
Căn bệnh cuồng tín về tôn giáo trên đây của
ông Diệm là căn bệnh chung của tất cả tín đồ Da-tô. Tín đồ Da-tô cuồng
tín thường hay nói rằng họ là người “ngoan đạo” hoặc “sống đạo
theo đức tin Ki-tô” hay “sống theo lương tâm người công giáo”. Căn bệnh
này là do chủ trương rèn luyện tín đồ theo
chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Tòa Thánh Nói đến đặc tín cuồng tín về tôn giáo là phải
nói đến đặc tính dốt nát và ngu xuẩn. Người viết không biết cuồng
tín sinh ra dốt nát và ngu xuẩn, hay dốt nát và ngu xuẫn là nguyên
nhân đưa đến cuồng tín. Có một điều chắc chắn là những người mang
căn bệnh cuồng tín về tôn giáo thường thường là dốt nát và ngu xuẩn,
và mức độ dốt nát và ngu xuẩn của họ tỉ lệ thuận với cường độ
cuồng tín của họ. Do đó, khi thấy người nào mắc bệnh cuồng tín về
tôn giáo, ta có thể hình dung được tình trạng dốt nát và ngu xuẩn cúa
người đó. Tình trạng dốt nát và ngu xuẩn này nếu không lên men trên
nét mặt họ thì cũng thể hiện ra qua lời nói hay cung cách hành xử của
họ với người xung quanh. Trước khi nói đến những đặc tính chung của những
tín đồ Da-tô cuồng tín, chúng ta hãy tìm hiểu các định nghĩa của các
từ "cuồng tín", "dốt nát" và "ngu xuẩn". Theo Việt
Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức và một nhóm văn hữu thì: 1.- Cuồng tín là lòng tin say xưa mù quáng không kể
phải trái. 2.- Dốt là (a)
không biết chữ, (b) không hiểu, không thạo, tối dạ. 3.- Dốt nát là tối tăm, không hiểu biết. 4.- Ngu là dại dột, tối tăm, ít hiểu biết, 5.- Ngu dại là ngu si. 6.- Ngu dốt là ngu đần dốt nát. 7.- Ngu độn là ngu đần. 8.- Ngu muội là ngu si, tối tăm. 9.- Ngu tối là ngu dại tối tăm. 10.- Ngu xuẩn là ngu độn. Trên đây là những định nghĩa liên hệ đến cuồng tín, ngu và dốt. Tìm hiểu sâu rộng hơn nữa, chúng ta thấy là
"dốt" là nói lên tình trạng "không biết" .
"Không biết" có thể vì " không được học hỏi" hay “chưa
được học hỏi". Những người dốt hay dốt nát tuy là không biết những điều chưa học tới hay không được học hỏi, nhưng
vẫn có thể là người rất thông minh, nghĩa là hệ
số thông minh (IQ) của họ rất có thể từ 90 trở lên. Còn "ngu", "ngu si", "ngu dốt",
"ngu đần", "ngu xuẩn",
v..v.. là nói về tình trạng kém thông
minh của một người nào đó. Trong cuộc sống hàng ngày, nếu chẳng may phải
làm việc chung hay sống chung với một
hay một số người "ngu" thì người ta cảm thấy hết sức bực mình,
chứ ít có người bực mình vì phải sống chung hay làm việc chung với những
người dốt nát. Những câu ca dao và tục
ngữ dưới đây là bằng chứng: Rồng vàng tắm nước ao tù Người khôn ở với ngừi khu bực mình. hay là : Trăm năm ở với người đần Không bằng một lúc ở gần người khôn. Hoặc là: Làm đầy tớ thằng khôn còn hơn làm thầy thằng ngu. Về thuộc từ "cuồng tín", theo định
nghĩa trên, "cuồng tín" là lòng tin say xưa mù quáng không kể phải
trái. Trong thực tế, như đã trình bày ở phần trên, khi một
cá nhân nào đã trở thành một tín đồ Da-tô cuồng tín (xin
nhấn mạnh thuộc từ cuồng tín), người đó sẽ trở thành ngu xuẩn, dốt
nát, thiển cận, vong phản, phản quê hương, đội trên đạp dưới, háo
danh, hám lợi, tham lam, ưa thích vơ vào, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo.
Khi có quyền lực trong tay hay ở vào thế
thượng phong, người đó sẽ có những thái độ, cử chỉ và hành động
lố bịch, trịch thượng, hống hách, phách lối (đối với những người
lép vế, thế cô), hung dữ, hiếu chiến,
hiếu sát, khát máu, tàn bạo, dã man (đối
với những thành phần thuộc các tôn giáo hay nền văn hóa khác) và phản trắc (đối với ân nhân và bạn bè). Nếu
đem tất cả những đặc tính này áp dụng cho ông Ngô Đình Diệm, chúng
ta sẽ thấy không sai một chút nào cả. Ngoài những đặc tính trên đây, tín đồ Da-tô cuồng
tín thường hay có căn bệnh hợm hĩnh, cao ngạo, tự cao tự đại, huênh
hoang, khoác lác (sự kiện Hồng Y Joseph Ratzinnger, Bộ Trưởng Thánh Bộ Đức
Tin của Giáo Hội công bố bà tuyên ngôn Dominus Jesus vào ngày 5 tháng 9 năm
2000 nói rằng "không có ơn cứu độ
ở bên ngoài Giáo Hội", sự kiện
ông cựu Luật-sư Nguyễn Văn Chức kê
ra hàng nửa tá chức vụ và nghề nghịệp ở phần chót lá thư đề ngày
1/11/1995 gửi cho ông cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ McNamara, sự kiện
ông Cao Thế Dung tự xưng là có bằng "Tiến Sĩ", sự kiện có quá
nhiều tín đồ Da-tô thuộc loại cuồng tín khi gặp gỡ một người la hay
đến trước một số đông người tự xưng
hay tự giới thiệu là "thi-sĩ", "văn sĩ", "giáo sư"
hay “tiến sĩ” (giả hay mua) hay một
chức vụ quan trọng nào đó đi kèm theo danh tính của họ là bằng chứng
rõ ràng nhất cho lời khẳng định này trên đây. Theo các nhà nghiên cứu về đạo Thiên Chúa La Mã, tín đồ Da-tô cuồng tín thường có những
đặc tính sau đây: 1.- Tuyệt đối tin tưởng và triệt để tuân hành
