giaodiem copyright
          posted: 03.03.2006

   Vài lời của GĐ: Sau loạt bài đối thoại về Bát Kính Pháp của các cư sĩ ‘Người Hà Nội’, Phúc Lâm và Tỳ Kheo Thích Đồng Trí, GĐ có nhận thêm bài “Góp thêm vài ý cùng Tỳ Kheo Đồng Trí” của Phúc Lâm, nhưng chúng tôi đã giữ lại không đăng, vì theo thiển ý các phía đã trưng bày đầy đủ ý kiến. Mới đây, GĐ nhận thêm bài “tản mạn để kết thúc..” của Tỳ Kheo Đồng Trí, vì vậy lần này GĐ cho đăng luôn hai bài như một lời kết thúc về đề tài thảo luận. Tiện đây, GĐ xin giới thiệu một trang web về “Phụ nữ trong Đạo Phật” (Women in Buddhism) được soạn theo các câu hỏi & trả lời rất hữu ích để quý bạn đọc tham khảo thêm; [hoặc đánh vào phần Google search (ở trang Home của GĐ) chữ: “Garudharma” (for Eight Garudharmas), sẽ cho kết quả một số trang web rất hay về Bát Kính Pháp.]  Chân thành biết ơn Tỳ Kheo TĐT và các cư sĩ tham gia thảo luận. GĐ.

http://dharmadate.net/PDF/buddhism/basic/q&a-women.pdf  [font PDF]

KẾT THÚC NHỮNG TẢN MẠN VỚI PHÚC LÂM VỚI LIÊN HỆ VỀ BÁT KÍNH PHÁP

Tỳ Kheo Đồng Trí

Cuộc sống luôn cứ như kéo mọi người vào quỹ đạo của nó. Mãi lo bổn phận và công việc của mình tôi không còn thời gian để tâm suy nghiệm và hầu như quên những bài viết trước của mình về Bát Kính Pháp. Cho đến hôm nay tôi lại nhận được vài tin nhắn trong điện thư ( Emails) của các vị Tăng và Phật tử tại Saigon với lời văn có tính khẩn trương và bức xúc và báo tin cho tôi hay về một bài viết góp ý của Phúc Lâm đối với tôi vừa được đăng trong trang web  Daophatngaynay. Tôi thầm nghĩ : Chà, dạo này phát tài rồi, hết nhận “đối thoại” lại đến “góp ý”, âu đó là những hương vị mới cho cuộc đời mình mà các cao nhân hữu duyên dành cho. Nhưng đọc hết bài viết “Góp thêm vài ý kiến cùng Tỳ kheo Đồng Trí”  của   Phúc Lâm  tôi không còn hứng khởi như vài lần trước nữa bởi lẽ ngoài những câu “tuyên bố xanh rờn” của Phúc Lâm ra, bài viết này không có thêm một ý tưởng gì mới so với bài viết trước cũng của tác giả Phúc Lâm : “Bát Kính  Pháp : Một Vấn Nạn Thời Đại” và điều làm tôi thất vọng hơn là xem ra những điều tôi chỉ điểm, góp ý cho Người Hà Nội và Phúc Lâm trong hai bài viết trước không được Phúc Lâm tiêu hóa chút nào. Bài viết “Góp thêm vài ý kiến cùng Tỳ kheo Đồng Trí”  của   Phúc Lâm  phản ánh cái phản ứng ngắc ngoải trỗi dậy của một người bội thực. Phúc Lâm  cũng đã cho thấy giữa  Phúc Lâm và Người Hà Nội tuy một mà hai, tuy hai mà một cho nên đây là lần thứ 3 và cũng là lần cuối cùng tôi viết những dòng nhắn gửi này đây đến Người Hà Nội và Phúc Lâm vì người ta thường nói : “Sự bất quá tam”. Xem ra Phúc Lâm cứ quanh quẩn hoài với mấy kiểu : “góp ý” hay “ dạy đời”, “ thương hại cho các Thầy lầm lạc” cũ rích, sáo rỗng với vai trò tự phong như là người cố vấn, huấn luyện viên, giám khảo và trọng tài của những cuộc “đối thoại trí thức” chứ chẳng chịu bình tâm đọc kỹ, hiểu kỹ những gì tôi đã viết với tâm tình gói trọn trong đó. Ai mà lại tha thiết  tham gia vào các cuộc “đối thoại trí thức” với tiêu chuẩn nầy nọ của mấy học giả Phương Tây ấy chứ? Những người con Phật chân chính thì chỉ bất đắc dĩ tạm mượn văn tự “ văn dĩ tải Đạo” với thành tâm và trực tâm san sẻ kinh nghiệm tu học của mình mà thôi. Lần này thì tôi không gọi Phúc Lâm là cư sĩ nữa, có lẽ Phúc Lâm chưa phải là một cư sĩ hay đã vượt qua khỏi giới hạn của những người cư sĩ mà đời tôi đã từng gặp. Thôi thì có thể tôi đối diện với núi Thái sơn mà không biết, có thể đây là hình ảnh của Bồ Tát Duy Ma Cật hay Tuệ Trung Thượng Sĩ, cứ mặc cho Phúc Lâm là ai, tôi cứ gọi là Phúc Lâm là đủ rồi chứ không cần đoán định và dù “trung ngôn nghịch nhĩ” thế nào đi nữa thì đây cũng là tâm tình mà tôi nhắn gửi với Phúc Lâm lần cuối. Cũng như những lần trước tôi sẽ trích dẫn lại đây những phần trong bài viết của Phúc Lâm mà tôi cảm thấy có vài điều cần góp ý với Phúc Lâm để suy nghĩ lại.

“Phúc Lâm nghĩ rằng, trong thời đại ngày nay, chúng ta cần gạn lọc ra những gì tinh túy của Phật Pháp chứa đầy trong ba tạng Kinh, Luật, Luận.   Tại sao phải gạn lọc.  Lý do đơn giản nhất là Kinh điển Phật Giáo chỉ hình thành khoảng 500 năm sau khi Đức Phật đã tịch diệt, và Đức Phật không hề viết một chữ.  Do đó chúng ta không thể loại bỏ trong Kinh Phật có những phần được  thêm thắt vào về sau hoặc do “tam sao thất bản” nên không còn đúng với những gì thực sự là Kinh Phật, nghĩa là đúng với những gì Đức Phật đã thực sự thuyết giảng.  Còn những điều khó có thể biện minh được thì không nên dùng, vì những điều này không có tác dụng gì mấy trong sự áp dụng giáo lý của Đức Phật.  Phúc Lâm xin lấy vài thí dụ.

 

1.    Vài năm trước đây, đi dự lễ Phật Đản, Phúc Lâm vẫn nghe được một Thầy giảng là Hoàng hậu Maya vịn cây vô ưu sinh Đức Phật ra từ nách, và ngay sau khi sinh ra Đức Phật đã bước đi 7 bước, mỗi bước nở một hoa sen dưới chân.   Phúc Lâm biết rõ những điều này là “physically impossible” nhưng cũng không lên tiếng vì Phúc Lâm vẫn nhớ câu “Kính Phật, Trọng Tăng”.   Phúc Lâm trộm nghĩ, những điều này có giúp ích gì trong việc truyền bá Phật Pháp?  Lẽ dĩ nhiên, chúng ta có thể giải thích ý nghĩa của những chuyện trong Phật Giáo nhằm nói lên một điều gì đó, nhưng nếu tin những chuyện đó là sự thật thì đó thuộc về tín ngưỡng.” ( những dòng trích dẫn với Font màu nâu thế này là lời của Phúc Lâm)”

 

Vấn  đề này bất cứ người Tăng sĩ nào với trách nhiệm hoằng Pháp đều tâm niệm cả và cũng vì thế tôi mới nêu các hình ảnh triết gia Socrates (470 - 399 BC, Athens), thiên văn học Galileo (1520 – 1642), nội dung bài giảng Kinh Kalama và nhận định của Ngài Phú Lâu Na sau kỳ kiết tập Kinh Điển lần I, với không ít lần nhắc nhở “tam sao thất bổn” …  dài dòng văn tự bàn về Bát Kính Pháp trong mấy lần trước. Nếu không thế thì tôi chỉ cần nói : những điều này đã ghi rành rành trong Kinh Sách chỉ tuân hành thôi, không được quyền đặt vấn đề thế này thế nọ hay bác bỏ ở đây. Việc chi tiết đản sanh của Đức Phật ghi như thế nào thì tùy theo mỗi văn bản, tùy vào văn học Ấn Độ lúc đó và ý nghĩa biểu trưng,… Nhưng nên nhớ rằng sau khi Đức Phật thành Đạo dưới cội Bồ Đề rồi thì năng lực của Ngài không giống như khi Ngài vừa sanh ra và đoạn sau đây không nên nghi ngờ là toàn ghi lại những chuyện truyền thuyết hoang đường dành cho việc tín ngưỡng :

 

Nếu chúng ta mang chuyện Đức Phật lên cung trời Đao Lợi trong hạ thứ bảy để giảng Pháp cho chư Thiên và cho Mẹ rồi lại trở về địa cầu, thì giả thử trong hàng thính chúng có người hỏi:  “Xin quý Thầy cho con biết cung trời Đao Lợi là ở đâu, và bằng cách nào mà Đức Phật lên cung trời Đao Lợi?”   Tất nhiên quý Thầy chỉ có hai cách trả lời:  Thứ nhất, Kinh điển Phật Giáo viết vậy, cho nên chúng ta cần phải tin là sự việc đã xảy ra đúng là như vậy, và thứ nhì, Đức Phật có thần thông làm gì chẳng được.”

