giaodiem copyright
          posted: 15.02.2006

   V. NĐD - THÂN THẾ VÀ CON ĐƯỜNG HOẠN LỘ.-

Theo sử gia Vũ Ngự Chiêu dưới bút hiệu Chính Đạo, ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 27/7/1897 tại làng Đại Phong (hay Đại Phong Lộc), huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.[1]  Sử gia Joseph Buttinger ghi là ông Diệm sinh ngày 3/1/1901. Đối với người viết, sự sai biệt hay không đúng về ngày và năm sinh của ông Ngô Đình Diệm không quan trọng, chỉ những việc làm  và cung cách hành xử quyền hành cũng như cung cách ứng xử với mọi người của ông ta mới cần phải quan tâm. )

Song thân của ông Diệm là ông Ngô Đình Khả và bà Phạm Thị Thân. Ông Ngô Đình Khả sinh năm 1856 và là một tín đồ Da-tô đao gốc (có bố là Ngô Đình Niệm đã theo đạo). Năm 1870, ông được Giáo Hội La Mã gửi đi  học làm nghề linh mục tại một chủng viện ở  Pénang. Thời gian theo học ở đây là tám năm. Tám năm đèn sách để làm nghề linh mục, nhưng không biết tại sao ông lại không thành công hay không muốn làm cái nghề khoác áo chùng đen để làm cha thiên hạ. Năm 1778, ông  được cho về nước và sau đó ông được một linh mục người Pháp đưa vào làm thông ngôn ở Huế. Vì  hết lòng tận tụy với quan thày và được quan thày tin tưởng, tháng 6 năm 1995, ông được cho làm phó tướng cùng vơi ông Nguyễn Thân đem lính Việt Nam  mà hầu hết là lính đạo (quân thập tự Việt Nam) đi đánh phá và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân Văn Thân dưới quyền lãnh đạo của cụ Phan Đình Phùng ở Vụ Quang và Ngàn Trươi. Nghĩa quân Văn Thân vừa am hiểu địa hình địa thế vừa  quyết tâm chiến đấu, cho nên quân thập tự Việt Nam dưới quyền của Nguyễn Văn Thân và Ngô Đình Khả bị tổn thất nặng, và không tiến được vào căn cứ của nghĩa quân kháng chiến. Mấy tháng sau, cụ Phan Đình Phụng qua đời vì bệnh kiết lỵ.  Sau cái chết của cụ Phan,  nghĩa quân Văn thân như rắn mất đầu. Do đó, Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả mới mạnh bạo xua quân tiến vào đánh tan lực lượng nghĩa quân, cho người đào mả cụ Phan Đình Phùng lấy xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng rồi bắn xuống sông Lam Giang để trả thù cho những thất bại trước đó. Nhờ chiến công và hành động dã man này, Liên Minh Pháp – Vatican   cho ông lên làm đến chức “Thái Thượng Tự Khanh” tương đương với hàng “chánh tam phẩm”. Năm 1905, ông lại được Liên Minh giặc Pháp - Vatican cho nắm giữ chức Surintendent de Palais (Tổng Quản Cấm Thành) và giao cho ông việc làm với nhiệm vụ như một tên mật vụ theo dõi Vua Thành Thái. Sự kiện này được ông Lữ Giang ghi lại với nguyên văn như sau:

Lúc đó, Pháp đã nắm hết quyền hành nên Thành Thái chỉ lo ăn học và giải trí. Cụ Ngô Đình Khả được cử làm Phụ Đạo và Cố Vấn cho vua Thành Thái. Năm 1904, cụ được cử làm Tổng Quản Cấm Thành, trông coi tử Cấm Thành…

"Khi đưa cụ Ngô Đình Khả vào làm Phụ Đạo cho vua Thành Thái, người Pháp muốn cụ theo dõi các hoạt động của vua và báo cáo cho Pháp biết những ý định phản nghịch của vua để có biện pháp kịp thời.” [2]

Nhờ địa vị quan tước của thân phụ, ông Diệm được phong “tập ấm” và cho theo họ trường đạo Pellerin ở Huế, rồi lại được đặc cách đưa vào học trường Hậu Bổ cũng ở Huế. Năm 1922, ngay khi vừa hoàn tất chương trình học tại trường Hậu Bổ, ông Diệm được bổ nhậm làm tri huyện.

Nói về trình độ học vấn của ông Ngô Đình Diệm, cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh viết:

ng Diệm học lực chưa đủ sức thi vào ngạch quan lại, nhờ vai ấm sinh của cha truyền khỏi phải thi, từ một chức tiểu lại đến 7 năm sau, ông thành ra một vị đường quan. Vì ông khéo luồn lọt, lập công với thực dân Pháp, mau thăng chức hơn các bạn đồng liêu.." [3]

Bản văn sử trên đây cũng cho chúng ta biết một khía cạnh trên con đường hoạn lộ của ông Ngô Đình Diệm. Kể từ đó, ông Diệm dựa vào thế người ngoại bang để leo lên bước thang danh vọng quyền lực. Cũng từ đó, ông đem hết tài năng và trí óc ra để tìm hết đủ mọi cách tâng công quan thày này, chạy chọt với quan thày ngoại bang khác để leo lên nấc thang cao nhất của quyền lực. Khi có quyền lực lọt vào trong tay của ông, nó trở hành những phương tiện cho ông biến  những ác tính Da-tô cùng với ác tính thiên bẩm tiểm ẩn trong tâm tư thành những hành động bạo ngược và dã man đến cùng cực của dã man. Tình trạng   này khiến cho quan thày người Hoa Kỳ của ông đành phải bỏ rơi ông, liệng ông ra khỏi quyền lực, phó mặc sinh mạng của anh em ông  cho quân dân miền Nam trong cơn  thịnh nộ  đang cùon cuộn dâng lên và bộc phát ra như hỏa diệm sơn sau chín năm uất ức và căm thù.