lệnh truyền của Tòa Thánh 2.- Tuyệt đối vâng lời các đấng bề trên trong hệ
thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. 3.- Vong bản, phản dân tộc, phản tổ quốc. (Bằng chứng cho sự kiện này là những
hành động của tín đồ Da-tô cuồng tín người Pháp trong thời kỳ Cách
Mạng từ tháng 7 năm 1789 cho đến đầu
thế kỷ 20, những hành động của tín đồ Da-tô người Việt ở Việt
Nam từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975, và ở hải ngoại từ năm 1975 cho đến
ngày nay, khẩu hiệu “nhất Chúa, nhì cha,
thứ ba Ngô tổng thống” được lưu hanh ở trong các cộng đồng Da-tô
người Bắc Kỳ di cư ở miền Nam trong những năm 1954-1963, lời hô hào “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”
của Linh-mục Hoàng Quỳnh vào mùa hè năm 1964 để kêu gọi và dạy dỗ giáo dân phải theo đó
mà hành xử.) 4.- Ít nhất đi nhà thờ một tuần một lần hay đến
bàn thờ Chúa cầu nguyện mỗi ngày. 5.- Coi tất cả các ông tu sĩ Da-tô như là đại diện
cho Chúa ngay cả vào khi họ không làm lễ, và tin rằng các ông tu sĩ này
đều có quyền năng giống như các ông Chúa Cha Jehovah, Chúa con Jesus. 6.- Nặng lòng mê tín, dị đoan, thật lòng tin hết
tất cả những chuyện hoang đường nhảm nhí do Giáo Hội La Mã hay các
ông tu sĩ Da-tô rao truyền hay phổ biến. 7.- Thiển cận, chỉ tin vào những chuyện hoang đường
láo khoét của Giáo Hội La Mã đưa ra, nhưng lại khinh rẻ tất cả những
lễ nghi cúng tế các vị thần của các nhóm văn hóa khác và cho là nhảm
nhí. 8.- Hợm hĩnh,
cao ngao, lố bịch, trịch thượng và nham nhở, coi
ông thần Jehovah và ông Jesus là Thiên Chúa Tòan Năng, Toàn Thiện
và có mặt ở khắp mọi nơi", coi Giáo Hội La Mã là "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo
và tông truyền", là "HiềnThê
của Thiên Chúa Làm Người" và tự
phong là "dân Chúa", nhưng lại
coi các vị thánh tổ và các đấng thần linh của các tôn giáo là "tà thần" và "ma quỷ". 9.- Nặng đầu óc chia rẽ và nặng tinh thần kỳ thị,
phân chia giai cấp, khinh rẻ các tôn giáo khác là "tà giáo" hay "tà đao" và các thành phần thuộc các
tôn giáo khác là những quân "mọi rợ"
hay "dã man" hoặc "man di". 10.- Nặng đầu óc thiên vị và bất công. Luôn
luôn cho rằng cái gì thuộc về Giáo Hội La Mã đều tốt cả, cái gì thuộc
về các tôn giáo khác đề xấu. Nếu có người nào chứng minh các ngài
mang chức thánh đại diện cho Chúa (linh mục, giám mục, tổng giám mục, hồng
y và giáo hoàng) làm bậy, sờ mó con nít, gian dâm với nữ tín đồ, hoặc
là có những hành động gian ác tàn ngược thì họ
lại đổ lỗi cho là bị quỷ ám. 11.- Xun xoe, khúm núm và quỵ lụy với các đấng bề
trên hoặc những người có thế lực hay quyền uy lớn hơn, 12.- Khinh thị, vênh váo, nghênh ngang, làm oai, làm
phách, hách dịch, trịch thượng đối với những người lép vế, nhất
là đối với những người dưới cơ
mà là những người thuộc các tôn giáo khác. Việc đòi hòi những người
thuộc các tôn giáo khác phải theo đạo Da-tô khi họ muốn thành hôn với
người yêu là tín đồ của Giáo Hội là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự
kiện này. 13.- Hung dữ, hiếu chiến, hiếu sát, khát máu, tàn
ác và dã man đối với những người
thuộc các tôn giáo khác khi có quyền lực ở trong tay. 14.- Nhập nhằng hay không có khả năng sử dụng lý
trí để phân biệt được sự khác biệt giữa một bên là việc công và
một bên là việc riêng tư (cá nhân),
không biết sự khác biệt giữa việc đạo và việc đời hay giữa tôn
giáo và chính quyền. 15.- Tùy theo hoàn cảnh, phải cố gắng tối đa để
thi hành nhiệm vụ biến cải những
thành phần thuộc các tín ngưỡng hay tôn giáo khác theo đao Da-tô bằng bất cứ thủ đoạn và
phương tiện nào dù là bất chính, đê tiện, lưu manh, độc ác và dã man
đến mức nào đi nữa họ cũng phải làm. Nhiệm vụ này được gọi là
nhiệm vụ "làm sáng danh Chúa". 16.- Tỏ ra vô cùng sợ hãi Tòa Thánh Xin gọi 16 đặc tính trên đây là 16 Da-tô tính. Thực
ra, bất kỳ một tín đô Da-tô cuồng tín nào cũng đều có hầu hết những
đặc tính trên đây. Về nguồn gốc của
16 đặc tính Da-tô này, học giả Phan
Như Diệp cho rằng bắt nguồn từ thánh kinh và
những lời dạy của “Tất cả các tôn
giáo (Thiên Chúa Giáo) nầy đều nặng về những tín điều tuyệt đối,
hoang tưởng, và bảo thủ, tính bất khoan nhượng cao độ, thể hiện tràn
đầy trong các Kinh Thánh của họ (Bibles, Talmud, Koran, . . ) và trong lịch sử
truyền đạo, phát triển, với vô số xảo thuật đổi đạo, đầy rẫy hận thù, bạo lực,
khủng bố, và chiến tranh. Họ tuyệt đối hướng ngoại, nhị nguyên biện
biệt, tranh thắng, chấp trước với (những) cuốn Kinh Thánh cứng ngắc, một
nhân vật “tuyệt đối vừa siêu nhiên vừa có tính người”, và những
“đức tin” vô điều kiện (Tin, phục tùng vô điều kiện, thì được cứu
rỗi, sau khi chết được lên thiên đàng; không tin là ma qủi và phải bị