 

Việc này tôi đã bàn qua khá nhiều lần rồi, đúng là chúng ta theo lời dạy của Phật “khi nào các người tự mình biết rằng các pháp ấy là thiện, là tốt, được người có trí tán thán, các pháp này nếu được chấp nhận và thực hiện thì sẽ đem lại hạnh phúc và an lạc.“ và hành trì những gì tự mình biết được, nhận thức rõ ràng về những pháp ấy, tuy nhiên Phật không dạy chúng ta là :

 

1/  Năng lực của con người là cao hơn tất cả.

2/ Những gì con người không thấy không biết là những cái ấy không có ( con người có thể thấy biết hết tất cả.

 

Năng lực thấy biết của con người cũng thay đổi và phát triển theo thời gian và không gian nữa. Galileo bị buộc tội dai dẳng cả đời chỉ vì dám nói “ Trái đất quay xung quanh mặt trời”, Nguyễn Trường Tộ suýt bị triều đình Tự Đức kết tội khi quân vì dám “bày chuyện nói” có đèn treo ngược vẫn cháy sáng bao ngày đêm, sống trong vài thế kỷ trước, nếu có ai đó nói con người có thể du hành vũ trụ vài tháng đến các hành tinh khác, có thể nói chuyện với nhau dù cách nhau nửa vòng Trái Đất, có thể đi dưới nước hay sống dưới mặt nước hàng tháng, hàng năm,… thì người này bị cho là có bệnh điên và hoang tưởng. Chúng ta chưa tới tột đỉnh của văn minh và khoa học và những gì chúng ta cho là “không thể được” hôm nay sẽ là hiện thực của mai sau. Do vậy, thật là lầm lẫn và hồ đồ khi phán rằng : những gì con người hôm nay không thấy, không thể nghiệm được là những thứ ấy không có. Chúng ta không ai phủ nhận vai trò của khoa học trong việc cung cấp và phục vụ cho tiện nghi cuộc sống nhân loại, tuy nhiên khoa học cũng chỉ là đúc kết kinh nghiệm của con người, bản thân khoa học không có điểm cuối cùng ( tức là đến chỗ không còn gì để nghiên cứu hay phát minh nữa) và cho dù đến điểm cuối đó thì khoa học vẫn có giới hạn của khoa học. Có ba giới : tâm giới, tự nhiên giới và siêu nhiên giới, khoa học mãi bận rộn khám phá và không bao giờ dứt điểm thấu triệt về tâm giới và tự nhiên giới và mãi sẽ biết rất ít về siêu nhiên giới. Đừng tôn thờ khoa học quá đáng, nếu khoa học là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề thì Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ cần ở thành Ca Tỳ La Vệ học hỏi và luyện tập là đủ chứ không cần phải đi tìm các Đạo sĩ trên núi cao để học Đạo và trải qua bao năm tháng ngồi một mình trầm tư thiền định nơi vắng vẻ mà làm gì? Hãy nhớ là Đức Phật đã khai vẹt thoát ra khỏi luân hồi sanh tử, vượt ra khỏi giới hạn của kiếp sống nhân sinh. Tôn giáo mãi tồn tại vì khoa học không giải quyết nổi các vấn đề như sau đây :

 

1/ Nguồn gốc của sự sống từ đâu sinh ra?

2/ Người chết rồi có tái sanh nữa không?

3/ Có bao nhiêu hành tinh có sự sống trong bầu vũ trụ?

4/ Có sinh vật nào ở hành tinh nào có năng lực cao hơn nhân loại không?

Nhưng vấn đề chính vẫn là Cung Trời Đao Lợi ở đâu trong khi trái đất di chuyển trong không gian với một vận tốc trung bình là 107218 km/giờ và quay xung quanh trục Nam Bắc với vận tốc trung bình khoảng 1600 km/giờ.  Phúc Lâm thấy khó mà trả lời nếu không viện đến đức tin.  Nhưng Phật Giáo lại được biết là một tôn giáo của trí tuệ, chứ không phải là tôn giáo của đức tin, Kinh Kalama đã viết rõ như vậy.  Cụ Khổng cũng dạy, Tận tín thư bất như vô thư (Tin tất cả vào sách thà chẳng có sách).  Bất cứ người nào dấn thân vào trong lãnh vực học thuật đều hiểu như vậy.   Đó là khó khăn mà Phúc Lâm gặp phải khi đối chiếu học thuật với tín ngưỡng, và nói chuyện với giới trí thức Tây phương.  Nhưng vấn đề là ở chỗ, theo Phúc Lâm nghĩ, những chuyện đại loại như vậy không giúp ích gì thêm cho vấn đề tu tập Phật Pháp của quần chúng.”

Không phải thái dương hệ với chín hành tinh Thủy Tinh (Mercury), Kim Tinh (Venus), Quả Đất (Earth), Hỏa Tinh (Mars), Mộc Tinh (Jupiter), Thổ Tinh (Saturn), Thiên Vương Tinh (Uranus), Hải Vương Tinh (Neptune) và Diêm Vương Tinh (Pluto) là hệ hành tinh duy nhất trong vũ trụ mà thật ra chỉ là chín điểm rất nhỏ trong vũ trụ mênh mông vô cùng với vô lượng vô biên hành tinh và thế giới, vậy thì Phúc Lâm bận tâm phân tích vận tốc di chuyển của Quả Đất làm gì? Tại sao lại bắt buộc Cung Trời Đao Lợi phải nằm trong thái dương hệ mới được cho phép là hiện hữu. Phúc Lâm một điều xoay quần với cái chữ  “học thuật”, hai điều mang “ giới trí thức Tây Phương” ra đây mà làm gì? Giới trí thức Tây Phương khẳng định ngoài chín hành tinh trong thái dương hệ không còn một hành tinh nào khác hay sao?

 

Nếu điều gì thấy biết được mới tin, vậy thì những điều như : con người chết rồi có tái sanh,  có vô lượng vô biên thế giới và sự sống, có các cảnh giới : Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, A Tu La, Người, Chư Thiên, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán chúng sanh vào ra sáu cõi ấy, Bồ Tát, Duyên Giác, Phật, tam thế lưỡng trùng nhân quả tự nó hành hoạt không ai điều khiển…chắc Phúc Lâm bảo là những điều này chỉ thuộc về tín ngưỡng không thuộc về học thuật và đừng đem những điều ấy ra nói chuyện với “giới trí thức Tây Phương”?

 

Là người Phật tử ai cũng chấp nhận chư Thiên là hiện hữu và có phép thần thông, Đức Phật sau khi chứng Đạo quả dưới cội Bồ Đề là chứng được tam minh, lục thông, các vị đắc quả A La Hán có nhiều phép thần thông. Phúc Lâm thì không tin như thế, Phúc Lâm chỉ tin là “Thật vậy, Đức Phật đơn giản chỉ là Bậc Tỉnh Thức.  Người đã hiểu và thấy được những điều mà chúng ta không hiểu không thấy, và đã chỉ đường khai mở cho chúng ta hội nhập vào cái thấy biết của Đức Phật (Khai thị hội nhập Phật tri kiến).  Đây là cốt tủy của Phật Giáo, có mục đích giúp cho con người thấy và biết vạn Pháp chúng thực là như vậy (Như thực tri kiến) và từ đó hi vọng có thể chấm dứt được những phiền não mà nguồn gốc là vô minh.” Nhưng tôi đã ghi trong bài viết trước : “Phật giáo không phải chỉ là một môn Đạo Đức Học hay Giáo Dục Học”.  Đức Phật chỉ ra con đường giải quyết vấn đề  luân hồi sanh tử - ra ngoài sự luẩn quẩn thường tình sanh lão bệnh tử là động cơ khiến Ngài vượt thành xuất gia, vậy ý của Phúc Lâm là thế nào, phiền não là gì, vô minh là gì, sau khi chết rồi con người đi về đâu, Phật và các Thánh Đệ Tử của Ngài bây giờ không tồn tại gì hết nữa sao, nếu tồn tại thì tồn tại như thế nào? Đạo Phật chỉ là dạy cho mọi người sống thiện sống an, sống lành trong một kiếp hữu hạn này thôi sao? Nếu vậy thì Phật Giáo có gì hơn là Đạo Đức Học và Giáo Dục Học? Hơn nữa, tại sao lại không được sát sanh, tại sao lại thương yêu bình đẳng với tất cả các loài chúng sanh? Phúc Lâm có bao giờ thấy thú vật đầu thai thành người đâu mà phải giữ gìn giới cấm sát sanh, chỉ cần có tình nhân loại đại đồng là đủ rồi và vật dưỡng nhơn mới phải chứ, tranh thủ giết cho nhiều loài vật để tạo điều kiện phục vụ loài người không phải là tốt hơn sao?

Chẳng lẽ Maya Hoàng hậu không được sanh lên cung trời Đao lợi? Chẳng lẽ Đức Phật không thể dùng thần thông để lên đến cung trời Đao Lợi? Chẳng lẽ Đức Phật không thể trở về thăm lại cõi Ta Bà này để gặp Ngài Xá Lợi Phất được? Nếu khẳng định là : “Không thể được” thì quả thật tôi cũng chẳng còn gì để bàn được nữa. (Đừng quên là chư Thiên vẫn có thể đến cõi Ta Bà hàng ngày để học hỏi giáo Pháp, chư Thiên còn đến lui tự tại như thế huống chi là Phật – kinh thường ghi chép về thính chúng trong các thời thuyết giảng của Đức Phật là : cập Thích-đề-hoàn nhơn đẳng, vô-lượng chư thiên, đại-chúng câu)

“Cũng vì vậy Phúc Lâm đã viết: Nếu chúng ta có thể tin những điều trên thì không có gì cần phải bàn cãi thêm.  Có ai thấy chư Thiên ở đâu không, và đến cõi Ta Bà hàng ngày để học hỏi Giáo Pháp?  Ai dạy Giáo Pháp đó và dạy ở đâu?  Ở cõi Tam Vô: không nghe, không thấy, không biết?”

