước sự chứng kiến của hàng chục ngàn Tăng Ni, Phật tử cùng những quan sát viên và báo chí quốc tế. Cái chết của Thích Quảng Đức có một ý nghĩa to lớn chuyển cuộc đấu tranh của Phật giáo sang một thế mới, trên cả hai bình diện quốc tế và quốc nội.

            Lo sợ một sự bùng nổ lớn, chính quyền Ngô Đình Diệm vội vã ký với giới lãnh đạo Phật giáo một Thông cáo chung vào 2 giờ sáng ngày 16-6-1963. Nội dung Thông cáo chung về cơ bản thỏa mãn được 5 nguyện vọng mà giới lãnh đạo Phật giáo đã đề ra trong bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963. Đứng về phương diện thương thuyết, việc ký kết Thông cáo chung là một thắng lợi lớn đối với Phật giáo.

            3. Phong trào đấu tranh đòi thực thi Thông cáo chung. Thực ra, đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, việc ký kết Thông cáo chung chỉ là một sự nhượng bộ tạm thời để chuẩn bị cho một cuộc đàn áp đại qui mô nhằm đè bẹp phong trào. Âm mưu này được tiết lộ trong một bức điện mật mang số 1342/VP/TT ngày 19-6-1963 của Văn phòng Phủ Tổng thống đánh đi cho Đại biểu Chính phủ các miền, Tư lệnh các vùng, nguyên văn như sau: “Để tạm thời làm dịu tình hình và khí thế đấu tranh quá quyết liệt của bọn tăng ni và Phật giáo phản động, Tổng thống và ông Cố vấn ra lệnh tạm thời nhún nhường họ. Các nơi theo đúng chủ trương trên và đợi lệnh. Một kế hoạch đối phó thích nghi sẽ gởi đến sau. Ngay từ bây giờ hãy chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới. Hãy theo dõi điều tra thanh trừng những phần tử Phật giáo bất mãn và trình thượng cấp kể cả sĩ quan và công chức cao cấp” 1 .

            Vạch trần sự hòa hoãn lừa bịp của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 21-6-1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra lời kêu gọi đồng bào và tín đồ Phật tử miền Nam nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh: “Hiện nay tuy ngoài mặt bọn Mỹ -Diệm chịu nhận giải quyết một số yêu sách  của đồng bào theo đạo Phật nhưng cuộc đấu tranh chưa kết thúc. Với bản chất ngoan cố và xão quyệt, Mỹ - Diệm vẫn tìm mọi cách để hãm hại và đàn áp đồng bào .... Vì vậy đồng bào theo đạo Phật cũng như các tầng lớp nhân dân quyết không vì những lời hứa hẹn xão quyệt của bọn Mỹ - Diệm mà buông lơi và bỏ dỡ cuộc đấu tranh” 2.

            Do quyết tâm cho một ”giai đoạn tấn công mới”, nên kể từ sau khi Thông cáo chung được ký kết, dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, chính quyền Ngô Đình Diệm liên tiếp gây ra những vụ vi phạm, nổi bật nhất là ngày 1-7-1963, trong một lần giải thích về Thông cáo chung, Ngô Đình Nhu ra sức công kích nhục mạ Phật giáo, gán cho những người biểu tình đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo là “những phần tử phiến loạn”. Đối với giới lãnh đạo Phật giáo, Nhu cho là “thiếu giáo dục, thiếu học tập”. Về sự hy sinh cao cả của Thích Quảng Đức, Nhu cho là “một vụ làm chết người có tổ chức, bằng cách tưới xăng đốt sống một vị hòa thượng” 1. Ngày 11-7-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm gởi văn thư cho giới lãnh đạo Phật giáo cho rằng: “Những nạn nhân chết ở đài phát thanh Huế đều do chất nổ (plastic) của Việt cộng, chớ không phải bị xe tăng hay xe thiết giáp đằn, như đã có trong luận điệu trước đây”  2 .

            “Chiến tranh một phía” từ phía chính quyền Ngô Đình Diệm không cho phép giới lãnh đạo Phật giáo hòa hõan được nữa. Ngày 16-7, giới lãnh đạo Phật giáo ra thông bạch kêu gọi quần chúng Phật tử   tiếp tục trở lại cuộc đấu tranh.   Trong lúc cuộc đấu tranh của Phật giáo được phục hồẵi và đang phát triển mạnh mẽ, thì Đại sứ Mỹ, Frederick E. Nolting, trong một cuộc phỏng vấn của Don Baker, ký giả của hãng thông tấn UPI, đã cho rằng: “Hơn hai năm tôi sống tại Việt Nam, tôi chưa bao giờ nhận thấy dấu hiệu nào chứng tỏ có sự kỳ thị tôn giáo” 3 . Ngày 3-8-1963, trong cuộc nói chuyện với phụ nữ bán quân sự, Trần Lệ Xuân lên tiếng công kích và mạ lỵ Phật giáo, rằng “họat động của Phật giáo là một hình thức phản bội xấu xa..”. Về sự tự thiêu của Thích Quảng Đức, Trần Lệ Xuân cho là sự “nướng sư”.   Trả lời phỏng vấn của một ký giả báo New York Times, Trần Lệ Xuân nói: “Tôi còn đánh sư gấp mười lần như thế nữa à. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt tỉnh, không cần biết tới” 4 .