tiêu diệt. . .). Sự “Vâng lời” hay “Biểu thị sự vâng lời, tuân phục”
một cách nô lệ là những trường hợp “lạm dụng”, “lạc dẫn”,
hay “ngụy biện”! Những trích thuật của họ thường cố ý nêu lên những
điều (trích dẫn) mà ý nghĩa và giá trị được họ mặc nhiên và giảo
hoặc xem như đã được công nhân(!?). Kỹ thuật nầy được xử dụng phổ
thông trong những chế độ, tổ chức độc
tôn, độc quyền, chuyên chế; chấp trước và bất khoan nhượng, như trong
các thời quân chủ chuyên chế, các chế độ độc tài, và đặc biệt là
trong các tổ chức tôn giáo độc thần Tây phương – “Kinh thánh dạy rằng
. .” (dầu là Bible, Talmud, hay Koran.), “Giáo hội dạy rằng:..” đúng là
một “tinh thần Tử viết” tối ư kịch liệt! - . . Nhóm từ “Tinh thần
Tử viết”, có tính khinh miệt, mĩa mai, là để chỉ trích cái quỷ thuật
trích biện ngụy dẫn nầy.. .Lẽ tự nhiên, trong thế giới tiến bộ mà
con người luôn luôn cần được khuyến khích tự do phát triển tư duy, đây
là trường hợp tối ư tiêu cực, và cần phải bị phê phán. Tất cả những
đặc thù đó làm cho họ hoàn toàn mâu thuẩn với những triết lý, đạo
học Đông phương đầy tính nhất nguyên, hướng nội, cởi mở, vị tha, vô
cầu, vô tranh, vô trước, vô ngã (“Thành ý, chính tâm”, “Chỉ ư chí
thiện”, “Ngôn bất trúng lý, bất như vô ngôn”, “Nhất ngôn bất
trúng, thiên ngôn bất dụng”, “Quân tử nhất ngôn dĩ vi trí, nhất ngôn
dĩ vi bất trí”, “Ngôn bất khả bất thận dã.”, “Nhất ngôn nhi khả
dĩ hưng bang; nhất ngôn nhi khả dĩ tang bang”, “Ngôn bất khả diễn”,
“Bất dĩ từ hại ý”, “Tận tín thư tắc bất như vô thư“, “Y
nghĩa bất y ngữ”, “Y Đạo bất y nhân”, “Ngôn vô ngôn, pháp vô pháp”,
“Bất lập văn tự”, “Trực chỉ nhân tâm”, . . ) Tất cả “đức
tin”, lịch sử, v.v. của các tôn giáo nầy đều bắt nguồn từ một cổ
sử đầy truyền thuyết, huyền thoại, pháp thuật, phù thủy, dị đoan, và
các hình thức lễ nghi tôn giáo man di, qua nhiều thế hệ nộ lệ, tràn đầy
khát vọng tự do và ước mơ được giải phóng bởi một “nhân vật” tưởng
tượng có sức mạnh như “thiên thần”, của bộ tộc du mục Babylon thuộc
lãnh thổ Iraq hiện nay. Đặc tính thống hệ
chuyên chế và thế quyền là điểm tuyệt đối chung nhất khác của những
tôn giáo nầy, là nguồn gốc của bao nhiêu mâu thuẩn chính trị xã hội,
kỳ thị, chiến tranh, bạo lực, khủng bố. Tượng trưng nhất là đạo
Ky-tô La Mã, thường gọi là đạo Công Giáo, là một hệ thống chấp chặc
một niềm tin vô điều kiện vào một Chúa ở trên trời, vào đại diện
“chính thức” của ông ta ở thế gian, qua sự mặc khải(!?), là Giáo
hoàng, và vào hàng loạt các đại diện theo chiều dọc, Hồng y, Tổng giám
mục, Giám mục, Linh mục, qua các phép thông công(!?), v.v. Để có một ý
niệm rõ ràng hơn về tính chuyên chế và thế quyền, độc tôn và bạo lực,
của các tôn giáo nầy, xin nghiên cứu thêm: *Những cuộc chiến tranh tôn
giáo (“Thánh chiến! – Holy wars! Jihad! Crusade!”), Hai Thời đại tối tăm
(Dark ages) trước và sau kỷ nguyên, Hơn 400 năm kinh hoàng với các Tòa Án Dị
Giáo (Inquisitions), *Những cuộc diệt chủng (Crusades), Chế độ Nô lệ
(Slavery),Chế độ Thực dân (Colonialism), v.v...” [i] Với 16 đặc tính trên đây, người tín đồ Da-tô
thật sự đã rơi vào tình trạng không biết sử dụng lý trí vào việc
phân tách và suy luận để tìm hiểu sự vật (“cách vật trí tri”), đặc
biệt nhất là để tìm hiểu và kiểm nghiệm những điều ghi chép trong thánh kinh, những lời dạy dỗ
của Giáo Hội La Mã xem xem nó “đúng” hay là “sai”. Họ chỉ
biết cúi đầu vầng lời, triệt để tuân phục những lời dạy và lệnh
truyền của Giáo Hội La Mã giống y như con chó trong phòng thí nghiệm của
nhà bác học Pavlov. Có thể vì tình trạng này mà nhà báo Long Ân mới
đưa ra lời nhận xét chua chát như sau: "Con người đã
nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh
tôn giáo để biện minh cho quyền lực
phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đã phản lại tôn giáo, đã
chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu
đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con
người súc sinh."[ii] Qua những phần trình bày về những đặc tính cuồng tín ở trên, qua những việc
làm tội ác trong những năm làm quan cho Liên Minh Pháp - Vatican và qua việc
hành xử quyền hành trong những năm cầm
quyền ở miền Nam (sẽ nói rõ ở phần sau), chúng ta thấy rằng, Ông Ngô
Đình Diệm quả thật xứng đáng được xếp vào “hạng ngưới súc sinh”
như nhà báo Long Ân đã nhận xét như trên. Điều
khôi hài là thằng súc sinh này lại được một nhóm người thiểu số cuồng
nô vô tổ quốc tôn thờ và vinh danh nó như là một
“chí sĩ yêu nước” và một “nhà ái quốc”. Qua hành động ngu xuẩn
này, chúng ta đi đến một kết luận là những thứ người tôn thờ và
vinh danh thằng súc sinh Ngô Đình Diệm như là “chí sĩ yêu nước” và
“nhà ái quốc” còn tệ hơn cả “loài súc sinh”. Điều đáng buồn là bọn súc sinh này đã nắm quyền