Phúc Lâm có biết là Phật Giáo đặt tiền đề trên những căn bản có sáu nẻo luân hồi chúng sanh xoay vần và hướng đến Đạo quả vô thượng Bồ Đề liễu sanh thoát tử và độ thoát tất cả chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử chứ không phải sống an lạc một kiếp với báo thân người mà thôi đâu. Việc tu hành lấy Bồ Đề Tâm làm đầu với chí nguyện “thượng cầu hạ hóa ” và bao nhiêu phương tiện và Kinh Luật cũng đặt trên căn bản vì lợi ích cho tất cả chúng sanh bây giờ Phúc Lâm không tin có cung trời Đao Lợi, chư Thiên và cũng không tin Đức Phật và chư A La Hán Thánh có phép thần thông nữa, chắc là cũng không có sự lưu chuyển của chúng sanh trong Lục Đạo,  cứ đòi hỏi chỉ tin vào những điều mắt thấy tai nghe thôi thì quả thật tôi không biết có bao nhiêu Phật tử xưa nay giống như Phúc Lâm vậy? Tất nhiên là người Phật tử không mong cầu đắc quả thần thông chỉ lo việc nhận diện vô minh, trừ tập khí phiền não, sống an lạc, hiện pháp lạc trú, lợi mình lợi người, … tuy nhiên khi đạt đến những tu tiến tâm linh, Thiền định,… trên đường đến Phật quả, phép thần thông tự nhiên mà có với các hành giả ấy. Hơn nữa, hãy thực tế và thành thật một chút, chẳng lẽ Phúc Lâm chỉ quan tâm đến nhân bản và tin theo đoạn kiến, không cần biết sau khi bỏ báo thân này rồi mỗi người sẽ đi về đâu? Còn nếu tin rằng sau khi bỏ tứ đại ngũ uẩn này, đến mục tiêu cuối cùng con người không đồng nghĩa với hư vô mà trở về với thường lạc ngã tịnh vẫn tồn tại miên viễn ở cảnh giới   được gọi là Niết bàn và rồi tìm cách độ chúng sanh về với cảnh giới niết bàn ấy,  điều này có phải Phúc Lâm cho rằng hoang đường bậc nhất trong các hoang đường có trong Phật Giáo hay không? Điều này còn cao tuyệt hơn tất cả những thần thông khác và trong ngôn ngữ thế gian ta gọi là : tồn tại trong nhàn vui vĩnh viễn và bất tử. Phúc Lâm hãy xem đi : giải thoát luân hồi sanh tử, ra khỏi lục đạo luân hồi là mục tiêu của Phật giáo có phải là vô hình, là không thấy nghe được với giác quan bình thường hay không, chứ không phải là Đạo Phật đồng nghĩa với chủ trương nhân bản, cho một kiếp này và cho loài người mà thôi đâu? Tất nhiên, nhổ sạch vô minh, liễu tri nhân quả, sống an lạc và lợi ích, thuần thiện trong hiện tại là con đường thể nhập vào an vui vĩnh viễn. Với niềm tin và từng giây phút thể nhập vào trạng thái an vui này thì hành giả dù gặp nghịch cảnh, nghiệp chướng, dầu sôi lửa bỏng, bị đâm chém, thiên tai, … vẫn thư thái, ung dung, sống an lạc, chết bình an vì đã tỏ lối về. Trong Kinh luật tạng Nam truyền và Bắc truyền có biết bao nhiêu là kinh điển liên hệ đến chư Thiên và trong các Pháp hội Phật giảng chư Thiên đến lắng nghe học Đạo, bây giờ Phúc Lâm không tin có chư Thiên nữa vậy thì có được bao nhiêu bài kinh Phúc Lâm tin là do chính Phật thuyết đây?

 

“Phúc Lâm sống ở Mỹ.  Tỳ Kheo Đồng Trí cũng sống ở Boston, Mỹ.  Tỳ Kheo Đồng Trí thử nghĩ xem có thể mang những chuyện thần thông trong Phật Giáo, chuyện con đường trên hư không, chuyện Tượng biết đi, biết trả lời Đức Phật v..v.. ra để thuyết phục người Tây phương hay cả lớp thanh niên thiếu nữ  Việt vào Phật Giáo không.”

 

Bởi lẽ  thần thông không phải là cứu cánh Phật giáo, thần thông tự nhiên xuất hiện khi tu tập, Ma Vương cũng có thần thông đáng kể, cho nên khi giảng Pháp, đâu có giảng sư nào chú trọng về việc mang ra nhiều chuyện liên quan đến thần thông để cảm hóa người khác vào Đạo đâu. Bởi vì lúc đó có Phật, có chư Thiên chư Thánh, xoay vần bên Đức Phật, con người lúc ấy dù có chứng kiến thần thông thì cũng không có gì là lạ lẫm mà còn thêm lòng tin về Đạo hạnh của người có thần thông ( một thử thách của Ngài A nan là đắc quả A La Hán và chui vào lỗ khóa để vào dự Đại Hội Kết Tập Kinh Điển, chúng tà giáo ngoại Đạo có thần thông theo phá phách, không phục Phật Giáo cho đến khi nào họ biết thần thông của Đức Phật và Thánh Đệ tử cao hơn họ). Đức Phật hạn  chế các Đệ tử thi triển thần thông vì biết rằng chúng sanh thời sau vì ít người chứng được thần thông nên nghe những chuyện ấy tưởng là hoang đường, bán tín bán nghi nơi kinh Pháp. Hôm nay vì có quan điểm cho rằng không có Tháp và Tượng thời Đức Phật tại thế nên tôi mới ghi lại những câu chuyện liên quan như thế mà Phúc Lâm cho là truyền thuyết hoang đường. Dù không tự ý kể ra hay nhấn mạnh quá nhiều về các câu chuyện liên quan đến thần thông nhưng nếu gặp những chuyện như thế trong Kinh Điển thì Phật tử tin chắc chắn là có thật và trong mọi chúng ta đều có sẵn tiềm năng ấy (sẽ nảy sanh thần thông sau này). Dù không nghe, không biết, không quan tâm đến thần thông nhưng khi chứng Thánh quả và Phật quả tự nhiên mỗi chúng ta cũng đều có thần thông mà thôi.

 

“    Những bằng chứng mà Tỳ Kheo Đồng Trí đưa ra thật ra không phải là bằng chứng.  Truyện cổ thì không phải là bằng chứng.”

 

Về vấn đề đã có Tháp Phật khi Phật còn tại thế thì có quá nhiều hay đầy dẫy sử tích Phật giáo xưa nay liên quan đến hai cư sĩ đầu tiên là Tapussa Bhallika đã được Đức Phật cho tóc làm kỷ niệm và đem về lập Tháp để thờ nên xem ra Phúc Lâm không phản bác được nữa, Phúc Lâm chỉ xoáy vào vấn đề là không có cứ liệu xác thực cho việc đã có tượng Phật khi Phật còn tại thế.

 

Trong những dẫn chứng mà tôi đưa ra liên quan về tượng Phật, tôi không hiểu vì sao Kinh A HàmKinh Đại thừa công đức tạc tượng Phật - Đại chính Tân tu Đại tạng kinh cũng bị  Phúc Lâm xếp vào loại truyện huyền thoại thuộc về đức tin vậy nhỉ? 

Trong các tác phẩm của Tinh Vân ta tìm thấy một tài liệu mang tên Seeing the Buddha.. Trong tác phẩm này Tinh Vân luận giải rất hay về các loại “thân“ của Phật, từ tranh tượng thông thường đến các dạng “hiện tướng“ khác nhau của Pháp thân Phật. Đặc biệt, dựa trên kinh A-hàm, Tinh Vân cho hay, bức tượng đầu tiên của Phật là do nhà vua Udayana của nước Kausambi cho tôn tạo lúc Ngài còn tại thế” (Nguyễn Tường Bách, Về một bức tranh của Phật Thích-ca) [1]

Có một vị Thiên nhân chuyên về kiến trúc tên Tỳ-Thủ Yết-Ma hóa thân làm thợ mộc, yết kiến nhà vua xin nhận việc. Chỉ sau một ngày, vị Trời ấy đã tạc xong pho tượng Đức Phật bằng gỗ trầm hương, cao 7 thước mộc, mặt và tay chân đều màu vàng tía. Nhà vua vừa trông thấy bức tượng, phát sinh đức tin thanh tịnh, chứng Nhu thuận nhẫn, bao nhiêu nghiệp chướng phiền não đều được tiêu trừ (Kinh Đại thừa công đức tạc tượng Phật - Đại chính Tân tu Đại tạng kinh).” (Thích Thông Huệ, 32 Tướng Tốt Của Bậc Đại Nhân) [2]

 

Bây giờ tôi có nhiều việc để làm chứ đâu có thời gian lục tìm trong kinh tạng A Hàm hoặc là copy bản kinh Kinh Đại thừa công đức tạc tượng Phật - Đại chính Tân tu Đại tạng kinh  rồi gửi đến cho Phúc Lâm thì Phúc Lâm mới chịu ( nhận được phép pass)? Bản thân tôi thì tôi tin chuyện ấy xảy ra và không trở ngại gì đến việc tu tập của tôi cả, còn Phúc Lâm không tin tưởng thì hãy đi tìm mà chất vấn Tinh Vân Hòa Thượng, Nguyễn Tường Bách và Thích Thông Huệ chứ?  Với nhiệt tâm cho các cuộc “đối thoại trí thức” vì học thuật và tôn trọng các tiêu chuẩn cho nhà trí thức tây phương gì đó…  thì hãy gửi E-mails đến các Ban Biên Tập các trang Webs  ấy rồi  tìm cách liên hệ Nguyễn Tường Bách và Thích Thông Huệ và đi tìm Ngài Tinh Vân. Phúc Lâm làm được việc này thì cũng là cống hiến cho học thuật đó, chắc chắn Nguyễn Tường Bách và Thích Thông Huệ chịu trách nhiệm với những gì mà họ đã viết.

