
V. NĐD Theo sử gia Vũ Ngự Chiêu dưới bút hiệu Chính Đạo,
ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 27/7/1897 tại làng Đại Phong (hay Đại Phong Lộc),
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.[1] Sử gia Joseph Buttinger ghi là ông Diệm sinh
ngày 3/1/1901. Đối với người viết, sự sai biệt hay không đúng về ngày
và năm sinh của ông Ngô Đình Diệm không quan trọng, chỉ những việc làm và cung cách hành xử quyền hành cũng như
cung cách ứng xử với mọi người của ông ta mới cần phải quan tâm. ) Song thân của ông Diệm là ông Ngô Đình Khả và
bà Phạm Thị Thân. Ông Ngô Đình Khả sinh năm 1856 và là một tín đồ
Da-tô đao gốc (có bố là Ngô Đình Niệm đã theo đạo). Năm 1870, ông được
Giáo Hội La Mã gửi đi học làm nghề
linh mục tại một chủng viện ở Pénang.
Thời gian theo học ở đây là tám năm. Tám năm đèn sách để làm nghề
linh mục, nhưng không biết tại sao ông lại không thành công hay không muốn
làm cái nghề khoác áo chùng đen để làm cha thiên hạ. Năm 1778, ông được cho về nước và sau đó ông được
một linh mục người Pháp đưa vào làm thông ngôn ở Huế. Vì hết lòng tận tụy với quan thày và được
quan thày tin tưởng, tháng 6 năm 1995, ông được cho làm phó tướng cùng vơi
ông Nguyễn Thân đem lính Việt Nam mà
hầu hết là lính đạo (quân thập tự Việt Nam) đi đánh phá và tiêu diệt
lực lượng nghĩa quân Văn Thân dưới quyền lãnh đạo của cụ Phan Đình
Phùng ở Vụ Quang và Ngàn Trươi. Nghĩa quân Văn Thân vừa am hiểu địa hình
địa thế vừa quyết tâm chiến đấu,
cho nên quân thập tự Việt Nam dưới quyền của Nguyễn Văn Thân và Ngô
Đình Khả bị tổn thất nặng, và không tiến được vào căn cứ của
nghĩa quân kháng chiến. Mấy tháng sau, cụ Phan Đình Phụng qua đời vì bệnh
kiết lỵ. Sau cái chết của cụ Phan, nghĩa quân Văn thân như rắn mất đầu. Do
đó, Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả mới mạnh bạo xua quân tiến vào đánh
tan lực lượng nghĩa quân, cho người đào mả cụ Phan Đình Phùng lấy
xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng rồi bắn xuống sông Lam
Giang để trả thù cho những thất bại trước đó. Nhờ chiến công và
hành động dã man này, Liên Minh Pháp – “Lúc đó, Pháp đã
nắm hết quyền hành nên Thành Thái chỉ lo ăn học và giải trí. Cụ Ngô
Đình Khả được cử làm Phụ Đạo và Cố Vấn cho vua Thành Thái. Năm
1904, cụ được cử làm Tổng Quản Cấm Thành, trông coi tử Cấm Thành… "Khi đưa cụ Ngô
Đình Khả vào làm Phụ Đạo cho vua Thành Thái, người Pháp muốn cụ theo
dõi các hoạt động của vua và báo cáo cho Pháp biết những ý định phản
nghịch của vua để có biện pháp kịp thời.” [2]
Nhờ địa vị quan tước của thân phụ, ông Diệm
được phong “tập ấm” và cho theo họ trường đạo Pellerin ở Huế, rồi
lại được đặc cách đưa vào học trường
Hậu Bổ cũng ở Huế. Năm 1922, ngay khi vừa hoàn tất chương trình học
tại trường Hậu Bổ, ông Diệm được bổ nhậm làm tri huyện. Nói về trình độ học vấn của ông Ngô Đình Diệm,
cụ An Khê Nguyễn Bính Thinh viết: "Ông Diệm học
lực chưa đủ sức thi vào ngạch quan lại, nhờ vai ấm sinh của cha truyền
khỏi phải thi, từ một chức tiểu lại đến 7 năm sau, ông thành ra một
vị đường quan. Vì ông khéo luồn lọt, lập công với thực dân Pháp, mau
thăng chức hơn các bạn đồng liêu.." [3]
Bản văn sử trên đây cũng cho chúng ta biết một
khía cạnh trên con đường hoạn lộ của ông Ngô Đình Diệm. Kể từ đó,
ông Diệm dựa vào thế người ngoại bang để leo lên bước thang danh vọng
quyền lực. Cũng từ đó, ông đem hết tài năng và trí óc ra để tìm hết
đủ mọi cách tâng công quan thày này, chạy chọt với quan thày ngoại bang
khác để leo lên nấc thang cao nhất của quyền lực. Khi có quyền lực lọt
vào trong tay của ông, nó trở hành những phương tiện cho ông biến những ác tính Da-tô cùng với ác tính
thiên bẩm tiểm ẩn trong tâm tư thành những hành động bạo ngược và
dã man đến cùng cực của dã man. Tình trạng
này khiến cho quan thày người Hoa Kỳ của ông đành phải bỏ
rơi ông, liệng ông ra khỏi quyền lực, phó mặc sinh mạng của anh em ông cho quân dân miền Nam trong cơn thịnh nộ đang
cùon cuộn dâng lên và bộc phát ra như hỏa diệm sơn sau chín năm uất ức
và căm thù. Nói về con đường họan lộ của ông Diệm, thiết
tưởng cũng nên nói về con đường hoạn lộ của những người Việt Một yêu tố khác cũng không kém phần quan trọng
là cho hai thế lực này luôn luôn ở vào tình trạng lủng củng. Nguyên do
vì nhân dân Pháp đã từng là nạn
nhân của Giáo Hội La Mã cả hơn một ngàn năm và đã phải giẫy dụa cả một thời gian dài từ cuối
thế kỷ 8 [thời vua Charlemagne (768-814)] cho đến khi Cách Mạng bùng nổ
vào năm 1789 mới có thể vùng lên đối đầu với Giáo Hội bằng những
biện pháp mạnh để đòi lại quyền làm người. (Vấn đề này sẽ được
trình bày đầy đủ ở Phần 6). Trước khi Cách Mạng 1789 bùng nổ, các bậc
trí giả Âu Châu đã luôn luôn viết
sách, viết báo lên án Giáo Hội bằng những lời lẽ vô cùng gay gắt.
