
Phúc Lâm Phúc Lâm rất lấy làm áy náy, vì
bài viết của Phúc Lâm mà khiến Tỳ Kheo Đồng Trí phải mất công bỏ
thì giờ quý báu để viết một bài dài [Phúc
Lâm xin bỏ hai chữ lê thê] “Tản Mạn Đầu Năm Với Cư Sĩ Phúc Lâm”
để phê bình một số điểm trong bài viết của
Phúc Lâm. Được một Tỳ
Kheo chiếu cố đến bài viết của mình, Phúc Lâm cũng cảm thấy có đôi
chút hứng khởi. Thật tâm Phúc Lâm chỉ muốn đóng
góp chút ít hiểu biết hạn hẹp của mình về Phật Giáo chứ không có ý
tranh luận để dành phần thắng đối với bất cứ ai. Lẽ dĩ nhiên, sự hiểu biết của Phúc
Lâm về Kinh Điển Phật Giáo còn thiếu sót rất nhiều, nên cần được
chỉ dạy thêm. Phúc Lâm nghĩ rằng, trong thời đại
ngày nay, chúng ta cần gạn lọc ra những gì tinh túy của Phật Pháp chứa
đầy trong ba tạng Kinh, Luật, Luận. Tại
sao phải gạn lọc. Lý do đơn giản nhất
là Kinh điển Phật Giáo chỉ hình thành khoảng 500 năm sau khi Đức Phật
đã tịch diệt, và Đức Phật không hề viết một chữ. Do đó chúng ta không thể loại bỏ trong
Kinh Phật có những phần được thêm
thắt vào về sau hoặc do “tam sao thất bản” nên không còn đúng với những
gì thực sự là Kinh Phật, nghĩa là đúng với những gì Đức Phật đã thực
sự thuyết giảng. Còn những điều khó
có thể biện minh được thì không nên dùng, vì những điều này không có
tác dụng gì mấy trong sự áp dụng giáo lý của Đức Phật. Phúc Lâm xin lấy vài thí dụ. 1. Vài năm trước đây, đi dự lễ Phật Đản,
Phúc Lâm vẫn nghe được một Thầy giảng là Hoàng hậu Maya vịn cây vô
ưu sinh Đức Phật ra từ nách, và ngay sau khi sinh ra Đức Phật đã bước
đi 7 bước, mỗi bước nở một hoa sen dưới chân. Phúc Lâm biết rõ những điều này là “physically
impossible” nhưng cũng không lên tiếng vì Phúc Lâm vẫn nhớ câu “Kính Phật,
Trọng Tăng”. Phúc Lâm trộm nghĩ, những
điều này có giúp ích gì trong việc truyền bá Phật Pháp? Lẽ dĩ nhiên, chúng ta có thể giải thích
ý nghĩa của những chuyện trong Phật Giáo nhằm nói lên một điều gì đó,
nhưng nếu tin những chuyện đó là sự thật thì đó thuộc về tín ngưỡng. 2. Nếu chúng ta mang chuyện Đức Phật lên
cung trời Đao Lợi trong hạ thứ bảy để giảng Pháp cho chư Thiên và cho
Mẹ rồi lại trở về địa cầu, thì giả thử trong hàng thính chúng có
người hỏi: “Xin quý Thầy cho con biết cung trời
Đao Lợi là ở đâu, và bằng cách nào mà Đức Phật lên cung trời Đao Lợi?” Tất nhiên quý Thầy chỉ có hai cách trả
lời: Thứ nhất, Kinh điển Phật Giáo
viết vậy, cho nên chúng ta cần phải tin là sự việc đã xảy ra đúng là
như vậy, và thứ nhì, Đức Phật có thần thông làm gì chẳng được. Nên nhớ, chuyện trên không phải là lời
Đức Phật “tự thuật” mà là người đời sau viết về Đức Phật mấy
trăm năm sau khi Đức Phật đã tịch diệt, có thể dựa trên những lời
truyền khẩu từ thế hệ này qua thế hệ khác và qua nhiều thế hệ.
