giaodiem copyright
         posted: 15.02.2006

   Nguyễn Mạnh Quang

THÂN THẾ VÀ CON NGƯỜI CUỒNG TÍN
CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
(trích CHƯƠNG 59)

206-diem-2.jpg (38073 bytes) President Diem, who was too short and funny!

Ông Ngô Đình Diệm là một tín đồ Da-tô cuồng tín được Liên Minh Mỹ - Vatican dùng áp lực với Pháp và  Quốc Trưởng Bảo Đại đưa về Việt Nam cầm quyền để phục vụ cho quyền lợi của Vatican ở Việt Nam và nhu cầu giai đoạn của Hoa Kỳ trong chính sách “be bờ” ngăn chặn làn sóng Cộng Sản từ phương Bắc. Vì được cả hai thế lực Vatican và Hoa Kỳ đưa lên cầm quyền, nhiệm vụ của ông là phải triệt để thi hành những lệnh truyền của Giáo Hội La Mã và thi hành những mệnh lệnh của Hoa Kỳ đưa ra, đúng như Giáo-sư Lý Chánh Trung nhận xét về ông trong cuốn Những Ngày Buồn Nôn với nguyên văn như sau:

“Không một con cờ nào có thể tự động đi một nước cờ cho riêng nó, dầu con cờ đó mang tên Ngô Đình Diệm, và không một nước   nhỏ nào có thể lợi dụng một nước lớn, nhất là nước đó mang tên Hoa Kỳ.” [i]

Đối với một tín đồ Da-tô cuồng tín như ông, việc thi hành những lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican không những  rất  đơn giản và dễ dàng, mà còn mang lại cho ông niềm thich thú và hãnh diện.  Cũng vì thế mà   ngay từ khi vừa mới về tới Việt Nam ngồi vào ghế thủ tướng, ông cùng anh em họ Ngô và hầu hết những người đồng đạo người Việt của ông đã tỏ ra vô cùng hồ hởi thi hành triệt để những lệnh truyền của Vatican một cách hết sức thô bạo vượt cả chỉ tiêu của Vatican đề ra.

Thế nhưng, đối với Hoa Kỳ, việc ông tỏ ra thái đồ vô cùng hồ hởi thi hành triệt để những lệnh truyền của Vatican một cách hết sức thô bạo lại trở thành phức tạp và phiền toái cho Hoa Kỳ. Phức tạp ở chỗ Hiến Pháp Hoa Kỳ quy định rõ ràng “tôn giáo phải  tách biệt rời khỏi chính quyền”, trong khi đó thì chính quyền của ông Diệm do chính quyền Hoa Kỳ dựng nên và cưu mang lại thi hành chủ trương “Tôn giáo chỉ đạo chính quyền”.  Phức tạp ở chỗ là Hoa Kỳ cứ 4 năm lại có cuộc bầu cử để thay đổi người lãnh đạo cơ quan hành pháp, và mỗi vị tổng thống không được tái cử quá một lần, trong khi đó thì ông Diệm lại chủ trương ở lại ngôi vị tổng thống trọn đời. Phức tạp ở chỗ quyền hành của người lãnh đạo cơ quan hành pháp cũng bị giới hạn bởi hiến pháp và  bất kỳ người dân Hoa Kỳ nào kể tổng thống cũng phải ttuân hàng pháp lật và không được là đều gì phi hiến trong khi đó thì Tổng Thống Diệm lại tuyến bố “đăng sau hiến pháp còn có tôi”. Và phức tạp ở chỗ là chính quyền Hoa Kỳ chỉ triệt để ủng hộ và bao che cho ông khi những việc làm của ông tại Việt Nam không gây phiền toái hay trở thành cái gai trước mắt họ. Một khi những việc làm của ông trở thành phiền toái khiến cho dư luận Hoà Kỳ phải lên tiếng và đặt vấn đề với chính quyền thì họ phải có hành động đòi hỏi ông phải sửa sai hay thay đổi chính sách cai trị để khỏi gây phiên toái cho họ nữa. Có như vậy thì họ mới để cho ông tiếp tục làm việc cho họ.