chính trị và làm mưa làm gió ở miền Nam trong những năm 1954-1975, đã tiến
hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ trong suốt thời kỳ này với
dã tâm làm cho nhân dân miền Nam không còn khả năng lý trí để nhìn ra
cái bản chất súc sinh của họ. Cũng vì thế mà những thế hệ tiếp nhận
sở học của họ qua chính sách ngu dân ở miền Nam trong thời kỳ này đã
không nhìn thấy tính cánh súc sinh trong những con người tín đồ Da-tô cuồng
tín (xin nhấn mạnh thuộc từ cuồng tín) đã từng
cúi mặt gục đầu bán nước cho Liên Minh giặc Pháp – Vatican từ năm
1858 cho đến 1954 và vẫn còn tiếp tục
bán nước cho Vatican ở miền Nam cho đến ngày 30/4/1975. Để kiểm nghiệm những lời trình
bày trên đây, độc giả hãy theo dõi thái độ, ngôn ngữ, phương cách lý
luận và cung cách hành xử của những người Việt Da-tô ở hải ngoại
làm việc trong các ngành truyền thông (viết báo, viết các bào xã luận, bỉnh
bút trong các tờ báo, xướng ngôn của các đài truyền thanh và truyền
hình, MC của các chương trình ca nhạc, v.v…) và qua những ấn phẩm hay
bài viết của họ được phổ biến bằng các phương tiện truyền thông
Việt ngữ như báo chí, các đài phát thanh, các đài truyền hình, các nhóm
điện thư (E-mail groups).
Người ta thường nói “Văn tức là người”. Văn đây có nghĩa
là những lời lẽ hay ngôn tử sử dụng trong việc ứng sử hàng ngày với
mọi người hay những lời văn viết trong các tác phẩm của một người nào
đó. Ông Ngô Đình Diệm là một chính
khách, không phải là một nhà văn, cho nên ông không để lại một lời
văn viết nào cả. Nhưng vì là chính khách đã từng nắm giữ chức vụ tổng
thống miền Nam hơn chín năm trời, ở vào địa vị này, ông đã tiếp
xúc với rất nhiều nhân vật có thế lực ở trong nước của như ở nước
ngoài, với rất nhiều nhà báo trong các cơ quan truyền thông ở trên thế
giới và cũng đã từng đưa ra những lời tuyên mà sách sử đã ghi lại.
Người viết xin ghi lại những lời tuyên bố ngu dốt của chính ông và những
lời nhận xét của các nhà trí thức hay chính khách quốc tế cũng như chính
khách hay trí thức người Việt nhận xét về tình trạng ngu và dốt của
ông. 1.- Trước hết,
chúng ta trở lại chuyện bản văn do nhà viết sử Lương Minh Sơn nói về
lời tuyên bối của ông Diệm trong bữa cơm được tổ chức tại Khách Sạn
Mayflower ở Washington D.C vào tháng 10 năm 1950 để cho các cán bộ của Giáo
Hội La Mã giới thiệu ông ta với các viên chức cao cấp trong Bộ Ngoại
Giáo Hoa Kỳ mà người viết đã trích dẫn ở Chương 57 ở trên. Xin ghi lại đây đoạn
văn sử này trong đó có lời tuyên bố để
đời của ông Ngô Đình Diệm để độc giả suy nghiệm: "...Mục đích
của buổi gặp gỡ xã giao này là để
chính phủ Hoa Kỳ tìm hiểu về tình hình Việt Nam và để xác định lập
trường chính trị của ông Diệm và Đức Cha Thục. Sự kiện 90% người dân
Việt Nam không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo không làm ông Diệm quan
tâm vì ông đã tuyên bố tối hôm đó rằng
ông "tin tưởng vào quyền lực của
Vatican và ông chống Cộng một cách cực
lực.” … “Điều
còn lại sau cùng cho kế hoạch chính trị hỗn hợp này là làm thế nào để
giải thích cho Hội Đồng Chính Phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ và kinh nghiệm chính trị và khả năng lãnh
đạo của ông Ngô Đình Diệm? Tổng Thống Eisenhower cũng chỉ có thể trấn
an Hội Đồng Chính Phủ bằng câu nói, “Trong đám mù, thằng chột làm
vua,”.[HER]. Điều này cho thấy: một là ông Diệm không có một thành
tích chính trị nào đáng kể, hai là ông Diệm không có khả năng lãnh đạo,
hoặc ba là người Mỹ hoàn toàn không biết gì về ông Diệm.” [iii]
2.- Trong cuốn
sách Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tác giả
Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Đức ghi lại lời tuyên bố của ông
Ngô Đình Diệm với nguyên như như sau: "Chế độ này
còn nhiều khuyết điểm, cũng còn hơn nhiều chế độ khác. Người ta chê
là độc tài, nhưng chỉ ngại còn những thứ độc tài khủng khiếp hơn....
Tôi tiến thì theo Tôi, Tôi lùi thì bắn tôi, Tôi chết thì trả thù cho
Tôi,.." [iv]
Là một đồ Da-tô thuộc loại bế ngửa (đạo gốc,
rửa tội lúc còn bế ngửa), ông Diệm ít nhất mỗi ngày đến bàn thờ
Chúa Jesus cầu nguyện một hai lần (như đã nói ở trên). Ấy thế mà ông vẫn không nhớ được lời Chúa dạy
"Ta tha thứ cho kẻ thù của Ta",
lúc Ngài bị đóng đinh trên cây thập giá ở Núi Sọ, cho nên ông mới
đưa ra lời tuyên bố ngu xuẩn rằng, "Tôi
chết thì trả thù cho tôi." Trong
khi đó, cũng là tín đồ Da-tô thuộc loại bế ngửa như ông, cũng mang đầy
tội ác đối với nhân dân như ông, cũng phải đền tội trước nhân dân
như ông,nhưng khi bước lên đoạn đầu đài
đền tội vào ngày 21/1/1793, Vua Louis XVI lại nhớ lời dạy trên đây của
Chúa Jesus và đã tuyên bố rằng: "Tôi tha thứ cho những kẻ thù của tôi".