            Những lời lẽ “xa cách sự thật” của Nolting; những lời nhục mạ, vu khống, hăm dọa Phật giáo của Trần Lệ Xuân có tác dụng như “lửa đỏ đổ thêm dầu”, càng làm cho quần chúng thêm căm phẫn, phong trào đấu tranh do đó càng lên mạnh. Ngày 13-8-1963, Đại đức Thích Thanh Tuệ tự thiêu tại chùa Phước Duyên.   Cuộc đấu tranh giành lại thi thể của nhà sư làm 30 người bị thương, trong đó có 8 người bị thương nặng phải chở vào bệnh viện. Ngày 15-8-1963, 1000 sinh viên học sinh biểu tình để phản đối vụ chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp tại chùa Phước Duyên.

            Ngày 16-8-1963, theo lời kêu gọi của giới lãnh đạo Phật giáo, tất cả chợ búa, trường học và công tư sở ở Huế đều nhất lọat tổng đình công. Chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành lệnh giới nghiêm và thiết quân luật.  Các chùa lớn bị phong tỏa, nhà sư Thích Tiêu Diêu tự thiêu tại chùa Từ Đàm. Ngày 17-8, Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế bị bãi chức, các khoa trưởng thuộc Đại học Huế và tòan thể giảng viên viện Hán học ra tuyên cáo lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo và tuyên bố từ chức và nghỉ việc.  Tiếp theo, tòan thể giáo chức và sinh viên Đại học Huế từ chức, bãi khóa.    Diệm cử Trần Hữu Thế ra thay Cao Văn Luận làm Viện trưởng đã bị giáo sư và sinh viên Huế tẩy chay, với khẩu hiệu: “Trần Hữu Thế cút đi” 1 . “Cuộc đấu tranh dũng cảm của 40 giáo sư ở Huế từ chức để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của bọn Cẩn-Diệm... đã nêu cao tính khí khái của người trí thức” 2.   Phong trào bất hợp tác tại Huế trở nên tòan diện, mọi guồng máy xã hội đều bị tê liệt. Cùng với Huế, phong trào ở các đô thị khác ở miền Nam cũng diễn ra khá nhịp nhàng, nhất là ở Sài Gòn.

            Để cứu nguy cho chế độ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho thực hiện “Kế họach nước lũ” : “Cương quyết thanh trừng các phần tử phản bội và quá khích trong các giới tăng, ni, công chức, giáo sư, sinh viên, cũng như trong các đòan thể nhân dân” 3, nhằm giải quyết dứt điểm “vụ Phật giáo”.   “Thời gian ấn định cho việc thực hiện xong kế hoạch là từ 21-8 đến 30-8-1963” 4 .  

            Đúng như kế họach đã vạch ra, đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, Diệm cho quân tấn công đồng lọat hầu hết các ngôi chùa được làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam. Tại Huế, cứ điểm quan trọng của Phật giáo, chính quyền Ngô Đình Diệm cho quân chiếm đóng thành phố và tấn công các chùa. Dân chúng đổ ra đường đánh mõ báo động.  Chùa Từ Đàm, trung tâm chính của phong trào bị tấn công dữ dội lúc thi hài của nhà sư Thích Tiêu Diêu vừa tự thiêu chưa được chôn cất.  Cuộc kháng cự của tăng ni, Phật tử diễn ra rất mãnh liệt kéo dài từ nửa đêm cho đến gần sáng lực lượng Diệm mới phá vỡ được vòng đai phòng thủ để tiến vào bên trong chùa. Các chùa Linh Quang, Diệu Đế cũng bị tấn công và cũng vấp phải phản ứng mãnh liệt của tăng ni, tín đồ Phật tử.    Theo số liệu của chính quyền Ngô Đình Diệm, số tăng ni, Phật tử bị bắt trong đêm đồng lọat tấn công nói trên, chỉ tính riêng ở Huế là 595 người.  Sau đêm tấn công chùa, sân vận động của thành phố đã biến thành một trại giam khổng lồ để giam giữ sinh viên học sinh.

            Cùng lúc với “Kế hoạch nước lũ” Diệm đọc tuyên cáo và ban hành sắc lệnh giới nghiêm, công khai đặt miền Nam trong sự cai trị của chế độ quân phiệt.  Ngày 21-8 và những ngày kế tiếp chính quyền Ngô Đình Diệm cho người đi bắt thêm tại các nhà riêng của họ, trong số đó đa số là giáo sư, luật sư và sinh viên.

          Bằng việc đánh phá chùa chiền, bắt giữ Tăng Ni, Phật tử và ban hành lệnh giới nghiêm, chế độ gia đình trị chính quyền Ngô Đình Diệm đã “thực sự dẫm trúng võ chuối do Phật giáo quăng ra” 1 và đã tự chọn cho mình một tuyệt lộ.

            4. Mâu thuẫn Mỹ - Diệm căng thẳng và sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm.  Liền sau “Kế họach nước lũ”, ngày 22-8-1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra Tuyên bố chỉ rõ: “Điều quan trọng bậc nhất hiện nay là tín đồ Phật giáo cũng như nhân dân các đô thị kiên quyết giữ vững tinh thần, giữ vững đội ngũ, giữ vững đấu tranh ...Tinh thần bất khuất trước sau vẫn là võ khí bất khả chiến thắng của chúng ta. Với ý chí và tinh thần ấy, chúng ta sẽ làm cho Mỹ - Diệm bị thất bại nhục nhã” 2.

            Ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời Tuyên bố nghiêm khắc lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đánh phá chùa, đàn áp và bắt bớ tăng ni, Phật tử, giáo sư, sinh viên học sinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tội ác của chúng, trời đất không thể dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “đồng bào miền Nam ta đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng” 1.

            Trong lúc ở các đô thị phong trào Phật giáo diễn ra hết sức quyết liệt, nhất là ở Sài Gòn và Huế thì ở bên ngoài cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam không ngừng phát triển và giành được những thắng lợi có ý nghĩa to lớn. Bị kẹp giữa hai gọng kìm quân sự và chính trị, mâu thuẫn Mỹ - Diệm càng trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Trong cái “thế chẳng đặng đừng”, chính quyền Kennedy buộc phải thực hiện chính sách “thay ngựa giữa dòng”, ủng hộ nhóm tuớng lãnh trong quân đội Sài Gòn làm cuộc đảo chính ngày 1-11-1963. Kết cục, anh em Diệm bị giết chết, chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm sau 9 năm thống trị miền Nam bị sụp đổ. Phong trào Phật giáo Huế kết thúc.

            Suốt 9 năm thống trị của chế độ độc tài gia đình trị chính quyền Ngô Đình Diệm, nhân dân Huế đã cùng với nhân dân miền Nam, liên tục dấy lên các phong trào đô thị trên khắp miền Nam, nhưng phải khách quan mà thừa nhận rằng cho tới lúc này chưa có một phong trào đô thị   nào có qui mô và gây ra “phản ứng dây chuyền” rộng lớn như phong trào Phật giáo Huế năm 1963. Trên thực tế, phong trào đã vượt khỏi ranh giới đơn thuần tôn giáo mà hình thành một phong trào yêu nước rộng rãi trong toàn dân. Phong trào Phật giáo Huế đã ghi một dấu ấn sâu sắc trong lịch đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam. “Những cuộc đấu tranh liên tục của đồng bào theo đạo Phật cùng với những cuộc biểu tình của sinh viên và thanh niên của Huế ... là những tấm gương đấu tranh bất khuất của Huế và của miền Nam anh hùng” 2. Phong trào được xem như là “sự kiện mở đầu phong trào đô thị sau hơn 9 năm dưới chính quyền phát-xít Mỹ - Diệm .... được ghi nhận như là một sự kiện lịch sử của Mặt trận Dân tộc Thống nhất” 1.

            Sau phong trào Phật giáo, Huế “gần như bỏ ngõ”, phong trào đô thị liên tiếp diễn ra. Tình hình này đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi cho sự xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng. Sau phong trào, Thành ủy Huế họp đánh giá, nhận thức thêm vai trò của mỗi tầng lớp nhân dân, bàn vấn đề xây dựng bàn đạp, phát triển Đảng và cơ sở cách mạng trong công nhân, tiểu thương, sinh viên, học sinh, trí thức, công chức và cả nội tuyến ngay trong ngụy quân, ngụy quyền; đồng thời quyết định đưa một số thành ủy viên vào nội thành hoạt động để kịp thời chỉ đạo phong trào.

--còn tiếp 4 kỳ--

© Copyright 2006 giaodiem.com
 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com