Nói về con đường họan lộ của ông Diệm, thiết tưởng cũng nên nói về con đường hoạn lộ của những người Việt Nam trong thời  trăm năm nô lệ giặc Tây”. Lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại cho thấy rằng Liên Minh Pháp - Vatican thống trị Đông Dương vào lúc bấy giờ là hai thế lực “đồng sàng nhưng dị mộng”.  Vì nhu cầu  đánh chiếm và thống trị Việt Nam để cùng cướp đoạt tài nguyên và cưỡng bách nhân dân ta làm nô lệ cho chúng, hai thế lực này mới liên kết với nhau thành Liên Minh Pháp – Vatican. Như vậy là hai thế lực Pháp và Vatican liên kết với nhau vì quyền lợi bất chính. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng những kẻ vì quyền lợi bất chính mà tụ lại với nhau, thì sớm muộn lại cũng lại vì quyền lợi bất chính đó mà trở thành tương tranh thanh toán lẫn nhau để  độc chiếm quyền lực và quyền lợi. Đây là một quy luật lích sử. Pháp và Vatican cũng không thoát khỏi quy luật lịch sử này.

Một yêu tố khác cũng không kém phần quan trọng là cho hai thế lực này luôn luôn ở vào tình trạng lủng củng. Nguyên do vì  nhân dân Pháp đã từng là nạn nhân của Giáo Hội La Mã cả hơn một ngàn năm và đã phải  giẫy dụa cả một thời gian dài từ cuối thế kỷ 8 [thời vua Charlemagne (768-814)] cho đến khi Cách Mạng bùng nổ vào năm 1789 mới có thể vùng lên đối đầu với Giáo Hội bằng những biện pháp mạnh để đòi lại quyền làm người. (Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ ở Phần 6). Trước khi Cách Mạng 1789 bùng nổ, các bậc trí giả Âu Châu đã luôn luôn  viết sách, viết báo lên án Giáo Hội bằng những lời lẽ vô cùng gay gắt. Trong số những bậc trí giả này đưa ra quan điểm chính trị chống lại Giáo Hội.  Đây là trường hợp của các nhà trí thức John Wycliffe (1320-1384), John Huss (1372-1415), Giordano Bruno (1548-1600), John Locke (1632-1704), Montesqiueu (1689-1775), Denis Diderot (1713-1784), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Voltaire (1694-1778). Sau thời Cách Mạng 1789, cũng vẫn còn có nhiều học giả Âu Mỹ tiếp tục viết sách, viết báo, diễn thuyết trình bày những quan điểm chống lại Giáo Hội hết sức mãnh liệt. Trong số những người này, có những nhân vật nổi tiếng như Lamartine (1790-1869), Victor Hugo (1802-1885), Léon Gambetta, Jules Ferry, Thomas Paine (1737-1809), Thomas Jefferson (1743-1826), v.v…

Theo chân các nhà trí thức trên đây, các nhà trí thức sau này đã nghiên cứu cả hai bộ Cựu và Tân Ước Kinh cũng như các tác phẩm như The Decline and Fall of The Roman Church, the Jesuits, Rich Church, Poor  của giáo sĩ Malachi Martin, Vietnam Why did we Go? và The Vatican's Holocaust của giáo sĩ Avro Manhattan,  The Thick Darkness of Romanism của Tiến-sĩ Barnado, In Vatican: The Politics and Organization of the Roman Catholic Church của Thomas J. Reese, The Vatican's Last Crime của Joseph McCabe, Roman Catholicism của Loraine Boettner, The Vicar Of Christ của Peter de Rosa, The Dark Side of Christian History của Hellen Ellerbe, The Babylon Mystery Religion của  Ralph Woodrow, Deceptions and Myths of The Bible của Lloyd M. Graham, The Book Your Church Doesn’t Want You To Read  của Tim C.. Leedom.   Đặc biệt nhất là Thomas Paine  viết cuốn The Age of Reason trong đó ông đem Cựu Ước và Tân Ước Kinh ra phân tách rất là công phu, rồi đưa ra những luận cứ bất khả phản bác về tính cách hoang đường của hai bộ thánh kinh này. Sau đó, chúng ta lại có triết gia Bertrand  Russell viết cuốn Why I Am Not A Christian cũng không ngoài mục đích nói cho người đời biết rõ về những sai lầm căn bản của lý thuyết thần học Thiên Chúa Giáo.

Những tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn đến suy tư và hành động của nhân dân Âu Châu khiến cho tinh thần chống Giáo Hội càng ngày càng trở nên mãnh liệt và bùng nổ thành Cách Mạng 1789. Các nhà lãnh đạo cách mạng Pháp thường tự nhận là đứa con tinh thần của Voltaire. Giống như vết dầu loang, Cách Mạng Pháp 1789 trở tấm gương cho nhân dân thế giới theo đó mà tiên lên hành động chống lại Giáo Hội La Mã. Ngay cả khi nước Pháp liên kết với Giáo Hội La Mã xuất quân đánh chiếm và thống trị Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, những  chính khách có thế lực cầm quyền ở Pháp cũng như ở Đông Dương, vẫn hành động theo tinh thần Cách Mạng 1789 chống lại Vatican, khinh rẻ bộn giáo sĩ Pháp và tín đồ Da-tô người Việt dù rằng trong thực tế và bề ngoài, họ liên kết với Vatican như là một Liên Minh để cùng thống trị Đông Dương.

Vatican cũng biết như vậy, nhưng Vatican vẫn còn hy vọng bám lấy quyền lực ở Pháp vì có một nhóm thiểu số tín đồ người Pháp chỉ biết tuyệt đối tuân phục Vatican và vì bọn phản động còn nắm quyền tại các nước Áo, Phổ, Nga và Anh. Nhờ đó, , Giáo Hội đã sử dụng nhóm thiểu số tín đồ cuồng tín người Pháp này và liên kết với các chính quyền phản động tại các quốc gia trên đây chống lại Cách Mạng 1789 và nước Pháp. Chính vì thế cuộc chiến giữa nhân dân Pháp với Vatican ở vào thế giằng co cho mãi tới năm 1905, người Pháp mới thực sự loại được bàn tay quyền lực của Vatican ra khỏi chính quyền bằng cách ghi vào trong Hiến Pháp điều khoản “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền.” Trong khi đó, tại Bắc Mỹ, Hoa Kỳ đã đưa điều khỏan này vào Hiến Pháp ngay từ năm 1791. Kể từ đó, càng ngày  ảnh hưởng của Giáo Hội đối với quần chúng Pháp càng ngày càng giảm thiểu. Hiện nay ở Pháp cũng như ở Anh và ở nhiều quốc gia Âu Châu khác, con số người đi nhà thờ hàng tuần chỉ còn từ 1% đến 5% là nhiều. Tuyệt đại đa số nhân ân Âu Châu ghê tởm Giáo Hội và lánh xa Giáo Hội như lánh hủi. Sư kiện này được học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi lại như sau:

Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… Hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội với ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 cuộc thánh chiến hãi hùng!.v.v…”  [4]

Vì nguyên nhân này mà trong thời gian từ năm 1958 cho đến 1945, có rất nhiều nhân vật Pháp có thế lực ở chính quốc Pháp như Jules Ferry, Léon Gambetta, Léon Blum cũng như các tướng lãnh chỉ huy các đạo quân tấn chiếm Việt Nam như Đô Đốc Page, Đô Đốc Bonard, Đô Đốc Rieunier, Đại Tá Bernard cho đến các chính trị gia nắm quyền chủ chốt trong bộ máy cai trị Đông Dương như Paul Beau, Paul Bert,  Pierre Pasquier, v.v…  đều là những người hăng say chống Giáo Hội La Mã và thường tỏ ra khinh rẻ các ông tu sĩ Da-tô hoạt động tại Đông Dương vào thời bấy giờ.  Sự kiện này được sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn - Tập 2 ghi nhận như sau:

"Paul Bert là đảng viên "Cộng Hòa" từng bị phe cực hữu và bảo thủ kết án như “kẻ chống Giáo Hội điên cuồng," và "kẻ thù quyết liệt của Giáo Hội." Tội lỗi lớn nhất của Bert là khi giữ ghế Bộ Trưởng Giáo Dục trong chính phủ Ferry, Bert đã cổ võ và phát động một chính sách giáo dục quốc gia phi tôn giáo. Theo Bert, nước Pháp không còn trách nhiệm hoằng dương hay rao giảng một tôn giáo nào, và cũng không công nhận một tôn giáo nào làm quốc giáo" [5]  .  

Cũng nên biết là hai thế lực Pháp và Vatican đều có những bọn Việt gian làm tay sai thân tín đắc lực riêng và cả hai thế lực này đều muốn sử dụng bọn Việt gian này trong chính sách  Chia Để Trị. (Dùng người Việt đánh người Việt và dùng người Việt cai trị người Việt.) Phần lớn bọn Việt gian làm tay sai cho thực dân Pháp không phải là tín đồ Da-tô và có thể là mang quốc tịch Pháp như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Xuân, v.v… hay không mang quốc tịch Pháp như bọn Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô, Nguyễn Duy Hàn, Phạm Quỳnh,  v.v… Hầu hết những bọn Việt gian làm tay sai cho Vatican là những tín đồ Da-tô cuồng tín mang quốc tịch Vatican (đều có tên thánh ở trước cái tên bình thường của chúng) như bọn Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương (Đỗ Hữu Vị), Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Hữu Độ, Trần Lục, Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Tường Tộ, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, v.v…

Khi hai thế lực Pháp và Vatican không có chuyện gì xích mích với nhau thì hai nhóm Việt gian này được yên ổn lo việc đàn áp nhân dân ta để tãng công với giặc với hy vọng sẽ được thăng qua tiến chức vù vù như trường hợp Trần Lục, Ngô Đình Khả, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng,v.v... Nhưng khi hai thế lực Pháp và Vatican mưu tính chèn ép lẫn nhau để lấn quyền rồi hục hặc với nhau, thì hai nhóm Việt gian này rơi vào tình trạng khốn đốn và chìm nổi với chủ riêng của chúng. Sự kiện này đã được Cụ Phan Bá Kỳ nói sơ qua như sau:

"Ai biết chút ít về lịch sử cũng phải hiểu rằng chính sách, nhân sự ở Đông Dương hồi Pháp thuộc là do nơi ba thế lực chính: Thực Dân, Giáo Hội (Vatican), Tam Điểm (Free Mason), tùy theo tình hình chính quốc. Khi ở Pháp phe Tam Điểm thắng thế thì thực dân ở Đông Dương về phe Tam Điểm. Khi phe Công Giáo lên chân thì thực dân về phe Giáo Hội. Việc ông Diệm bị cách tuột hết mọi thứ có thể là đang có một sự tranh chấp giữa Tam Điểm và Giáo Hội, mà ông ta ngu ngơ, dại dột đi vâng phục quá đáng cái thế lực thất thế vào thời điểm đó. Cứ tìm xem Khâm Sư Léon Thibaudeau và Toàn Quyền Pierre Pasquier thuộc nhóm nào là ra ngay. Chứ Bảo Đại, Phạm Quỳnh, ngoài chuyện thừa hành, làm gì có quyền để trừng phạt oan ức một người… đáng quí như ông Diệm…" [6]

Chuyện tranh chấp giữa ông Ngô Đình Diệm và ông Phạm Quỳnh về chức vụ Tổng Lý Đại Thần tại triều đình Huế được cụ Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:

Có một số người người từng làm cách mạng, hoặc có xem báo chí ở Huế, ở Hà Nội trước năm 1940, đều biết ít nhiều về ông Diệm khi làm Thượng Thư Bộ Lại của triều đình Huế, có óc quan lại phong kiến và nịnh quan thầy Tây. Ông tranh quyền với ông Phạm Quỳnh, song quan thầy của ông là Khâm Sứ Thibaudeau kém thế hơn quan thầy của ông Phạm Quỳnh là Toàn Quyền Pasquier. Ông Diệm thua Phạm Quỳnh bất mãn từ quan.” [7] 

Sự thật là ông Diệm không phải chỉ từ quan không thôi. Theo sử gia Vũ Ngự Chiêu, ông Diệm không những bị đuổi cổ về vườn, mà còn bị truất hết cả những chức tước phẩm hàm và bị quy định nơi cư trú ở Quảng Bình nữa. Dưới đây là bản văn của  Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu viết về sự kiện này:

"Sau cuộc "đảo chính" 2/5/1933, Bài bị loại khỏi vòng quyền lực. Toàn Quyền Pierre Pasquier (12/1928-1/1934) gọi Diệm về làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm Tổng Thư Ký Ủy Ban Cải Cách. Quyền Khâm Sứ Léon Thibaudeau (2/1933-7/1934) yêu cầu Diệm làm tờ trình về kế hoạch canh tân. Diệm có lẽ với sự tiếp tay của Bài, đưa ra hai điều kiện:

Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ, và bổ nhiệm một tổng trú sứ (resident général) cho Trung và Bắc Kỳ như đã qui định trong Hòa Ước 6/6/1884.