Sự kiện này được sách Cách Mạng Và Hành Động ghi lại như sau: "Tới ngày
21/1/1793, Louis XVI lên đoạn đầu đài, theo sau có một tu sĩ không tuyên thệ
với Cách Mạng. Nhà vua tự tay cởi áo và cà vạt, rồi yên lặng để
người ta trói tay mình. Ông chỉ kêu lên: "Tôi vô tội. Tôi tha thứ
cho những kẻ thù của tôi, và tôi cầu Chúa để máu của tôi khỏi gây họa
cho dân chúng." Rồi lưỡi dao hạ xuống Louis Carpet rớt xuống thùng
vôi..." [v]
3.- Trong cuốn Hai Mươi Năm Qua 1945-1964 Việc Từng
Ngày, cụ Đoàn Thêm ghi lại lời tuyên bố của ông Ngô Đình Diệm với
nguyên văn như sau: "Sau lưng Phật
Giáo trong nước còn có Hiến Pháp, nghĩa là còn có tôi." [vi]
Điều khôi hài là trong và sau khi đưa ra lời tuyên bố ngu xuẩn và ngang ngược trên đây,
ông Diệm cũng không biết rằng lời
tuyên bố trên đây là ngu xuẩn và
ngang nguợc. Người ta bảo rằng nó lú có chú nó khôn. Nhưng cái lũ "chú" của anh em ông Ngô Đình
Diệm cũng chẳng khôn chút nào cả. Cái lũ “chú” này là Giám Mục Ngô
Đình Thục, Giám-mục Pham Ngọc Chi, các Linh-mục Nguyễn Văn Thuận (sau này
được phong chức giám mục, rồi lại được chức hồng y nữa), Mai Ngọc Khuê, Đinh Xuân Hải, Tô Đình Sơn,
Nguyễn Lạc Hóa, Trần Đình Vận, Bửu Dưỡng, Cao Văn Luận, Nguyễn Quang
Lãm, Trần Du, Nguyễn Bá Lộc, Thanh Lãng, v v... và một số đông các nhà
trí thức Da-tô ngoan đạo có bằng cấp đại học. Vì ngu dốt, cho nên họ
không biết rằng ngay ơ nước Hoa Kỳ (đã chủ mưu tạo dựng ra miền Nam
và chế độ Ngô Đình Diệm), tất cả mọi người đều phải hành xử
theo luật pháp và hiến pháp Hoa Kỳ, không có môt người nào, dù là Tổng
Thống Hoa Kỳ đi nữa cũng không được đứng trên hay sau lưng Hiến Pháp
và luật pháp. "No American is above the law". Điều khôi hài khác nữa là ông Diệm thường huênh
hoang khoác lác khoe khoang rằng ông là một nha Nho đến nỗi một sử gia người ngoại quốc tên là Denis
Warner lầm tưởng rằng ông ta là một nhà Nho thật sự cho nên mới viết
một cuốn sách nói ông ta và về chế độ của ông ta với tựa đề là
"The Last Confucian" (New York: The Macmillan Company, 1963.). Tự xưng là một nhà Nho, nhưng ông Diệm lại không nhớ
lời của Thày Mạnh Tử dạy rằng "Dân
vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" và “Dân chí sở ố, ố chi; dân chi sở hiếu, hiếu
chi; sở vi dân chi phụ mẫu.” Vì không nhớ (hay không biết) các lời
dạy trên đây, cho nên ông mới tuyến bố một cách ngang ngược và ngu xuẩn
rằng ""Sau lưng Phật Giáo trong nước
còn có Hiến Pháp, nghĩa là còn có tôi." Từ ngàn xưa, những hạng
người ngu xuẩn và dốt nát, nhất là những hạng người cuồng tín về
tôn giáo, càng ở địa vị cao trọng,
càng để lộ ra tình trạng ngu xuẩn và dốt nát của họ khi họ tuyên bố
một điều gì hay khi ứng xử với mọi người. Đây là một quy luật về
tâm lý. Quy luật này thể hiện rõ ràng nhất ở nơi con người Ngô Đình
Diệm. Như đã trình bày ở trên, tình trạng ngu đốt của ông Diệm được thể hiện ra hoặc là khi tiếp xúc và nói chuyện với những
nhân vật trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào tháng 10/1950 hay tiếp xúc với
các sinh viên Việt Nam đang du học ở Âu Châu trong thời gian 1951-1954 (sẽ
nói rõ trong một tiểu mục ở sau), hoặc là khi làm việc với ông cố vấn
đặc biệt của Hoa Kỳ là Đại Tá Edward G. Lansdale, hoặc là khi tâm tình với những người đồng đạo thân
tín như Cựu Tướng Hùynh Văn Cao, hoặc là những khi phải tuyên bố long
trọng với nhân dân, bất kỳ lúc nào và ở bất kỳ trường hợp nào,
ông Diệm cũng để lộ ra tình trạng cuồng tín,
ngu xuẩn và dốt nát của ông ta. 4.- Trong
cuốn Tôi Làm Cố Vấn Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu Tướng Edward G.
Lansdale kể lại nỗi bực mình của ông về
cái ngu của ông Diệm bằng ngôn ngữ ngoại giao là "kém khôn ngoan về chính trị". Nỗi bực
mình này của cựu Tướng Edward G.