 

Phải chăng vì lòng tôn kính Đức Phật nên một trưởng tử Như Lai có thể lên tiếng bằng mọi cách  gồm cả vu khống và chụp mũ?  Như vậy thì ai là người đã làm thương tổn đến Đức Phật ở đây, và người đời có thể làm thương tổn đến Đức Phật được hay sao?  Ngoại đạo đã toan tính làm việc này trong bao thế kỷ nay rồi, có thương tổn được đến Đức Phật hay không?  Theo sự hiểu biết và trình độ của mình thì mình thấy đó là làm thương tổn Đức Từ Phụ bằng cách diễn dịch lệch lạc, nhưng theo sự hiểu biết và trình độ của người khác thì đó lại là một công việc nghiên cứu trí thức nghiêm chỉnh.  Ai đúng ai sai?  Nhưng bất kể là ai đúng hay ai sai thì cái kiểu “lên tiếng bằng mọi cách” là không thể chấp nhận trên diễn đàn trí thức, nhất là trong Tăng đoàn vẫn tự cho là có nhiệm vụ giúp dạy giáo lý, đạo đức cho Tỳ Kheo Ni.  Lẽ dĩ nhiên đây chỉ là vài cá nhân chứ không phải là tập thể.

Tôi không tán thán những lời khiếm nhã khi bàn thảo về các vấn đề Phật học. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết : “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ tâm tạo”, nên hãy xét về động cơ của các tạo tác vì đó là điều quan trọng hơn cả. Với những vị vu khống và chụp mũ hay “lên tiếng bằng mọi cách” đó, họ nghĩ là họ đang đối diện với những thế lực đang tìm cách diễn dịch sai lạc làm đổ vỡ lòng tin và xáo trộn khiến mọi người không còn biết đâu là chánh pháp. Vì tôn trọng Phật – Pháp nên họ cảm thấy bức xúc, hết sức khó chịu khi có ai làm thương tổn Phật và Pháp. Những phản ứng đó có thể nhất thời và sau này họ sẽ bình tâm xem xét lại mọi khía cạnh của vấn đề. Độc giả cần cảm thông về “Tâm” và “Hành” của họ và tạo điều kiện để các lần sau này họ bảo vệ và hoằng dương chánh pháp với  Từ Bi và Trí Tuệ cho dù đối diện với Ma quân.

 

“ Thầy Nhật Từ chẳng qua chỉ muốn chứng minh là thật ra Đức Phật đâu có nói gì về Chánh Pháp giảm thọ hay không giảm thọ. Chánh Pháp là Chánh Pháp, không phải là vì có người theo Chánh Pháp mới là Chánh Pháp, cũng chẳng phải là vì không có ai theo hay chỉ có một người theo, Chánh Pháp không còn là Chánh Pháp. Chánh Pháp là những chân lý trong vũ trụ mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thời nay, cũng như các Đức Phật thời trước, đã chứng nghiệm được và chỉ cho chúng sinh con đường đi đến Chánh Pháp.   Như vậy, không thể nói là Chánh Pháp thọ hay không thọ.  Nếu chúng ta đồng nhất hóa Chánh Pháp với những tổ chức, giáo hội Phật Giáo trên thế giới thì đó lại là chuyện khác.”

 

Này nhé, khi Chánh Pháp  không còn được lưu truyền, không còn ai nghe, đọc, thấy, biết và hành trì nữa thì gọi là thọ mạng của Chánh Pháp đã hết. Chúng ta sống với thế giới ngôn từ và quy ước thì hãy vượt lên giới hạn của từ ngữ mà hiểu nghĩa đi, đừng nằm chết cứng với mớ chữ nghĩa nữa! Cũng như trước lúc Bồ Tát Tất Đạt Đa chưa thành Đạo dưới cội Bồ Đề thì gọi là cõi Ta Bà lúc ấy không có chánh Pháp tuy rằng đã có nhiều chư Phật ra đời trước Đức Phật Thích Ca tại cõi Ta Bà này và thuyết pháp rồi.

 

“Đảnh lễ cúng dường đến Đại chúng Tăng có phước đức, công đức không thua kém gì đảnh lễ cúng dường đến Phật.  Quả thật là : “Đức chúng như hải”. Nếu lạy Tăng chúng là chuyện làm hàng ngày thì tại sao việc Đề nghị này có tính cách “chọc quê” Thầy Nhật Từ? Lấy oai đức nhỏ đảnh lễ oai đức lớn là việc hợp lý sao lại nói là bất công, vô lý, hay chọc quê? Còn thấy “chọc quê”, “bất công”, hay “vô lý” thì quá chấp nhặt về hình tướng và giới tính rồi còn gì?

“Tỳ Kheo Đồng Trí có vẻ là một chuyên gia về bẻ quặt vấn đề.  Vấn đề là Tỳ Kheo Đồng Trí đang thảo luận về điều thứ nhất trong Bát Kỉnh Pháp: Một Tỳ kheo ni, dầu có trăm tuổi hạ cũng phải đứng giậy cúi đầu chắp tay đảnh lễ trước một Tỳ kheo mới thọ giới Cụ túc được một ngày. Thầy không đồng ý với Thầy Nhật Từ, cho rằng điều này rất là công bằng và hợp lý, cho nên Thầy mới “chọc quê” Thầy Nhật Từ bằng một đề nghị vô lý: Nếu Thầy Nhật Từ thấy điều này bất công phi lý thì Thầy hãy thử thực hành điều ngược lại : Trước khi Thầy dạy lớp Ni Thầy đảnh lễ Ni chúng tam bái.”   Thật ra điều ngược lại phải viết là “Khi Thầy Nhật Từ được 100 tuổi hạ, thấy một Tỳ Kheo Ni mới thọ giới cụ túc được một ngày  cũng phải đứng giậy cúi đầu chắp tay đảnh lễ” Đây không phải là vấn đề giữa Tăng và Ni, ai đảnh lễ ai trước hay là công đức trong việc đảnh lễ.  Đảnh lễ để mưu cầu công đức thì thà chẳng đảnh lễ còn hơn.  Chẳng hiểu Tỳ Kheo Đồng Trí có nhớ đến đường kiếm “Tuyệt vô công đức” của Bồ Đề Đạt Ma tặng Lương Vũ Đế hay không?”

Những người gửi Emails đến tôi rất bức xúc về sắc phong “chuyên gia về bẻ quặt vấn đề” mà Phúc Lâm dành cho tôi. Tôi có hỏi người đó: Theo Ông hiểu thì “chuyên gia về bẻ quặt vấn đề” là người như thế nào? Đáp : đó là người lộng giả thành chơn, muốn biến trắng thành đen, đen thành trắng, thị phi, có mưu đồ, thủ đoạn vì tư lợi nhằm cơ hội gây khó dễ hay nguy hiểm cho người khác, là người giả dối, góp phần gây cho thế giới rối loạn đảo điên. Lúc ấy tôi chỉ nói : thế ư?

Tôi không biết những ý phân tích ngữ nghĩa học trên có phải là những ý nghĩa biểu đạt mà Phúc Lâm muốn chuyên chở đến thông qua cụm từ “chuyên gia về bẻ quặt vấn đề” để ban tặng cho tôi không? Làm việc gì mối người cũng đều đối diện với nhân quả và lương tâm của mình. Tôi chỉ biết là tôi nhiệt tình đóng góp trong việc tìm kiếm và hướng về chân lý, san sẻ kinh nghiệm tu học, ai chấp nhận hay không chấp nhận thì tùy người ấy. Đó là tặng phẩm với sức tôi, tâm tôi và tình của tôi, không có giá trị áp dụng đối với quý vị thì thôi có gì mà phải phiền não và tìm kiếm, chế tác từ ngữ sắc phong đầy hàm ý nọ kia mà làm gì? Chẳng phải : “Trực tâm  thị Đạo Tràng”, “ Bình thường tâm thị Đạo sao?”  Này nhé, Thầy Nhật Từ có nói là trong Phật Giáo hãy tôn kính và đảnh lễ trên hai cơ sở : 1/ hạ lạp lớn, 2/ công đức lớn   vậy thì trên hai cơ sở ấy tôi cũng khuyên Thầy Nhật Từ áp dụng đảnh lễ với Ni  giới:

1/ Hạ Lạp lớn : đảnh lễ Ni trưởng

2/ Công đức lớn : đảnh lễ Đại chúng Ni

Duyên sự đảnh lễ :  thưa hỏi, trình bày ý kiến về Bát Kính Pháp, nên hiểu và thực hành như thế nào trong thời hiện đại như thế nào hay là nên bỏ đi?