Nhưng vấn đề chính vẫn là Cung Trời Đao Lợi ở đâu trong khi trái đất
di chuyển trong không gian với một vận tốc trung bình là 107218 km/giờ và
quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc trung bình khoảng 1600 km/giờ. Phúc Lâm thấy khó mà trả lời nếu không
viện đến đức tin. Nhưng Phật Giáo
lại được biết là một tôn giáo của trí tuệ, chứ phải là tôn giáo của
đức tin, Kinh Kalama đã viết rõ như vậy. Cụ
Khổng cũng dạy, Tận tín thư bất như vô thư (Tin tất cả vào sách
thà chẳng có sách). Bất cứ người nào
dấn thân vào trong lãnh vực học thuật đều hiểu như vậy. Đó là khó khăn mà Phúc Lâm gặp phải khi
đối chiếu học thuật với tín ngưỡng, và nói chuyện với giới trí thức
Tây phương. Nhưng vấn đề là ở chỗ,
theo Phúc Lâm nghĩ, những chuyện đại loại như vậy không giúp ích gì
thêm cho vấn đề tu tập Phật Pháp của quần chúng. 3. Sau đây là một chuyện khác của Tỳ Kheo
Đồng Trí viết, hay kể lại: “Sau khi thành Đạo trở về lại thành
Ca Tỳ La vệ, Đức Phật đã hóa ra một con đường trên hư-không; trên
ấy Ngài đi kinh-hành như đi trên mặt đất, giữa lúc Vua Suddhodana (Tịnh-Phạn),
bá-quan văn-võ và dân chúng rần-rộ ra nghinh đón Ngài, mọi người ngưởng
mặt lên dòm một cách sung-sướng, rồi chấp tay quì lạy, tỏ lòng
tôn-kính Ðức-Phật, chính vua cha Suddhodana (Tịnh-Phạn) cũng quì lạy
Ngài.” Nếu có người nào hỏi rằng
bằng cách nào mà Đức Phật có thể “hóa
ra một con đường trên hư-không; trên ấy Ngài đi kinh-hành như đi trên mặt
đất?” Con đường đó làm bằng gì, đường đất, đường đá hay
đường nhựa? Dựa trên cái gì để
đường đứng vững trong hư không? Định
luật vạn vật hấp dẫn do Phúc Lâm đọc và
suy tư không ít về Kinh sách Phật Giáo và Phúc Lâm thấy rằng, người đời
sau vì quá tôn sùng Đức Phật nên đã thần thánh hóa Đức Phật một cách
quá mức, nhiều khi không giúp ích gì cho Phật Giáo vì trái ngược với những
gì chúng ta hiểu về sự giác ngộ của Đức Phật. Thật vậy, Đức Phật đơn giản chỉ là
Bậc Tỉnh Thức. Người đã hiểu và
thấy được những điều mà chúng ta không hiểu không thấy, và đã chỉ
đường khai mở cho chúng ta hội nhập vào cái thấy biết của Đức Phật
(Khai thị hội nhập Phật tri kiến). Đây
là cốt tủy của Phật Giáo, có mục đích giúp cho con người thấy và biết
vạn Pháp chúng thực là như vậy (Như thực tri kiến) và từ đó hi vọng
có thể chấm dứt được những phiền não mà nguồn gốc là vô minh. Còn những truyền thuyết, tương truyền đều
không giúp ích gì được cho vấn đề tu tập Phật Pháp, nếu không muốn
nói là chỉ khiến cho con người mê hoặc trong những chuyện khó có thể
tin trong thời đại ngày nay. Phật
Pháp bất ly thế gian Pháp, thế gian ngày nay khác xa với thế gian thời Đức
Phật còn tại thế, khi đó trên khắp thế gian, không chỉ riêng gì ở Ấn
Độ, tràn ngập những chuyện mà ngày nay được xếp vào loại huyền thoại,
và con người có thể tin vào bất cứ điều gì.
Vấn đề không phải là “Phật Pháp đúng là Phật Pháp”
không còn giá trị hay cần phải thay đổi trong thời đại ngày nay mà chỉ
là chúng ta cần phải tháo gỡ những lớp sơn phết nằm trong kinh điển
Phật Giáo để cho Chánh Pháp hiển lộ như là Chánh Pháp. Gạn lọc ra những tinh túy của Phật Giáo
không có nghĩa là thế tục hóa Phật Giáo, mà Phật Giáo không phải là thế
tục thì là cái gì, mà chỉ là làm cho bộ mặt Phật Giáo đúng nghĩa hơn
với tinh thần Phật Giáo, tinh thần của một tôn giáo dựa trên trí tuệ,
suy nghiệm. Phúc Lâm sống ở Mỹ. Tỳ Kheo Đồng Trí cũng sống ở Riêng về Bát Kỉnh
Pháp, Phúc Lâm chỉ thấy quý Thầy viện lẽ các Thầy Tổ không bác bỏ
và phần lớn lý lẽ của chính mình ra để biện hộ cho tính cách xác thực
của Bát Kỉnh Pháp và nhất định cho là có ích cho sự trường tồn của
Phật Pháp và sự hòa hợp của Tăng Ni Đoàn.
Tại sao quý Thầy cứ muốn áp đặt lý lẽ của mình lên các
Tỳ Kheo Ni? Bát Kỉnh Pháp là để cho
Tỳ Kheo Ni áp dụng chứ chẳng phải để cho các Tỳ Kheo biện giải. Cách biện giải tốt nhất trong tinh thần
học thuật là tìm ra lẽ thật trong đó,
có phải là do chính Đức Phật nói hay không, có thực tế để áp dụng
trong thời nay hay không, chứ không phải là biện giải về những ích lợi