Phải cho Viện Dân Biểu quyền thảo luận (báo cáo ngày 10/5/1933, Pasquier gửi Colonies).

Lập trường này cũng giống Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên là phải hủy bỏ hai chức thống sứ và khâm sứ Huế; sau đó cho An Nam ngân sách riêng. Ngày 9/7/1933: Diệm ra Quảng Trị gặp Bài ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7, Diệm nạp cho Thibaudeau một bản sao đơn từ chức đã gửi lên Bảo Đại. Lý do Diệm nêu ra là cơ cấu tổ chức hiện tại không phù hợp với Hiệp Ước 6/6/1884. Hiệp ước này qui định rằng Pháp chỉ giữ một chế độ bảo hộ kiểm soát (protectorat de contrôle) mà không phải là bảo hộ trực tiếp (protectorat direct). Báo cáo số 303-A.P., 22/7/1933, Gougal gửi Colonies; INF, c.366/d.2905).   

"Theo một mật báo viên (Luật-sư Lê Văn Kim), tháng 12/1933, Diệm vào Sàigòn gặp Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức, v.v… Tiếp đó, báo chí Sàigòn và cả tờ La Lanterne ỏ Paris mở chiến dịch đòi thay Pasquier bằng cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne (7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm Sứ Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở lại Huế (INF, c.366/d.2905). Biết được tin này qua Luật-sư Lê Văn Kim, Pasquier nổi giận truất hết chức tước của Bài, Diệm và Đệ. Diệm còn bị trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng Bình. May mắn, ngày 15/1/1934, Pasquier chết vì tai nạn máy bay trên không phận Paris. Năm sau, Bài cũng chết. Tân Toàn Quyền René Robin (7/1934-1/1937) và Khâm Sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936, 4/1937-8/1941) đồng ý phục hồi tước vị cho Bài và Diệm. Diệm được trở về Huế dạy học ở trường Providence của Thục,…” [8]

Chiến dịch "Đòi thay Pasquier bằng cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne   và đưa cựu Khâm Sứ Yves Châtel trở lại Huế" là chiến dịch của Vatican mượn bọn tay sai Việt gian cuồng tín để làm áp lực  cho việc đòi thay thế những nhân vật có tinh thần chống Giáo Hội La Mã bằng những nhân vật bảo thủ thân Giáo Hội La Mã. Trước đây Ngô Đình Khả cũng vì cuồng tín nghe theo Vatican mà mất chức. Bây giờ đến lượt Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Diệm, và sau đó là Ngô Đình Khôi cũng ở vào tình trạng này. Chúng ta đừng quên rằng Cường Để cũng là người mang quốc tịch Vatican (đã theo đạo Da-tô). Đến đây, thiết tưởng độc giả đã có thể hiểu tại sao mà bọn Việt gian làm tay sai tai mắt đắc lực cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican như bọn Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, v.v… không những bị cho về vườn, mà còn bị đám quan thày người Pháp khinh rẻ như những phường phản phúc hèn hạ và những quân lưu manh vô lại. Bản văn sử dưới đây nói lên thực trạng này:

"Chúng tôi chỉ có với mình", Đô Đốc Rieunier  sau này nói, "những giáo dân và bọn du thủ du thực".  "Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì tội phạm," Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …"

Nhà sử học Cultru kết luận:

"Hoàn toàn hời hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đã được tiếp thụ, những thanh niên Việt Nam này đã trở thành những ông thông, ông phán, ông ký, kiểm soát, phiên dịch.. ấy, lập thành tại xứ sở thuộc địa một tầng lớp những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức của chúng để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc lòng phải nhờ đến sự trung gian cuả họ…" 

"Tại Nam kỳ, chính là từ trong những người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những kẻ giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết, "Họ có tài cán gỉ? … Phần lớn là những tay dạy giáo lý Cơ Đốc, vì hạnh kiểm kém mà bị các giám mục đuổi về, và dưới một cái tên La Tinh (bởi vì họ nói lõm bõm tiếng La Tinh), là đại diện sơ lược của thủ đoạn, của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á" [9] 

VI.- MỘT SỐ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN NGƯỢC
THÀNH TÍCH PHẢN TRẮC CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM

Thông thường, người Việt Nam thường hiểu rằng:

1.- Đàn ông mà có cặp   mắt “trắng bệch” là hạng người gian tham và ác độc, và những nguời  “vô tu” là hạng người “bất nghì”,

2.- Bất kỳ người nào có cặp mắt hay “nhìn trộm”, “tròng trắng nhiều hơn  tròng đen”, “láo liên” hay “tròng đen chạy long xòng xọc trong tròng trắng” hoặc “chớp chớp” khi nói chuyện với một người nào, thì tất nhiên là con người lưu manh gian ác, tàn ngược và có bản chất phản trắc.

Ông Ngô Đình Diệm có những  ác tướng thể hiện ra trên diện mạo “bạch diện vô tu” và cặp mẳt “trắng bệch, tròng trắng nhiều hơn  tròng đen” lại “nhìn trộm”. Tất nhiên là những ác tính này  sẽ biến thành hành động vào những khi có hoàn cảnh hay cơ hội, đặc biệt nhất là khi có quyền lực trong tay. Ông Diệm đã từng hành xử quyền hành trong những năm làm quan voeứi quan thày Pháp và Vatican trong những năm 1922-1933 và hơn chín năm được Liên Minh  Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức vụ Tổng Thống ở miền Nam Việt Nam. Với một quá trình nắm giữ quyền lực trong tay như vậy, tât nhiền những ác tính Da-tô và bẩm sinh tiềm tàng trong con người của ông đã phương tiện và   hoàn cảnh thuận lợi biến thành không biết bao nhiêu tôi ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam. 

Nguời viết xin chia những tội ác này của Ngô Đình Diệm ra làm hai loại: (a) Những việc làm tàn ngược dã man đối với dân tộc, (b) Tâm địa và hành động phản trắc của ông đối với mọi người.