Trong số những bậc trí giả này đưa ra quan điểm chính trị chống lại
Giáo Hội. Đây là trường hợp của các
nhà trí thức John Wycliffe (1320-1384), John Huss (1372-1415), Giordano Bruno
(1548-1600), John Locke (1632-1704), Montesqiueu (1689-1775), Denis Diderot (1713-1784),
Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Voltaire (1694-1778). Sau thời Cách Mạng 1789, cũng
vẫn còn có nhiều học giả Âu Mỹ tiếp tục viết sách, viết báo, diễn
thuyết trình bày những quan điểm chống lại Giáo Hội hết sức mãnh liệt.
Trong số những người này, có những nhân vật nổi tiếng như Lamartine
(1790-1869), Victor Hugo (1802-1885), Léon Gambetta, Jules Ferry, Thomas Paine
(1737-1809), Thomas Jefferson (1743-1826), v.v… Theo chân các nhà trí thức trên đây, các nhà trí
thức sau này đã nghiên cứu cả hai bộ Cựu và Tân Ước Kinh cũng như các
tác phẩm như The Decline and Fall of The Roman Church, the Jesuits, Rich Church, Poor của giáo sĩ Malachi Martin, Vietnam Why did we
Go? và The Vatican's Holocaust của giáo sĩ Avro Manhattan, The Thick Darkness of Romanism của Tiến-sĩ
Barnado, In Vatican: The Politics and Organization of the Roman Catholic Church của
Thomas J. Reese, The Vatican's Last Crime của Joseph McCabe, Roman Catholicism của
Loraine Boettner, The Vicar Of Christ của Peter de Rosa, The Dark Side of Christian
History của Hellen Ellerbe, The Babylon Mystery Religion của Ralph Woodrow, Deceptions and Myths of The Bible của
Lloyd M. Graham, The Book Your Church Doesn’t Want You To Read của Tim C.. Leedom.
Đặc biệt nhất là Thomas Paine viết
cuốn The Age of Reason trong đó ông đem Cựu Ước và Tân Ước Kinh ra phân
tách rất là công phu, rồi đưa ra những luận cứ bất khả phản bác về
tính cách hoang đường của hai bộ thánh kinh này. Sau đó, chúng ta lại có
triết gia Bertrand Russell viết cuốn Why
I Am Not A Christian cũng không ngoài mục đích nói cho người đời biết rõ
về những sai lầm căn bản của lý thuyết thần học Thiên Chúa Giáo. Những tác phẩm này đã ảnh hưởng rất lớn đến
suy tư và hành động của nhân dân Âu Châu khiến cho tinh thần chống Giáo
Hội càng ngày càng trở nên mãnh liệt và bùng nổ thành Cách Mạng 1789.
Các nhà lãnh đạo cách mạng Pháp thường tự nhận là đứa con tinh thần
của Voltaire. Giống như vết dầu loang, Cách Mạng Pháp 1789 trở tấm gương
cho nhân dân thế giới theo đó mà tiên lên hành động chống lại Giáo Hội
La Mã. Ngay cả khi nước Pháp liên kết với Giáo Hội La Mã xuất quân đánh
chiếm và thống trị Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, những chính khách có thế lực cầm quyền ở
Pháp cũng như ở Đông Dương, vẫn hành động theo tinh thần Cách Mạng
1789 chống lại Vatican, khinh rẻ bộn giáo sĩ Pháp và tín đồ Da-tô người
Việt dù rằng trong thực tế và bề ngoài, họ liên kết với Vatican như là
một Liên Minh để cùng thống trị Đông Dương. Vatican cũng biết như vậy, nhưng Vatican vẫn còn hy
vọng bám lấy quyền lực ở Pháp vì có một nhóm thiểu số tín đồ người
Pháp chỉ biết tuyệt đối tuân phục Vatican và vì bọn phản động còn nắm
quyền tại các nước Áo, Phổ, Nga và Anh. Nhờ đó, , Giáo Hội đã sử dụng
nhóm thiểu số tín đồ cuồng tín người Pháp này và liên kết với các
chính quyền phản động tại các quốc gia trên đây chống lại Cách Mạng
1789 và nước Pháp. Chính vì thế cuộc chiến giữa nhân dân Pháp với
Vatican ở vào thế giằng co cho mãi tới năm 1905, người Pháp mới thực sự
loại được bàn tay quyền lực của Vatican ra khỏi chính quyền bằng cách
ghi vào trong Hiến Pháp điều khoản “tách
rời tôn giáo ra khỏi chính quyền.” Trong khi đó, tại Bắc Mỹ, Hoa Kỳ
đã đưa điều khỏan này vào Hiến Pháp ngay từ năm 1791. Kể từ đó,
càng ngày ảnh hưởng của Giáo Hội
đối với quần chúng Pháp càng ngày càng giảm thiểu. Hiện nay ở Pháp cũng
như ở Anh và ở nhiều quốc gia Âu Châu khác, con số người đi nhà thờ
hàng tuần chỉ còn từ 1% đến 5% là nhiều. Tuyệt đại đa số nhân ân
Âu Châu ghê tởm Giáo Hội và lánh xa Giáo Hội như lánh hủi. Sư kiện này
được học giả Da-tô Phan Đình Diệm ghi lại như sau: “Giáo Hội Công
Giáo Roma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện
cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả
thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đã không biết tự chế, không học
bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ
rác… Hôm nay hối bất cập, lịch sử còn nằm trơ ra đó. Người Âu
Châu khiếp sợ Giáo Hội và tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có
thành kiến ghép Giáo Hội với ông Tây thực dân và chống thực dân! Người
Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người
Trung Đông làm sao quên được 250 cuộc thánh chiến hãi hùng!.v.v…” [4]
Vì nguyên nhân này mà trong thời gian từ năm 1958
cho đến 1945, có rất nhiều nhân vật Pháp có thế lực ở chính quốc
Pháp như Jules Ferry, Léon Gambetta, Léon Blum cũng như các tướng lãnh chỉ
huy các đạo quân tấn chiếm Việt Nam như Đô Đốc Page, Đô Đốc Bonard,
Đô Đốc Rieunier, Đại Tá Bernard cho đến các chính trị gia nắm quyền chủ
chốt trong bộ máy cai trị Đông Dương như Paul Beau, Paul Bert, Pierre Pasquier, v.v… đều là những người hăng say chống Giáo
Hội La Mã và thường tỏ ra khinh rẻ các ông tu sĩ Da-tô hoạt động tại
Đông Dương vào thời bấy giờ. Sự
kiện này được sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn - Tập 2 ghi nhận như sau: "Paul Bert là đảng
viên "Cộng Hòa" từng bị phe cực hữu và bảo thủ kết án như
“kẻ chống Giáo Hội điên cuồng," và "kẻ thù quyết liệt của
Giáo Hội." Tội lỗi lớn nhất của Bert là khi giữ ghế Bộ Trưởng
Giáo Dục trong chính phủ Ferry, Bert đã cổ võ và phát động một chính
sách giáo dục quốc gia phi tôn giáo. Theo Bert, nước Pháp không còn trách
nhiệm hoằng dương hay rao giảng một tôn giáo nào, và cũng không công nhận
một tôn giáo nào làm quốc giáo" [5] . Cũng nên biết là hai thế lực Pháp và Vatican đều
có những bọn Việt gian làm tay sai thân tín đắc lực riêng và cả hai thế
lực này đều muốn sử dụng bọn Việt gian này trong chính sách Chia Để Trị. (Dùng người Việt đánh người
Việt và dùng người Việt cai trị người Việt.) Phần lớn bọn Việt
gian làm tay sai cho thực dân Pháp không phải là tín đồ Da-tô và có thể
là mang quốc tịch Pháp như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Xuân,
v.v… hay không mang quốc tịch Pháp như bọn Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân,
Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô, Nguyễn Duy Hàn, Phạm Quỳnh, v.v… Hầu hết những bọn Việt gian làm
tay sai cho Vatican là những tín đồ Da-tô cuồng tín mang quốc tịch Vatican
(đều có tên thánh ở trước cái tên bình thường của chúng) như bọn Trần
Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương (Đỗ Hữu Vị), Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), Huỳnh
Tịnh Của, Nguyễn Hữu Độ, Trần Lục, Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Tường
Tộ, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục,
Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, v.v… Khi hai thế lực Pháp và Vatican không có chuyện gì
xích mích với nhau thì hai nhóm Việt gian này được yên ổn lo việc đàn
áp nhân dân ta để tãng công với giặc với hy vọng sẽ được thăng qua
tiến chức vù vù như trường hợp Trần Lục, Ngô Đình Khả, Trần Bá Lộc,
Ngô Đình Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng,v.v... Nhưng khi hai thế lực Pháp và
Vatican mưu tính chèn ép lẫn nhau để lấn quyền rồi hục hặc với nhau,
thì hai nhóm Việt gian này rơi vào tình trạng khốn đốn và chìm nổi với
chủ riêng của chúng. Sự kiện này đã được Cụ Phan Bá Kỳ nói sơ qua
như sau: "Ai biết chút
ít về lịch sử cũng phải hiểu rằng chính sách, nhân sự ở Đông Dương
hồi Pháp thuộc là do nơi ba thế lực chính: Thực Dân, Giáo Hội ( Chuyện tranh chấp giữa ông Ngô Đình Diệm và ông
Phạm Quỳnh về chức vụ Tổng Lý Đại Thần tại triều đình Huế được
cụ Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau: “Có một số người
người từng làm cách mạng, hoặc có xem báo chí ở Huế, ở Hà Nội trước
năm 1940, đều biết ít nhiều về ông Diệm khi làm Thượng Thư Bộ Lại của
triều đình Huế, có óc quan lại phong kiến và nịnh quan thầy Tây. Ông
tranh quyền với ông Phạm Quỳnh, song quan thầy của ông là Khâm Sứ
Thibaudeau kém thế hơn quan thầy của ông Phạm Quỳnh là Toàn Quyền
Pasquier. Ông Diệm thua Phạm Quỳnh bất mãn từ quan.”