của Bát Kỉnh Pháp trong thời đại cách đây hơn 25 thế kỷ. Vậy cách giải
quyết hợp lý nhất là hãy để cho các Tỳ Kheo Ni tự giải quyết vấn đề
của họ là nên áp dụng Bát Kỉnh Pháp như thế nào. Xin đừng cho rằng trí tuệ các Tỳ Kheo Ni
thấp kém nên cần sự chỉ đạo tinh thần của giới Tỳ Kheo, nhất là cần
sự giảng dạy của các Tỳ Kheo về Bát
Kỉnh Pháp cho họ. Phúc Lâm tin rằng các Tỳ
Kheo Ni thừa trình độ để hiểu Bát Kỉnh Pháp và nếu cần
thì nên áp dụng như thế nào. Bây giờ, Phúc Lâm xin
phép sang phần góp ý kiến về vài điều trong bài “Tản Mạn…” của Tỳ
Kheo Đồng Trí. Những hàng chữ màu
xanh là của Tỳ Kheo Đồng Trí. Việc
quý vị phản ứng với bài giảng của Thầy Nhật Từ về Bát Kính Pháp
có phải là xuất phát từ “chia rẽ phe phái” ( thậm chí còn muốn
chụp lên đầu Thầy ( Nhật Từ) một lúc vài cái nón hoàn toàn có
tính cách chụp mũ vô trách nhiệm, vô căn cứ) hay là xuất phát từ lòng
tôn kính Đức Phật mà nay họ cảm thấy có người làm thương
tổn Đức Từ Phụ của họ bằng cách diễn dịch lệch lạc nên họ
“bức xúc” lên tiếng bằng mọi cách? Phải chăng vì lòng
tôn kính Đức Phật nên một trưởng tử Như Lai có thể lên tiếng bằng
mọi cách gồm cả vu khống và chụp mũ? Như vậy thì ai là người đã làm thương
tổn đến Đức Phật ở đây, và người đời có thể làm thương tổn đến
Đức Phật được hay sao? Ngoại đạo
đã toan tính làm việc này trong bao thế kỷ nay rồi, có thương tổn được
đến Đức Phật hay không? Theo sự hiểu
biết và trình độ của mình thì mình thấy đó là làm thương tổn Đức
Từ Phụ bằng cách diễn dịch lệch lạc, nhưng theo sự hiểu biết và
trình độ của người khác thì đó lại là một công việc nghiên cứu
trí thức nghiêm chỉnh. Ai đúng ai sai? Nhưng bất kể là ai đúng hay ai sai thì
cái kiểu “lên tiếng bằng mọi cách” là không thể chấp nhận trên diễn
đàn trí thức, nhất là trong Tăng đoàn vẫn tự cho là có nhiệm vụ giúp
dạy giáo lý, đạo đức cho Tỳ Kheo Ni. Lẽ
dĩ nhiên đây chỉ là vài cá nhân chứ không phải là tập thể. Trong tất
cả các bản kinh văn chỉ có ghi những câu tương tự với câu : «Nếu
người nữ không xuất gia ở trong Phật pháp thì Phật pháp sẽ được lâu
dài năm trăm năm.» [???] Đức Phật
chỉ nói là chấp nhận nữ giới vào Giáo Đoàn thì chánh pháp giảm thọ
một nửa hoặc là giảm thọ 500 năm (tùy theo văn bản) chứ không phải
báo trước là Chánh Pháp không tồn tại đến 2500 năm. “Về
việc Ni giới hiện diện trong Giáo đoàn sẽ làm giảm thọ chánh pháp, điều
này không sai và Như Lai đã thấy trước điều đó. Mọi người chúng
ta bây giờ vẫn cho rằng Chánh Pháp đang tồn tại phải không? Vậy thì cũng
được – có sao đâu? Ở trên kia, tôi đã loại trừ lối quy kết của Thầy
Nhật Từ cho là : Đức Thế Tôn đẳng thức hóa chánh pháp tồn tại 1000
năm. Cái chính là với Tuệ giác và thần thông của Như Lai : Như Lai thấy
trước nếu không có Ni giới vào Giáo Đoàn
thì Chánh Pháp sẽ trụ thế bao nhiêu năm ( ví dụ : A năm) và nếu có Ni giới vào rồi
thì Chánh Pháp trụ thế bao nhiêu năm ( ví dụ : B năm) sau đó mới làm
phép trừ : vậy thì do Ni giới vào giáo đoàn nên thọ mạng Phật Pháp giảm
là : A – B năm. Chúng ta là người
phàm mắt thịt, chúng ta không biết được A là bao nhiêu, B là bao nhiêu
thì làm sao biết được hiệu số A – B sẽ là bao nhiêu? Muốn mặc cả với
Phật, trước hết chúng ta phải có thần thông và phải biết bao nhiêu năm
nữa thì mạt pháp, bao nhiêu năm nữa thì Phật Di Lặc ra đời, lúc đó Tăng
đoàn biến mất trước hay Ni đoàn biến mất trước, người Tăng cuối cùng
hay người Ni cuối cùng của thời mạt pháp tên gì ?, …Lúc ấy chúng ta mới
bàn với nhau là : sao lời tiên đoán của Phật không phù hợp với điều
tôi đang thấy được, còn bây giờ nếu như không thấy biết một cái gì
hết về tương lai, không biết chánh pháp sẽ còn trụ bao nhiêu năm thì
làm sao quyết định là lời tiên đoán của Phật không phù hợp?” … Thầy Nhật
Từ đưa ra con số 1000 năm không phải là không có căn cứ. Trong những cuốn nghiên cứu về Phật
Giáo của các học giả, có nhiều sách ghi lại con số này. Thí dụ như Paul Carus viết trong cuốn The
Gospel of Buddha, trang, 92, dưới chủ đề Women Admitted To The Sangha,