Lansdale quả thật là đúng với thành
ngữ "Làm đầy tớ thằng khôn còn hơn
là thầy thăng ngu" của người Việt chúng ta. Dưới đây là nguyên
văn lời cựu Tướng Edward G. Lansdale: "Tôi đã đề
nghị bên Bình Xuyên hãy đem gươm ra mà đúc lưỡi cày. Quân đội riêng của
họ hãy tự giải giới và đem số dung cụ, vật liệu họ thu thập được
qua sự kinh doanh của những cơ sở phi pháp ra mà kiến thiết một xa lộ tối
tân cần thiết từ Sàigòn đi Vũng Tầu (nơi có nhiều tài sản của Bình
Xuyên). Xa lộ ấy vì là tặng vật của Bình Xuyên cho quốc gia, nên sẽ
được mang tên của lãnh tụ Bình Xuyên. Đề nghị của tôi
về việc làm xa lộ khiến cho Bẩy Viễn thích thú. Tôi liền dàn xếp một
cuộc gặp gỡ giữa Bảy Viễn và ông Diệm. Sau khi gặp nhau, Bẩy Viễn giận dữ ra về và trút cơn thịnh
nộ lên đầu các tay cố vấn. Kết cuộc một người trong số cố vấn nầy
bị bắn lủng ngực. Nghe được câu chuyện tai hại ấy, tôi liền tức tối
đến gặp ông Diệm để tìm hiểu việc gì đã xẩy ra trong cuộc hội kiến
với Bẩy Viễn. Ông Diệm cho tôi biết viên lãnh tụ Bình Xuyên đã đưa
ra một đề nghị "tầm bậy" là hắn sẽ chấm dứt những hành vi
sai lầm phi pháp và đem tiền của ra để kiến thiết một xa lộ. Tôi nói
với ông Diệm rằng: "Đó là lý do khiến tôi xin Thủ Tướng tiếp kiến
ông ta. Vậy Thủ Tướng đã trả lời ông ta ra sao? Ông Diệm nói:
"Tôi bảo hắn rằng tôi không tin điều đó. Tôi không chấp nhận. Trước
sau gì thì hắn cũng chỉ là một tên vô lại". Tôi điếng người vì
sự kém khôn ngoan về chính trị của ông Diệm, và
nói thẳng với ông Diệm như vậy. Ông ta đã không áp dụng nổi một giải
pháp xây dựng cho một vấn đề khó
khăn. Bình Xuyên kiểm soát ngành cảnh sát và một đạo quân, được hậu
thuẫn bằng tiền bạc của những hoạt động phi pháp. Thay vì khuyến
khích họ từ bỏ những hoạt động ấy, ông Diệm lại mua lấy sự oán
ghét. Khi kẻ cướp bị khinh bỉ thì chúng nguy hiểm không khác gì một người
đàn bà. Một ngày nào đó, ông Diệm sẽ phải trả giá đắt cho sự kém
khôn ngoan ấy."
[vii] 5.- Trong bài
"Hoàng Xuân Hãn, Một Nhân Chứng Lịch Sử" đăng trong tờ Hợp
Lưu số 29 tháng 6 & 7/1996 nơi các
trang 74-75, tác giả ghi lại chuyện cụ Hoàng Xuân Hãn cho rằng ông Diệm
là hạng người “đần độn” với nguyên văn như sau: "Hồi ấy, tôi
vào chấm thi đấy, tôi có một người bà con rất thân với ông Diệm, có
thể nói là thư ký riêng của ông Diệm. Ông Diệm hồi ấy viết cái gì
hay nói cái gì thì cũng cậu này làm cho cả. Cậu ta đậu bachot (Baccalauréat
- thi tú tài), người đứng đắn và nhiều chính kiến lắm, Cậu ta nói với
tôi: "Cụ Diệm muốn gặp - gọi tôi bằng chú - chú lắm. Làm thế
nào để cháu đưa chú đến gặp cụ Diệm mà tụi Tây nó không biết."
Thế rồi, một tối, cậu ta đến dắt tôi đi qua một cái vườn, rồi qua
hàng rào, sang nhà ông ta. Ngồi đợi, tôi còn nhớ có cái đèn manchon
sáng, không có điện tuy là ở Huế. Ông cụ này một chốc xuống, mặc khăn
áo chỉnh tề, khăn đóng, tôi còn nhớ mặt trắng, người tăng tướng thì
không tăng tướng, nhưng người nho nhã lắm. Ông xuống ngồi với tôi một
giờ rưỡi đồng hồ, chỉ hỏi một câu thôi: Chào ông, hay cám ơn gì đó.
Rồi thì ngồi, tôi ngượng quá, không thấy ông hỏi một cái gì cả, rồi
tôi phải gợi câu hỏi để ông ta giả nhời, mà ông ấy giả nhời thì cũng
lại vắn vủi. Thôi tôi chán hết sức. Tôi nói rằng từ trước đến giờ
nghe về đường réputation (tiếng tăm) người ta nói rằng ông... gì lắm,
sao mà ông ấy như thế? Sau tôi hỏi cháu tôi, thì cháu tôi nói: Cụ Diệm
ở đây ai cũng trọng cả, chứ mà tính cụ ấy như thế, kín lắm! Thế
tôi hỏi: "Đã mời tôi tới thì cũng phải hỏi cái gì cho nó có câu
chuyện chứ?" Không! Cái cảm tưởng của tôi về ông Diệm là thế
này: "Một người đi tu mà nhiều khi lại đần độn là khác nữa."
