giaodiem copyright
posted: 12.02.2006

       2. Chân Tướng Của Trần Lục.

Thực chất con người của Trần Lục ra sao, đã có nhiều tài liệu lịch sử về vị Linh Mục này. Tôi hi vọng sẽ có một tác giả nào khác phanh phui ra những tài liệu này. Riêng đối với tôi, tôi coi cuốn Trần Lục là của Giáo hội Gia Tô Việt Nam tung ra để tôn vinh một linh mục của họ, cho nên tôi sẽ không đi vào chi tiết tiểu sử của Trần Lục mà chỉ đưa ra vài nhận định về những luận điểm liên quan đến những sự kiện hoặc quan niệm mà các tác giả trong cuốn Trần Lục trình bày, liên hệ đến lịch sử và thực chất của Gia Tô La Mã Giáo (Công giáo). Trần Lục, một tôi tớ hèn mọn của Chúa Giê-su: Vì Chúa đã đoái nhìn đến sự thấp hèn tôi tớ Chúa (Luca 1: 48: Tựa, trg. 9); suốt đời làm tôi tớ, không những cho Chúa mà còn cho cả thực dân Pháp: Trần Lục... là Ngũ đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp năm 1884, và Tứ đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh năm 1899 (Đức Ông Trần Ngọc Thụ, trg 18); muôn đời làm tôi tớ, thể hiện trên tấm mộ bia: Đây là sự thấp hèn của tôi tớ mang tên Phêrô Sáu hay Trần Lục (Tựa, trg. 9); được các tác giả cuốn Trần Lục ca tụng và tôn vinh như là một "vĩ nhân Gia Tô" (Đức Ông Trần Ngọc Thụ, trg. 27; Vũ Huy Bá, trg. 127), là "Thánh nhân Gia Tô" (Lê Hữu Mục, trg. 338), là "danh nhân không những trong nước Việt Nam mà còn cả ngoài nước" (Đức Ông Trần Văn Khả, trg. 259), là "gương chung cổ cho người cả nước đời đời soi chung" (Vũ Huy Bá, trg. 128) v...v.... Lẽ dĩ nhiên, đó là quan niệm đặc thù về vĩ nhân hay Thánh nhân hay gì gì đó của Giáo hội Gia Tô Việt Nam chứ không phải của dân tộc Việt Nam, hay của ít ra cũng là hơn 90% người dân Việt Nam mà lòng yêu nước, sự kiêu hùng, không bao giờ chịu làm tôi tớ hèn mọn hay nô lệ cho bất cứ một thế lực thế tục hay tôn giáo ngoại lai nào. Điều này đã thể hiện trong suốt dòng lịch sử hào hùng bình Tống, phạt Chiêm, chống Bắc xâm, đuổi thực dân Tây, đánh bại đế quốc Mỹ, và dứt khoát từ chối một ý thức hệ tâm linh mà bản chất mang nặng tính chất xâm lăng, chinh phục của đế quốc, cũng như tính chất hoang đường, mê tín để mê hoặc quần chúng. Đọc cuốn Trần Lục, chúng ta thấy vị linh mục này rất hãnh diện được làm tôi tớ hèn mọn của Chúa. Điều này cũng dễ hiểu, vì ông ta được các nhà truyền giáo ngoại quốc trong thế kỷ 19 dạy như vậy, và do đó, tin như vậy. Tôi nghi rằng ông chỉ tin thôi chứ không biết gì về Chúa. Vì, đọc Thánh Kinh chúng ta thấy có rất nhiều điều mâu thuẫn về Chúa, khoan kể là về chính con người của Chúa, tất cả đều có vẻ mù mờ, khiến cho con người không biết đằng nào mà tin. Ngày nay, với những kết quả nghiên cứu chính xác nhất về cổ sử, về nguồn gốc Ki Tô Giáo, về Thánh Kinh v...v..., các học giả trong và ngoài Giáo hội đều đồng ý ở một điểm: Giê-su chỉ là một người Do Thái được một số người cùng thời sùng tín và thần thánh hóa làm Đấng Cứu Thế theo như niềm tin và mơ ước của người Do Thái; và tiểu sử Giê-su thuộc loại bất minh, không có một chi tiết nào rõ ràng, và có lẽ chỉ có một sự kiện sau đây có thể chấp nhận với tất cả sự dè dặt: đó là, sự kiện Giê su sống trong thời của Thống Đốc La Mã Pontius Pilate, bị kết tội mạo nhận là Vua của dân Do Thái, mạo nhận là Chúa con, gây xáo trộn trong xã hội, và bị xử đóng đinh trên một giá gỗ hình chữ thập, một hình phạt dành cho những tội nhân phạm những tội như giết người, cướp của v...v... cùng thời. Thánh Kinh kể rằng Giê-su bị xử đóng đinh trên thập giá cùng lượt với hai tên ăn trộm. Thật vậy, trong cuốn Ai Là Giê-su? (Who Was Jesus?), học giả Ki Tô Colin Cross viết như sau trong phần dẫn nhập:

"Nhìn từ xa và xét về toàn thể, Giê-su ở Nazareth có vẻ như là một nhân vật lịch sử hiển nhiên. Nhưng khảo xát kỹ về bất cứ chi tiết nào cũng làm cho hình ảnh này mờ nhòa. Lý do về sự bất minh này thật là hết sức đơn giản. Đó là chúng ta không có bất cứ một tài liệu nào, thuộc bất cứ lãnh vực nào, về phần lớn cuộc đời của ông. Ông ta không viết một cuốn sách nào. Ngay cả hình dáng của ông ra sao cũng không ai biết. Không có ngay cả một bằng chứng nào tự nó có giá trị để chứng tỏ là ông đã hiện hữu. Những tài liệu hiện hữu, những phúc âm, chỉ viết về một phần nhỏ nhoi của đời ông và được viết theo quan điểm sùng bái cá nhân và nghi thức tôn giáo chứ không phải theo quan điểm sử học thông thường. Trong những chuyện kể trong phúc âm có những điều bất phù hợp nghiêm trọng cũng như những điều rõ ràng là không thể xảy ra."

(Viewed from a distance and considered as a whole, Jesus of Nazareth is a reasonably tangible historical figure. But too close an examination of any individual detail of him causes him to blur...The reason for uncertainty about Jesus is the simplest possible. It is just that there is no record at all, of any kind, about the greater part of his life. He wrote no book. Even what he looked like is unknown. There is not a word of independent proof that he ever even existed. The records that do exist, the gospels, cover only a fraction of Jesus' life and are written from a cultic and ritualistic point of view and not as ordinary history. There are the gravest inconsistencies in the gospel accounts and also many blatant improbabilities.)

Và Linh Mục Ernie Bringas cũng viết như sau, trong cuốn Thi Hành Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Do Quyền Lực Thánh Kinh Gây Nên (Going By The Book: Past And Present Tragedies of Biblical Authority), trg 191:

"Điểm đồng thuận ngày nay là nhân vật lịch sử Giê-su - những lời Giê su nói và những hành động Giê-su làm, và những biến cố xảy ra trong cuộc đời của ông - không thể xác định được chính xác. Trong khi chúng ta biết tác giả của một phúc âm nhìn nhân vật Giêsu như thế nào như họ đã viết lại (và viết lại như thế nào), thường là chúng ta không thể đi quá những điều viết trong phúc âm để biết về chính con người thực của Giê-su. Chúng ta không thể đoan quyết là những lời nào viết trong phúc âm về cuộc đời của Giê-su là đúng như sự thực."

(The consensus today is that the historical Jesus - the words and actions of Jesus and the real events surrounding his life - cannot be determined with precision. While we know how the author of a Gospel regarded Jesus by what he reported (and how he reported it), it is not always possible to penetrate beyond the Gospel portrayals of Jesus to Jesus himself. We cannot determine with certainty what Gospel statements about his life and career are genuine.)