như sau: “Và Đức Thế Tôn, thấy trước sự nguy hiểm nếu chấp nhận
cho nữ giới gia nhập Tăng đoàn, phản đối là trong khi Chánh Pháp chắc
chắn sẽ tồn tại 1000 năm, khi nữ giới gia nhập Tăng đoàn, Chánh Pháp sẽ
suy tàn sau 500 năm” (And the Blessed One, foreseeing the danger that lurked
in admitting women to the Sangha, protested that while the good religion ought surely to
last a thousand years it would, when women joined it, likely decay after five hundred
years.). Một tài liệu khác trong
cuốn Buddha and The Gospel of Buddhism của Ananda K. Coomaraswamy, trang 55, viết
như sau: “Và Đức Thế Tôn chấp thuận cho nữ giới được gia nhập
Tăng đoàn, nhưng phải tuân hành 8 bổn phận dưới quyền các Tỳ Kheo (Bát
Kỉnh Pháp).” Đức Phật còn
nói: “Nhưng, nếu nữ giới không được phép gia nhập Tăng đoàn
thì Chánh Pháp sẽ tồn tại 1000 năm, nhưng nay Chánh Pháp chỉ có thể tồn
tại 500 năm mà thôi.” (And the Blessed One consented that women should make
profession and enter the Order, subject to the conditions of the Eight Duties of
Subordination to the Brethren. “But”, He
added, “if women were not admitted to the Order, the would the Good Law endure for a
thousand years, but now it will stand gor five hundred years only.). Trong cuốn Buddhism, Christmas Humphreys
đặt nghi vấn, trang 38: “Đức Phật thực sự có tiên đoán như vậy
không, chúng ta không biết rõ” (Whether He truly made such prophecy we do not
know.) Có lẽ Thầy Nhật Từ cũng muốn
đặt một nghi vấn như vậy. Như vậy
lý luận biện giải của Thầy Thông Trí Cái chính là với Tuệ
giác và thần thông của Như Lai : Như Lai thấy trước nếu không có Ni giới vào Giáo Đoàn thì
Chánh Pháp sẽ trụ thế bao nhiêu năm ( ví dụ
: A năm) và nếu có Ni giới vào rồi thì Chánh Pháp trụ
thế bao nhiêu năm ( ví dụ : B năm) sau đó mới làm phép trừ : vậy thì do
Ni giới vào giáo đoàn nên thọ mạng Phật Pháp giảm là : A – B năm. Chúng ta là người phàm mắt
thịt, chúng ta không biết được A là bao nhiêu, B là bao nhiêu thì làm sao
biết được hiệu số A – B sẽ là bao nhiêu?
thật
ra là chẳng biện giải được điều gì, chỉ là một kiểu lý luận để
phản bác nhận định của Thầy Nhật Từ về con số 1000 năm. Đây là kiểu lý luận dựa trên “một phương
trình có nhiều ẩn số” và do đó không có đáp số hoặc có vô số đáp
số. Con người sống trên trái đất
chỉ còn tồn tại nhiều nhất là 5 tỷ năm theo sự tính toán của các
khoa học gia, khi đó mặt trời không còn là mặt trời như ngày nay nữa. Giả thử chúng ta lấy con số giảm thọ
500 năm trong một văn bản nào đó thì rất có thể A = 5 tỷ năm, B = 500
năm. Tỷ số 500 trên 5 tỷ là 1 trên
10 triệu. Chánh Pháp giảm thọ một phần
trên 10 triệu, nghĩa là cứ mỗi 10 triệu năm thì giảm thọ mất 1 năm, một
con số không đáng kể. Vậy mà Đức
Phật lại lo là Chánh Pháp bị giảm thọ? Thầy
Nhật Từ chẳng qua chỉ muốn chứng minh là thật ra Đức Phật đâu có
nói gì về Chánh Pháp giảm thọ hay không giảm thọ. Mà chúng ta hiểu thế nào là Chánh Pháp? Chánh Pháp là Chánh Pháp, không phải là
vì có người theo Chánh Pháp mới là Chánh Pháp, cũng chẳng phải là vì
không có ai theo hay chỉ có một người theo, Chánh Pháp không còn là Chánh
Pháp. Chánh Pháp là những chân lý trong vũ trụ mà Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni thời nay, cũng như các Đức Phật thời trước, đã chứng nghiệm được
và chỉ cho chúng sinh con đường đi đến Chánh Pháp. Như vậy, không thể nói là Chánh Pháp thọ
hay không thọ. Nếu chúng ta đồng nhất
hóa Chánh Pháp với những tổ chức, giáo hội Phật Giáo trên thế giới
thì đó lại là chuyện khác. Đảnh lễ
cúng dường đến Đại chúng Tăng có phước đức, công đức không thua
kém gì đảnh lễ cúng dường đến Phật. Quả
thật là : “Đức chúng như hải”. Nếu
lạy Tăng chúng là chuyện làm hàng ngày thì tại sao việc Đề nghị này có tính cách “chọc quê” Thầy
Nhật Từ? Lấy oai đức nhỏ đảnh lễ
oai đức lớn là việc hợp lý sao lại nói là bất công, vô lý, hay chọc quê? Còn thấy “chọc quê”, “bất công”, hay
“vô lý” thì quá chấp nhặt về hình tướng và giới tính rồi còn gì?
Tỳ Kheo Đồng Trí
có vẻ là một chuyên gia về bẻ quặt vấn đề.