A.- VỀ NHỮNG VIỆC LÀM TÀN NGƯỢC
VÀ DÃ MAN CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Căn cứ vào sách sử, ông Ngô Đình Diệm đã phạm tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt Nam bằng những hành động “cõng rắn cắn gà nhà” và bạo ngược đối với nhân dân khi làm quan cho Liên Minh Xâm Lược Pháp Vatican trong những năm 1922-1933 và trong thời gian 1954-1963 được Hoa Kỳ và Vatican đưa về cầm quyền ở miền Nam. Dưới đây là một số  bằng chứng cho sự kiện này:

1.- Khi mới  được bổ nhậm làm tri huyện ở miền Trung, ông Diệm đã có những hành động tàn ngược và dã man hết sức là kinh tởm. Sự kiện này được cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau:

Khi ông làm tri phủ Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn các nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực hình nhưng hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.” [10]

2.- Trong thời gian nắm giữ chức vụ thủ tướng và tổng thống ở miền Nam Việt Nam từ ngày 7/7/1954 cho đến 1 giờ trưa ngày 1/11/1963, ông Diệm đã cho thi hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực khiến cho hơn 300 ngàn người bị sát hại, cùng với hơn nửa triệu người bị bắt giam và tra tấn một cách hết sức dã man. Vấn đề này đã được người viết trình bầy đầy đủ trong nơi các trang 124-133 trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), và sẽ được nói rõ trong một chương sau.

3.- Ngày 30/11/1961, ông Diệm đã hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Sự kiện này được sách sử ghi lại như sau:

Ngày 30/11/1961, Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng Thống Nam Việt Nam ủng hộ nhiệt liệt. Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản ở đâu” và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn.”[11]

Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt Nam và hậu qủa ghê gớm của chiến dịch này được sách sử ghi nhận như sau:

“Quân đội Mỷ rải 77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người sống trong 35,585 thôn ấp[12]

Việc làm dã man này  không biết đã sát hại bao nhiêu trăm ngàn hay hàng triệu  nạn nhân, và hậu quả của việc làm này cho đến ngày nay vẫn còn gây hại cho đất đai, cây cối, mùa màng, sinh vật và nhân dân ta trong vùng bị ảnh hưởng. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã và đang kiện đòi chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về hậu quả ghê gớm của việc làm tàn ngược và dã man này, nhưng lại bị những người đồng đạo của ông Diệm chống đối cực lực. Sự kiện này càng chứng minh cho chúng ta thấy rằng một khi đã trở thành tín đồ Da-tô thì họ trở thành những phường vong bản phản dân tộc, thành hạng người “cúi đầu đi trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”

Tạm kể ra ba tội ác này cũng đủ cho  chúng ta thấy tên tứ đại Việt gian Ngô Đình Diệm quả thật là hạng người “thiên cổ tội nhân” đối với dân tộc Việt Nam ta.

B.-  NHỮNG THÀNH TÍCH PHẢN TRẮC
CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Trong tiểu mục này, người viết chỉ nói đến ác tính phản trắc của ông Diệm mà thôi. Ác tính này có thể là theo truyền thống hay dòng máu di truyền của gia đình họ Ngô. Do đó, chúng ta cũng nên tìm hiểu xem gia đình ông Diệm có đặc tính phản trắc này không, rồi sau đó sẽ nói đến thành tích phản trắc của chính cá nhân ông Diệm.  

I.- Về truyền thống gia đình của ông Diệm, theo tác giả Giuse Phạm Hữu Tạo, chủ bút tờ Đông Dương Thời Báo và cũng là tác giả bài viết Quốc Kỳ Việt Nam đăng trong www.dongduongthoibao.net, tháng 12/2005, dòng họ Ngô Đình khởi đầu làm Việt gian bán nước cho cả hai đế quốc Vatican và Pháp từ  đời ông Ngô Đình Niệm, tức là ông nội của ông Ngô Đình Diệm. Dưới đây là nguyên văn lời ông Giuse Phạm Hữu Tạo viết:

“Chiến thuyền Pháp bắn phá và tấn chiếm Đà Nẵng vào năm 1858, có số giáo sĩ Tây và giáo dân Việt gian đón tiếp và xúi tấn công dứt điểm Huế. Trong số giáo sĩ có Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu có linh mục Nguyễn Trường Tộ cởi áo dòng theo hầu), linh mục Pellerin, linh mục Huc, Caspar (tên Việt là Lộc có giáo dân Ngô Đình Niệm là cha Ngô đình Khả theo hầu), linh mục Nguyễn Hoàng…..đại quan thuyền trưởng Pháp đã không thấy vài trăm ngàn giáo dân Việt gian đón tiếp theo như những linh mục Tây phúc trình.“ [13]  

 Đến đời thân phụ của ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả thì lại còn ghê gớm hơn nữa. Đặc tính ghê gớm này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật ghi lại việc làm ghê gớm của ông Ngô Đình Khả như sau:

Theo tài liệu sử, Ngô Đình Khả được Triều Nguyễn thời Pháp thuộc trọng dụng là nhờ công lao giúp Nguyễn Thân tiêu diệt lực lượng chống Pháp của nhà ái quốc Phan Đình Phùng  và đặc biệt là đã đào mả cụ Phan (đốt thành tro, lấy tro) nhồi vào thuốc súng để bắn cho tiêu tan  hài cốt cụ Phan: quả thật là một tên đại thần, đại gian đại ác.”[14] 

II.- Về những việc làm phản trắc của ông Diệm.- Những việc làm phản trắc của ông Diệm đối với nhiều người đều được sách sử ghi lại  rõ ràng.  Dưới đây là một số những việc làm phản trắc của ông ta:

1.- Phản lại lời thề trung thành với Quốc Trưởng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu khi được bổ nhậm làm thủ tướng với toàn quyền quyết định về cả dân sự lẫn quân sự vào ngày 19/6/1954. Khi về Việt Nam cầm quyền và sau khi đã củng cố xong quyền lực, ông Diệm cho tổ chức ngày Trưng Cầu Dân Ý vào ngày 23/10/1955 để truât phế ông Bảo Đại, người mà chính ông ta đã làm tôi hai lần : (a) những năm tháng trước ngày 12/7/1933 và (b) những năm tháng sau ngày 19/6/1954. Ta gọi hành động này là phản thần. 