Vì ít học,  vì cuồng tín về tôn giáo, ông không đọc và không học lịch sử thế giới, không hiểu được trào lưu tiến hóa của nhân loại. Tình trạng này đã khiến cho ông như một thứ  ếch ngồi đáy giếng”. Vì vậy, ông không có đủ khả năng nhìn thấy việc ông triệt để thi hành những lệnh truyền của Giáo Hội La Mã một cách quá thô bạo đã gây ra không biết nhiêu đau thương khốn khổ cho nhân dân miền Nam   khiến cho nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới vô cùng khinh bỉ và hết sức công phẫn, nhiên hậu trở thành phiền toái cho chính quyền Hoa Kỳ.  Cũng vì thế mà ông mới bị quan thày Hoa Kỳ ngoảnh mặt để cho các vị tướng lãnh chỉ huy cuôc Cách Mạng 1/11/1963 giúp đỡ  cho anh em ông được “lên thiên đường thẳng ro ro” như ông đã giúp đở ông Ba Cụt vào ngày 13/7/1956. 

Nhìn lại  suốt cả cuộc đời của ông, từ khi chào đời cho đến khi đi vào cõi chết, căn bệnh cuồng tín về tôn giáo không lúc nào cũng không rời khỏi con người của ông. Nhờ có căn bệnh cuồng tín này, ông được Vatican nâng đờ cho vào học trường Hậu Bổ để rồi nhẩy ra làm quan nhỏ, quan lớn trong những năm 1922-1933. Sau này, vào năm 1950, ông lại được Vatican cho người dẫn sang Hoa Kỳ vận động đưa ông về Việt Nam cầm quyền. Sinh ư nghiệp, tử ư nghiệp, ông đựoc vinh thân phì gia vì căn bệnh cuồng tín về tôn giáo, rồi cũng vì căn bệnh cuông tín này mà ông bị Hoa Kỳ bỏ rơi như một đôi giầy rách để rồi cả ba anh em nhà Ngô của ông phải đền tội trước nhân dân  vào sáng ngày 2/11/1963 và sàng ngày 9/5/1964.

Như vậy là cái đặc tính cuồng tín về tôn giáo đã trở thành yêu tố vô cùng quan trọng trong các cuộc hành trình lên voi xuống chó của đời ông. Vì lý do này, khi viết về cuộc đời ông, các nhà viết sử không thể bỏ sót yếu tố cuồng tín về tôn giáo này của ông. Thế nhưng, viết về cuộc đời một nhân vật lịch sử  mà chỉ nói đến yếu tố cuồng tín về tôn giáo, một yếu tố hoàn toàn có tính cách nhân tạo, nếu không nói đến những yếu tố bẩm sinh khác như tướng mạo (nhân hiền tại mạo), cặp mắt (con mắt là cửa sổ của tâm hồn) dáng đi (người làm sao, chiêm bao làm vậy) thì quả thật là thiếu sót lớn lao.

I. DIỆN MẠO CẶP MẮT VÀ DÁNG ĐI.

Người Việt Nam ta có hai câu ca dao:

“Trông mặt mà bắt hình dong.

Con lợn có béo thì lòng mới ngon.”.

Ngoài hai câu ca dao trên đâu, dân ta lại còn có những thành ngữ như “Nhân hiền tại mạo, trắng gạo ngon cơm” và “Người làm sao, chiêm bao làm vậy”. Mấy câu ca dao và thành ngữ trên đây là để nói ra cái tâm tính con người được thể ra diện mạo và tuớng tinh của họ. Như vậy, diện mạo và tướng tinh của mỗi người là ngôn ngữ để nói lên cái tâm tính của người đó, và tâm tính của mỗi người sẽ  được bộc phát ra thành hành động vào những khi có cơ hội.

Ông Ngô Đình Diệm đã từng nắm giữ chức vụ tổng thống ở miền Nam  với những quyền lực sinh sát trong tay ròng rã hơn chín năm trời. Như vậy tâm tính và  hành động của ông tất nhiên có liên hệ đến đời sống và sinh mạng của hơn 15 triệu người dân miền Nam. Do đó, chúng ta cũng cần phải nên biết đến tướng mạo, cặp mắt và dáng đi của ông để suy đoán ra tâm tính của con người ông ta, và đặc biệt nhất là những hành động khi ông hành xử chức vụ tổng thống của Miền Nam Việt Nam trong thời gian hơn chín năm trời.