Vấn đề là Tỳ Kheo Đồng Trí đang thảo luận về điều thứ
nhất trong Bát Kỉnh Pháp: Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ
cũng phải đứng giậy cúi đầu chắp tay đảnh lễ trước một Tỳ kheo mới
thọ giới Cụ túc được một ngày. Thầy không đồng ý với Thầy
Nhật Từ, cho rằng điều này rất là công bằng và hợp lý, cho nên Thầy
mới “chọc quê” Thầy Nhật Từ bằng một đề nghị vô lý: “Nếu
Thầy Nhật Từ thấy điều này bất công phi lý thì Thầy hãy thử thực
hành điều ngược lại : Trước khi Thầy dạy lớp Ni Thầy đảnh lễ Ni
chúng tam bái.” Thật ra
điều ngược lại phải viết là “Khi Thầy Nhật Từ được 100 tuổi
hạ, thấy một Tỳ Kheo Ni mới thọ giới cụ túc được một ngày cũng phải đứng giậy cúi đầu chắp tay
đảnh lễ” Đây không phải là vấn đề giữa Tăng và Ni, ai đảnh
lễ ai trước hay là công đức trong việc đảnh lễ. Đảnh lễ để mưu cầu công đức thì
thà chẳng đảnh lễ còn hơn. Chẳng
hiểu Tỳ Kheo Đồng Trí có nhớ đến đường kiếm “Tuyệt vô công đức”
của Bồ Đề Đạt Ma tặng Lương Vũ Đế hay không? Biết
bao nhiêu việc liên quan đến thần thông trong Phật giáo, chẳng lẽ Cư Sĩ
Phúc Lâm đề nghị bỏ hết những câu chuyện ấy ra? Nếu Cư Sĩ Phúc Lâm
biên chép một cuốn Sử Phật Giáo chắc là Sử Phật Giáo được giảm
đi gần một nửa vì các chi tiết tương tự như trên đã lưu truyền từ
xưa đến nay sẽ được loại ra ? Chẳng lẽ
bằng chứng nơi Truyện Cổ Phật Giáo,
trong những Website vietsuns.com, truyenviet.com, cuốn sách của Trùng Quang Nguyễn
Văn Hiếu, và những Tư liệu lịch sử và bán lịch sử do Pháp Hiển là do các tác giả ấy khi không ngẫu hứng
sáng tác ra huyền thoại Phật Giáo? Phúc Lâm không có ý
định biên chép một cuốn sử Phật Giáo nên không có vấn đề bỏ hay giảm. Nhưng nếu Phúc Lâm viết về sử Phật
Giáo thì Phúc Lâm có hai chọn lựa. Một
là viết về những điều chính yếu trong quá trình phát triển Phật Giáo,
bắt đầu từ Thái Tử Tất Đạt Đa đến ngày nay. Hai là viết cho thật đầy đủ thì không
bỏ sót một chi tiết nào. Nhưng Phúc
Lâm sẽ khuyến cáo cùng các độc giả là hãy coi chừng, có những chuyện
trong Kinh Phật chúng ta có đọc chỉ nên coi là thuộc loại truyền thuyết,
tương truyền hoặc huyền thoại v..v.. Những chuyện này có thể giúp
chúng ta biết được phần nào bối cảnh văn hóa, xã hội ở Ấn Độ
trong thời Đức Phật còn tại thế, và những đầu óc tưởng tượng
phong phú của con người trong thời đó, chứ không phải là những sự thật
lịch sử. Những bằng chứng
mà Tỳ Kheo Đồng Trí đưa ra thật ra không phải là bằng chứng. Truyện cổ thì không phải là bằng chứng. Thật vậy, Phúc Lâm xin chép lại vài “bằng
chứng” của Tỳ Kheo Đồng Trí: Tương truyền rằng khi đức Phật trở
về trần thế, bức tượng gỗ ấy ngồi dậy và ra nghinh tiếp ngài. Lúc
bấy giờ đức Phật nói: Ngươi hãy về chỗ ngồi, sau khi ta nhập Niết
bàn ngươi hãy là mẫu cho 4 chúng sau này tạc tượng ta: Tượng nghe nói như
vậy liền về chỗ cũ.” (XỨ PHẬT-TÌNH QUÊ I, Thích Hạnh Nguyện,
Thích Hạnh Tấn ) Truyền thuyết kể
lại, lúc Phật đến cung trời Tam thập tam để giảng pháp cho mẹ, nhà
vua cho đẽo bức tượng bằng gỗ chiên đàn để tưởng nhớ đến Phật.
Sau ba tháng, lúc Phật trở lại thế gian, bức tượng trở nên sống động
và đến “chào“ Ngài. Phật mỉm cười nhìn tượng và nói: “Ba tháng
qua chắc ngươi mệt lắm nhỉ!“. Sau nhà vua Udayana, vẫn theo Tinh Vân
trích kinh A-hàm, nhà vua Ba-tư-nặc của nước Kiều-tát-la và trưởng giả
Cấp Cô Độc cũng cho đúc tượng của Phật.” (Nguyễn Tường Bách, Về một bức
tranh của Phật Thích-ca) Tương truyền và
truyền thuyết thì không phải là bằng chứng trừ phi đã được kiểm chứng
bằng nhiều phương pháp. Nhưng cho rằng Đức Phật muốn cho sau này Tứ
Chúng tạc tượng Người thì theo Phúc Lâm đúng là phỉ báng Phật. Về sau Tứ Chúng tôn kính Phật, tạc tượng
Phật, coi đó như là một biểu tượng về sự giác ngộ của Phật, có
theo đúng mẫu đó không? Về Pháp Hiển thì chúng ta nên biết là
Ngài bắt đầu đến Bắc Ấn Độ vào năm 399 sau Tây Lịch, nghĩa là sau
khi Đức Phật tịch diệt được gần 1000 năm, ở lại Ấn Độ 10 năm,
sau đó Ngài rời đi Tích Lan và ở lại nơi đây 2 năm. Trong thời gian 12 năm ở hai nơi này, Ngài
chỉ sao chép lại sách vở đã có và hỏi chuyện quần chúng, Tăng sĩ những