2.- "Phản quốc và hại dân” qua những hành động tra tấn các nhà cách mạng chống Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican: Khi được Liên Minh Pháp – Vatican cho làm tri huyện ở Hoa Đa, ông Diệm đèn cầy sấy hậu môn để lấy khẩu cung hầu tâng công với quan thày Vatican và Pháp như đã kể trên. Trong thời kỳ nắm quyền cai trị miền Nam từ tháng 7 năm 1954 cho đến trưa ngày 1/11/1963, ông đã phạm những tội ác chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Ta gọi hành động này là phản quốc và người phạm tội phản quốc là Việt gian.

3.- "Phản trắc" và "tráo trở". Trong năm 1933, ông Diệm có liên hệ đến âm mưu vận động cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne thân Giáo Hội La Mã trở lại Đông Dương để thay thế Toàn Quyền Pierre Pasquier (có tinh thần bất thân thiện với Giáo Hội La Mã). Sau đó, ông lại mưu toan liên kết với tín đồ Da-tô Cường Để ở Nhật để chống lại Pháp trong hồi đầu thập niên năm 1940. Âm mưu bị bại lộ nên bị Pháp sa thải. Hành động được gọi là phản chủ.

4.-  Phản lại Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đã cưu mang, lo lót chạy chọt cho ông về Việt Nam làm thủ tướng chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, nhưng rồi ông trở mặt, chỉ biết đến nghĩa vụ phải triệt để tuân hành lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican, tiến hành chính sách "Da-tô hóa miền Nam Việt Nam". Khi Hoa Kỳ ra chỉ thị cho ông phải sử sai và thay đổi chính sách, ông tìm cácy bắt tay với chính quyền miền Bắc để tháu cáy Hoa Ky.  (Giống như trường hợp 3 và gọi là  phản chủ).

5.-  Phản lại bạn bè: Cac ông Trần Văn lý, Tạ Chương Phùng, Lê Quang Luật, v.v… là những người đã ủng hộ và hy sinh công lao, thì giờ cũng như tiền bạc để cưu mang khi Diệm còn long đong lận đận. Sau khi lên cầm quyền,ông phản lại những người này.  Hành động này gọi là phản bạn.

6.- Phản lại tướng Trình Minh Thế. Ông cho người thuyết phục ông Trình Minh Thế đem lực lượng Cao Đài võ trang về hàng. Ông Thế đã nghe theo, về hàng và được gắn lon thiếu tướng.   Sau đó, ông lại ám sát ông Thế. Đây là một trong hành động  phản trắc.

7.- Phản lại  Đại Tá Edward G. Lansdale: Đại Tá Edward G. Lansdale là người được Tổng Thống  Eisenhower cử sang Việt Nam làm cố vấn đặc biệt cho ông Diệm ở Sàigòn và đã sang Việt Nam trước khi ông Diệm về nước cầm quyền. Vai trò và công ơn của Đại Tá Edward G. Lansdale  đối với ông Diệm như một vị sư phụ đối với một đệ tử  yêu quý nhất trong truyền thống võ lâm Trung Hoa. Đại Tá Edward G. Lansdale  đã lo cho ông Diệm đủ mọi thứ, từ miếng ăn, vấn đề an ninh ở trong dinh Độc Lập, lập kế hoạch đưa cả gần một triệu người Công Giáo Bắc Kỳ vào miền Nam làm lực lượng hậu thuẫn cho ông, đến cả việc  dạy dỗ ông cách ăn nói  và hành xử với nhân viên cấp dưới, cách phân biệt những người xu thời nịnh bợ và những người mộc mạc chân thành ủng hộ ông, phải đối đãi tử tế với những người cộng tác chân thành như Tướng Trình Minh Thế, chỉ bảo cho ông biết cung cách hành xử cư một vị tổng thống ở một nước dân chủ, v v… Khi địa vị chưa vững, ông đã tỏ ra ngoan ngoãn nghe lời Đại Tá Edward G. Lansdale như một  môn sinh ngoan ngoãn nghe lời vị lương sư chỉ dạy. Những khi có hoàn cảnh, những ác tính tiềm ẩn trong cong người của ông đã biến thành hành động ám sat Tướng Thê bất kể gì cả lời khuyên dạy của Đại Tá Edward G. Lansdale . Hành động này gọi là phản thày.

8.- Phản lại lời cam kết với quốc dân miền Nam Việt Nam và những người chỉ huy cuộc đảo chánh 11/11/1960. Khi dinh Độc Lập bị quân đội Nhẩy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại-tá Nguyễn Chánh Thi bao vây ngẳt nghèo vào sáng sớm ngày 11/11/1969 ra lệnh tối hậu thư cho ông phải cải tổ chính quyền, qua đài phát thanh Sàigòn, ông tuyên bố với quốc dân rằng ông “quyết định giải tán chính phủ hiện thời để các tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa thành lập chính phủ lâm thời để có thể chiên đấu tiếp tục chống Cộng…” [15]  Nhưng chưa đầy 24 giờ sau, khi viện quân của Đại Tá Trần Thiện Khiêm từ miền Tây kéo về tới Phú Lâm, ông liền trở mặt, xóa bỏ hết những gì  ông tuyên bố ngày hôm trước. Đây là hành động phản dân.

9.-  Phản lại lời cam kết vào ngày 16/6/1963 với Phật Giáo. Việc tiến hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo lực đã làm nẩy sinh phong trào Phật Giáo tranh đấu để đòi bình quyền về tôn giáo. Dưới áp lực của Hoa Kỳ, ông đã cho thành lập một Ửy Ban Liên Bộ nói chuyện với phái đoàn Liến Phái của Phật Giáo:

Ngày 16/6/1963: Hai Uỷ Ban Liên Bộ và Liên Phái, sau 3 ngày và đêm thảo luận, ra một thông cáo chung xác định những điểm đã thỏa hiệp về cách treo cờ Phật Giáo và Quốc Kỳ; xét lại Dụ số 10 về phần quy chế tôn giáo; điều tra về các vụ bắt bớ, và khoan hồng cho những người tranh đấu cho Phật giáo; dành mọi sự dễ dàng cho các hoạt động tôn giáo; trừng trịn những nân viên có lỗi, bồi thường cho các gia đình nạn nhân.”[16] 

Bản thỏa hiệp vừa ký xong được mấy này, ông trở mặt. Báo chí và đài phát thanh của Sàigon trở giọng mạt sát Phật giáo, cảnh sát và mật vụ vẫn tiến hành những chiến dịch truy lùng bắt giam và tra tấn Phát tử, học sinh và sinh viên, các truờng học được lệnh đóng cử. Bản thỏa hiệp được ký kết giữa Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật giáo được ký kết vào ngày 16/6/1963 tại giữa thủ đô Sàigòn  bị ông Diệm kiệng vào xọt rác. Đây là một hành động tráo trở hay phản phé. 