[viii]
6.- Giáo-sư Lý
Chánh Trung, một trí thức Da-tô, nói rõ về tình trạng kém thông minh và dốt
nát về chính trị của ông Diệm và tình trạng vừa ngu dốt vừa lưu manh
của bọn người đồng đạo bộ hạ của ông ta với nguyên văn như sau: "Ngày 20 tháng 8
năm 1963, Phật Giáo bước vào "mùa pháp nạn" và dân chúng miền
Nam bắt đầu đếm từng ngày cái chuỗi ngày thật dài, nóng bỏng và nghẹt
thở dẫn đến cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Một
sự dường như mới xẩy ra hôm qua đây, hình ảnh các biến cố còn sáng
rực trong ký ức, thế mà anh em Phật tử đã kỷ niệm mùa Pháp nạn đến
lần thứ bảy rồi đó. Tôi không phải
là một Phật tử, cũng không bị ức hiếp điều chi dưới trào ông Diệm,
nên không có tư cách gì để nói lên cảm nghĩ của mình nhân ngày kỷ niệm
này, mà chỉ có thể chia xẻ phần
nào sự đau xót mà chắc số đông đồng bào Phật tử đang cảm thấy
trong lòng, khi nhìn lại những thăng trầm biến đổi, những hoạn nạn
gian truân mà Phật giáo xứ này đã phải liên tiếp gánh chịu trong bảy năm
qua, kể từ mùa Pháp nạn đầu tiên. Những cảm nghĩ mà
tôi có thể nói và thấy cần phải nói, là những cảm nghĩ về ông Diệm,
người đồng đạo của tôi và cũng là người chịu trách nhiệm trước lịch
sử về cuộc đàn áp Phật Giáo năm 1963, dù cho cuộc đàn áp này có thực
sự do chính ông quyết định hay không. Tôi có gặp ông
Diệm một lần, khi còn là sinh viên ở Ông đã ngồi im
như không nhúc nhích trong mấy tiếng đồng hồ, đã hút gần hết bao thuốc
lá Belga của chúng tôi, đã nói thật nhiều và phần nhiều là nói một
mình. Ông không trả lời thẳng và đích xác một câu hỏi nào của chúng
tôi, ngoại trừ một câu: Khi được hỏi ông quan niệm thế nào về dân
chủ, ông nói rằng ông không có học nhiều về chính trị nên không được rõ lắm về các lý thuyết
dân chủ, nhưng ông vừa đi quan sát nước Mỹ cũng như vài nước Âu Châu
và ông thấy nền dân chủ Hoa Kỳ là tốt hơn
hết. Câu trả lời đó
đã làm một số anh em chúng tôi thất
vọng. Lúc ấy, chúng tôi không có một chút cảm tình đối với Mỹ vì Mỹ
giúp tiền cho Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương và cũng đang nghi ngờ
nền dân chủ Mỹ vì cái chính sách chống Cộng ngu xuẩn, đượm nhiều
hơi hám phát xít của nhà cầm quyền Mỹ (đặc biệt là cái phong trào
"săn bắt Cộng Sản" của Thượng Nghị Sĩ Joseph Mac Carthy) và vì
sự can thiệp trơ trẽn của Mỹ vào các nước Châu Mỹ La Tinh như vụ lật
đổ Chính Phủ Cấp Tiến Guatemala. Sau câu chuyên,
tôi đã cùng một anh sinh viên khác hộ tống ông Diệm về khách sạn. Đường
xa, trời lạnh, ông bước thật nhanh theo lối chữ bát và đã im lặng
trong suốt quãng đường. Không biết trong những câu hỏi của chúng tôi đêm
đó, hoặc trên những tờ báo của chúng tôi mà chắc ông có đọc, có điều
chi làm ông không vừa lòng, mà ông đã nói với ông viện trưởng Trương
Đại Học Louvain rằng sinh viên Việt Nam tại đây "đã bị mác-xít
hóa ít nhiều", khiến cho ông viện trưởng phái một người đến để
hỏi thăm về việc đó. Sau này, khi cầm
quyền, ông vẫn không ưa "bọn Louvain" và trong một phiên họp
chính phủ, ông nói rằng cái bọn Louvain chúng nó "lộn xộn" lắm,
các ông bộ trưởng có dùng thì phải coi chừng. Tuy nhiên, ông không có một hành động kỳ thị nào
đối với chúng tôi. Riêng phần tôi,
cuộc tiếp xúc đầu tiên với ông Diệm đã không gây được một niềm hứng
khởi hay tin tưởng nào mà cũng không giúp tôi hiểu rõ thêm tình hình đất
nước. Những ý tưởng của ông rất lù mù mà sự diễn đạt lại càng
lù mù hơn. Tôi có cảm tưởng
ông là người hiền lành, yêu nước và có đức độ nhưng lại quá thân
Mỹ và không am hiểu gì hết về các vấn đề xã hội. Nói chung là tôi
thất vọng không những về quan niệm
chính trị của ông mà còn vì khuynh hướng độc thoại của ông. Hình như
ông chỉ có thể nói một mình, chớ không đối thoại thật sự được với
ai. Tuy thất vọng, tôi
vẫn có cảm tình đối với ông, vì có một cái gì đáng kính và dễ mến
trong cái tác phong đạo mạo, trong cái dáng điệu cứng ngắc và ngượng
nghịu của ông. Nhưng thiệt tình lúc ấy, tôi không ngờ rằng ông Diệm sẽ
được suy tôn như là lãnh tụ anh minh và cứu tinh của dân tộc. Tôi đã kể lại
dài dòng bữa gặp gỡ đầu tiên với ông Diệm, vì hôm nay tôi nhớ tới
ông với thật nhiều thương xót, mà cũng vì tôi muốn cho những phán đoán
của tôi về ông được hiểu rõ là không do nơi ác cảm hay một sự bất
mãn cá nhân nào đối với ông. Nhìn lại chín năm
cầm quyền, tôi thành thực nghĩ rằng, ông chỉ là một huyền thoại lớn
do người Mỹ và một số tay chân bộ hạ tạo ra để lợi dụng. Người
Mỹ lợi dụng ông để thực hiện mưu đồ của họ, một số tay chân bộ
hạ đã lợi dụng ông để bòn rút những nguồn lợi béo bở của đất
nước này và của viện trợ Mỹ. Cái lỗi căn bản
của ông là chính ông đã tin nơi cái huyền thoại “cứu tinh dân tộc,
lãnh tụ anh minh” đó. Ông đã tin nơi sứ mạng cứu nước của mình đến
nỗi không còn chấp nhận được bất cứ tiếng nói nào khác tiếng nói của
ông, ngay cả những tiếng nói thật ôn hòa và “xây dựng” như bức thơ
trần tình của nhóm nhân sĩ Caravelle. Cái lỗi căn bản của ông là đã xem người Mỹ cũng như tay chân bộ hạ
của ông là những phương tiện để hoàn thành sứ mạng cứu nước trong
khi chính ông mới là phương tiện của người Mỹ và một số tay chân bộ
hạ. Và sứ mạng cứu
nước đã được ông đồng hóa sứ mạng chống Cộng, vì đối với ông,
Cộng Sản là sư xấu tuyệt đối phải tiêu diệt bằng mọi giá, kể cả
cái giá lệ thuộc người Mỹ. Đó là một lỗi căn bản khác và tất cả
sự mâu thuẫn của chính sách chống Cộng nằm ở chỗ này. Tôi được biết
ông đã suy nghĩ và do dự rất lâu khi chính chánh phủ Kennedy đề nghị gửi
sang đây 14 ngàn quân để thí nghiệm cuộc “chiến tranh đặc biệt”, vì
ông thấy rõ nguy cơ mất chủ quyền. Nhưng cuối cùng ông đã nhận vì sự
chống cộng đã được ông xem như một cứu cánh tuyệt đối mà đó là
cái giá phải trả để chống cộng, một cái giá thật đăt đối với
ông vì tôi tin ông yêu nước, dầu yêu nước theo cách của ông. Ông đã tưởng mình
có thể lệ thuộc Mỹ một phần nào thôi, còn phần kia thì vẫn “độc
lập”, ông đã tưởng mình có thể nhẩy vào vòng tay người Mỹ trong một
giai đoạn ngặt nghèo rồi thoát khỏi vòng tay đó khi tình hình sáng sủa
hơn, ông đã tưởng có thể chấp nhận làm con cờ trong một ván cờ rồi
ngay trong ván cờ đó, có thể tự động đi một nước cờ riêng của
ông. Khi ông nhìn thấy
đó chỉ là ảo tưởng thì đã quá trễ: Ông đã chết vì ảo tưởng đó.