nơi Ngài đi qua chứ Ngài không phải là nhân chứng trong những chuyện
Ngài đọc trong Kinh sách hay nghe lại. Khi
được hỏi là có biết khi nào thì Phật Pháp bắt đầu truyền sang
phương Đông không thì Ngài đã trả lời: “Khi tôi hỏi những người
dân ở trong những nước mà tôi đi qua về điều này thì họ đều nói
là họ chỉ nghe lại từ ông cha là, sau khi lập tượng Bồ Tát Di Lặc,
có những Sa Di từ Ấn Độ vượt qua sông mang theo Kinh Phật và Giới Bổn. Tượng Di Lặc được dựng lên hơn 300
năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn”. (James Legge, p. 27: When I asked
the people of those countries about it, they all said that it had been handed down by
their fathers from of old that, after setting up of the image of Maitreya Boddhisattva,
there were Sramans of India who crossed this river, carrying with them Sutras and Books of
Discipline. Now the image was set uprather
more than 300 years after the Nirvana.) [James
Legge đã dịch toàn bộ “Pháp Hiển Truyện” bằng chữ Hán trong “Cao Tăng
Truyện” trong cuốn The Travels of Fa-Hien or A Record of Buddhistic Kindoms,
bản chữ Hán có ở cuối sách.] Cư Sĩ
Phúc Lâm nghĩ thế nào? Kinh Đại thừa công đức tạc tượng Phật - Đại
chính Tân tu Đại tạng kinh, các tác phẩm trên với các tác giả : Tam Tạng
Pháp Sư Huyền Trang, Hòa Thượng Tinh Vân, Hòa Thượng Minh Châu, Thiện
Châu, Huyền Vi, Pasadika, Như Điển, Duy Lực, Thích
Hạnh Nguyện, Thích Hạnh Tấn, Thích Thông Huệ chẳng lẽ tất
cả đều chỉ là ghi lại chỉ là những
truyền thuyết đượm chất hoang đường và khó có thể phù hợp với Bậc
đã đạt Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác như Đức Phật, nếu không muốn
nói là có phần hạ thấp Đức Phật xuống hàng “Vô thượng sư Thanh Hải”?
Xem ra Cư Sĩ Phúc Lâm phải lo việc quỳ
xuống van vái nhiều người rồi và xin những vị ấy “đừng mang những chuyện này mà đi giảng đạo
ngày nay”? Xin phân biệt những cuốn sách thuộc
loại ghi lại, hoặc chép lại những chuyện cổ đã có ở trong sách truyện
với những sách thuộc loại nghiên cứu và phân tích. Trong những đoạn viết hoặc ghi lại của
các tác giả trên không có phần bình luận.
Không có tác giả nào đặt vấn đề, những chuyện đó có thật
hay không, có những bằng chứng nào chứng tỏ là có thật, nhân chứng
nào viết, viết bao giờ v..v.. và v..v.. Những
câu hỏi này thuộc vấn đề học thuật. Chẳng
lẽ Maya Hoàng hậu không được sanh lên cung trời Đao lợi? Chẳng lẽ Đức
Phật không thể dùng thần thông để lên đến cung trời Đao Lợi? Chẳng
lẽ Đức Phật không thể trở về thăm lại cõi Ta Bà này để gặp Ngài
Xá Lợi Phất được? Nếu khẳng định là : “Không thể được” thì quả
thật tôi cũng chẳng còn gì để bàn được nữa. (Đừng quên là chư Thiên
vẫn có thể đến cõi Ta Bà hàng ngày để học hỏi giáo Pháp, chư Thiên
còn đến lui tự tại như thế huống chi là Phật – kinh thường ghi chép
về thính chúng trong các thời thuyết giảng của Đức Phật là : cập
Thích-đề-hoàn nhơn đẳng, vô-lượng
chư thiên, đại-chúng
câu) Cũng vì vậy
Phúc Lâm đã viết: Nếu chúng ta có thể tin những điều
trên thì không có gì cần phải bàn cãi thêm.
Có ai thấy chư
Thiên ở đâu không, và đến cõi Ta Bà hàng ngày để học hỏi Giáo Pháp? Ai dạy Giáo Pháp đó và dạy ở đâu? Ở cõi Tam Vô: không nghe, không thấy,
không biết? Đức
Phật và các vị Thánh Đệ Tử cũng như chư Thiên,… có nhiều phép thần
thông. Các Ngài sử dụng đến phép thần
thông khi nào cần thiết. Chúng ta không được sinh vào thời Đức thời Đức
Phật ( hoặc là không có túc mạnh minh để nhớ lại) thì không biết, đừng
bảo là những chuyện ấy không có. Điều
quan trọng là chúng ta học tu theo chánh pháp vi diệu đã được lưu truyền
lại, chúng ta hãy ghi nhớ và hành
trì những gì : , khi nào các người tự
mình biết rằng các pháp ấy là thiện, là tốt, được người có trí
tán thán, các pháp này nếu được chấp nhận và thực hiện thì sẽ đem
lại hạnh phúc và an lạc”. Vậy xin hỏi
những chuyện thần thông nằm ở chỗ nào trong Chánh Pháp vi diệu? Có phải là những thần thông đó “là
thiện, là tốt, được người có trí tán thán, các pháp này nếu được
chấp nhận và thực hiện thì sẽ đem lại hạnh phúc và an lạc?”