Nói tới ông Diệm là người ta thường nói “Diệm lùn.” Thực ra, trong xã hội loài người có rất nhiều người lùn như ông. Trong những người lùn này, có những danh nhân lừng danh trong lịch sử. Đó các ông như ông Án Anh nước Tề đời Tề Cảnh Công (cùng thời với Đức Khổng Tử), Hoàng Đế Napoléon Đệ Nhất (1769-1821) trong thời Cách Mạng Pháp 1789, ông Đặng Tiểu Bình của nước Trung Hoa trong thời hiện đại (1904-1997), Đại Tướng Võ Nguyên Giáp (1912 - ) của Việt Nam, v.v…  Theo sự hiểu biết của người viết, tại miền Nam vào những năm 1954-1975, ngoài ông Ngô Đình Diệm ra, còn có nhiều khác cũng lùn như ông Diệm hay còn  lùn hơn nữa.  Những nguời đó là  Bác-sĩ Trần Kim Tuyến, Bác-sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, Bác-sĩ Lý Trung Dung, Giáo-sư Vũ Quốc Thông,   Giáo-sư Hoàng Gia Lịnh (Giám Đốc Ban Văn Chương Truờng Đại Học Sư Phạm Sàigòn trong những năm 1961-1965), Thiếu Tá Trần Bá Quý (Không Quân), v.v… .

Tìm hiểu tiểu sử của họ, người viết được biết những nhân vật lùn trên đây, ngoài cái thân hình lùn bé nhỏ ra,  họ không có một nét  khác thường nào được gọi là “ác tướng” hiện ra trên khuôn mặt, nơi cặp mắt hay dáng điệu khi cất bước di chuyển. Trái lại, ông Ngô Đình Diệm, ngoài cái tướng lùn  ra, ông còn có những ác tướng hay tướng xấu khác. Các ác tướng hay tướng xấu này được chính những nhà trí thức hay những người đã từng tiếp xúc và đã đối diện với ông ghi lại. Đó là cái tướng “đi lạch bạch hai cánh tay bơi như rùa”, cái tướng “bạch diện vô tu”, cái tướng “cặp mắt trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn tròng đen” và “hay nhìn trộm” của ông ta. Dưới đây là những bản văn  của họ ghi lại về những ác tướng này của ông:

1.- Cụ Đoàn Thêm nói về cái tướng đi lạch bạch và cặp mắt trắng dã của ông và được cụ Đỗ Mậu ghi lại trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi với nguyên văn như sau:

"Tướng ông Diệm, theo Đoàn Thêm, mới nhìn thoáng qua có vẻ đường bệ nhưng là thứ đường bệ của các Tổng Đốc, Thượng Thư thời Pháp thuộc. Nhìn kỹ hơn thì thấy "thân thể ông Diệm ngũ lục thất bát đoản, bộ đi lại lạch bạch, hai cánh tay bơi như rùa, dễ đỏ mặt và hay ngượng nghịu trước đám đông". Đã thế ông Diệm lại có "cặp mắt trắng nhãn, tròng trắng nhiều hơn tròng đen, bình thường ít ngó thẳng người đối diện mà khi nóng giận thì đôi mắt đầy oán hận, dung mạo dữ như người say rượu, đó là nhân dáng và tướng mạo của kẻ tiểu nhân." [ii]

2.- Riêng về cái tướng đi khác thường của ông,  người sĩ quan tùy viên của ông là ông Đỗ Thọ ghi lại như sau:

"Ai cũng biết Tổng Thống Diệm đi chân "chữ bát", lối đi đứng này xấu lắm. Có lẽ con người nào có "tội" này thì trời phú cho đi nhanh để xóa cái "xấu" khi người khác nhìn vào. Tổng Thống Diệm ở vào trường hợp này". [iii]

3.- Nói về cặp mắt “ít ngó thẳng người đối diện” và “hay liếc trộm” của ông, trong bản báo cáo gửi lên Thứ Trưởng Quốc Phòng (Hoa Kỳ) Roswell L. Gilpatric, Chủ Tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm, Tướng Edward G. Lansdale viết như sau:

Ông ta lùn, mập tròn… Nhiều người không chú ý đến cặp mắt đen hay liếc trộm [snapping] của ông ta mà chỉ chú ý đến cặp giò vừa đủ chạm mặt đất khi ngồi..” [iv]

Trong bài "Phiếm về Kinh Nghiệm Sống của Dân Gian Qua Văn Chương" đăng trong Việt Nam Mới Số 371 ra ngày Thứ Sáu 20/2/1998, ông Huỳnh Văn Phú ghi hai câu ca dao nói về tướng mặt và tướng đi như sau:

Những người phinh phính mặt mo,

Chân đi chữ bát có cho chẳng thèm.

Về đặc tính “bạch diện vô tu” (mặt trắng không râu),  kho tàng văn chương Việt Nam  có hai câu ca dao:

Đàn ông vô tu bất nghì,

Đàn bà không vú lấy gì nuôi con.

Về đặc tính “mắt trắng”, kho tàng ngôn ngữ Việt  Nam cũng có hai câu ca dao:

Những người mắt trắng mặt thâm,

Chẳng phường gian ác, cũng quân hại đời.

Để kiểm nghiệm xem tướng đi chân chữ bát, cặp mắt trắng bệch và hay nhìn trộm cũng như cái đặc tính “vô tu” của ông Ngô Đình Diệm, xin quý vị hãy coi bộ Video "Vietnam: A Television History" mà bất kỳ thư viện nào trong bất kỳ thành phố nào ở Hoa Kỳ cũng đều có, để quan sát cho kỹ xem ông ta có những đặc tính như đã nói ở trên hay không? Thứ nữa, xin quý vị hãy theo dõi các sách sử và đọc kỹ những thành tích phản trắc của ông Ngô Đình Diệm mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới rồi suy nghiệm xem ông ta có phải là hạng người tiểu nhân như cụ Đoàn Thêm đã nói như đã nói ở trên hay không?

II.- ĐẶC TÍNH CUỒNG TÍN CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

  Lùn, tướng đi lạch bạch, hay chân chữ bát, bạch diện vô tu, cắp mắt trắng bệch, lòng trắng  lòng trắng nhiều hơn lòng đen và hay nhìn trộm là thiên bẩm hay trời sinh và không có cách nào thay đổi được. Còn căn bệnh cuồng tín về tôn giáo là tình trạng bị nhồi sọ bởi chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mã mà ra. Nói về căn bệnh cuồng tín của ông Ngô Đình Diệm, sử gia Bernard B. Fall ghi lại trong cuốn The Two Vietnams với nguyên văn như sau:

"Tính hiếu chiến của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Lòng tin đạo đã biến ông ta thành con người hiếu chiến đến độ tàn nhẫn như một vị Đại Pháp Quan của Tòa Án Dị Giáo trong thời Trung Cổ ở Tây Ban Nha. Quan điểm của ông ta về chính quyền là hình ảnh của một bạo chúa theo truyền thống quan lại phong kiến hơn là hình ảnh của một tổng thống theo hiến định của một nước cộng hòa. Một người Pháp theo đạo Kitô La Mã khi nói chuyện với ông ta cố ý cao giọng những tiếng "tín ngưỡng của chúng ta" thì ông ta thản nhiên trả lời rằng: "Ông biết mà, tôi tự coi tôi như là một tín hữu Kitô La Mã  giống như người  Kitô Tây Ban Nha," thế có nghĩa ông ta là một đứa con tinh thần (của Giáo Hội La Mã) với niềm tin hung hăng, dữ tợn và hiếu chiến hơn là một tín đồ  dễ dãi và khoan dung giống như người Pháp theo đạo Kitô La Mã."

("Ngo Dinh Diem's militancy is of that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the ruthless militancy of the Grand Inquisitor; and his view of government is made less of the constitutional strength of a President of the republic than of the petty tyranny of a tradition-bound mandarin. To a French Catholic interlocutor who wanted to emphazise Diem's bond with French culture by stressing "our common faith," Diem was reported to have answered calmly: "You know, I consider myself rather as a Spanish Catholic," i.e., a spiritual son of a fiercely aggressive and militant faith rather than of the easygoing and tolerant approach of Gallican Catholicism.")[v]

Đặc tính cuồng tín của ông Diệm được thể hiện ra bằng hành động hàng ngày với hai lần đến trước tượng Chúa lâm râm cầu khấn. Tình trạng này đã khiến cho bà Ngô Đình Nhu châm biến bằng câu nói “mua tích kê (vé) để dành sau này lên thiên đường.” Chuyện này được ông Hoàng Trọng Miên ghi lại trong cuốn: Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I với nguyên văn như sau:

"- Dì (Bà Nhu) cũng rõ: cháu theo đạo từ ngày về nhà chồng. Tin ở Chúa hay không, thật tình cháu cũng không đặt thành vấn đề, vì cháu chỉ là người đạo mới. Lúc này, cháu chỉ biết rằng gia đình chồng sùng đạo, và Công Giáo là một lực lượng quan trọng, có thể làm hậu thuẫn mạnh cho chính quyền, cho địa vị họ Ngô "Noblesse oblige" (phú quý sinh lễ nghĩa), cháu cũng phải tỏ ra là mình ngoan đạo.

Dì muốn hỏi  cháu có tin Chúa không, vì nếu dì không lầm thì lẽ đạo có những điều mà cháu vần phải lưu ý thận trọng.

Lệ bỗng phá lên cười: "Xin lỗi dì cho phép cháu cười, vì trông vẻ mặt nghiêm trọng của dì, cháu sực nhớ  đến bộ điệu như thế của một ông cha mà cháu đã xưng tội, và sau đó chính ông ta nhờ cháu để xin áp phe. Dì vì thương cháu mà chân thành nghiêm nghị, còn ông linh mục kia....

Lệ lại cười, rồi nói tiếp: "Cháu thấy ông anh chồng sáng tối cầu kinh, như là mua "tíc-kê" (vé) để dành sau này lên thiên đàng, và cứ gặp việc khó khăn quan trọng gì cũng ra ghế cầu nguyện một lúc rồi mới giải quyết.... Thật cháu lấy làm khó hiểu quá.

Rồi như thắc mắc điều gì, Lệ bỗng hỏi bà dì: "Dì có biết lịch sử gia đình Giáo Chủ Borgia?" [vi] 

Đặc tính cuồng tín về tôn giáo của ông Diệm cũng được thể hiện ra khi nói chuyện với Đại Tá   Edward G. Lansdale  và được ông Đại Tá này ghi lại trong cuốn Hồi Ký Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm với nguyên văn như sau:

"Tôi còn nhớ có lần tôi hỏi về việc giáo huấn đạo Thiên Chúa đối với người Việt, ông Diệm đã giảng cho tôi một hơi 5 giờ liền. Những buổi nói chuyện như vậy làm cho thông dịch viên Redick phải mệt đừ, dù rằng sức hiểu biết sinh ngữ của tôi  đã dần dần khá hơn đủ để giúp cho Redick bớt chút gánh nặng." [vii]

Đặc tính cuồng tín của ông Diệm cũng được thể hiện ra qua lời lẽ của ông Diệm khi nói chuyện với ông Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao về cái chết và chuyện rửa tội của ông Ba Cụt Lê Quang Vinh. Chuyện này được chính cựu Tướng Huỳnh Văn cao kể lại với nguyên văn như sau. 

"Các chiến dịch Trương Tấn Bửu, Đinh Tiên Hoàng, Hoàng Diệu, Nguyễn Huệ đã hoàn tất, mang lại sự thống nhất cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đồng thời cũng gây nên bao cảnh não lòng giữa những người quốc gia. Tổng Thống Diệm nói với tôi rằng: "Vì phải lo chuẩn bị đối phó với Cộng Sản, đành phải mạnh tay, chứ biết làm sao hơn được!"

Tuy nhiên, hai sự kiện não nề không thể quên, đó là cái chết của Ba Cụt và cái chết của một số anh em chiến sĩ giáo phái tại miền Trung và tại Quang Trung. Trên bình diện chính trị, tôi phản đối những cái chết oan uổng ấy vì đó là những con người chống Cộng. Tôi biết nhiều người quy trách nhiệm cho Tổng Thống Diệm, nhưng theo tôi nghĩ, thì vì cạm bẫy của Cộng Sản muốn gây hận thù giữa Tổng Thống Diệm và các giáo phái (sic). Thật sự, Tổng Thống Diệm thường nói, pháp luật trên hết, cái gì tòa án phán quyết, thì tổng thống xem là phải, và có biết bao nhiêu cái xẩy ra, mà người ta cố tình che giấu Tổng Thống Diệm.

"Vì ông Ba Cụt mà tôi phải chạy đôn chạy đáo, dậy sớm thức khuya cả mấy hôm. Nguyên là từ khi Ba Cụt bị án tử hình, tôi thấy cụ Diệm đầu tóc bù rối, ban trưa, ban tối, cũng như tảng sáng, xem ra Tổng Thống băn khoăn lo nghĩ rất nhiều. Cụ gọi tôi vào nói chuyện thiêng liêng mà thôi. Cụ bảo: "Án tử hình của Ba Cụt thì không thể ân xá được, bây giờ phải làm sao mà cứu vớt linh hồn ông ấy. Sáng mai, anh lấy máy bay xuống Cần Thơ gặp Tướng Minh và ông Quang, yêu cầu họ để cho hai cha vào khuyên nhủ Ba Cụt trở lại (đạo), để cứu phần rỗi (hồn) cho ông ta. Cha Hoàng và Cha Toán có mặt ở Cần Thơ rồi. Anh ghé vào gặp Đức Cha Bình, và thưa chuyện cho Ngài biết. Bảo Đại Tá Quang phải đích thân can thiệp với khám để giúp phần hồn cho Ba Cụt. Nếu Ba Cụt thuận thì tôi đỡ đầu cho."

Ngày mai tôi thi hành đúng theo chỉ thị. Trở về Sàigòn lúc ban chiều, tôi trình Tổng Thống nhiệm vụ hoàn tất. Lại phải lo làm công việc văn phòng bù lại cả ngày đi vắng.Tối đến vừa mới và (ăn) một chén cơm, Tổng Thống điện thoại gọi vào Dinh. Cụ lại giảng thuyết về thiêng liêng, thiên đàng, hỏa ngục, và xem ra Cụ rất lo lắng về phần hồn của Ba Cụt. Nửa đêm mới ra về.

Tắm gội xong lên giường ngủ là một giờ sáng. Tôi ngủ mê như cây gỗ. Thình lình điện thoại reo vang, nghe bên kia ống nói là giọng Tổng Thống, “Ừ, vào đây có việc gấp”. Nhìn đồng hồ mới 5 giờ 30 sáng. Tôi vội vàng rửa mặt, chải đầu, ăn mặc chỉnh tề đi vào Dinh.

"Vừa bước vào cửa phòng, Cụ tươi cười nở như hoa, đó là lần đầu tiên tôi trông thấy Cụ vui cười cởi mở quá sức. Cụ bảo: "Ba Cụt chịu phép rửa tội rồi. Giờ đây, Ba Cụt chết là về Thiên Đàng thẳng ro ro!" Tôi hỏi Cụ: "Con cũng cầu cho Ba Cụt được lên Thiên Đàng, nhưng nếu mấy mươi năm trời phạm đủ mọi thứ tội, mà bây giờ chịu phép rửa tội, thì đươc lên thẳng Thiên Đàng, như vậy có bất công không". Cụ trợn mắt nhìn tôi, như quyết liệt bênh vực Ba Cụt, Cụ nói: "Thôi bị trảm quyết là một hình phạt quá sức rồi. Chúa tha thứ hết, Ừ, thế mà Ba Cụt hơn mình rồi. Lên Thiên Đàng hạnh phúc lắm".

Và Cụ nói tiếp: "Chỉ có chừng ấy, tôi tin cho anh mừng, vì mới được tin Cha Toán cho hay, thành tôi mới gọi anh đó".  Tôi chào Cụ và trở về nhà ăn sáng. Vợ tôi hỏi: "Có chi mà Cụ  kêu sớm thế?" Tôi đáp gọn: "Cụ mới làm bọ (bố) đỡ đầu Ba Cụt theo đạo, ông kêu vô tin cho biết bấy nhiêu". [viii]

Bản văn trên đây cho chúng ta thấy mức độ cuồng tín của ông Ngô Đình Diệm vượt xa mức độ cuồng tín của ông Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao rất nhiều.

[Câu văn “Tôi biết nhiều người quy trách nhiệm cho Tổng Thống Diệm, nhưng theo tôi nghĩ, thì vì cạm bẫy của Cộng Sản muốn gây hận thù giữa Tổng Thống Diệm và các giáo phái ” nghe không thuận lý chút nào cả vì nó không được chứng minh bằng một bằng cớ nào cả. Đây là một trong những đặc tính chạy tội và đổ tội cho người khác, xuyên tạc sự thật, hoặc bóp méo lịch sử  cúa bất kỳ một tín đồ Da-tô “ngoan đạo” nào.]

Với một người có trình độ thông minh trung bình và nếu không tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã hay của một chế độ đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội, đều cho rằng chỉ có những người thuộc loại siêu cuồng tín mới tin rằng, chuyện có thiên đường như Giáo Hội La Mã đã bịa đặt ra, rằng hễ chịu phép rửa tội do một tu sĩ của Giáo Hội La Mã  chủ lễ thì “khi chết là về Thiên Đàng thẳng ro ro!" như trường hợp do ông Huỳnh Văn Cao kể lại trên đây.

Người ta thường nói, “Tư tưởng biến thành hành động” hay là “những suy tư hay tư tưởng thuờng thường được thể hiện ra bàng những việc làm.” Do đó, đặc tính cuồng tín của ông Diệm cũng được thể hiện ra bằng những hành động.  Vì thế mà nhất cử nhất động của bất kỳ một việc làm nào hàng ngày trong các công việc riêng tư của cá nhân hay gia đình cũng như những việc làm công cộng của đất nước đều là phát xuất từ  những ác tính và đặc tính Da-tô đã có sẵn trong tâm tư của ông mà ra cả.. Những việc làm như sai  Linh-mục Toán, Linh-mục Hoàng và ông Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao  xuống Cần Thơ để lo việc cứu rỗi phần hồn cho ông Ba Cụt cũng như việc sáng tối mỗi ngày  đến trước tượng Chúa Jesus hay Đức Bà Maria cầu kinh là những hành động cuồng tín của ông ta và xuất phát từ đặc tính Da-tô tiềm tàng trong con người ông mà ra.

Trong số những hành động cuồng tín này có cả những hành động vô cùng dã man khiến cho hơn ba trăm ngàn người dân trong các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Khánh Hòa và Phú Yên phải bị thảm sát do trong những chiến dịch “làm sáng danh Chúa” ở vùng này vào những năm 1955-1963 (sẽ được trình bày đầy đủ ở một chương sau.)

Cũng vì  có những suy tư của một tín đồ Da-tô cuồng tín, ông Diệm đã tổ chức một đại lễ vô cùng long trong vào tháng 2 năm 1959, cho mời vị sứ thần Tòa Thánh Vatican là Hồng Y  Agagianian đến chủ tọa buổi lễ này để ông kính dâng nước Việt Nam cho “Đức Mẹ Vô Nhiếm”, tức là dâng nước Việt Nam cho đế quốc Vatican dù rằng ông đã biết rõ  con số tín đồ Da-tô trong toàn quốc chỉ có khoảng 5% dân số.

Giả sử như con số tín đồ  Phật giáo ở Việt Nam chỉ có 5% trong tổng số dân toàn quốc và  hơn 90% là tín đồ Da-tô; giả sử như có một người  Phật giáo nắm giữ chức vụ tổng thống, rồi  tổ chức một đại lễ vô cùng long trọng và mời một vị đại diện của tổ chức Phật giáo thế giới đến chủ tọa buổi lễ này để ông tổng thống đó kính dâng nước Việt Nam cho Đức Phật thì   con số hơn 90% tín đồ Da-tô trong toàn quốc Việt Nam sẽ có cảm nghĩ như thế nào về cái hành động xấc xược ngược ngạo và ngu xuẩn đến cùng mức của ngu xuân này?

Có đặt vấn đề ngược lại như vậy thì chúng ta mới có hy vọng làm cho tín đồ Da-tô người Việt hiểu rõ được nỗi lòng của đại khối trên 95% nhân dân Việt Nam không phải là tín đồ Da-tô cay đắng và uất ức về hành động của ông Tổng Thống Da-tô Ngô Đình Diệm trong việc làm dâng nước Việt Nam cho “Đức Mẹ Vô Nhiễm” như đã nói trên.

Cũng nên biết là vào năm 1960, ở Hoa Kỳ, một tín đồ Da-tô là Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy được đảng Dân Chủ tuyển chọn đưa ra làm ứng cử viên Tổng Thống trong kỳ  tuyển cử  được tổ chức vào tháng 11 năm đó. Vì yếu tô là tín đồ Da-tô, ứng cử viên Kennedy liền bị ứng cử viên Tổng Thống của đảng Cộng Hòa là Phó Tổng Thống Richard M. Nixon và quần chúng Hoa Kỳ “thắc mắc về trường hợp tín ngưỡng của ông John F. Kennedy”. Việc này đã làm cho Thượng Nghị Sĩ  John F. Kennedy phải long trọng minh xác với nhân dân Hoa Kỳ về việc làm của ông nếu ông được đắc cử. Sự kiện này được các nhà viết sử ghi nhận với nguyên văn như sau:

“… vì tôi là một tín đồ Gia-tô, và chưa có một một tín đồ Gia-tô nào đắc cử Tổng Thống,…Do đó, điều cần thiết cho tôi để khẳng định một lần nữa là – không phải tôi đặt đức tin vào giáo Hội… mà tôi đặt đức tin vào  nước Mỹ.

Tôi tin vào một nước Mỹ, nơi mà Giáo Hội và Nhà Nước phân biệt một cách tuyệt đối, nơi mà không có giáo sĩ Gia-tô điều khiển Tổng Thống [nếu ông ta là một tín đồ Gia-tô]  phải hành động như thế như thế nào và nơi mà không một vị mục sư Tin Lành nào được phép ra lệnh cho họ đạo đi bỏ phiếu cho ai….

Tôi không phải là ứng cử viên Tổng Thống Gia-tô. Tôi là ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, người mà NGẪU NHIÊN cũng là một tín đồ Gia-tô. 

Tôi không biện hộ cho Giáo Hội trước công luận, và Giáo Hội cũng không  làm phát ngôn viên cho tôi…

Nhưng, nếu bất cứ thời điểm nào đến… khi mà nhu cầu chức vụ đòi hỏi tôi phải bán rẻ lương tâm hay vi phạm đến quyền lợi quốc gia thì tôi sẽ từ chức, và tôi hy vọng tất cả các vị công bộc khác có lương tâm  cùng sẽ hành xử như thế…”

[… because I am a Catholic, and no Catholic has ever been elected President……. So, it is apparently necessary for me to state once again – not what kind of church I believe in… but what kind of America I believe in.

I believe in an America where the separation of church and state is absolute – where no  Catholic prelate would tell the President [should he be a Catholic] how to act and no Protestant minister would tell his parishioners for whom to vote…

I am not Catholic candidate for President. I am the Democratic Party’s candidate for President, who happens also to be a Catholic. I do not speak for MY CHURCH on public matters – and the church does not speak for me…

But if the time should should ever come… when my office would require me to either violate my conscience or violate the national interest then I would resign the office, and I hope any other conscientious public servant would do likewise….] [ix]


[i] Lý Chánh Trung, Những Ngày Buồn Nôn (Sàigòn: Đối Diện,1972), tr.137.

[ii] Đỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1993) tr. 843-844.

[iii] Đỗ Thọ, Nhật Ký Đỗ Thọ (Sàigon: Nhật Báo Hòa Bình xuất bản, 1970, tr. 67.

[iv] Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston, TX: Văn Hóa, 2004), tr 11.

[v] Bernard F. Fall, The Two Vietnams (New York: Frederick A. Praeger, 1964), p. 236.

[vi] Hoàng Trong Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I (Los Alamitos, CA: Việt Nam, 1889), tr. 521-522.

[vii] Edward G. Lansdale,Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Hoa Kỳ: Đại Nam  in lại ấn bản Sàigon 1971),  tr 220..

[viii]Huỳnh Văn Cao, Một Kiếp Người (Chantilly: Virginia: Thu Minh Huỳnh, 1993)  trang 52-53.

[ix] Chu Văn Trình – Thái Vân - Trần Quang Anh, Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình Của Giáo Chủ John Paul II - Tập 1 (Mt. Dora, FL: Ban Tu Thư Tự Lực, 1994), tr.64-65.

--Đọc tiếp bài 2. những đặc tính chung của tín đồ Gia-tô--

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com