10.-  Phản lại lời hứa đã hứa với Đại-sứ Frederick Nolting: Việc chính quyền Ngô Đình Diệm ngược đãi và đàn áp Phật Giáo khiến cho Hoa Kỳ lo ngại và bị lên án vì  vào năm 1954, chính Hoa Kỳ đã đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền rồi cưu mang chính quyền này kể từ đó. Cũng vì vậy mà Đại-sứ Hoa Kỳ ở Sàigòn là ông  Frederick Nolting được lệnh đến gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm phải giải quyết vấn đề Phật Giáo cho êm đẹp. Lần nào nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại-sứ Nolting cũng được Tổng Thống Diệm hứa rằng sẽ giải quyết vấn đề Phật Giáo theo tinh thần hòa giải. Tuy là hứa như vậy, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn vi phạm những điều đã cam kết   trong bản thỏa hiệp mà Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật Giáo đã ký kết vào ngày 16/6/1963. Có vì  tình trạng này, đầu tháng 8/1963, Đại-sứ Noiltting nhận được lệnh bị triệu hồi về Mỹ và chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tai Sàigòn sẽ được ông Cabot Lodge sang thay thế và đảm nhiệm. Trước ngày 15 tháng 8 năm 1963,  Đại-sứ Frederick Nolting đến Dinh Gia Long gặp Tổng Thống Diệm để từ biệt về Mỹ và yêu cầu ông Diệm hứa với ông rằng chính quyền ông Diệm không được dùng vũ lực tấn công các chùa chiền của Phật giáo. Tổng Thống Diệm đã long trọng cam kết với ông Noltting rằng ông  sẽ không bao giờ tấn công Phật giáo. Được lời cam kết này của ông Diệm, ông Nolting yên trí trở về Hoa Kỳ dự tính rằng sẽ báo cáo với Tổng Thống Kennedy bằng những lời lẽ  bao dung cho anh em ông Diệm. Thế nhưng, trên đường về nước, mới về đến Hawaii, ông Nolting được tin các chùa chiền ở trong các thành phố lớn ở Việt Nam bị quân chính phủ tấn công vào đêm ngày 20/8/1963 và ông Nolting đã tỏ ra vô cùng phẫn nộ về hành động phẳn trắc này của ông Diệm. Sự kiện này được sử gia John Newsman, người Hoa Kỳ, ghi nhận như sau:

Ngày 19/7, ông Diệm lên đài phát thanh nói với đồng bào trong hai phút, bày tỏ ý muốn hòa giải với phe Phật Giáo, nhưng ông nói với vẻ lạnh lùng và nhân nhượng rất nhỏ nhoi, chỉ vừa đủ làm cho tình hình dịu bớt. Hậu quả, vào tháng 8, cuộc đấu tranh của Phật Giáo bộc phát trở lại: Khán giả truyền hình Mỹ được nhìn thấy các vụ tự thiêu vào những ngày 5, 15, và 18 (tháng 8) của 7 nhà sư và một ni cô. Tình hình gia tăng đến mức căng thẳng từ giữa tháng 8 tưởng chừng như sắp nổ tung, qua đến sáng ngày 21/8, “Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bị cô lập hoàn toàn,” và khuya hôm ấy, ông Diệm tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ và ông Nhu cho Cảnh Sát Chiến Đấu, một thứ Lực Lượng Đặc Biệt của riêng ông, tiến hành cuộc bố ráp các chùa và bắt giữ 1,400 Phật tử. Ông Nhu lợi dụng thiết quân luật để bắt bớ những che đạy bằng lệnh của các tướng vùng.

Hành động của ông Nhu rõ ràng đã tạo ra bế tắc trong quan hệ Việt Mỹ. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lên án các cuộc bố ráp các chùa chiền như sau:

“Dựa trên những tin tức từ Sàigòn, rõ ràng chính phủ VNCH đã dùng những biện pháp đàn áp nghiêm trọng các nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam. Hành động này tiêu biểu cho sự vi phạm trắng trợn các bảo đảm của chính phủ Việt Nam đã hứa theo đuổi chính sách hòa giải với Phật Giáo. Hoa Kỳ muốn phàn nàn về  các hành động đàn áp như vậy.”

Ông Nhu cho cắt các đường dây điện thoại của Tòa Đại Sứ. Các tướng lãnh giận dữ đến Tòa Đại Sứ và hỏi xem Hoa Kỳ có chịu ủng hộ đảo chánh hay không?

Lúc bấy giờ (Frederick) Nolting cùng (Henri Cabot) Lodge và (Roger) Hillsman đang có mặt ở Honululu, cảm thấy choáng váng vì các biến chuyển ở Sàigòn. Ông liền đánh điện trách ông Diệm rằng: “Đây là lần đầu tiên Tổng Thống đã tự phản bội với những lời hứa trước mặt tôi.” Hillsman mô tả giây phút Nolting trố mắt nhìn những dòng chữ từ từ hiện ra trên máy viễn ấn ký như sau:

Tôi nghe có tiếng chửi đổng lúc chúng tôi đọc từng chữ trên máy. Cuộc tấn công được sắp xếp vào  thời gian giữa hai đại sứ cũ và mới thay đổi công việc. Ông Diệm đã cả gan dám bội ước và không dành một hành động nào để cứu vãn danh dự cho Hoa Kỳ. Ông ta đã đặt chúng ta trước một chuyện đã rồi mà ông ta biết rõ đã làm tổn thương đến tinh thần thượng võ và sự công minh của chúng ta, và ông ta đã có những hành động kiêu căng, ngạo mạn vì cho rằng chúng ta sẽ phải ngậm đắng nuốt cay như chúng ta đã từng chịu đựng trong quá khứ. Lúc ấy nét đau khổ lộ ra trên khuôn mặt của Nolting.”

Tuy nhiên, lần này Hillsman sẽ cố làm sao để không phải nuốt một viên thuốc đắng nào hết.” [17] .

Đây là một hành động phản bạn vì rằng ông Đại Sứ Nolting được coi như là một người bạn khá thân với ông Diệm và đã che chở rất nhiều cho ông Diệm khi báo cáo về chính quyền Hoa Kỳ.

Nói về thành tích phản trắc của ông Ngô Đình Diệm, sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết:

Thái độ bất trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như thế, chả trách nào ông Trần Văn Lý, một nhân sĩ Thiên Chúa Giáo miền Trung còn biết rõ xuất xứ, tôn tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đã lên án nhà Ngô là những kẻ mang mười chữ “bất”: Bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa, bất tài, bất trí, bất công, bất minh, bất tín và bất hòa”.

Hơn ai hết, ông Trần Văn Lý có đủ tư cách để lên án anh em nhà Ngô mang mười chữ “bất”. Ông Diệm với ông Lý từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào quan trường, lại là đồng đạo và đồng hương (Trị Thiên), cùng là môn đệ của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Ông Diệm và ông Lý cùng ở trong Phong Trào Cường Để; năm 1945, ông Diệm đã cùng sống với ông Lý tại Đà Lạt một tháng sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm 1947-1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng “Giải Pháp Bảo Đại”, cùng chủ trương thể chế “Quân Chủ Lập Hiến”. Thời làm Thủ Hiến, ông Lý đã từng giúp đỡ bạc tiền cho anh em ông Diệm họat động chính trị. Ngày ông Diệm mới về cầm quyền, ông Lý bị Ngô Đình Cẩn cho bộ hạ ném lựu đạn vào nhà khi ông còn ở gần nhà ga Huế, đến năm 1960 bị anh em ông Diệm bắt giam vì đã ở trong nhóm “Caravelle”. [18]

Quân bất hí ngôn.” Làm vua hay tổng thống hoặc là nhà lãnh đạo chính quyền phải “nhất ngôn cử đình”, “lời nói như dao chém đá”, không được nói láo, không được nói chơi,  không được hứa cuội và phản phé với bất cứ người nào. Ấy thế mà ông Ngô Đình Diệm, đường đường là một vị tổng thống của miền Nam Việt Nam lại nói láo còn hơn cả cuội. Là một tổng thống của một nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến mà  bạ đâu ông cũng hứa cuội, nói láo và phản phé. Không những ông chỉ nói láo, hứa cuội và phản phé với người Việt Nam, mà ông còn hứa cuội, nói láo và phản phé với cả nhà ngoại giao  đại diện  cho Hoa Kỳ ở  Miền Nam Việt Nam. Hành động vô liêm sỉ này của ông đã khiến cho ông Đại Sứ Nolting đã phải “chửi đổng”. Như vậy là ông Tổng Thống Diệm đã làm nhục quốc thể.

Thuộc từ “cuội” và danh từ “thằng Cuội” dành cho ông thiết tưởng rất đúng nhưng vẫn chưa đủ. Đúng là chỉ đúng với cái ác tính hứa cuội và nói láo của ông ta mà thôi. Không đúng là vì  trong con người ông, còn có không biết bao nhiêu ác tính ghê tởm gấp ngàn lần ác tính hứa cuội và nói láo. Tất cả những ác tính này đều nằm trong 16 ác tính Da-tô mà người viết đã trình bày ở trên, trong đó có ác tính phản trắc, bạo ngược và hiếu sát là ghê tởm nhất. Đối với những tín đồ Da-tô khác, ác tính phản trắc, hiếu sát và bạo ngược là ác tính Da-tô, nhân tạo, do chính sách ngu dân và giáo dục nhồi của Giáo Hội La Mã tạo nên. Trái lại, riêng về trường hợp ông Ngô Đình Diệm, như đã trình bày ở trên, những ác tính này là bẩm sinh. Chính vì vậy mà ông mang trong người không biết bao nhiêu là thứ “phản”: phản thần, phản quốc, phản dân, phản thày, phản chủ, phản bạn,  phản cấp trên, phản những người thuộc cấp. Xin tạm   gọi là “bát phản”. Ác tính “phản” của ông còn vượt xa cả ác tính “phản” của nhân vật Ngụy Diên trong sách Tam Quốc Chí. Vậy thì ta phải gọi ông ta là “Thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm”.

Đối với Giáo Hội La Mã và xã hội Da-tô, thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm được coi là mẫu người lý tưởng  và được suy tôn lên là “nhà chí sĩ yêu nước” và “nhà ái quốc” (của Đế Quốc Vatican). Nhưng đối với  xã hội Đông Phương, thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm này đã được ghi vào lịch sử là “một tên thiên cổ tội nhân” của dân tộc.

CHÚ THÍCH:


[1] Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng  (Houston, TX: Văn Hóa, 2004), tr 12.

[2] Lữ Giang, Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: TXB, 1999) tr. 395.

[3] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập 2 (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996), tr. 327.

[4] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi?(Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr 245-246.

[5] Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1884-1945 - Tập 2 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 471.

[6] Phan Bá Kỳ. “Sửa Sai.” Người Dân số 77. Tháng 1/1997, tr. 7-8.

[7] Lê Hữu Dản, Sđd., tr. 327.

[8] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu Nhân Vật Chí (Houston, TX: Văn Hóa, 1997), tr. 262-263.

[9] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, Pháp, 1994), tr.101-102.

[10] Lê Hữu Dản, Sđd., tr. 327.

[11] Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2005), tr. 35.

[12] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171.

[13] Phạm Hữu Tạo. “Quốc Kỳ Việt Nam.”www.dongduongthoibao.net Tháng 12/2005.

[14] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ,1996), tr 18.

[15] Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1987), tr. 145.

[16] Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc Từng Ngày  - 20 Năm Qua (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1980?), tr. 351.

[17] John Newsman & Trần Ngọc Dung dịch, John F. Kennedy và Chiến Tranh Việt Nam (San Jose, CA: Nhà Xuất Bản Thế Giới, 1993), tr. 327-329.

[18] Đỗ Mậu, d., tr. 591.

© Copyright 2006 giaodiem.com
 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com