Phúc Lâm nghĩ chừng đó cũng đủ rồi, không cần phải
kéo dài chuyện nói đi nói lại làm gì cho mất thêm thì giờ nữa. Nhưng Phúc Lâm cảm thấy cần phải phê
bình, Phúc Lâm nói là phê bình, chứ không phải là góp ý kiến, đoạn
văn sau đây của Tỳ Kheo Đồng Trí: Tôi
chẳng hiểu ai làm Thầy giáo dạy ngữ pháp lớp 5, lớp 6 cho Cư Sĩ Phúc
Lâm mà truyền cho những cách hiểu về Đại từ nhân xưng tiếng Việt
như thế này vậy? Tại sao có thể có những lối đồng hóa chúng
ta = Người
Hà Nội và
bản thân chánh pháp = Thầy Đồng Trí ? Trong phần kết luận tôi có ghi : “Trong chúng ta, không ai mạnh
dạn tự cho là mình đã nhổ sạch vô minh và nắm chân lý trong tay ( tôi
không biết ai là người ngộ Đạo rồi?).”
Câu nói của tôi ở trên có nghĩa là : Một khi chúng ta - những
người chưa giác ngộ và chứng Thánh quả - không thấy biết tất cả, đối
với một vấn đề nào đó mà không chịu khó nghiên cứu, tiếp tục học
hỏi, nghe, thấy mà chỉ học lụp chụp rồi sẽ có nhiều thắc mắc và
phán xét hăng hái dễ có những lỗi lầm. “Chúng ta” ấy hiển nhiên bao
gồm cả tôi – rõ ràng là không phải lúc nào tôi cũng giác ngộ hay là
thấy biết tất cả - có những vấn đề tôi cảm thấy đã
sáng tỏ, có những vấn đề lại chưa được sáng tỏ và đang cần tiếp
tục học hỏi, nghe, thấy,… Như trên Phúc Lâm đã
nói, Tỳ Kheo Đồng Trí là một chuyên gia bẻ quặt vấn đề, thật không
sai. Trước hết, câu Tôi chẳng hiểu ai làm
Thầy giáo dạy ngữ pháp lớp 5, lớp 6 cho Cư Sĩ Phúc Lâm mà truyền cho những
cách hiểu về Đại từ nhân xưng tiếng Việt như thế này vậy? đã
đi ra ngoài những tiêu chuẩn đối thoại trí thức mà chỉ có mục đích
hạ nhục đối phương. Đây là một kiểu “đối thoại” không được
đẹp. Trong một cuộc thảo luận
trí thức không có một người nào có đạo đức lại mang Thầy giáo của
người khác vào vòng tranh luận. Hơn
nữa, Thầy dạy mà trò không hiểu là lỗi tại trò vì trí tuệ của trò
kém cỏi chứ đâu có phải lỗi tại Thầy.
Phúc Lâm quả thật thấy buồn khi thấy một trưởng tử Như
Lai lại phải dùng đến cái chiêu này. Phúc
Lâm có thể chưa học qua lớp 6, hay chưa nắm được những gì Thầy giáo
dạy trong lớp 6, nhưng Phúc Lâm cũng có thể kiếm trong bài dài [Phúc Lâm
xin bỏ hai chữ lê thê] của Tỳ Kheo Đồng Trí nhiều điều để phán lên
một câu tương tự, nhưng Phúc Lâm chưa từng làm như vậy, và sẽ không
bao giờ làm như vậy, vì đó không phải là tiêu chuẩn đối thoại trí thức
của Phúc Lâm. Phúc Lâm có thể chứng
minh là Tỳ Kheo Đồng Trí đã đưa ra một lý luận ngụy biện để hạ nhục
trình độ của Phúc Lâm. Phúc Lâm chưa
bao giờ tự nhận là trình độ của mình cao ở mức nào cả. Thật vậy, Tỳ Kheo
Đồng Trí đưa ra một lô 4 bằng chứng viết ở trong sách về Tháp Phật
để phản bác Người Hà Nội cho rằng không có Tháp Phật trong thời Phật
tại thế rồi kết luận: ‘Vậy
thì vấn đề rối rắm nảy sinh là tại vì chúng ta không học hết, nghe, thấy, biết hết,
học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay
thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét
thế này thế nọ thôi chứ còn bản thân chánh pháp thì khúc đầu, khúc
giữa và khúc cuối nào có chống trái với nhau?” Vậy vấn đề rối
rắm ở đây là gì, từ đâu mà có rối rắm? Có phải là vì Người Hà Nội
hay “chúng ta” không
học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn trong
Tam Tạng Kinh Điển nên mới
gây ra rối rắm làm cho Tỳ
Kheo Đồng Trí phải gỡ rối
rắm bằng cách đưa ra cái học hết,
nghe, thấy, biết hết từng đoạn
trong Tam Tạng Kinh Điển của mình bằng cách dẫn 4 “bằng chứng”
theo tương truyền và truyền thuyết là có Tháp Phật trong thời Phật tại
thế hay không? Tỳ Kheo Đồng Trí ngụy
biện là “chúng ta” là “chúng ta” trong đó có cả Tỳ Kheo Đồng Trí, như vậy
thì câu phê bình trên của Tỳ Kheo Đồng Trí vô
nghĩa, vì nó “out of context”. Đó là Phúc Lâm
hiểu theo cụm từ “y nghĩa bất y ngữ”, vì đây không phải là đang bàn
luận về bất cứ một vấn đề nào đó mà là đang bàn về chuyện có
Tháp Phật hay không trong thời Phật tại thế giữa Tỳ Kheo Đồng Trí và
Người Hà Nội. Lại một
cách hiểu sai về tiếng Việt nữa. Trong bài trước tôi có ghi là : “Câu
nói của Chúa Jesus rất được khen ngợi và nhắc nhở là : “nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm
má bên trái cho họ tát” Cách viết
ấy gọi là bị động cách ( passive voice) và như vậy nên hiểu là Câu
nói của Chúa Jesus rất được khen ngợi và nhắc nhở bởi nhiều người.