Lý lịch mù mờ của Giê-su, do đó, là một lợi điểm để cho Giáo hội khai thác và mê hoặc những tín đồ đầu óc thấp kém, vì Giáo hội muốn giải thích thế nào cũng được, bịa ra chuyện nào cũng xong, và với phương pháp nhồi sọ tín đồ ngay từ trong sữa mẹ, uốn nắn đầu óc để cho tín đồ tuân phục hệ thống quyền lực trong Giáo hội, tín đồ chỉ có việc mà tin theo, khỏi cần thắc mắc hay bàn cãi. Từ đó, những tín đồ với đầu óc thấp kém này bị nhồi vào đầu những huyền thoại về tội tổ tông, về tư cách thần thánh của Giê-su, về khả năng "cứu rỗi" của Giê-su, do đó tin rằng con người sinh ra là có tội, cần sự "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Giê-su, và tin vào những lời hứa hẹn hão huyền về một đời sau. Hão huyền vì từ xưa tới nay chưa có ai từ thế giới bên kia trở về để cho thế gian biết thực chất của sự cứu rỗi đó như thế nào, vì sự cứu rỗi này chỉ xảy ra, nếu có, sau khi chết. Giê-su là một người Do Thái đãỵ chết như mọi người, nhưng được vài tín đồ sùng bái, đơn phương khẳng định ông là con một của Thần Ki Tô, đã sống lại và bay lên trời, rồi sẽ trở lại trần gian để phán xét mọi người, sống cũng như chết, và những ai tin vào ông sẽ được ông "cứu rỗi", cho lên Thiên đường ở cùng ông v..v.., một huyền thoại được kể lại với nhiều chi tiết mâu thuẫn khác nhau bởi những người viết Tân Ước, và lẽ dĩ nhiên chưa ai có thể kiểm chứng được sự "cứu rỗi" này suốt trong 2000 năm lịch sử của Ki Tô Giáo. Trái lại, ngày nay các chuyên gia nghiên cứu tôn giáo và cổ sử trong và ngoài giáo hội đã bác bỏ hoàn toàn những huyền thoại về Giê-su kể trên, như sẽ được trình bày trong những phần phân tích sau đây. Niềm tin vào một sự "cứu rỗi" của Giê-su vô hại vì nó đáp ứng được một sự khao khát tinh thần nào đó của con người, khi con người phải đối diện với những khó khăn, nghịch cảnh, bất trắc, và tính vô thường của mọi vật ở trên đời này, nên mơ tưởng đến một đời sau tốt đẹp hơn. Nếu những tín đồ này cứ an vui với niềm tin của mình và để yên cho người khác an vui trong niềm tin riêng của họ thì thế giới này đã tốt đẹp biết bao. Bất hạnh thay, như Tiến sĩ Madalyn O'hair đã viết trong cuốn "Tất Cả Những Câu Hỏi Mà Các Bạn Muốn Hỏi Những Người Mỹ Không Tin Có Thần Ki Tô" (All The Questions You Ever Wanted To Ask American Atheists, Back cover) :

"Cái tiền đề căn bản của Ki Tô Giáo là sự bất khoan nhượng. Tín đồ Ki Tô không thể chỉ theo tín ngưỡng của mình và để cho mọi người khác theo tín ngưỡng của họ. Giê Su Ki Tô đòi hỏi rằng các tín đồ Ki Tô phải đi cải đạo người khác (nghĩa là muốn cho mọi người đều phải tin vào Giê-su) và điều này đã gây nên nhiều sự đau khổ cho nhân loại hơn bất cứ tôn giáo nào khác. Những vị Thần của tôn giáo đa thần sống hòa bình với nhau. Nhưng khi Ki Tô Giáo xuất hiện với tính chất riêng biệt độc nhất của nó, dựa trên điều răn thứ nhất của 10 điều răn, "Ngươi không được thờ Thần nào khác", thì sự giết chóc bắt đầu"

(The basic premise of Christianity is intolerance. The Christian cannot just have his belief and permit everyone else to have theirs. Jesus Christ demanded that the Christian convert and this has caused more grief to mankind than any other religion. The old pagan gods lived side by side. But when Christianity came with its exclusivism, based on the first of the Ten Commandments, "Thou shalt have no other God before me," the killing began)

Ngày nay, các học giả nghiên cứu Thánh Kinh, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo, đều đồng ý là cái câu đòi hỏi tín đồ phải đi cải đạo người khác trên toàn thế giới, cũng như nhiều câu về những vấn đề khác, mà người ta cho là Giê su nói, thực ra chỉ là sự ngụy tạo thêm thắt vào Thánh Kinh của giáo hội Gia Tô với mưu đồ Gia Tô hóa toàn cầu, mê hoặc đám dân thấp kém, nhằm mục đích tạo thêm quyền lực vật chất và tinh thần cho hàng giáo phẩm Gia Tô gồm từ Giáo Hoàng trở xuống đến hàng linh mục. Đúng là một sự ngụy tạo, vì Thánh Kinh đã viết rõ: Giê-su tin rằng chính mình là đấng cứu thế của dân Do Thái, ngày tận thế sắp tới (Matthew 10:23, 16:28, 24:34; Mark 9:1, 13:30; Luke 21:30; Rom 13:11) và Giê-su sẽ trở lại thế gian (second coming) một ngày rất gần với khí thế:

"Tóc trắng như lông chiên, như tuyết, mắt sáng như ngọn lửa, chân như đồng sáng loáng trong lò, tiếng nói vang ầm như thác đổ. Tay phải Ngài cầm bảy ngôi sao, miệng cắn thanh gươm hai lưỡi sắc bén" (Thánh Kinh: Cựu Ước và Tân Ước, Nguồn Sống, 1994: Cuốn Khải Huyền, Chương 1, đoạn 14-16 (Rev.: 1: 14-16).

Bao giờ trở lại? Chúng ta có thể trích dẫn 2 đoạn khác trong Thánh Kinh: Matthew 16:17-18:

"Ta sẽ trở lại với các thiên sứ trong vinh quang của cha ta để thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm. Ta bảo đảm với các người, vài người đang đứng đây sẽ vẫn còn sống cho đến khi thấy ta đi vào trong vương quốc của ta."

(For the Son of Man will come in the glory of his Father with his angels, and then he will reward each according to his work. Assuredly, I say to you, there are some standing here who shall not taste death till they see the Son of Man coming in his kingdom)

Mark 9:1: Và Chúa nói với các môn đệ: "Ta bảo đảm với các người là vài người đang đứng nơi đây sẽ vẫn còn sống cho tới khi thấy vương quốc của Thượng đế đầy uy quyền" (And He said to them, "Assuredly, I say to you that there are some standing here will not taste death till they see the kingdom of God present with power)

Giê-su hứa hẹn sẽ trở lại thế gian để phán xét con người, nghĩa là cho ai lên thiên đường thì cho, bắt ai xuống hỏa ngục thì bắt, ngay trong thời mà một số người đồng thời với ông còn sống, nhưng lời hứa này đã trở thành hứa suông, và trong 2000 năm nay, tín đồ Gia Tô cứ dài cổ ra ngóng ngày phán xét để lên thiên đường cùng Chúa. Nhưng thiên đường của Chúa, hay nước Trời, hay nước Chúa, lại chỉ là điều Giáo hội bày đặt ra để dụ dỗ đám tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin. Vì trước những tiến bộ trí thức của nhân loại, Giáo Hoàng John Paul II không còn cách nào khác là phải tuyên bố cùng giáo dân đi hành hương ở Rô Ma, ngày 21 tháng 7, 1999, là chẳng có thiên đường nào ở trên trời, tất cả là ở trong tâm con người và ngay trong đời này, chứ chẳng phải ở đời sau. Rồi, một tuần lễ sau, ngày 28 tháng 7, 1999, Ngài lại tuyên bố là chẳng có Hỏa Ngục nào ở dưới lòng đất, tất cả cũng chỉ do tâm con người trong đời sống hiện tại. Vậy, chuyện Chúa sống lại và xác bay lên thiên đường ngồi bên phải Chúa Cha, và khả năng "cứu rỗi" của Giê-su cũng như đày đọa những người không tin theo Giê su xuống hỏa ngục rốt cuộc chỉ là những chuyện hoang đường, bịa đặt như Giáo Hoàng đã uẩn hàm trong lời tuyên bố của ông. Chính vì sự thiếu hiểu biết cho nên tin tuyệt đối vào những giáo điều ngụy tạo của Giáo hội và những điều phi lý, sai sự thực trong cái thường được gọi là Thánh Kinh, không nhận thức được rằng đó chỉ là một sản phẩm của mức độ trí tuệ trong thời bán khai, thời mà trí tuệ chưa mở mang, của những người Do Thái viết về lịch sử và tín ngưỡng của họ, rồi sau đó được những kẻ buôn Thần bán Thánh ngụy tạo, thêm thắt vào Thánh Kinh để đạt được những tham vọng thế tục cá nhân mà tinh thần độc tôn và bất khoan nhượng đã trở thành căn bản tín ngưỡng của Ki Tô Giáo. Và, cũng chính vì căn bản độc tôn và bất khoan nhượng này mà Ki Tô Giáo đã bành trướng ở Âu Châu và trên thế giới, trong tâm cảnh của một số người cuồng tín trong thời đại chưa khai hóa, bằng những phương sách tàn bạo nhất của nhân loại với mục đích cưỡng ép tất cả mọi người trên thế gian cũng phải tin vào những điều huyễn hoặc của Ki Tô Giáo. Kết quả sách lược truyền đạo trên đã được Linh Mục Ernie Bringas tóm tắt trong nhận xét sau đây, Ibid., trg. 18:

"Ki Tô Giáo đã để lại một dấu vết kinh hoàng, khổ sở và chết chóc như đã được ghi trong những trang sử đẫm máu. Và những hiện tượng tàn ác, lố bịch trong sử sách là những thí dụ chủ yếu về một niềm tin bị lạc dẫn, đã được gây ra dưới cái ảo tưởng (đôi khi là cái cớ): đó là sự chỉ đạo của Thượng đế."

(Christianity has left an appalling trail of misery and death as recorded in the bloodstained pages of history. And the cruel, grotesque events they record are prime examples of misguided faith, perpetrated under the delusion (sometimes pretext) of divine guidance.)

Trở lại nhân vật Trần Lục, điều khó hiểu là một nhân vật được ca tụng là thi nhân, nhà đạo đức, kiến trúc sư, vĩ nhân, thánh nhân v..v.. của Việt Nam mà không hề có tên trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm v...v... Phải chăng các nhà viết sử, viết về Văn học Việt Nam đã bỏ quên một thiên tài về đạo đức, văn chương, thi phú Việt Nam? Tôi thực tình không nghĩ như vậy. Đối với người Việt Nam, một tôi tớ hèn mọn, như LM Trần Lục tự nhận, không thể có chỗ đứng trong lòng dân tộc, đừng nói đến chỗ đứng trong sự tôn sùng, ngưỡng vọng của người dân Việt Nam. Thực ra, muốn tìm chân tướng của Trần Lục cũng không khó. Có những tài liệu bên ngoài mà cũng có những sự kiện ngay trong chính cuốn Trần Lục có thể giúp chúng ta nhìn ra chân tướng của Trần Lục. Sau đây, tôi xin làm công việc "lột chân tướng" này bằng phương pháp phối hợp những tài liệu điển hình về Trần Lục. Tài liệu thứ nhất là của Helen B. Lamb trong cuốn Ý Chí Sống Còn Của Việt Nam (Vietnam's Will To Live, 1972), trg. 283:

Ngoài cách đối xử của triều đình, còn có nhiều lý do giải thích sự thất bại của cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đầu. Lý do quan trọng nhất là sự thù nghịch tôn giáo đã trở nên trầm trọng giữa một thiểu số tân tòng Ki Tô Giáo và phần chính của dân tộc Việt Nam. Sự hòa hợp giữa hai khối đối nghịch này thật là cực kỳ khó khăn, và khi cường độ cuộc chiến tăng thì sự liên hệ giữa hai bên trở thành tệ hơn. Những đơn vị thân binh Gia Tô được thành lập bởi người Pháp với sự giúp đỡ của những linh mục Việt Nam như Cha Lục ở tỉnh Phát Diệm....

(Many reasons besides the behaviour of the Court have been advanced to explain the failure of Vietnam's first resistance against France. High on the list is religious animosity, which became very sharp between the small minority converted to Christianity and the main body of the Vietnamese people... Reconciliation between the two antithetic groups was extremely difficult, and as the struggle intensified the relations between them grew worse. Catholic militia units were formed by the French with the help of such Vietnamese priests as Father Luc of Phat Diem province...)

Tài liệu thứ hai là của Sử gia Mark W. McLeod, Giáo sư đại học Gonzaga, người đã ở Paris trong 4 năm để nghiên cứu những tài liệu về lịch sử Việt Nam lưu trữ trong văn khố của Pháp, trong Bộ Truyền Giáo Hải Ngoại v..v.., trong cuốn Phản Ứng Của Việt Nam Trước Sự Can Thiệp Của Pháp: 1862-1864 (The Vietnamese Response To French Intervention 1862-1874). Những đoạn sau đây được lượm lặt từ trg. 114-122:

"Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Gia Tô dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo Gia Tô đã dùng sức lao động (của tín đồ Gia Tô bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người "lương", mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Gia Tô, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua."

(Moreover, the methods of the French officers and their Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a superior morality even by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged labor, resources, and information in return for French assistance in perpetuating summary executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic villages, and pillaging of imperial citadels. )

Một cách trả công khác (của Pháp cho các giáo dân) là cho họ cơ hội tiếp tay với quân đội Pháp đi cướp bóc trong những thành trì bị hạ. Từ Phủ Lý, Balmy viết cho Garnier về hành động của giáo dân: "Ba mươi tín đồ Ki Tô đã được gửi tới để phục vụ chúng ta. Họ đắm mình trong sự cướp bóc thật sự ở trong thành, nhưng chúng ta đừng có mơ mà can thiệp vào."

(...Another form of payment was the windfall opportunity to join the French troops in plundering the conquered citadels. Writing to Garnier from Phu Ly, Balmy implied such was their due: "Thirty Christians have been sent to serve us. They are abandoning themselves to a real pillage in the citadel, but one must not dream of interfering. (Balmy to Garnier, November 1873, ANSOM, Paris, PA 17 (Garnier), Carton 1.))

Có một lần, một linh mục An-Nam thiêu rụi một ngôi Chùa mà không có sự khiêu khích nào. Một lần khác, một giáo sĩ Pháp thản nhiên cầm đầu một toán cướp gồm 300 người để đi đánh nhau theo ý mình.

(Once it was an Annamite minister who burned down, without provocation, a Pagoda. Another time it was a French missionary who was simple enough to have placed himself at the head of a real band of brigands composed of 300 men making war on his own account.)

Tài liệu thứ ba là của Linh Mục Trần Tam Tĩnh, Giáo sư đại học Laval, Québec, Canada, viết trong cuốn Dieu et César, trg. 41-42 (bản tiếng Việt: Thập Giá và Lưỡi Gươm):

"Cho tới khi chết ngày 25 tháng 4/1892, giám mục Puginier đã hoạt động không ngưng nghỉ ngày nào để củng cố địa vị của nước Pháp tại xứ ông đã nhận là quốc gia mới. Người ta còn giữ được mấy chục bản lời ghi chú và những tin tức tình báo có mang chữ ký của ông trong những Văn Khố của Bộ Thuộc Địa. Một phần nhờ vào các tin tức tình báo của ông (giám mục Puginier) mà quân Pháp có thể dẹp tan quân đội kháng chiến của Việt Nam. Trung tâm kháng chiến khốc liệt nhất là ở Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Đó là một làng được tăng cường bởi một vòng đai lũy tre, những ụ kháng chiến, những hầm trú ẩn, và một hệ thống hầm giao thông được xếp đặt một cách tinh vi. Để "bình định" làng này, quân đội Pháp đã kéo tới 2,250 binh sĩ với 25 khẩu đại bác, 4 tàu chiến dưới sự chỉ huy của đại tá Metzinger. Cuộc tấn công của Pháp ngày 18 tháng 12/1886 bị đẩy lui. Quân Pháp bao vây để tìm kiếm một chiến thuật mới. Sung sướng thay cho họ, một sĩ quan trẻ, đại úy Joffre (sau này trở thành thống chế nổi tiếng của Pháp trong đệ nhất Thế Chiến), đã nghĩ đến việc cầu sự trợ giúp của Trần Lục, cha xứ Phát Diệm và là Phó Tướng đặc trách bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tịnh. Trần Lục, được giám mục Puginier ban phước lành, mang 5000 giáo dân Gia Tô đến giúp quân Pháp. Và Ba Đình bị thất thủ."

(Jusqu'à sa mort le 25 Avril 1892, Mgr Puginier ne restait pas une journée sans travailler à affermir la position de la France dans son pays d'adoption. On conserve des dizaines de Notes et renseignements portant sa signature dans les Archives du Ministère des Colonies. Et en partie grâce à ses renseignements, les Francais purent écraser la résistance armée des Vietnamiens. La résistance la plus farouche était menée à Ba Dinh, Thanh Hoa, sous la direction de Dinh Cong Trang. C'étai en apparence un village fortifié avec une ceinture de bambous, des remparts, des tranchées et boyaux de communication savamment disposés. Le moral des combattants était très haut. Pour le "pacifier", les Francais envoyèrent une force de 2250 soldats, 25 canons, 4 canonnières sous le commandement du colonel Metzinger. L'attaque du 18 Décembre 1885 fut repoussée. Les Francais durent l'assiéger et cherchant une nouvelle tactique. Heureusement pour eux, un jeune officier, le capitaine Joffre (qui deviendra le fameux maréchal de France pendant la première guerre mondiale), pensa à demander l'aide du père Tran Luc, curé de Phat Diem et vice-roi pour la pacification des provinces de Thanh Hoa, Nghe An et Ha Tinh. Celui ci avec la bénédiction de Mgr. Puginier vinh à la rescousse des Francais avec 5000 chrétiens. Et Ba Dinh fut pris.)

Trong cuốn Trần Lục chúng ta còn thấy hai sự kiện có thể phối hợp với những tài liệu trên để cho chúng ta có được một nhận định tổng hợp về chân tướng của Trần Lục. Sự kiện thứ nhất do linh mục Trần Văn Kiệm viết, trg. 330:

Trong cuốn Giai Thoại Làng Nho, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc viết: "Họ Phan (Phan Đình Phùng) thấy linh mục (Trần Lục) hay ỷ thế hiếp dân, nên nhân một vụ lộng quyền, ông cho nọc linh mục ra đánh" Tin phi báo về vua Tự Đức. Nhà Vua cho triệu họ Phan về Kinh gấp, khiển trách họ Phan quá nóng nảy, rồi năm sau mới cho họ Phan một chức ngồi chơi xơi nước là chức Ngự Sử Đô Sát Viện."

(Tôi xin nhắc để LM Trần Văn Kiệm rõ: Đô Sát Viện là cơ quan giám sát toàn bộ công việc hành chánh của cả nước, từ triều đình cho tới các địa phương. Cụ Phan đang từ chức Tri Phủ Yên Khánh, Ninh Bình mà được phong lên chức Ngự Sử Đô Sát Viện, một chức trên vạn người, dưới một người (vua), tuyệt đối không phải là để ngồi chơi xơi nước như LM tưởng. TCN).

Sự kiện này rất phù hợp với cùng một sự kiện viết bởi sử gia Đào Trinh Nhất trong cuốn Phan Đình Phùng: Mười Năm Kháng Chiến 1886-1895 Ở Nghệ Tĩnh, nxb Tân Việt, 1957, trg. 19-20. Sự kiện thứ hai là do Đức Ông Trần Ngọc Thụ kể, trg. 18: Ngài là...Ngũ đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp năm 1884, và Tứ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh (cũng của Pháp) năm 1899. Hợp những tài liệu trên lại với nhau chúng ta có thể có một cái nhìn tổng quát về chân tướng Trần Lục với những chi tiết như sau:

1.                         Trần Lục đã giúp Pháp thành lập những đơn vị thân binh để hỗ trợ Pháp trong công cuộc đánh chiếm Bắc Kỳ của Pháp.

2.                         Những toán thân binh này, cùng với giáo dân, luôn luôn theo gót quân đội Pháp để đi cướp bóc trong những thành bị Pháp hạ, cùng đốt làng xóm, chùa chiền vô cớ.

3.                         Trần Lục đã cậy thế Pháp và Gia Tô Giáo để hà hiếp dân chúng, thường là người "Lương", nghĩa là "Tốt", cho nên bị Tri Phủ Yên Khánh ở Ninh Bình (Vùng Phát Diệm) là Phan Đình Phùng nọc ra đánh đòn răn dạy.

4.                         Trần Lục đã dẫn 5000 giáo dân đi hỗ trợ quân Pháp để hạ trung tâm kháng chiến Ba Đình.

5.                         Vì có công lớn với Pháp, nghĩa là có tội lớn với Việt Nam, Trần Lục đã được thực dân Pháp ban thưởng cho hai Bắc Đẩu Bội Tinh.

Hai sự kiện nêu trong cuốn Trần Lục bởi linh mục Trần Văn Kiệm và Đức Ông Trần Ngọc Thụ, phù hơp với sử liệu của Đào Trinh Nhất, thì chắc không còn ai có thể nghi ngờ tính chất khả tín của những sự kiện này. Còn lại ba tài liệu của Helen B. Lamb, Giáo sư sử Mark W. McLeod, và linh mục Trần Tam Tĩnh, những người mà uy tín cá nhân cùng địa vị của họ trong giới học giả Âu Mỹ không cho phép họ viết một cách bừa bãi, không có tài liệu, bằng chứng rõ ràng, do đó sự chính xác của những tài liệu này khó ai có thể phủ bác. Vậy, chúng ta phải kết luận ra sao về những tác giả trong cuốn Trần Lục? Trần Lục, một tôi tớ hèn mạt (lời Trần Lục tự nhận) của Chúa và của những giám mục thực dân như Puginier, Retord, và với thành tích hỗ trợ giặc Pháp phản bội dân tộc, hống hách hà hiếp dân đen v...v.. như vậy mà ngày nay lại được các bậc trí thức Gia Tô như Đức Ông, Linh Mục, giáo sư v..v.. ca tụng là "vĩ nhân", là "thánh nhân", là "danh nhân", là "gương chung cổ để cho người cả nước đời đời soi chung", thì chúng ta phải thấy ngay rằng quan niệm về vĩ nhân, thánh nhân v..v.. của những cái gọi là Đức Ông, Linh mục, Giáo sư v..v.. Gia Tô Việt Nam thật là đặc biệt, khác hẳn quan niệm của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam về những thánh nhân như Đức Thánh Trần Hưng Đạo, những vĩ nhân bất khuất như Trần Bình Trọng, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Thái Học v...v... Điều này cũng dễ hiểu, vì đối với những tín đồ Gia Tô Việt Nam, một Thượng Đế tàn bạo trong Cựu Ước (chuyện Lụt Cả, chuyện Hồng Hải, chuyện giết người không thờ mình v...v..) vẫn được tin là Thượng Đế nhân từ, lòng lành vô cùng; một Giê-su với tâm địa bất thiện trong Tân Ước (chuyện nguyền rủa cây sung, chuyện đuổi quỷ nhập vào bầy heo rồi làm cho cả bầy heo chết đuối, chuyện gọi người đàn bà ngoại đạo đến xin chữa bệnh cho con là chó, chuyện nguyền rủa những người không tin theo mình là rắn rết, phải đày hỏa ngục v..v..) vẫn được tin là Chúa Cứu Thế lòng nhân vô cùng; những kẻ loạn luân, ác đức như Abraham, Isacc, Jacob, Lot hoặc đạo đức thấp kém như David, Solomon v..v.. vẫn được tôn là những bậc Thánh, thì chuyện tôn vinh một linh mục có thành tích bất hủ như Trần Lục là vĩ nhân, thánh nhân v...v.. thì cũng chẳng lấy gì làm lạ. Cho nên, ông Lê Hữu Mục muốn vận động với Vatican (con "quái vật có 7 đầu và 10 sừng", "con điếm nổi danh", "mẹ đẻ của những sự đồi bại "...: Henri Guillemin trong cuốn Cái Giáo Hội Khốn Nạn (Malheureuse Église, 1992: Vatican,.. la "Bête" immonde, "aux sept têtes et dix cornes", la "prostituée fameuse", "la mère des abominations"...) để phong thánh cho Trần Lục thì cứ việc vận động. Nhưng tôi cần khẳng định với ông, đối với tuyệt đại đa số người dân Việt yêu nước thì Trần Lục muôn đời là một vết nhơ không ai muốn nhắc tới. Chúng ta cũng cần đặt câu hỏi, ca tụng Trần Lục bằng những danh từ hoa mỹ, trái ngược hẳn với sự thực như trên thì lương tâm trí thức của các tác giả là ở nơi đâu? Câu trả lời nằm trong câu hỏi. Nhưng không phải các bậc "trí thức" như trên chỉ ca tụng Trần Lục một cách vô trách nhiệm, mà họ còn xuyên tạc, bóp méo những sự kiện lịch sử, ngụy tạo văn kiện để bào chữa cho tội "cõng rắn cắn gà nhà" cùng làm tay sai cho thực dân Pháp của một số tín đồ Gia Tô, khi họ viết về phong trào Văn Thân trong cuốn Trần Lục. Những điều này sẽ được chứng minh với đầy đủ tài liệu trong phần tới.

| à đọc tiếp: Phong trào “Văn Thân” và sự xuyên tạc lịch sử của Lê Hữu Mục |

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com