Như vậy không phải là tôn kính : Phật – Pháp – Tăng sao? Thế mới gọi là : năng thuyết năng hành, việc đảnh lễ là do đối diện với người có uy đức và hạ lạp chứ không trở ngại vì giới tính. Khi đối diện với người xứng đáng đảnh lễ thì chúng ta đảnh lễ một cách hoan hỉ tự nhiên ( như là một bản năng) và việc ấy vẫn xảy ra hàng ngày mà, Phúc Lâm mang đường kiếm “Tuyệt vô công đức” của Bồ Đề Đạt Ma  vào đây làm gì? Sự thật Ngài Bồ Đề Đạt Ma có ra chiêu và để lại đường kiếm nào đó sao? Vậy thì còn gì là vô chiêu, vô ảnh, tuyệt vô,… nữa? Phúc Lâm không tin là việc đảnh lễ Tam Bảo đúng cách cũng là một pháp tu và có công đức sao?

Tiếp theo đây là những những câu “tuyên bố xanh rờn” của Phúc Lâm :

            “Phúc Lâm nghĩ chừng đó cũng đủ rồi, không cần phải kéo dài chuyện nói đi nói lại làm gì cho mất thêm thì giờ nữa.  Nhưng Phúc Lâm cảm thấy cần phải phê bình, Phúc Lâm nói là phê bình, chứ không phải là góp ý kiến, đoạn văn sau đây của Tỳ Kheo Đồng Trí:

 

Tôi chẳng hiểu ai làm Thầy giáo dạy ngữ pháp lớp 5, lớp 6 cho Cư Sĩ Phúc Lâm mà truyền cho những cách hiểu về Đại từ nhân xưng tiếng Việt như thế này vậy? Tại sao có thể có những lối đồng hóa chúng ta = Người Hà Nội  và  bản thân chánh pháp  = Thầy Đồng Trí ?   Trong phần kết luận tôi có ghi : “Trong chúng ta, không ai mạnh dạn tự cho là mình đã nhổ sạch vô minh và nắm chân lý trong tay ( tôi không biết ai là người ngộ Đạo rồi?).”  Câu nói của tôi ở trên có nghĩa là : Một khi chúng ta - những người chưa giác ngộ và chứng Thánh quả - không thấy biết tất cả, đối với một vấn đề nào đó mà không chịu khó nghiên cứu, tiếp tục học hỏi, nghe, thấy mà chỉ học lụp chụp rồi sẽ có nhiều thắc mắc và phán xét hăng hái dễ có những lỗi lầm. “Chúng ta” ấy hiển nhiên bao gồm cả tôi – rõ ràng là không phải lúc nào tôi cũng giác ngộ hay là thấy biết tất cả - có những vấn đề tôi cảm thấy đã sáng tỏ, có những vấn đề lại chưa được sáng tỏ và đang cần tiếp tục học hỏi, nghe, thấy,…

Như trên Phúc Lâm đã nói, Tỳ Kheo Đồng Trí là một chuyên gia bẻ quặt vấn đề, thật không sai.  Trước hết, câu Tôi chẳng hiểu ai làm Thầy giáo dạy ngữ pháp lớp 5, lớp 6 cho Cư Sĩ Phúc Lâm mà truyền cho những cách hiểu về Đại từ nhân xưng tiếng Việt như thế này vậy?  đã đi ra ngoài những tiêu chuẩn đối thoại trí thức mà chỉ có mục đích hạ nhục đối phương. Đây là một kiểu “đối thoại” không được đẹp.    Trong một cuộc thảo luận trí thức không có một người nào có đạo đức lại mang Thầy giáo của người khác vào vòng tranh luận.   Hơn nữa, Thầy dạy mà trò không hiểu là lỗi tại trò vì trí tuệ của trò kém cỏi chứ đâu có phải lỗi tại Thầy.  Phúc Lâm quả thật thấy buồn khi thấy một trưởng tử Như Lai lại phải dùng đến cái chiêu này.  Phúc Lâm có thể chưa học qua lớp 6, hay chưa nắm được những gì Thầy giáo dạy trong lớp 6, nhưng Phúc Lâm cũng có thể kiếm trong bài dài [Phúc Lâm xin bỏ hai chữ lê thê] của Tỳ Kheo Đồng Trí nhiều điều để phán lên một câu tương tự, nhưng Phúc Lâm chưa từng làm như vậy, và sẽ không bao giờ làm như vậy, vì đó không phải là tiêu chuẩn đối thoại trí thức của Phúc Lâm.  Phúc Lâm có thể chứng minh là Tỳ Kheo Đồng Trí đã đưa ra một lý luận ngụy biện để hạ nhục trình độ của Phúc Lâm.  Phúc Lâm chưa bao giờ tự nhận là trình độ của mình cao ở mức nào cả.”

Lần này tôi được sắc phong dồn dập : “đi ra ngoài những tiêu chuẩn đối thoại trí thức”, “mục đích hạ nhục đối phương”, “Đây là một kiểu “đối thoại” không được đẹp”, “không có một người nào có đạo đức lại mang Thầy giáo của người khác vào vòng tranh luận”, “Phúc Lâm quả thật thấy buồn khi thấy một trưởng tử Như Lai lại phải dùng đến cái chiêu này”, “Tỳ Kheo Đồng Trí đã đưa ra một lý luận ngụy biện để hạ nhục trình độ của Phúc Lâm”

Đại từ nhân xưng được dạy ở ngữ pháp Tiếng Việt lớp 5, lớp 6 mà bây giờ Phúc Lâm lầm lẫn trong việc hiểu về chúng : đồng hóa chúng ta = Người Hà Nội  và  bản thân chánh pháp  = Thầy Đồng Trí ?  thì quay về xem lại trước kia Thầy giáo  truyền dạy nhầm lẫn hay là học trò tiếp thu nhầm lẫn – đơn giản thế thôi. Trong cuộc sống này “nhân vô thập toàn”, “Thánh nhân còn có khi nhầm”, sai lầm là đặc điểm của con người điều quan trọng là biết sửa sai. Bạn học tôi ngày xưa đang là Thầy Cô dạy các cấp phổ thông cũng khá nhiều đó chứ, có người nào tự cho là không hề có sai sót khi giảng dạy đâu. Đừng nói là giáo viên cấp II, cấp III, ngay cả giáo Sư Đại Học, viện sĩ Viện Hàn Lâm khoa học cũng có lúc nhầm lẫn trong việc hiểu và trình bày kiến thức đến người khác như thường. Đừng thần tượng hóa vai trò của người đứng trên bục giảng, họ chỉ có vai trò hướng dẫn, tuy rằng tôn kính họ, nhưng không phải tất cả những gì họ dạy, họ truyền đạt đều là chân lý. Khi học, khi hiểu về một vấn đề nào đó ở cấp I, II, III học sinh được truyền thụ khác, rồi đến khi học ở cấp Đại Học, sinh viên  lại được Giáo Sư mổ xẻ vấn đề một cách khác, hoặc tự mình nghiên cứu cũng phát hiện những điểm khác, có thể thấy được những sai sót cùa Thầy cũ của mình trước kia. Thậm chí học sinh sau này trở thành Thạc sĩ, Tiến sĩ trở về dạy những lớp bồi dưỡng cho những thầy cũ của mình học nâng cấp thêm trong các khóa hè nữa. Khổng Tử - vị được tôn xưng là “Vạn Thế Sư Biểu” - nhận thấy kiến thức của mình còn nhiều điểm không bằng cậu bé Hạng Thác và buông lời thán phục : “Hậu sanh khả úy”, chính Khổng Tử còn chịu phục và học hỏi thêm, vậy thì đối với Thầy giáo dạy lớp 5, lớp 6 có điều truyền đạt sai sót , sao không thể thông cảm cho họ và chấp nhận đó là điều tự nhiên. Mặc dù họ chỉ ra công thức và định nghĩa theo sách giáo khoa là đúng nhưng các Thầy Cô giáo đôi khi đưa ra ví dụ áp dụng hoặc mở rộng vấn đề lại sai và sau này các học trò lại  ấn tượng và áp dụng theo sai. Chính tôi đã chứng kiến học sinh lớp chúng tôi có không ít lần có học sinh cầm phấn lên bảng, rạch bảng làm 2, kề bên phần trình bày của Thầy, học sinh trình bày theo cách của mình để chứng minh trước lớp là Thầy dạy còn có chỗ sai và sót. Thầy cũng vụi vẻ chấp nhận điều sai sót và ưu ái đối với những học sinh đó chứ có ai tự ái và cố chấp hẹp hòi đâu? Ở đây, tôi đâu có nói đụng chạm gì về lương tâm, đạo đức nhà giáo, đâu phải tôi nói Thầy giáo cố tình dạy sai hay đầu độc học sinh, tôi chỉ nói xem lại cách truyền đạt về kiến thức có gì lầm lẫn trong đó không thôi. Dạy các môn Toán học, văn học, triết học là dễ có những sai sót nhiều nhất. Hôm nay Thầy Nhật Từ cũng là giáo sư Đại Học, tuy nhiên nếu thần tượng Thầy Nhật Từ và xem tất cả những gì Thầy Nhật Từ nói đều là chân lý thì nhiều sinh viên Phật học sẽ có những ngỡ ngàng sau này. Chẳng phải nhiều điểm gây  tranh cãi trong bài giảng về Bát Kính Pháp của Thầy Nhật Từ là  thí dụ đó sao? Vậy thì tại sao lại không cho phép những sai sót xảy ra với các Thầy dạy lớp 5, lớp 6? Bạn bè trong lớp chúng tôi nhiều lần kể cho nhau nghe về những phát hiện sai sót ngày xưa của Thầy mình, dù ở xa vẫn viết thư về thăm Thầy và trình bày những phát hiện đó mong người Thầy cũ suy xét lại và gửi lời hồi âm trao đổi, tuy nhiên trong tâm khảm người học sinh vẫn còn chứa chan tình cảm tôn kính Thầy cũ của mình đã dày công bồi đắp nên nền tảng cho mình được như hôm nay. Đó chính là tinh thần tốt đẹp của người trí thức tôn trọng kiến thức và quý kính lẫn nhau, thành thật, thẳng thắn giúp cho nhau tiến bộ.