[7] Sự thật là ông Diệm không phải chỉ từ quan
không thôi. Theo sử gia Vũ Ngự Chiêu, ông Diệm không những bị đuổi cổ
về vườn, mà còn bị truất hết cả những chức tước phẩm hàm và bị
quy định nơi cư trú ở Quảng Bình nữa. Dưới đây là bản văn của Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu viết về sự kiện
này: "Sau cuộc "đảo
chính" 2/5/1933, Bài bị loại khỏi vòng quyền lực. Toàn Quyền Pierre
Pasquier (12/1928-1/1934) gọi Diệm về làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm Tổng Thư
Ký Ủy Ban Cải Cách. Quyền Khâm Sứ Léon Thibaudeau (2/1933-7/1934) yêu cầu
Diệm làm tờ trình về kế hoạch canh tân. Diệm có lẽ với sự tiếp tay
của Bài, đưa ra hai điều kiện: Phải thống nhất
Bắc và Trung Kỳ, và bổ nhiệm một tổng trú sứ (resident général) cho
Trung và Bắc Kỳ như đã qui định trong Hòa Ước 6/6/1884. Phải cho Viện Dân
Biểu quyền thảo luận (báo cáo ngày 10/5/1933, Pasquier gửi Colonies). Lập trường này
cũng giống Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên là phải hủy bỏ hai chức
thống sứ và khâm sứ Huế; sau đó cho An "Theo một mật
báo viên (Luật-sư Lê Văn Kim), tháng 12/1933, Diệm vào Sàigòn gặp Nguyễn
Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức, v.v… Tiếp đó, báo chí Sàigòn
và cả tờ La Lanterne ỏ Chiến dịch "Đòi
thay Pasquier bằng cựu Toàn Quyền Alexandre Varenne
và đưa cựu Khâm Sứ Yves Châtel trở lại Huế" là chiến
dịch của Vatican mượn bọn tay sai Việt gian cuồng tín để làm áp lực cho việc đòi thay thế những nhân vật có
tinh thần chống Giáo Hội La Mã bằng những nhân vật bảo thủ thân Giáo
Hội La Mã. Trước đây Ngô Đình Khả cũng vì cuồng tín nghe theo "Chúng tôi chỉ
có với mình", Đô Đốc Rieunier sau
này nói, "những giáo dân và bọn du thủ du thực". "Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi
làng vì đói rét hoặc vì tội phạm," Đại Tá Bernard viết, xô về đây
với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ
với cuộc đấu tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng sự bất cứ những
ông chủ nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên
hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình:
làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên
phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các
nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ
khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên,
làm quen với dân tộc Việt Nam …" Nhà sử học Cultru kết
luận: "Hoàn toàn hời
hợt về cái gọi là giáo dục phương Tây mà họ đã được tiếp thụ,
những thanh niên Việt Nam này đã trở thành những ông thông, ông phán,
ông ký, kiểm soát, phiên dịch.. ấy, lập thành tại xứ sở thuộc địa
một tầng lớp những người tha hóa, chuyên lợi dụng địa vị chính thức
của chúng để nhân danh chính phủ Pháp, lúc này không đủ biện pháp cai
quản họ, để áp bức, đục khoét dân chúng, buộc lòng phải nhờ đến
sự trung gian cuả họ…" "Tại Nam kỳ,
chính là từ trong những người Công Giáo Annam mà người ta tuyển chọn những
kẻ giúp việc cho chính phủ Pháp, Phạm Quỳnh đã viết, "Họ có tài
cán gỉ? … Phần lớn là những tay dạy giáo lý Cơ Đốc, vì hạnh kiểm
kém mà bị các giám mục đuổi về, và dưới một cái tên La Tinh (bởi
vì họ nói lõm bõm tiếng La Tinh), là đại diện sơ lược của thủ đoạn,
của sự vô trách nhiệm, và sự thoái hóa của Châu Á" [9]
Thông thường, người Việt 1.- Đàn ông mà có cặp
mắt “trắng bệch” là hạng người gian tham và ác độc, và
những nguời “vô tu” là hạng người
“bất nghì”, 2.- Bất kỳ người nào có cặp mắt hay “nhìn trộm”, “tròng trắng nhiều hơn tròng đen”, “láo liên” hay “tròng đen chạy long xòng xọc trong tròng trắng”
hoặc “chớp chớp” khi nói chuyện với
một người nào, thì tất nhiên là con người lưu manh gian ác, tàn ngược
và có bản chất phản trắc. Ông Ngô Đình Diệm có những ác tướng thể hiện ra trên diện mạo “bạch
diện vô tu” và cặp mẳt “trắng bệch,
tròng trắng nhiều hơn tròng đen” lại
“nhìn trộm”. Tất nhiên là những ác
tính này sẽ biến thành hành động vào
những khi có hoàn cảnh hay cơ hội, đặc biệt nhất là khi có quyền lực
trong tay. Ông Diệm đã từng hành xử quyền hành trong những năm làm quan
voeứi quan thày Pháp và Vatican trong những năm 1922-1933 và hơn chín năm được
Liên Minh Mỹ - Vatican cho nắm giữ chức
vụ Tổng Thống ở miền Nam Việt Nam. Với một quá trình nắm giữ quyền
lực trong tay như vậy, tât nhiền những ác tính Da-tô và bẩm sinh tiềm
tàng trong con người của ông đã phương tiện và
hoàn cảnh thuận lợi biến thành không biết bao nhiêu tôi ác
chống lại tổ quốc và nhân dân Việt Nguời viết xin chia những tội ác này của Ngô Đình
Diệm ra làm hai loại: (a) Những việc làm tàn ngược dã man đối với dân
tộc, (b) Tâm địa và hành động phản trắc của ông đối với mọi người.
Căn cứ vào sách sử, ông Ngô Đình Diệm đã phạm
tội ác chống lại tổ quốc, chống lại dân tộc Việt Nam bằng những
hành động “cõng rắn cắn gà nhà”
và bạo ngược đối với nhân dân khi làm quan cho Liên Minh Xâm Lược Pháp
Vatican trong những năm 1922-1933 và trong thời gian 1954-1963 được Hoa Kỳ và
Vatican đưa về cầm quyền ở miền Nam. Dưới đây là một số bằng chứng cho sự kiện này: 1.- Khi mới được
bổ nhậm làm tri huyện ở miền Trung, ông Diệm đã có những hành động
tàn ngược và dã man hết sức là kinh tởm. Sự kiện này được cụ An Khê
Nguyễn Bính Thinh ghi lại như sau: “Khi ông làm tri phủ
Hòa Đa đã nổi tiếng là tay sai đắc lực của Pháp, lùng bắt và tra tấn
các nhà cách mạng rất dã man bằng cách xông lửa nến (đèn cày) dưới
ghế ngồi. Ông cho trói chặt người bị lấy khẩu cung vào ghế ngồi, mặt
ghế có khoét lỗ ở ngay hậu môn chỗ ngồi, bên dưới đốt ngọn đèn cầy
cho lửa xông lên, dần ruột gan, tim phổi người nọ (nạn nhân) bị sấy
lửa, khô dần đi, không chịu nổi, dù có khai để chấm dứt cực hình nhưng
hậu quả về sau không lường được. Lối tra tấn dã man này, ngay với
các bót giam của Pháp, như bót Catinat, cũng chưa dám dùng.” [10]
2.- Trong thời gian nắm giữ chức vụ thủ tướng và
tổng thống ở miền Nam Việt Nam từ ngày 7/7/1954 cho đến 1 giờ trưa ngày
1/11/1963, ông Diệm đã cho thi hành kế hoạch Ki-tô hoá miền Nam bằng bạo
lực khiến cho hơn 300 ngàn người bị sát hại, cùng với hơn nửa triệu
người bị bắt giam và tra tấn một cách hết sức dã man. Vấn đề này
đã được người viết trình bầy đầy đủ trong nơi các trang 124-133
trong cuốn Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation ( 3.- Ngày 30/11/1961, ông Diệm
đã hồ hởi đồng loã với quân đội Mỹ trong việc sử dụng chất độc
da cam rải xuống đồng ruộng và rừng cây trong lãnh thổ miền Nam Việt “Ngày 30/11/1961,
Tông Thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch
khai quang đồng cỏ Việt Vì thế mà chiến dịch khai quang này được quân đội
Mỹ cho tiến hành trên đất nước Việt “Quân đội Mỷ rải
77 triệu lít chất độc da cam xuống miền Nam và Trung Việt Nam, gây ảnh hưởng
và tác hại đến môi truờng của 2,630,000 mẫu Tây và gần 5 triệu người
sống trong 35,585 thôn ấp” [12]
Việc làm dã man này không
biết đã sát hại bao nhiêu trăm ngàn hay hàng triệu nạn nhân, và hậu quả của việc làm này
cho đến ngày nay vẫn còn gây hại cho đất đai, cây cối, mùa màng, sinh vật
và nhân dân ta trong vùng bị ảnh hưởng. Hiện nay, chính phủ Việt Tạm kể ra ba tội ác này cũng đủ cho chúng ta thấy tên tứ đại Việt gian Ngô
Đình Diệm quả thật là hạng người “thiên
cổ tội nhân” đối với dân tộc Việt
Trong tiểu mục này, người viết chỉ nói đến ác
tính phản trắc của ông Diệm mà thôi. Ác tính này có thể là theo truyền
thống hay dòng máu di truyền của gia đình họ Ngô. Do đó, chúng ta cũng nên
tìm hiểu xem gia đình ông Diệm có đặc tính phản trắc này không, rồi
sau đó sẽ nói đến thành tích phản trắc của chính cá nhân ông Diệm. I.- Về truyền thống
gia đình của ông Diệm, theo tác giả Giuse Phạm Hữu Tạo, chủ bút tờ
Đông Dương Thời Báo và cũng là tác giả bài viết Quốc Kỳ Việt Nam
đăng trong www.dongduongthoibao.net,
tháng 12/2005, dòng họ Ngô Đình khởi đầu làm Việt gian bán nước cho cả
hai đế quốc Vatican và Pháp từ đời ông Ngô Đình Niệm, tức là ông nội của ông Ngô Đình Diệm. Dưới
đây là nguyên văn lời ông Giuse Phạm Hữu Tạo viết: “Chiến thuyền
Pháp bắn phá và tấn chiếm Đà Nẵng vào năm 1858, có số giáo sĩ Tây và
giáo dân Việt gian đón tiếp và xúi tấn công dứt điểm Huế. Trong số
giáo sĩ có Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu có linh mục Nguyễn Trường Tộ
cởi áo dòng theo hầu), linh mục Pellerin, linh mục Huc, Caspar (tên Việt là
Lộc có giáo dân Ngô Đình Niệm là cha
Ngô đình Khả theo hầu), linh mục Nguyễn Hoàng…..đại quan thuyền trưởng
Pháp đã không thấy vài trăm ngàn giáo dân Việt gian đón tiếp theo như những
linh mục Tây phúc trình.“ [13]
Đến đời thân
phụ của ông Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Khả thì lại còn ghê gớm hơn
nữa. Đặc tính ghê gớm này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách Tài Liệu
Soi Sáng Sự Thật ghi lại việc làm ghê gớm của ông Ngô Đình Khả như
sau: “Theo tài liệu sử,
Ngô Đình Khả được Triều Nguyễn thời Pháp thuộc trọng dụng là nhờ
công lao giúp Nguyễn Thân tiêu diệt lực lượng chống Pháp của nhà ái quốc
Phan Đình Phùng và đặc biệt là đã
đào mả cụ Phan (đốt thành tro, lấy tro) nhồi vào thuốc súng để bắn
cho tiêu tan hài cốt cụ Phan: quả thật
là một tên đại thần, đại gian đại ác.”[14] II.- Về những việc
làm phản trắc của ông Diệm.- Những việc làm phản trắc của ông Diệm
đối với nhiều người đều được sách sử ghi lại rõ ràng. Dưới
đây là một số những việc làm phản trắc của ông ta: 1.- Phản lại lời thề trung thành với Quốc Trưởng
Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu khi được bổ nhậm làm thủ tướng với
toàn quyền quyết định về cả dân sự lẫn quân sự vào ngày 19/6/1954.
Khi về Việt Nam cầm quyền và sau khi đã củng cố xong quyền lực, ông Diệm
cho tổ chức ngày Trưng Cầu Dân Ý vào ngày 23/10/1955 để truât phế ông Bảo
Đại, người mà chính ông ta đã làm tôi hai lần : (a) những năm tháng trước
ngày 12/7/1933 và (b) những năm tháng sau ngày 19/6/1954. Ta gọi hành động này
là phản thần. 2.- "Phản quốc và hại dân” qua những hành động
tra tấn các nhà cách mạng chống Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican: Khi được
Liên Minh Pháp – Vatican cho làm tri huyện ở Hoa Đa, ông Diệm đèn cầy sấy
hậu môn để lấy khẩu cung hầu tâng công với quan thày Vatican và Pháp như
đã kể trên. Trong thời kỳ nắm quyền cai trị miền 3.- "Phản trắc" và "tráo trở".
Trong năm 1933, ông Diệm có liên hệ đến âm mưu vận động cựu Toàn Quyền
Alexandre Varenne thân Giáo Hội La Mã trở lại Đông Dương để thay thế Toàn
Quyền Pierre Pasquier (có tinh thần bất thân thiện với Giáo Hội La Mã).
Sau đó, ông lại mưu toan liên kết với tín đồ Da-tô Cường Để ở Nhật
để chống lại Pháp trong hồi đầu thập niên năm 1940. Âm mưu bị bại lộ
nên bị Pháp sa thải. Hành động được gọi là phản chủ. 4.- Phản lại
Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đã cưu mang, lo lót chạy chọt cho ông về Việt Nam làm thủ
tướng chính quyền chống Cộng ở miền Nam Việt Nam, nhưng rồi ông trở
mặt, chỉ biết đến nghĩa vụ phải triệt để tuân hành lệnh truyền của
Tòa Thánh Vatican, tiến hành chính sách "Da-tô hóa miền Nam Việt
Nam". Khi Hoa Kỳ ra chỉ thị cho ông phải sử sai và thay đổi chính
sách, ông tìm cácy bắt tay với chính quyền miền Bắc để tháu cáy 5.- Phản lại bạn
bè: Cac ông Trần Văn lý, Tạ Chương Phùng, Lê Quang Luật, v.v… là những
người đã ủng hộ và hy sinh công lao, thì giờ cũng như tiền bạc để
cưu mang khi Diệm còn long đong lận đận. Sau khi lên cầm quyền,ông phản
lại những người này. Hành động này
gọi là phản bạn. 6.- Phản lại tướng Trình Minh Thế. Ông cho người
thuyết phục ông Trình Minh Thế đem lực lượng Cao Đài võ trang về hàng.
Ông Thế đã nghe theo, về hàng và được gắn lon thiếu tướng. Sau đó, ông lại ám sát ông Thế. Đây
là một trong hành động phản trắc. 7.- Phản lại Đại
Tá Edward G. Lansdale: Đại Tá Edward G. Lansdale là người được Tổng Thống Eisenhower cử sang Việt 8.- Phản lại lời cam kết với quốc dân miền Nam
Việt 9.- Phản lại lời
cam kết vào ngày 16/6/1963 với Phật Giáo. Việc tiến hành kế hoạch Ki-tô
hoá miền “Ngày 16/6/1963: Hai Uỷ Ban Liên Bộ và Liên
Phái, sau 3 ngày và đêm thảo luận, ra một thông cáo chung xác định những
điểm đã thỏa hiệp về cách treo cờ Phật Giáo và Quốc Kỳ; xét lại Dụ
số 10 về phần quy chế tôn giáo; điều tra về các vụ bắt bớ, và khoan
hồng cho những người tranh đấu cho Phật giáo; dành mọi sự dễ dàng cho
các hoạt động tôn giáo; trừng trịn những nân viên có lỗi, bồi thường
cho các gia đình nạn nhân.”[16] Bản thỏa hiệp vừa ký xong được mấy này, ông
trở mặt. Báo chí và đài phát thanh của Sàigon trở giọng mạt sát Phật
giáo, cảnh sát và mật vụ vẫn tiến hành những chiến dịch truy lùng bắt
giam và tra tấn Phát tử, học sinh và sinh viên, các truờng học được lệnh
đóng cử. Bản thỏa hiệp được ký kết giữa Ủy Ban Liên Bộ và Liên
Phái Phật giáo được ký kết vào ngày 16/6/1963 tại giữa thủ đô
Sàigòn bị ông Diệm kiệng vào xọt
rác. Đây là một hành động tráo trở hay
phản phé. 10.- Phản lại
lời hứa đã hứa với Đại-sứ Frederick Nolting: Việc chính quyền Ngô Đình
Diệm ngược đãi và đàn áp Phật Giáo khiến cho Hoa Kỳ lo ngại và bị
lên án vì vào năm 1954, chính Hoa Kỳ
đã đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền rồi cưu mang chính quyền này kể
từ đó. Cũng vì vậy mà Đại-sứ Hoa Kỳ ở Sàigòn là ông Frederick Nolting được lệnh đến gặp Tổng
Thống Ngô Đình Diệm phải giải quyết vấn đề Phật Giáo cho êm đẹp.
Lần nào nói chuyện với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại-sứ Nolting
cũng được Tổng Thống Diệm hứa rằng sẽ giải quyết vấn đề Phật
Giáo theo tinh thần hòa giải. Tuy là hứa như vậy, chính quyền Ngô Đình
Diệm vẫn vi phạm những điều đã cam kết
trong bản thỏa hiệp mà Ủy Ban Liên Bộ và Liên Phái Phật
Giáo đã ký kết vào ngày 16/6/1963. Có vì tình
trạng này, đầu tháng 8/1963, Đại-sứ Noiltting nhận được lệnh bị triệu
hồi về Mỹ và chức vụ đại sứ Hoa Kỳ tai Sàigòn sẽ được ông Cabot
Lodge sang thay thế và đảm nhiệm. Trước ngày 15 tháng 8 năm 1963, Đại-sứ Frederick Nolting đến Dinh Gia Long
gặp Tổng Thống Diệm để từ biệt về Mỹ và yêu cầu ông Diệm hứa với
ông rằng chính quyền ông Diệm không được dùng vũ lực tấn công các
chùa chiền của Phật giáo. Tổng Thống Diệm đã long trọng cam kết với
ông Noltting rằng ông sẽ không bao giờ
tấn công Phật giáo. Được lời cam kết này của ông Diệm, ông Nolting
yên trí trở về Hoa Kỳ dự tính rằng sẽ báo cáo với Tổng Thống
Kennedy bằng những lời lẽ bao dung cho
anh em ông Diệm. Thế nhưng, trên đường về nước, mới về đến Hawaii,
ông Nolting được tin các chùa chiền ở trong các thành phố lớn ở Việt
Nam bị quân chính phủ tấn công vào đêm ngày 20/8/1963 và ông Nolting đã tỏ
ra vô cùng phẫn nộ về hành động phẳn trắc này của ông Diệm. Sự kiện
này được sử gia John Newsman, người Hoa Kỳ, ghi nhận như sau: “Ngày 19/7, ông Diệm
lên đài phát thanh nói với đồng bào trong hai phút, bày tỏ ý muốn hòa
giải với phe Phật Giáo, nhưng ông nói với vẻ lạnh lùng và nhân nhượng
rất nhỏ nhoi, chỉ vừa đủ làm cho tình hình dịu bớt. Hậu quả, vào
tháng 8, cuộc đấu tranh của Phật Giáo bộc phát trở lại: Khán giả truyền
hình Mỹ được nhìn thấy các vụ tự thiêu vào những ngày 5, 15, và 18
(tháng 8) của 7 nhà sư và một ni cô. Tình hình gia tăng đến mức căng thẳng
từ giữa tháng 8 tưởng chừng như sắp nổ tung, qua đến sáng ngày 21/8,
“Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ bị cô lập hoàn toàn,” và khuya hôm ấy, ông Diệm
tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn lãnh thổ và ông Nhu cho Cảnh
Sát Chiến Đấu, một thứ Lực Lượng Đặc Biệt của riêng ông, tiến
hành cuộc bố ráp các chùa và bắt giữ 1,400 Phật tử. Ông Nhu lợi dụng
thiết quân luật để bắt bớ những che đạy bằng lệnh của các tướng
vùng. Hành động của ông
Nhu rõ ràng đã tạo ra bế tắc trong quan hệ Việt Mỹ. Bộ Ngoại Giao Hoa
Kỳ lên án các cuộc bố ráp các chùa chiền như sau: “Dựa trên những
tin tức từ Sàigòn, rõ ràng chính phủ VNCH đã dùng những biện pháp đàn
áp nghiêm trọng các nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Ông Nhu cho cắt
các đường dây điện thoại của Tòa Đại Sứ. Các tướng lãnh giận dữ
đến Tòa Đại Sứ và hỏi xem Hoa Kỳ có chịu ủng hộ đảo chánh hay
không? Lúc bấy giờ ( “Tôi nghe có tiếng
chửi đổng lúc chúng tôi đọc từng chữ trên máy. Cuộc tấn công được
sắp xếp vào thời gian giữa hai đại
sứ cũ và mới thay đổi công việc. Ông Diệm đã cả gan dám bội ước và
không dành một hành động nào để cứu vãn danh dự cho Hoa Kỳ. Ông ta đã
đặt chúng ta trước một chuyện đã rồi mà ông ta biết rõ đã làm tổn
thương đến tinh thần thượng võ và sự công minh của chúng ta, và ông ta
đã có những hành động kiêu căng, ngạo mạn vì cho rằng chúng ta sẽ phải
ngậm đắng nuốt cay như chúng ta đã từng chịu đựng trong quá khứ. Lúc
ấy nét đau khổ lộ ra trên khuôn mặt của Nolting.” Tuy nhiên, lần này
Hillsman sẽ cố làm sao để không phải nuốt một viên thuốc đắng nào hết.”
[17]
. Đây là một hành động phản bạn vì rằng ông Đại Sứ Nolting
được coi như là một người bạn khá thân với ông Diệm và đã che chở
rất nhiều cho ông Diệm khi báo cáo về chính quyền Hoa Kỳ. Nói về thành tích phản trắc của ông Ngô Đình Diệm,
sách Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi viết: “Thái độ bất
trung với nước và bất tín với dân của anh em ông Diệm như thế, chả
trách nào ông Trần Văn Lý, một nhân sĩ Thiên Chúa Giáo miền Trung còn biết
rõ xuất xứ, tôn tộc, sự nghiệp và cuộc đời của nhà Ngô, đã lên
án nhà Ngô là những kẻ mang mười chữ “bất”: Bất hiếu, bất trung,
bất nhân, bất nghĩa, bất tài, bất trí, bất công, bất minh, bất tín và
bất hòa”. Hơn ai hết, ông Trần
Văn Lý có đủ tư cách để lên án anh em nhà Ngô mang mười chữ “bất”.
Ông Diệm với ông Lý từng là đôi bạn chí thân từ ngày mới vào quan trường,
lại là đồng đạo và đồng hương (Trị Thiên), cùng là môn đệ của
Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Ông Diệm và ông Lý cùng ở trong Phong Trào Cường
Để; năm 1945, ông Diệm đã cùng sống với ông Lý tại Đà Lạt một
tháng sau khi bị Nhật Bản bỏ rơi. Năm 1947-1948, cùng qua Hồng Kông xây dựng
“Giải Pháp Bảo Đại”, cùng chủ trương thể chế “Quân Chủ Lập Hiến”.
Thời làm Thủ Hiến, ông Lý đã từng giúp đỡ bạc tiền cho anh em ông Diệm
họat động chính trị. Ngày ông Diệm mới về cầm quyền, ông Lý bị
Ngô Đình Cẩn cho bộ hạ ném lựu đạn vào nhà khi ông còn ở gần nhà
ga Huế, đến năm 1960 bị anh em ông Diệm bắt giam vì đã ở trong nhóm “Caravelle”.
[18]
“Quân bất hí
ngôn.” Làm vua hay tổng thống hoặc là nhà lãnh đạo chính quyền phải “nhất ngôn cử đình”, “lời nói như dao chém đá”, không được
nói láo, không được nói chơi, không
được hứa cuội và phản phé với bất cứ người nào. Ấy thế mà ông
Ngô Đình Diệm, đường đường là một vị tổng thống của miền Nam Việt
Thuộc từ “cuội” và danh từ “thằng Cuội”
dành cho ông thiết tưởng rất đúng nhưng vẫn chưa đủ. Đúng là chỉ đúng
với cái ác tính hứa cuội và nói láo của ông ta mà thôi. Không đúng là
vì trong con người ông, còn có không
biết bao nhiêu ác tính ghê tởm gấp ngàn lần ác tính hứa cuội và nói
láo. Tất cả những ác tính này đều nằm trong 16 ác tính Da-tô mà người
viết đã trình bày ở trên, trong đó có ác tính phản trắc, bạo ngược
và hiếu sát là ghê tởm nhất. Đối với những tín đồ Da-tô khác, ác
tính phản trắc, hiếu sát và bạo ngược là ác tính Da-tô, nhân tạo, do
chính sách ngu dân và giáo dục nhồi của Giáo Hội La Mã tạo nên. Trái lại,
riêng về trường hợp ông Ngô Đình Diệm, như đã trình bày ở trên, những
ác tính này là bẩm sinh. Chính vì vậy mà ông mang trong người không biết
bao nhiêu là thứ “phản”: phản thần, phản quốc, phản dân, phản
thày, phản chủ, phản bạn, phản cấp
trên, phản những người thuộc cấp. Xin tạm
gọi là “bát phản”. Ác tính “phản” của ông còn vượt
xa cả ác tính “phản” của nhân vật Ngụy Diên trong sách Tam Quốc Chí.
Vậy thì ta phải gọi ông ta là “Thằng
Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm”. Đối với Giáo Hội La Mã và xã hội Da-tô, thằng
Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm được coi là mẫu người lý tưởng và được suy tôn lên là “nhà chí sĩ yêu nước” và “nhà ái quốc” (của Đế Quốc Vatican).
Nhưng đối với xã hội Đông Phương,
thằng Cuội Ngụy Diên Ngô Đình Diệm này đã được ghi vào lịch sử là
“một tên thiên cổ tội nhân” của
dân tộc. CHÚ THÍCH: [1]
Chính Đạo, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng ( [2]
Lữ Giang, Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau
Cuộc Chiến Việt [3] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập 2 (Wesminster, CA: Văn Nghệ, 1996), tr. 327. [4]
Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi?( [5]
Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn
1884-1945 - Tập 2 ( [6] Phan Bá Kỳ. “Sửa Sai.” Người Dân số 77. Tháng 1/1997, tr. 7-8. [7] Lê Hữu Dản, Sđd., tr. 327. [8]
Chính Đạo, Việt [9]
Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa
Ở Việt [10] Lê Hữu Dản, Sđd., tr. 327. [11]
Nguyễn Văn Tuấn, Chất Độc Màu Da Cam và
Cuộc Chiến Việt [12] Nguyễn Văn Tuấn, Sđd., tr 171. [13]
Phạm Hữu Tạo. “Quốc Kỳ Việt [14] Lê Hữu Dản, Tài Liệu Soi Sáng Sự Thật - Tập Hai (Wesminster, CA: Văn Nghệ,1996), tr 18. [15]
Nguyễn Chánh Thi, Việt [16] Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc Từng Ngày - 20 Năm Qua (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1980?), tr. 351. [17]
John Newsman & Trần Ngọc Dung dịch, John
F. Kennedy và Chiến Tranh Việt [18]
Đỗ
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com