Tôi chưa xác định tôi là một trong số
nhiều người ấy, vậy thì việc gì mà Cư Sĩ Phúc Lâm cưỡng ép
tôi vào trong số những người khen ấy? Chính trong bài viết đã nhiều lần
tôi đề cập đến Bồ tát nghịch hạnh, vượt thoát ra khỏi mọi câu nệ
thông thường mà? Điều mà tôi muốn nói là : những quan niệm và cách nhận
định ngoài thế gian và trong tôn giáo không tương đồng nhau và cũng không
nên áp đặt sự tương đồng tuyệt đối này – vì nếu như thế, một lần
nữa, như tôi đã nói, là : thế tục
hóa tôn giáo. Chúng ta hãy đọc lại nguyên văn đoạn
này của Thầy Đồng Trí: Cách
nhìn nhận sự kiện và những nguyên tắc ứng xử lẫn nhau ở trong Đạo
Phật và ngoài cuộc sống không hoàn toàn giống nhau. Đức Phật không muốn
làm một nhà cách mạng xã hội triệt để mà là một người hướng dẫn
chúng sanh hoàn thiện mình và mọi người. Câu nói của Chúa Jesus rất được khen ngợi và nhắc nhở là : “nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm
má bên trái cho họ tát” . Nhưng nếu đòi hỏi sự công bằng trong xã
hội thì phải nói thế này : “nếu ai tát
má bạn một cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái” và chẳng hạn phim Tàu - Kiếm Hiệp Trung
Quốc xây dựng trên quan điểm “Ân đền, oán trả” còn Phật giáo thì
“ Ân đền oán xả” hoặc là “ Lấy oán báo ân” [???]. Nghĩa là đối với sự công
bằng thế gian thì nếu ai giết cha mẹ bạn thì bạn hãy giết cha mẹ và
cả người ấy nữa nhưng mà với Phật giáo thì bạn không nên làm như vậy.
Vậy thì tại sao chúng ta phải cố gắng để khiến cho mọi cách ứng xử
trong Phật giáo giống với cách ứng xử thế gian? Đưa câu nói của
Chúa Giê-su: “nếu ai tát má bên phải;
bạn đưa thêm má bên trái cho họ tát” để đối chiếu với công bằng
trong xã hội: “nếu ai tát má bạn một
cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái”, phải chăng là để chứng tỏ câu
nói của Giê-su là cao cả, rất được khen ngợi và nhắc nhở “cho mọi
người” chứ không phải là “bởi mọi
người” như Tỳ Kheo Đồng Trí giải thích.
“Bởi mọi người” là Tỳ Kheo Đồng Trí giải thích về sau
chứ không có trong bản văn. Nhưng
đưa câu đó một cách lạc lõng vào đây làm gì?
Để so sánh với chủ trương “ân đền oán xả” của nhà Phật? Hơn nữa, “nếu ai tát má bạn một
cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái” có phải là
tiêu chuẩn công bằng của xã hội không? Đây
là quan niệm “mắt đổi mắt, răng đổi răng” trong Cựu Ước của
Ki Tô Giáo chứ không phải là công bằng của xã hội. Công bằng của xã hội dựa theo luật
pháp trong xã hội chứ không dựa theo sự công bằng theo cái hiểu của Tỳ
Kheo Đồng Trí. Công bằng xã hội là
những biện pháp dùng để ngăn chận người ta khỏi bị tát thêm một
cái nữa. Áp dụng câu của Giê-su, có
người nào đó thử đến gần ông đại diện của Chúa trên trần, tức
là Giáo hoàng, và tát cho ông ta một cái xem ông ta có đưa má kia cho người
ta tát thêm không? Còn nữa, công bằng
trong xã hội không có nghĩa là nếu ai giết cha mẹ bạn
thì bạn hãy giết cha mẹ và cả người ấy nữa, vì luật pháp thế gian, nghĩa là cơ
quan cầm cán cân công bằng trong xã hội không cho phép ai làm như vậy.
Vậy những nhận
định và lý luận của Tỳ Kheo Đồng Trí về tôn giáo cũng như về thế
gian còn có nhiều điều bất cập. Và
những điều bất cập này đã được vận dụng để phê phán Phúc Lâm
là chưa vượt qua trình độ lớp 6, là hiểu sai tiếng Việt, trong khi vấn
đề đã quá rõ ràng, chẳng có gì là khó hiểu cả. Trong một cuộc đối
thoại trí thức, khi đã đi ra ngoài những tiêu chuẩn của đối thoại, thì
đối thoại trở nên vô ích. Cho nên,
Phúc Lâm xin phép được kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí
tại đây. Phúc Lâm cho rằng mình bày
tỏ ý kiến như vậy cũng đủ rồi, không cần thiết phải dấn thân thêm
vào vòng thị phi làm chi cho mất thì giờ. Phúc
Lâm xin cám ơn Giao Điểm đã cho Phúc Lâm cơ hội để bày tỏ vài ý kiến
của mình về đạo Pháp trên một diễn đàn có uy tín hiện nay.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com