Vậy thì, khi Phúc Lâm hiểu sai những phần ngữ pháp lớp 5, lớp 6 thì tôi bảo là hiểu sai và tôi khuyên xem xét lại việc truyền đạt và tiếp thu những phần đó khi xưa như thế nào – đó là một lời khuyên chân thành và hợp lý. Những phần ấy dạy và học ở lớp 5, lớp 6 chẳng lẽ tôi lại khuyên xem lại vấn đề dạy và học ở lớp 12?

Còn cụ thể về việc hiểu sai ấy như thế nào thì tôi ghi lại sau đây :

Nguyên văn tôi viết nhắn gởi đến Người Hà Nội như sau :

“Vậy thì vấn đề rối rắm nảy sinh là tại vì chúng ta không học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét thế này thế nọ thôi chứ còn bản thân chánh pháp thì khúc đầu, khúc giữa và khúc cuối nào có chống trái với nhau?”

Phúc Lâm bình về đoạn văn của tôi ở trên như sau :

“Sau khi “chứng minh” là trong thời Phật tại thế đã có “Tháp Phật” và “ảnh tượng Phật” bằng 4 “bằng chứng” trên, Thầy Đồng Trí viết:

Vậy thì vấn đề rối rắm nảy sinh là tại vì chúng ta [alias NgườI Hà Nội] không học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét thế này thế nọ thôi chứ còn bản thân chánh pháp thì khúc đầu, khúc giữa và khúc cuối nào có chống trái với nhau? [Thầy có ý nói là Người Hà-Nội không học hết, nghe, thấy, biết hết, (chỉ) học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều, và tất nhiên Thầy Đồng Trí đã học hết, nghe, thấy, biết hết từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển.  Mừng cho Thầy]”

Hãy nghĩ xem thế nào, tôi có ý tự cho bản thân tôi : đã học hết, nghe, thấy, biết hết từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển hay không? Có ai lại tự cao tự đại như thế nhỉ?

Còn lần này thì Phúc Lâm vẫn còn chưa hiểu ý nghĩa đoạn văn trên của tôi, lại tiếp tục chất vấn thế này :

“Vậy vấn đề rối rắm ở đây là gì, từ đâu mà có rối rắm? Có phải là vì Người Hà Nội hay “chúng ta” không học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên mới gây ra rối rắm làm cho Tỳ Kheo Đồng Trí phải gỡ rối rắm bằng cách đưa ra cái  học hết, nghe, thấy, biết hết  từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển của mình bằng cách dẫn 4 “bằng chứng” theo tương truyền và truyền thuyết là có Tháp Phật trong thời Phật tại thế hay không?  Tỳ Kheo Đồng Trí ngụy biện là “chúng ta” là “chúng ta” trong đó có cả Tỳ Kheo Đồng Trí, như vậy thì câu phê bình trên của Tỳ Kheo Đồng Trí vô nghĩa, vì nó “out of context”.  Đó là Phúc Lâm hiểu theo cụm từ “y nghĩa bất y ngữ”, vì đây không phải là đang bàn luận về bất cứ một vấn đề nào đó mà là đang bàn về chuyện có Tháp Phật hay không trong thời Phật tại thế giữa Tỳ Kheo Đồng Trí và Người Hà Nội.”

Thế này nhé, trường hợp bàn về Tháp và Tượng Phật đã có hay chưa có khi Phật còn tại thế, tôi công nhận là có ý nói Người Hà Nội  rơi vào trường hợp :  không học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét thế này thế nọ thôi bởi vì chính Người Hà Nội phán xét thế này :

 “ Vậy “Tháp Phật” và “ảnh tượng” của Phật là gì, có trong khi Phật còn tại thế hay là sau khi Đức Phật đã tịch diệt?  ... Ai muốn nghĩ sao thì nghĩ chứ thực tình tôi không thể tin là một người đã đi đến tột đỉnh giác ngộ như Đức Phật lại còn phải quan tâm đến những việc nhỏ nhặt như đi đại tiện, tiểu tiện, hay xỉa răng của Tỳ Kheo Ni, trong khi còn bao nhiêu điều quan trọng hơn cho vấn đề tu tập mà Người cần dạy cho các đệ tử.  Nên nhớ, những điều Người dạy cho đệ tử mới chỉ là nắm lá trong tay so với những hiểu biết như lá trong rừng của Người.  Những đoạn trích dẫn ở trên về “tháp Phật” và “ảnh tượng của Phật” chứng tỏ rằng đó không thể là Phật ngôn.”

Nhưng khi đã đến phần kết luận cho vấn đề Tháp Phật và Tượng Phật tôi nâng cao và mở rộng cũng như nhắc nhở chung cho những người học Phật : không phải Người Hà Nội là người duy nhất có sai sót ấy (không học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét thế này thế nọ thôi)  và lần này thì tôi cảm thấy là mình đã có đủ cơ sở để tin tưởng và hành trì về các giới Luật Phật giáo liên quan đến Tháp và Tượng Phật , tuy nhiên trong các trường hợp khác, đối với các vấn đề khác thì tôi chưa chắc là luôn luôn được sáng tỏ và tin tưởng như hôm nay. Vậy thì nhìn lầm lỗi người khác mà rút bài học cho mình và cũng nêu nhắc nhở chung cho những người học và tu theo Phật giáo : “Vậy thì vấn đề rối rắm nảy sinh là tại vì chúng ta không học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp từng đoạn trong Tam Tạng Kinh Điển nên thường hay thấy chống trái rồi thắc mắc đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét thế này thế nọ thôi chứ còn bản thân chánh pháp thì khúc đầu, khúc giữa và khúc cuối nào có chống trái với nhau?”

Chẳng phải một điều quý giá là : trong cuộc sống , chúng ta nên rút ra bài học kinh nghiệm từ những điều hay hoặc lầm lỗi của người khác mà mình phát hiện hay sao?

Chúng ta hãy đọc lại nguyên văn đoạn này của Thầy Đồng Trí:

Cách nhìn nhận sự kiện và những nguyên tắc ứng xử lẫn nhau ở trong Đạo Phật và ngoài cuộc sống không hoàn toàn giống nhau. Đức Phật không muốn làm một nhà cách mạng xã hội triệt để mà là một người hướng dẫn chúng sanh hoàn thiện mình và mọi người. Câu nói của Chúa Jesus rất được khen ngợi và nhắc nhở là : “nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm má bên trái cho họ tát” . Nhưng nếu đòi hỏi sự công bằng trong xã hội thì phải nói thế này : “nếu ai tát má bạn một cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái”  và chẳng hạn phim Tàu - Kiếm Hiệp Trung Quốc xây dựng trên quan điểm “Ân đền, oán trả” còn Phật giáo thì “ Ân đền oán xả” hoặc là “ Lấy oán báo ân” [???]. Nghĩa là đối với sự công bằng thế gian thì nếu ai giết cha mẹ bạn thì bạn hãy giết cha mẹ và cả người ấy nữa nhưng mà với Phật giáo thì bạn không nên làm như vậy. Vậy thì tại sao chúng ta phải cố gắng để khiến cho mọi cách ứng xử trong Phật giáo giống với cách ứng xử thế gian?

            Đưa câu nói của Chúa Giê-su: “nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm má bên trái cho họ tát” để đối chiếu với công bằng trong xã hội:  “nếu ai tát má bạn một cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái”, phải chăng là để chứng tỏ câu nói của Giê-su là cao cả, rất được khen ngợi và nhắc nhở “cho mọi người” chứ không phải là  “bởi nhiều người” như Tỳ Kheo Đồng Trí giải thích.  “Bởi nhiều người” là Tỳ Kheo Đồng Trí giải thích về sau chứ không có trong bản văn.  Nhưng đưa câu đó một cách lạc lõng vào đây làm gì?  Để so sánh với chủ trương “ân đền oán xả” của nhà Phật?  Hơn nữa, “nếu ai tát má bạn một cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái” có phải là tiêu chuẩn công bằng của xã hội không?  Đây là quan niệm “mắt đổi mắt, răng đổi răng” trong Cựu Ước của Ki Tô Giáo chứ không phải là công bằng của xã hội.  Công bằng của xã hội dựa theo luật pháp trong xã hội chứ không dựa theo sự công bằng theo cái hiểu của Tỳ Kheo Đồng Trí.  Công bằng xã hội là những biện pháp dùng để ngăn chận người ta khỏi bị tát thêm một cái nữa.  Áp dụng câu của Giê-su, có người nào đó thử đến gần ông đại diện của Chúa trên trần, tức là Giáo hoàng, và tát cho ông ta một cái xem ông ta có đưa má kia cho người ta tát thêm không?  Còn nữa, công bằng trong xã hội không có nghĩa là nếu ai giết cha mẹ bạn thì bạn hãy giết cha mẹ và cả người ấy nữa, vì luật pháp thế gian, nghĩa là cơ quan cầm cán cân công bằng trong xã hội không cho phép ai làm như vậy.  Vậy những nhận định và lý luận của Tỳ Kheo Đồng Trí về tôn giáo cũng như về thế gian còn có nhiều điều bất cập.  Và những điều bất cập này đã được vận dụng để phê phán Phúc Lâm là chưa vượt qua trình độ lớp 6, là hiểu sai tiếng Việt, trong khi vấn đề đã quá rõ ràng, chẳng có gì là khó hiểu cả.