Và cái chết bi thảm của ông cho thấy một sự thật hết sức tầm thường:
Không một con cờ nào có thể tự động đi một nước cờ cho riêng nó, dầu
con cờ đó mang tên Ngô Đình Diệm, và không một nước nhỏ nào có thể lợi dụng một nước lớn,
nhất là nước đó mang tên Hoa Kỳ. Bẩy năm đã qua
và ngày nay, dư luận quần chúng có vẻ khoan hồng hơn đối với ông Diệm
và chế độ cũ của ông, ngay cả những nơi nạn nhân của chế độ ấy..
Lý do giản dị: với thời gian, kỷ niệm đã mờ nhạt, hận thù được
xoa dịu, những ẩn ức dồn nén được giải tỏa. Trong khi đó, cái thực
trạng cua xã hội miền Nam mỗi ngày thêm xấu xa tệ hại, khiến cho người
ta có khuynh hướng chỉ nhớ tới những nét tương đối dễ coi của chế
độ Ngô Đình Diệm, mỗi khi so sánh thời này với thời trước. Nhưng từ đó mà
cho rằng chế độ ông Diệm là một thời đại hoàng kim và chỉ cần bắt
chước ông Diệm là có thể giải quyết những vấn đề đất nước, như
một số chân ta bộ hạ của ông đang tuyên bố rùm beng thì thật là lố
bịch và vô liêm sỉ. Những người
đang hò hét khóc lóc chung quanh cái tên Ngô Đình Diệm như bầy quạ trên
một xác chết. Với cái âm mưu tái lập một chế độ Diệm không Diệm
trong đó họ sẽ phè phỡn bòn rút như xưa, xin họ nhớ cho rằng giòng lịch
sử không bao giờ chẩy ngược chiều. Và nếu họ không
còn một chút tự trọng, xin họ dầu sao cũng thương dùm ông Diệm, Tội
nghiệp ông! Tôi ứa nước mắt mà viết câu này, xin họ hiểu cho.” [ix] 7.- Trong cuốn Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng
Thống Ngô Đình Diệm, tác giả ghi lại
lời nhận xét của Đại Sứ Cabot
Lodge viết trong công điện gửi về chính phủ Hoa Kỳ bằng những lời lẽ
nói về tình trạng ngu dốt cũng như não
trạng phong kiến lạc hậu lỗi thời, phản tiến hóa của anh em ông Diệm
với nguyên văn như sau: "Chủ yếu chúng
nó là một chế chuyên chính Á Châu thời Trung Cổ của loại gia đình cổ
điển, không hiểu gì cả hay rất ít,
về các ngành nghề của chính quyền vì dân. Chúng không thể ăn nói với
dân chúng, không thể gây cảm tình với báo chí, chúng không thể ủy thác
quyền hành hay tạo ta niềm tin, chúng không thể hiểu được tư tưởng chính
phủ là công bộc của dân. Chúng nó chỉ
quan tâm đến an ninh vật chất và sự sống còn của chúng, chống lại bất cứ mối đe dọa nào cộng
sản hay không cộng sản." [x]
Tạm kể ra 7 trường hợp trên đây và 7 trường hợp
này đều nằm trong những đặc tính chung của những tín đồ Da-tô cuồng
tín mà người viết đã trình bày ở trên. Qua phần
trình bày trên đây, chúng ta thấy rằng ông Ngô Đình Diệm quả thật là
một tín đồ siêu cuồng tín với đầy đủ 16 đặc tính Da-tố đã nói
ở trên và xứng đáng được nhà báo Long Ân xếp loại vào hạng người
“đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ
con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.” Điều đau buồn cho dân tộc Việt Nam là “hạng người súc sinh này” lại được
Vatican và siêu cường Hoa Kỳ đưa về Việt Nam cầm quyền ở miền Nam Việt
Nam hơn chín năm trời. Quyền hành sinh tội ác. Cũng vì thế mà thằng súc
sinh Ngô Đình Diệm đã trở thành thiên cổ tội nhân đối với dân tộc
Việt [i] Phan Như Diệp. “Nghiên Cứu Thánh Kinh – Studying Bible.” www.giaodiem.com. Tháng 12/2005. [ii]
Nguyễn Mạnh Quang, Việt [iii] Lê Hữu Dản, Sự Thật - Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997
(Fremont, Calìornia, 1997), trang 23-24. [iv] Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm [Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Đức, Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (San Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, 1999), tr. 405. [v] Nghiêm Xuân Hồng, Cách Mạng Và Hành Động (Sàgòn: Quan Điểm, 1964), tr. 70. [vi] Đoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua 1945-1964 Việc Từng Ngày (Los Alamato CA: Xuân Thu in lại ấn bản 1965), tr. 351. [vii] Edward G. Lansdale Tôi Làm Quân Sư Cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Hoa Kỳ: Đại Nam in lại ấn bản Sàigon 1971), tr. 55. [viii] Chính Đạo, Nhìn Lại Biến Cố 11/11/1960 (Houston, Texas: Văn Hóa, 1997), tr. 116-117. [ix] Lý Chánh Trung, Những Ngày Buồn Nôn (Sàigòn: Đối Diện,1972), tr.133-138. [x] Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (San Jose, CA: Quang Vinh & Kim Loan & Quang Hiếu, 1999) tr. 282. --Đọc tiếp bài 3. thân thế và con đường hoạn lộ, và sự tàn ác trong lúc làm quan--
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com