
Mấy ý nghĩ nhân cuộc
tranh luận Phúc Lâm – Đồng Trí. _Một Phật tử_ Bài “Kết thúc những tản
mạn với Phúc Lâm với Liên hệ về Bát Kính Pháp” của thày Đồng Trí
(DT), http://giaodiem.com/mluc/mluc_I06/206_garudharma-tdt.htm
mà tôi đọc được hôm qua đã làm tôi thấy thật khổ … cho ông Phúc
Lâm (PL) và những người giông giống ông ấy ở mong ước có một đối
thoại mà người ta biết lắng nghe nhau và mang đến một kết thúc có hậu,
theo nghĩa nếu không phân ‘thắng/bại’ thì cũng đi đến sự cảm thông,
tương nhượng, tôn trọng quan điểm của nhau. Tôi đã nhiều lần đọc
ông PL, nếu ông đúng là có viết với một bút hiệu khác. So với các lần
đó, những gì ông viết liên quan đến vấn đề Bát Kính Pháp cho thấy
rõ một cố gắng kiềm chế, lựa lời. Điều này có vẻ như không lúc
nào ông cũng làm hay làm thành công, nhưng rõ ràng là ông có làm. Thày Đồng
Trí thì đã cho thấy tác phong xứng đáng. Tuy nhiên ông PL hẳn phải … vỡ
ngực vì thấy cái hình ảnh của mình như nó được vẽ ra trong bài “Kết
thúc …” của thày ĐT. Có những điều ông bị
lên án oan mạng, chẳng hạn khi ông viết “Cung Trời Đao Lợi ở đâu
trong khi trái đất di chuyển trong không gian với một vận tốc trung bình
là 107218 km/giờ và quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc trung bình khoảng
1600 km/giờ. Phúc Lâm thấy khó mà trả lời nếu không viện đến đức
tin.” Với một kiến thức tương
đối về thiên văn học, người đọc có thể hiểu phần nào vì sao ông
PL nói khó mà trả lời theo-khoa-học câu hỏi “cung trời Đao Lợi ở đâu
(trong Vũ trụ)?” Phải nói cung trời Đao Lợi ở trong hay ở ngoài Ngân
hà, vị trí và vận tốc thế nào để để người địa cầu (!) nói (phù
hợp với hiểu biết khoa học rằng) nó ở một phương cố định khi mà
địa cầu đang di chuyển, không chỉ chung quanh chính mình và quanh mặt trời,
mà còn di chuyển theo sự di chuyển của Ngân hà? Vân vân. Thày ĐT rõ là không hiểu
cái gợi ý của ông PL theo lối này. Thày chỉ hiểu câu trên như có ý
bác bỏ niềm tin có cung trời Đao Lợi. Nhưng điểm quan trọng là
câu nói đó chỉ có nghĩa, nếu dựa vào kiến thức thiên văn học thông
thường thì khó mà nói cung trời Đao Lợi có. Người ta có thể đánh giá
ông nói như vậy là đúng hay sai hay có mấy phần đúng và mấy phần sai,
nhưng suy diễn xa hơn sẽ quá đáng. Cũng sẽ quá đáng nếu suy diễn rằng ông PL nghĩ “những gì
con người hôm nay không thấy, không thể nghiệm được là những thứ ấy
không có”. Qua sự trình bày vấn đề, ông PL gián tiếp cho thấy ông có
kiến thức về triết khoa học đủ vững chắc để biết rằng khoa học nói
chung chưa bao giờ có cái nhìn ấu trĩ như thế. Rất tiếc là có quá nhiều
những suy diễn như vậy. Một ví dụ nữa là câu ông PL viết: “Thật vậy,
Đức Phật đơn giản chỉ là Bậc Tỉnh Thức. Người đã hiểu và
thấy được những điều mà chúng ta không hiểu không thấy, và đã chỉ
đường khai mở cho chúng ta hội nhập vào cái thấy biết của Đức Phật
(Khai thị hội nhập Phật tri kiến). Đây là cốt tủy của Phật
Giáo, có mục đích giúp cho con người thấy và biết vạn Pháp chúng thực
là như vậy (Như thực tri kiến) và từ đó hi vọng có thể chấm dứt
được những phiền não mà nguồn gốc là vô minh.” Nếu lật các từ điển
Phật học giảng giải, người đọc có thể thấy rằng khái niệm “Tỉnh
thức”, “bậc Tỉnh thức”, “vô minh” vv. … không thể hiểu theo nghĩa
‘thế tục’, thông thường và không đưa đến sự phủ nhận sự chứng
đắc tam minh, lục thông vv. như thày ĐT có ý nói. Không biết từ điển
tiếng Việt v.v... ra sao, nhưng chắc chắn là quyển từ điển tôi có thì
không hề nói như vậy. Thật ra thì không cần đọc
từ điển mới thấy, mà chỉ cần một ít hiểu biết khoa học và suy ngẫm
cho kĩ, thế nào là thấy được các pháp như chúng là, thì đã có thể mường
tượng rằng, đức Phật, như một bậc Tỉnh thức, hẳn phải biết được
quá khứ và vị lai ít nhất theo cách một nhà vật lí biết quá khứ và vị
lai của một đối tượng vật lí. Từ đó, cho dù không có gì khác để
nghĩ hợp lí về tam minh v.v.., người ta cũng không dại gì quả quyết là
không thể có. Các suy diễn như vậy có
lẽ không mấy khó hiểu khi đặt trong quan hệ với những những đánh giá
thế này: “… tại sao lại không được sát sanh, tại sao lại thương yêu
bình đẳng với tất cả các loài chúng sanh? Phúc Lâm có bao giờ thấy
thú vật đầu thai thành người đâu mà phải giữ gìn giới cấm sát sanh,
chỉ cần có tình nhân loại đại đồng là đủ rồi và vật dưỡng nhơn
mới phải chứ, tranh thủ giết cho nhiều loài vật để tạo điều kiện
phục vụ loài người không phải là tốt hơn sao?” Phải chăng ý ở đây là
phải tin thuyết tái sanh thì việc “không … sát sanh, thương yêu bình đẳng
với tất cả các loài chúng sanh” mới trở nên hợp lí? Nếu đúng như
thế thì không có gì sai lầm hơn. Có bao nhiêu là người không tin tái sanh
nhưng ăn chay và cố gắng tiết giãm sự giết hại thú vật, từ nhận thức
rằng tất cả các loài chúng sanh có cùng thể tính, hoặc hiểu sự tồn tại
của con người có quan hệ mật thiết với sự sống ở các chúng sanh
khác, vv. Và trong thời đại của ý thức sinh thái mà nói “vật dưỡng
nhơn mới phải chứ” là đánh giá thấp, quá thấp kiến thức cùng trình
độ nhận thức của “người thế gian”. Đó là một lí do khiến
tôi viết mấy dòng góp ý này. Nhưng lí do quan trọng nhất là thấy tiếc
cho cuộc đối thoại về Bát Kính Pháp đã đi đến một kết quả không
ra làm sao. Sự suy xét vấn đề theo lí lẽ thông thường của ông PL đã
không được trả lời thỏa đáng. Thày ĐT vẫn tin các dẫn chứng của
mình nhưng người khác không hiểu được vì sao. Theo lẽ thường, một khi
đã dẫn chứng, thày có bổn phận cho ông PL và người khác thấy, trên căn
bản nào hay vì sao các bằng chứng đó được xem là đáng tin. Nhưng theo
thày, ông PL phải đi hỏi nơi những tác giả mà thày đã trích dẫn! Đòi
hỏi này chỉ chính đáng nếu trong
sách của các tác giả liên hệ có những lí luận, lí chứng rằng những
chuyện họ đề cập là có thật hay đáng tin, và rằng các lí chứng này
quá phức tạp để có thể nói vắn tắt trong một hai dòng mà không đưa
đến tình trạng thiếu sót, sai lạc. Riêng các chuyện chính
thày ĐT lấy từ kinh điển thì quan điểm của thày có vẻ là, có từ
kinh điển = có thật hay nên tin: “Trong những dẫn chứng mà tôi đưa ra
liên quan về tượng Phật, tôi không hiểu vì sao Kinh A Hàm và Kinh Đại thừa công đức tạc tượng Phật
– Đại chính Tân tu Đại tạng kinh cũng bị Phúc Lâm xếp vào loại
truyện huyền thoại thuộc về đức
tin vậy nhỉ?” Có nhiều lí do để nói
các dẫn chứng được đưa ra thuộc dạng “huyền thoại thuộc về đức
tin”. Một trong số này là tính cách phản lại các qui luật, thường là
định luật tự nhiên, trong chuyện kể. Các mô tả sử học về cuộc đời
đức Phật đã ngắn và thiếu sót đến thảm hại nhìn từ quan điểm tín
ngưỡng không vì các sử gia không biết đến những chuyện mà tín đồ
tin tưởng, mà vì các chuyện đó vi phạm các qui luật khoa học nhân văn và
tự nhiên. Lí do khác nữa có từ
nghiên cứu về truyền thống tạc tranh tượng của Phật giáo. Sẽ rất
là kì lạ nếu thời đức Phật đã có việc tạc tượng ngài nhưng vài
trăm năm sau tượng Phật lại được tạc theo lối như đã được phát hiện:
Đức Phật đã không được tạc, vẽ trong các tranh tượng kể chuyện Phật
của thời kì đầu, vì người Phật giáo thời đó nghĩ việc làm như vậy
là hạ thấp sự siêu việt của đức Phật! Nói như thế không có nghĩa
là cho rằng các chuyện này không có giá trị, phải bị loại bỏ. Chúng
chỉ không có giá trị như bằng chứng cho thấy là tượng Phật đã có
trong thời đức Phật mà thôi. Đi xa hơn, để biết chúng có hay không có
giá trị đáng trân trọng, cần có nhiều nghiên cứu nghiêm chỉnh với sự
tổng hợp của nhiều bộ môn như sử học, huyền thoại học, ngữ văn học,
tâm lí học … chứ không thể suy đoán theo lẽ thường là đủ. Đó
là nói thật đại khái về cái “hiểu biết thế gian” mà tôi cho là
trong căn bản không có gì trái chống với niềm tin vào đạo Phật. Nếu có
ai nghĩ khác, rằng cái nhìn đó thấp kém, hủy báng hay có hại cho niềm
tin quá, thì cũng nên tìm hiểu nó thấu đáo, ít nhất vì biết người biết
ta thì mới trăm trận trăm thắng, trong nỗ lực truyền bá giáo pháp, dĩ
nhiên. Sơ
lược về giá trị bằng chứng của Tượng Phật và Tháp: Người Ấn độ, từ 3-4.000 năm trước,
đã có tục tạc tượng / tôn thờ hình tượng thần thánh. Không ít đệ
tử của đức Phật, do tôn thờ kính ngưỡng ngài như Devatideva (‘Thần trên các Thần’) nên có lẽ
cũng rất mong muốn tạc hình tượng ngài để thờ kính ngay khi Phật còn
tại thế. Tuy nhiên xu hướng này nếu có thì cũng bị các đệ tử khác,
và chính Phật, bác bỏ vì nó không tương hợp với giáo thuyết của
ngài. Vào lúc cuối đời, Phật quả thật có ý nói, qua lời dặn dò, “Thấy
Pháp là thấy ta”, rằng Phật là Pháp thân thường trụ mà người thực
hành chánh pháp sẽ thấy được chứ không thể tìm nơi một bức tượng
tạc vẽ xác thân ngũ uẫn vô thường của ngài. Phù hợp với sự kiện này, tranh tượng
Phật giáo từ đó cho đến khg. Đầu thế kỉ 1 TL vẫn chỉ có những biểu
tượng mà thôi (chẳng hạn việc Phật sinh ra được vẽ, tạc với một
đóa sen đang nở, Phật thuyết giảng thì biểu thị với bánh xe pháp hoặc
một bệ ngồi trống vv. Chỉ sau đó, theo xu hướng tự nhiên của tín ngưỡng
bình dân, cộng thêm ảnh hưởng văn hóa Hi lạp vv. mà việc tạc tượng
Phật với mắt mũi tay chân … mới có. Xem thêm bài viết giá trị, với
nhiều hình ảnh và các sách tham khảo hữu ích được liệt kê, ở đây: http://www.exoticindiaart.com/article/lordbuddha Về tháp thì trước thời Phật giáo
thành hình, ở Ấn độ đã có tháp, một ngôi mộ lớn để chôn cất vua
chúa v.v. Theo đó, ý tưởng rằng Phật trong thời sinh tiền cho phép dựng
tháp để người khác thờ móng tay, tóc … gì đó của ngài, là một ý tưởng
rất là vô lí: Người nào muốn xin Phật cho phép dựng tháp như thế, người
ấy rất bất kinh, “trù ẻo” cho Phật chết đi! Nó cũng vô lí nhìn từ giáo pháp mà ngài
truyền dạy, và nếu đã không hứng thú với việc người khác muốn tạc
tượng ngài thì Phật cũng không hứng thú với việc người khác dựng
tháp thờ cúng lễ lạy những thứ vô thường, giả hợp của ngài. Xem
thêm hai bài viết giá trị với nhiều hình ảnh về sự tích cùng ý nghĩa
của tháp: http://www.stupa.org.nz/stupa/intro.htm http://www.exoticindiaart.com/article/stupa Long
Khánh v_phamhongthai_vt@yahoo.com.vn
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com