Phúc Lâm đọc qua một đoạn văn rồi có biết câu nào là quan trọng nhất ( câu trọng tâm) của đoạn văn đó và có biết nó thường đặt ở vị trí nào trong đoạn văn hay không? Vậy thì tôi chỉ ra giùm cho : các câu đầu và cuối của đoạn văn là câu trọng tâm của đoạn văn. Trong trường hợp này, đó là :

Cách nhìn nhận sự kiện và những nguyên tắc ứng xử lẫn nhau ở trong Đạo Phật và ngoài cuộc sống không hoàn toàn giống nhau. Đức Phật không muốn làm một nhà cách mạng xã hội triệt để mà là một người hướng dẫn chúng sanh hoàn thiện mình và mọi người.

Vậy thì tại sao chúng ta phải cố gắng để khiến cho mọi cách ứng xử trong Phật giáo giống với cách ứng xử thế gian?

Vậy thì theo Phúc Lâm nghĩ ý trọng tâm mà tôi diễn đạt này là đúng hay sai.

Bây giờ hãy bàn về các luận chứng, luận cứ cho luận điểm mà tôi đã nêu ra :

Câu nói của Chúa Jesus rất được khen ngợi và nhắc nhở là : “nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm má bên trái cho họ tát” . Nhưng nếu đòi hỏi sự công bằng trong xã hội thì phải nói thế này : “nếu ai tát má bạn một cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái” 

Phúc Lâm bình luận là :

            Đưa câu nói của Chúa Giê-su: “nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm má bên trái cho họ tát” để đối chiếu với công bằng trong xã hội.

Mục đích của dẫn chứng này không phải là để đối chiếu với công bằng trong xã hội mà là để chứng tỏ : Cách nhìn nhận sự kiện và những nguyên tắc ứng xử lẫn nhau ở trong tôn giáo và ngoài cuộc sống không hoàn toàn giống nhau.

Nếu dịch cụm từ : Câu nói của Chúa Jesus rất được khen ngợi và nhắc nhở là…  ra English thì nên dịch là : A Jesus’saying widely (rất được) praised and recalled is that …. Với cụm từ English này thì không ai hiểu là by  all the people   cả mà chỉ hiểu là    to many,  nếu tôi muốn ca ngợi câu nói đó thì viết thế này :

Câu nói của Chúa Jesus  được mọi người khen ngợi và nhắc nhở là…

hoặc là :

Câu nói của Chúa Jesus  rất đáng được chúng ta khen ngợi và nhắc nhở là …

Chẳng lẽ bây giờ tôi cần phải chỉ ra những điểm về thụ động cách ( passive voice) thuộc về ngữ pháp lớp mấy nữa?

Tôi đang dẫn chứng về điểm khác nhau trong ứng xử giữa đời và Đạo chứ đâu có mục đích thiết lập lý tưởng cho công bằng xã hội đâu, thế thì diễn dịch sau đó :

Hơn nữa, “nếu ai tát má bạn một cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái” có phải là tiêu chuẩn công bằng của xã hội không?  Đây là quan niệm “mắt đổi mắt, răng đổi răng” trong Cựu Ước của Ki Tô Giáo chứ không phải là công bằng của xã hội.  Công bằng của xã hội dựa theo luật pháp trong xã hội chứ không dựa theo sự công bằng theo cái hiểu của Tỳ Kheo Đồng Trí.  Công bằng xã hội là những biện pháp dùng để ngăn chận người ta khỏi bị tát thêm một cái nữa.  Áp dụng câu của Giê-su, có người nào đó thử đến gần ông đại diện của Chúa trên trần, tức là Giáo hoàng, và tát cho ông ta một cái xem ông ta có đưa má kia cho người ta tát thêm không? 

là lạc đề, dư thừa, vô ích.

Rồi Phúc Lâm phân tích về dẫn chứng thứ 2 của tôi :

Còn nữa, công bằng trong xã hội không có nghĩa là nếu ai giết cha mẹ bạn thì bạn hãy giết cha mẹ và cả người ấy nữa, vì luật pháp thế gian, nghĩa là cơ quan cầm cán cân công bằng trong xã hội không cho phép ai làm như vậy.   Vậy những nhận định và lý luận của Tỳ Kheo Đồng Trí về tôn giáo cũng như về thế gian còn có nhiều điều bất cập.  Và những điều bất cập này đã được vận dụng để phê phán Phúc Lâm là chưa vượt qua trình độ lớp 6, là hiểu sai tiếng Việt, trong khi vấn đề đã quá rõ ràng, chẳng có gì là khó hiểu cả.

Đúng là ở đây tôi có bàn về quan điểm đối với : công bằng xã hội. Lại một lần nữa ý chính trong dẫn chứng này là : phim Tàu - Kiếm Hiệp Trung Quốc xây dựng trên quan điểm “Ân đền, oán trả” còn Phật giáo thì “ Ân đền oán xả” hoặc là “ Lấy ân báo oán”

Điều này không đúng sao?

Còn phần sau đó là dẫn chứng cho dẫn chứng :

Nghĩa là đối với sự công bằng thế gian thì nếu ai giết cha mẹ bạn thì bạn hãy giết cha mẹ và cả người ấy nữa nhưng mà với Phật giáo thì bạn không nên làm như vậy.

Này nhé : cái mà tôi nói là phim Tàu - Kiếm Hiệp Trung Quốc xây dựng trên quan điểm  chứ không phải là luật pháp xã hội Trung Quốc hoặc luật pháp xã hội của nước nào cả. Với một tội phạm giống nhau, các luật pháp xã hội khác nhau có biện pháp trừng phạt khác nhau, có những quan điểm khác nhau trong việc tử hình của chính phủ Singapore đối với em Ngưyễn Tường Vân là một ví dụ. Vậy thì luật pháp nước nào đúng, luật pháp nước nào sai? Ai công bằng hơn ai? Ở đây tôi chỉ nói chuyện trong phim và trong nhiều phim thì thường có cảnh có một hung thủ nào đó đến giết vài người trong môn phái võ công nào đó, hoặc giết cha mẹ một người để đoạt chức chưởng môn thì nhân vật đóng vai chính, nạn nhân sống sót ấy, đi lang thang học võ và đến khi thành tài về đánh và giết hết cả môn phái gây họa kia, kể cả sư phụ của môn phái gây họa đó và các đồ đệ của ông ta, nếu có cha mẹ của thủ phạm gây cừu oán khi xưa thì người ấy cũng giết luôn để trừng phạt cho thủ phạm ấy  sống một thời gian và thấm thía cảnh hoang tàn đổ nát sơn môn và người lâm vào thân phận người con mất cha mẹ vì tranh  chấp võ lâm. Nhân vật chính ấy xem như thế là trả thù công bằng và nhiều người xem phim ( khán giả các nước  khác nhau mà tôi để ý thái độ của họ khi xem phim) cũng thông cảm và tán thành việc làm anh ta.  Vậy thì Phúc Lâm mang vác khái niệm về công bằng xã hội và luật pháp vào đây để làm gì? Tôi đang nói là công bằng của thế gian nhưng xây dựng trên quan điểm của một số tác giả của phim kiếm hiệp và đó là tôi kể chuyện thực tế điện ảnh. Tôi đang chứng minh SỰ KHÁC NHAU … chứ không phải là ca ngợi những quan điềm nhận thức và hành động cho công bằng thế gian theo cách như vậy. Phúc Lâm có cấm các tác giả và đạo diễn phim ảnh, hoặc là các câu chuyện lịch sử đã có hình thành những quan điểm về công bằng xã hội ở thế gian như thế được không? Đó chỉ là ôn lại chuyện xưa, đó chỉ là tham khảo, còn chấp nhận hay không chấp nhận là tùy chúng ta, tại sao lại không tham khảo để suy gẫm, tại sao lại hỏi : ai cho sản xuất những loại phim như thế? Câu viết : Nghĩa là đối với sự công bằng thế gian thì nếu ai giết cha mẹ bạn thì bạn hãy giết cha mẹ và cả người ấy nữa nhưng mà với Phật giáo thì bạn không nên làm như vậy chỉ giải thích quan điểm “ân đền oán trả” từng có trong một số phim kiếm hiệp chứ không phải là quan điểm của tôi hoặc là quy định của luật pháp về công bằng xã hội. Phúc Lâm đọc văn mà kẹt trong ngôn ngữ như thế, không hiểu ý chính, ý phụ người viết muốn gửi gắm cái gì, lại có những “tuyên bố xanh rờn” và phê bình về người viết thì quả là tôi mới gặp lần đầu tiên có một người nhà nghiên cứu và phê bình với đầy đủ tiêu chuẩn cho các cuộc đối thoại trí thức lại như vậy.

Sau đây là phần kết luận của Phúc Lâm và tôi :

“Trong một cuộc đối thoại trí thức , khi đã đi ra ngoài những tiêu chuẩn của đối thoại, thì đối thoại trở nên vô ích.  Cho nên, Phúc Lâm xin phép được kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí tại đây.   Phúc Lâm cho rằng mình bày tỏ ý kiến như vậy cũng đủ rồi, không cần thiết phải dấn thân thêm vào vòng thị phi làm chi cho mất thì giờ.   Phúc Lâm xin cám ơn Giao Điểm đã cho Phúc Lâm cơ hội để bày tỏ vài ý kiến của mình về đạo Pháp trên một diễn đàn có uy tín hiện nay.”

Một lần nữa tôi nói rõ là : tôi không tha thiết tham gia vào cuộc đối thoại trí thức và cũng vì thế mà không thấy tên tôi xuất hiện trên những diễn đàn hội thảo, tranh luận nọ kia,…Tôi chỉ viết đôi bài văn mang tính chất suy gẫm và tu niệm cho chính mình vài bài thơ xúc cảm về Tứ Ân trong các thời tiết, lễ hội văn hóa Việt Nam và Phật giáo mà thôi. Đặc biệt lần này đây tôi chịu khó viết những bài dài về Bát Kính Pháp vì việc này có liên hệ đến cuộc sống tu học của Tăng Ni, trong đó có những suy tư và trăn trở của những người Pháp Lữ rất thân của mình trong những duyên gặp gỡ và sinh hoạt đời sống. Khi tôi vừa thấy xuất hiện những người thuộc hàng cư sĩ tham gia đóng góp ý kiến về Bát Kính Pháp, tôi rất trân trọng tâm sức và thời gian những người ấy đã hiến dâng cho Tam Bảo và hi vọng gặp nơi đây những Duy Ma Cật, Tuệ Trung Thượng Sĩ hay ít nhất là tâm tình chân thật, phản ảnh nỗi niềm trông chờ Phật nhựt tăng huy, Pháp Luân thường chuyển, Tăng già an  tịnh, hòa hợp, tứ chúng đồng tu, thế nhưng đến giờ này qua các bài viết của Phúc Lâm thì niềm tin tưởng và hứng khởi ấy không còn nữa. Dù muốn nghe hay không thì tôi cũng có lời khuyên chót thế này với Phúc Lâm : Khi chưa tin được luân hồi, lục Đạo, chưa tin Phật chứng tam minh, lục thông, chưa tin có một sự an lạc giải thoát miên viễn ngoài tấm thân  ngũ uẩn tứ đại này thì hãy khoan nói chuyện “đối thoại tri thức” với các chuyên đề dành cho Tăng Ni mà làm gì – hãy lo bổn phận học Đạo và tu tập của mình đi, hãy  thắp đèn nhà mình cho sáng lên cái đã. Dù tự nhủ lòng gắng hành theo nhẫn nhục Ba La Mật nhưng tôi cũng hơi dị ứng với với sự dàn trải đầy khắp các từ “tri thức phưong Tây” , khoa học, đối thoại tri thức, tiêu chuẩn đối thoại,… rồi đó. Khoa học không giải quyết được mọi vấn đề  và tôn giáo ( trong đó bao gồm cả Phật giáo ) không phải là một chi nhánh, một ngành của khoa học và không thể dùng ánh sáng của khoa học để soi sáng mọi vấn đề của tôn giáo. Chính cái chỗ bất lực của khoa học mở ra cho sự tồn tại lâu dài của tôn giáo. Nếu như khoa học giải quyết được mọi vấn đề thì tôn giáo không cần tồn tại để làm gì nữa? Các nhà khoa học rất tôn trọng những khía cạnh lĩnh vực rất đặc quyền của tôn giáo mà trong các cuộc hội thảo các nhà khoa học ngồi chăm chú lắng tai nghe và hi vọng tìm thêm  những tia sáng hoặc bổ sung, mở ra những đường hướng mới và khám phá cho mình mình từ các nhà nghiên cứu và Tu sĩ các tôn giáo. Phật giáo đi trước và vượt lên trên khoa học thế gian. Có tri thức rồi cũng chết, nhà khoa học rồi cũng luân hồi sanh tử, Ngài Huệ Năng không biết chữ vẫn ngộ Đạo, Ngài Bàn Đặc chỉ học một câu “Chổi quét” cũng chứng đắc Thánh quả, vậy thì mỗi chúng ta hãy tinh tiến lên để giải thoát. Niềm tin là mẹ đẻ bao công đức lành, trong ngũ căn và ngũ lực, trong 52 chi phần của Bồ tát, trong Tín Hạnh Nguyện, trong “ Đại Thừa khởi tín luận”, … đều  có nhấn mạnh nơi niềm tin. Tôi không cổ xúy cho cuồng tín hay niềm tin không có trí tuệ nhưng giáo pháp của Đạo Phật có những điều thậm thâm vi diệu nan tư nghì, khó hiểu, khó tin, khó hành, khó chứng cũng vì vậy mà Đức Phật do dự khi chuyển pháp luân. Ai giữ quan điểm cho rằng : điều gì mà nhân loại  ngày nay không tiếp xúc được, không biết được với 6 giác quan thì điều đó không tồn tại – đây là một tà kiến cần nên dứt bỏ. Con người muốn vươn ra khỏi những giới hạn của giác quan, tri nhận và cuộc sống tầm thường và Phật giáo chắp cánh cho con người bay bổng vươn xa vượt ra ngoài thế gian thường tình, đây không phải là hoang tưởng mà là hiện thực vì tiềm năng của con người và chúng sanh là vô tận và Phật giáo đã cho ta những chìa khóa để mở vào kho tàng vô tận ấy. Chúng ta chưa vào trong đó thì làm sao biết được trong đó có những gì? Đến đây tôi lại nhớ câu chuyện bàn về “ Niết bàn là gì?” cũng như con rùa cố gắng mô tả “đất khô là gì” cho con cá nghe. Con cá làm sao biết được đất khô nếu như nó không tự mình trườn lên bờ để tự cảm nhận đất khô là gì? Nhiều vấn đề trong Phật giáo cũng thế. Ai không tin có Thánh có Thần, Phật có thần thông và siêu sanh thoát tử miên viễn thì cứ tùy ý, áp dụng Phật giáo bao nhiêu vào cuộc sống của mình thì tùy ý và tự thân cảm nhận an lạc, không phiền não hay lợi ích thế nào cũng mặc nhnưg cũng đừng nghĩ rằng Phật giáo chỉ có bấy nhiêu đó và đừng vội vàng thương xót những ai không tận dụng những khía cạnh của Phật giáo vào cuộc sống theo kiểu cách như mình. Nếu như vô duyên và không cảm thông được trong bàn thảo, “ đối thoại” thì đường ai nấy đi, không có gì bận lòng cho nhau nữa và hãy hứa với nhau là : nếu ai giác ngộ trước và thực sự thoát ra ngoài vòng luân hồi sanh tử, bảo đảm an lạc  miên viễn thì hãy nhanh đến với những người mình đã có duyên gặp gỡ, trao đổi, dùnhững người ấy gây  thuận duyên hay nghịch duyên đến cho mình. Nhưng riêng về đề tài Bát Kính Pháp thì tôi cũng đã đóng góp phần ý kiến của tôi rồi, vậy giờ này cũng có niềm tự an ủi là mình nhiệt tình tranh thủ mọi cơ hội, thời gian, khả năng, công sức góp cho Tăng Bảo, bây giờ thì tôi trở về với cuộc sống mặt đất Boston và với những bổn phận công việc trước mắt của mình. Có lẽ tôi không còn nhiều thời gian để dành cho đề tài này thêm nữa và đặc biệc là để “đối thoại” với Phúc Lâm nữa. Chính Phúc Lâm cũng bày tỏ khá rõ ràng sự mệt mỏi và vô ích và không tiếp tục những “ đối thoại” như thế này nữa. Thực ra tôi đã có dấu hiệu là không tiếp tục đi sâu vào đề tài này,  để lo làm các việc khác,  trong bài viết trước “TẢN MẠN ĐẦU NĂM VỚI CƯ SĨ  PHÚC LÂM”, tôi ghi câu cuối  :

Tỳ Kheo :  Đồng Trí

Phone : 617–436–6084

(Nếu những cuộc “ đối thoại” như thế này thực hiện qua phone được thì thuận tiện hơn nhiều)

Tôi muốn nói là phone thì nhanh hơn, ít tốn thời gian hơn, dễ cảm thông hơn. Giả sử như ( chắc là không xảy ra?) Phúc Lâm có góp ý gì với tôi thêm một lần nữa, có thể tôi đọc nhưng không hồi âm qua typing nữa ( sẽ trả lời qua phone - nếu như Phúc Lâm gọi đến). Không riêng gì Phúc Lâm, tôi cũng rất chậm chạp hoặc không hồi âm với những ai khác bình luận, góp ý về bài viết của tôi với Bát Kính Pháp. Không phải là “Bồ Đề Tâm thối thất” nhưng tôi đã đóng góp những gì tôi đã có thể đóng góp xong phần của tôi rồi. Việc này dù sao cũng đã có Giáo Hội Phật Giáo, Ban Tăng Sự, Ban Giáo Dục Tăng Ni, Giáo Thọ A Xà Lê… bao nhiêu bậc Tôn Đức khác quan tâm lo rồi và còn tự nơi mỗi bản thân Tăng Ni tự chiêm nghiệm và hành trì Bát Kính Pháp khi đối diện với các sự việc liên hệ đời sống tu học của mình, trong cư xử giữa Tăng Ni và sinh hoạt Tăng già. Ngồi nơi bàn này, typing những trang giấy này mỏi mắt, mỏi lưng, mỏi cổ để rồi như vừa qua với Phúc Lâm chỉ trao gửi những ưu phiền đến cho nhau, lời trao đổi ấy không có giá trị tham khảo hay vận dụng tu học -  có phải chăng là việc làm của tôi hôm nay cũng vô nghĩa không khế cơ, khế thời? Những dòng chữ tôi viết hôm nay sẽ có lợi cho ai nhỉ, thôi thì giiờ này dừng hết lại và dâng một tâm thành đến đức Thế Tôn :

Kim ngôn, ngọc ngữ đức Bổn Sư
Đâu gốc, đâu ngành, đâu thiệt hư?
Quên tiếng thị phi cùng thế sự
Gìn Ta với Đạo, hợp nhất như.
 
Thích  Đồng Trí
( Boston, Hoa Kỳ)
Phone : 617–436–6084

[1] http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso6/traloi__MHT_uni.htm

[2] http://www.cosophathoctinhquangcanada.org/32tuongtot.html

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @