
3. Văn Thân. Đối với tuyệt đại
đa số người dân Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 cho tới ngày nay, thì Văn
Thân là một phong trào yêu nước kháng Pháp, do các sĩ phu khởi xướng và
được quần chúng ủng hộ. Phong trào Văn Thân thất bại một phần vì khả
năng quân sự yếu kém, nhưng phần lớn là vì trong nước đã có quá nhiều
nội trùng. Dù yếu kém về quân sự nhưng với ý chí cương quyết chống
xâm lăng của toàn dân, phong trào kháng Pháp trên rất có thể thành công,
nếu Pháp không được sự tiếp tay và hỗ trợ đáng kể của một số
không nhỏ tín đồ Gia Tô, như một số tài liệu của Giám mục Puginier cũng
như những tài liệu lấy từ chính văn khố Pháp và Bộ Truyền Giáo Hải
Ngoại Pháp của các sử gia Patrick J. N. Tuck và Mark W. McLeod mà tôi sẽ chưng
dẫn sau đây chứng tỏ. Chúng ta cũng nên để ý, trong cuốn Đạo Thiên
Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam của Cao Huy Thuần và
cuốn Histoire De La Pénétration Francaise au Viet Nam (1858 - 1897) của Nguyễn
Xuân Thọ, hai tác giả trên cũng đã đưa ra khá nhiều chi tiết và thực
chất của phong trào Văn Thân. Trong cuốn Trần Lục,
có ba bài viết bàn tới vấn đề Văn Thân: bài Quan Lại Nhà Nguyễn và
Khâm Sai Trần Lục của LM Trần Văn Kiệm, bài Cụ Sáu Đối Diện Với
Văn Thân của Lê Hữu Mục, và bài Đạo Công Giáo Dưới Triều Vua Tự
Đức của LM Vũ Thành. Bài của Lê Hữu Mục gay gắt nhất, hạ thấp
và mạt sát thậm tệ Văn Thân dựa theo thiên kiến sai lầm và đầy mâu
thuẫn của chính mình. Ngoài ra tác giả còn tung hô một cách huênh hoang, lố
bịch, sai hẳn sự thực, Gia Tô Giáo cùng những người Gia Tô tân tòng mà
thực chất chỉ là tôi tớ hèn mọn của Chúa, hay là tôi tớ hèn mọn của
Vatican. Trước khi đi vào phần chứng minh những nhận định trên, chúng ta
hãy xét đến cách xử dụng tài liệu của các tác giả ba bài trên. Đặc
biệt, tác giả Lê Hữu Mục trích dẫn khá nhiều trong cuốn "Việt "Tác giả Phan
Phát Huồn khẳng định rằng, vào khoảng năm 1865, vua Tự Đức ban một đạo
Dụ trong đó nhà vua tỏ lòng kính ngưỡng sự trung thành của tín đồ Gia
Tô đối với tôn giáo của họ và đối với nước Việt Nam. Nhà vua còn
ghi nhận là chính sách cấm đạo Gia Tô của người là dựa trên sự thiếu
hiểu biết sự thật về thái độ của tín đồ Gia Tô trong những năm chiến
tranh. Một trong những điểm đầu tiên mà Phan Phát Huồn dẫn chứng trong
cái gọi là đạo Dụ đó như sau: Ta phải thừa nhận
rằng, về những người công giáo, dù họ phải đối diện với một hoàn
cảnh vô cùng khó khăn, sự trung thành của họ đối với tôn giáo của họ
và đối với luật lệ quốc gia đã khiến cho chúng ta phải ngưỡng mộ vô
cùng." (Đoạn trên tương
đương với đoạn LM Vũ Thành viết trong cuốn Trần Lục, trang 418:
"Vua ca ngợi người Công giáo: "Các người Công giáo đã trải qua
tình thế khốn khổ nhất tuy nhiên vẫn trung thành với đạo và cũng trung
thành với triều đình. Triều đình không thể không khen ngợi và ghi nhận
điều đó...") "Nếu tài liệu
này đúng là một đạo Dụ của nhà vua, thì đó là một bằng chứng chắc
chắn cho sự khẳng định của Phan Phát Huồn là thái độ của vua Tự Đức
đối với các tín đồ Gia Tô đã thay đổi sâu xa trong những năm sau hòa
ước 1862. Tuy nhiên, tính chất xác thực của tài liệu này thật đáng
nghi ngờ. Những ý tưởng trong đó không tiêu biểu cho thái độ của vua Tự
Đức biểu hiện trong những tài liệu của chính nhà vua trước thời chiến
và trong thời chiến, khiến cho Phan Phát Huồn phải vác một gánh nặng chứng
minh sự xác thực của tài liệu này. "Điều này Phan
Phát Huồn đã không làm được; tác giả không đưa ra xuất xứ của tài
liệu, và ngày tháng ban bố đạo Dụ này chỉ là vài lời mơ hồ không
chính xác "sau khi khám phá ra âm mưu của giới sĩ phu" mà có lẽ
tác giả ám chỉ những cuộc nổi loạn ở trường thi năm 1864. Nhiều thành
ngữ sai lạc và không phù hợp với nền văn hóa của Việt ""Công"
có thể có nghĩa là "chung, thông thường", "công cộng",
"chính thức", hay "mở ra cho mọi người". Từ này được
những tín đồ Gia Tô mới dùng đây để gọi Gia Tô giáo vì, như là một
tôn giáo đi truyền đạo có tính cách quốc tế, không phải là riêng biệt
cho nhóm văn hóa hay quốc gia nào. Nghĩa này mâu thuẫn với sự nhận thức
chính thức của triều đình về Gia Tô Giáo, một tôn giáo bị coi như là
"một tà đạo" đặc thù của nền văn hóa các nước Tây phương
và gắn bó chặt chẽ với sự xâm lược quân sự vào Việt Vì Phan Phát Huồn
không đưa ra xuất xứ cũng như ngày tháng ban bố của tài liệu này, các
độc giả của ông phải tự mình đi kiếm lấy xem cái tài liệu kỳ cục
đó từ đâu mà ra... Thật là một điều nguy hiểm nếu chúng ta tin vào
tính cách xác thực của cái tài liệu bằng tiếng Việt mà Phan Phát Huồn
gọi đó là một đạo Dụ của vua Tự Đức." (...In about 1865, the
author Phan Phat Huon asserts, Tu Duc issued an edict in which he declared his admiration
for the Vietnamese Catholics' fidelity both to their religion and to the Vietnamese State.
The Emperor further acknowledged therein that his former policies of interdiction of
Catholicism had been based on his own ignorance of the reality of Catholic behavior during
the war years. On the first of these points Phan Phat Huon's citation of the
alleged edict reads as follows: "As for the Catholics
I must admit that, although they were faced with an extremely difficult situation, their
fidelity both to their religion and to the laws of the country has earned boudless
admiration" ...Were this document a
veritable imperial edict, it would constitute conclusive proof of Phan Phat Huon's
assertion that the Tu Duc Emperor's attitude toward the Vietnamese Catholic underwent a
profound transformation during the years following the 1862 treaty. Yet the authenticity
of the document is questionable. The ideas expressed therein are uncharacteristic of the
Tu Duc Emperor's attitutdes as they can be seen in pre-war and wartime documents of his
certain authorship, which obliges Phan Phat Huon to meet a heavy burden of proof. This he
does not do; he cites no source for the document, and the only date is the imprecises
"after the discovery of the sholars' plot," by which he perhaps means the
examination field rebellions of 1864. Several linguistic anomalies and cultural
incongruities further render the document suspect. To treat only the most stiking, the
document's author refers to Catholicism as cong giao and to the Vietnamese Catholics as
nguoi cong giao, the connotations of which must be examined. Cong can be translated as
"common," "public," "official," or "open to all".
It is used by modern Vietnamese Catholics to designate the doctrine (giao) of Catholicism
because, as an international proselytization religion, it is not particular to any
cultural group or nation. This meaning stands in contradiction with the 19th-century
official perception of Catholicism, which considered it to be "a heterodox
doctine" culturally specific to Western countries and inextricably associated with
their military aggression against Since Phan Phat Huon
provides no source citation or precise date, his readers are left to discover for
themselves whence came this curious document...It would be dangerous to place much
credence in the genuineness of the Vietnamese-language document presented by Phan Phat
Huon as an edict by Emperor Tu Duc.) Sự phân tích của
giáo sư Mark W. McLeod ở trên cho chúng ta thấy LM Phan Phát Huồn đã ngụy tạo
văn kiện một cách thiếu thông minh để biến một tập đoàn phản bội
dân tộc thành một đoàn thể yêu nước. Do đó, những tài liệu mà các
tác giả trong cuốn Trần Lục trích dẫn từ cuốn VNGS của Phan Phát Huồn
cùng những tài liệu của các tác giả Gia Tô viết với cùng mục đích như
Phan Phát Huồn là những tài liệu không thể tin được, vì chúng không có
giá trị trí thức nào. Thật vậy, không phải
chỉ có ngụy tạo văn kiện, mà Phan Phát Huồn còn bịa đặt ra nhiều
chuyện vô lý khác như chúng ta sẽ thấy trong nhận định của một nữ trí
thức trẻ. Cách đây 6 năm, ngày 10 tháng 8 năm 1993, Karen Bui ở San
Jose đã đưa lên diễn đàn điện tử Vietnet cho giới trí thức trên toàn
thế giới đọc nhận định sau đây về cuốn VNGS của Phan Phát Huồn: "LM Phan Phát Huồn
viết cuốn VNGS chẳng với một chủ đích nào khác hơn là xuyên tạc lịch
sử để chạy tội đã giúp quân Pháp xâm chiếm Việt Nam của các thừa
sai Pháp và giáo hôi Thiên Chúa Giáo Việt Nam. Bằng giọng điệu
hận thù, ganh ghét, ngạo mạn, kiêu căng, LM Huồn đã nhục mạ vua Minh Mạng,
Thiệu Trị, Tự Đức; vu khống bôi nhọ các tu sĩ Phật Giáo và đồng bào
bên lương, lên án phong trào "Bình Tây Sát Tả" của giới sĩ phu
Văn Thân, xuyên tạc cuộc cách mạng của những anh hùng áo vải Tây Sơn... Kể lại hàng trăm
câu chuyện người Thiên Chúa Giáo bị bách hại, nhiều khi còn bi thảm
hóa câu chuyện đến độ khó tin, nhưng tuyệt nhiên không hề tiết lộ một
mảy may những hành động phản quốc của người Thiên Chúa Giáo, những
người đã cấu kết với thực dân Pháp bán nước cho giặc ngoại xâm,
áp bức dân lành, mở mang nước Chúa một cách hung hãn, nô lệ hóa cả
dân tộc dưới bàn chân sắt của quân viễn chinh Pháp hòng thực hiện
tham vọng biến Việt Nam thành một nước Thiên Chúa Giáo con dân nước Pháp
tại phương Đông. ...Có người cho rằng
người Thiên Chúa Giáo xử dụng chữ Công Giáo là vì chữ này được dịch
từ chữ Catholicism mà ra chứ không phải chủ ý cho Thiên Chúa Giáo là quốc
giáo. Nhưng có thể nói
ý đồ đó đã biểu hiện một cách lộ liễ qua cách đặt tên cho một cuốn
sách mà nội dung hoàn toàn nằm trong phạm vi Thiên Chúa Giáo. VNGS là một
tập tài liệu ngụy sử về giáo hội Thiên Chúa Giáo nhưng tác giả tự
phong lịch sử đó là lịch sử Việt nam giáo (phần đề Tựa). Đạo Phật vào Việt
Nam gần 2000 năm, thăng trầm theo vận mệnh dân tộc, dựng nước và giữ
nước, đóng góp bao nhiêu cơ nghiệp cho tiền đồ của dân tộc mà còn chưa
giám hồ đồ tự xưng là Việt Nam Giáo - huống chi một giáo hội hiện
còn lệ thuộc vào ngoại bang là Tòa Thánh La Ma - chưa kể đến lịch sử
ô uế bán nước cho giặc ngoại xâm mà còn dám lộng ngôn, lộng ý, gọi
tôn giáo mình là Việt Nam Giáo. ... Và kể từ ngày
quyển VNGS ra đời (1962), hơn 30 năm qua, đã không có một phản ứng xây dựng
từ phía tập thể Thiên Chúa Giáo thì chớ mà quyển sách này còn được
nằm trong danh sách tài liệu tham khảo của rất nhiều sách báo Thiên Chúa
Giáo. Điều đó có nghĩa là hầu như tự bản chất người Thiên Chúa
Giáo, họ đã mang một tâm thức coi tôn giáo (của 7% dân chúng. TCN) là quốc
giáo... ...Có thể nói VNGS
là một sản phẩm tiêu biểu cho một tâm hồn bệnh hoạn, một đầu óc
vong bản, thái độ, cung cách hành xử còn lệ thuộc ngoại bang, chưa thoát
ra được quá khứ "cõng rắn cắn gà nhà". Tôi tự hỏi, phải chăng
các tác giả viết cuốn Trần Lục với chủ đích xuyên tạc, bóp méo lịch
sử để lừa dối và lạc dẫn giới trẻ, cũng như ông Lê Hữu Mục vừa
giảng vừa giết Kiều trong cuốn Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ, giải thích rằng
từ "dập dìu" trong câu "Dập dìu tài tử giai nhân" có nghĩa
là trai gái lượn đi lượn lại quanh nhau, nghĩa là khiêu vũ, và đưa ra một
điều hoang tưởng: Cụ Nguyễn Du phải đọc Thánh Kinh mới viết nổi một
đoạn trong truyện Kiều. Nếu thực vậy thì các tác giả cuốn Trần Lục
sẽ thất vọng, vì giới trẻ ngày nay, ở nước ngoài cũng như ở trong
nước, không phải là những giáo dân sống trong những ốc đảo ngu dốt
(từ của LM Trần Tam Tĩnh), mà là những người đã tiếp xúc với nền văn
minh tiến bộ của nhân loại, trong đó có đầy đủ tài liệu xác thực
nhất về bất cứ vấn đề gì. Nền văn minh này, qua nhiều thế kỷ,
trên thực tế đã xua đi bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã (Dr.
Barnado: The thick darkness of Romanism), đồng thời giúp cho người dân Việt
Nam, cũng như đã giúp cho hàng triệu người dân trên thế giới, nhất là
ở trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nhận biết rõ bản chất
thực sự của Gia Tô giáo, do đó thoát ra khỏi vòng u mê tăm tối trí thức
của một ý thức hệ đã lỗi thời. Tiếp nối chủ trương
xuyên tạc và bóp méo lịch sử để chạy tội hợp tác với thực dân
Pháp của Gia Tô giáo trong quá khứ, đi theo vết chân của Phan Phát Huồn,
các tác giả trong cuốn Trần Lục cũng đưa ra những lý luận mơ hồ, yếu
ớt với cùng một mục đích. Điển hình là Linh mục Trần Văn Kiệm đã
khẳng định: "..người Thiên Chúa Giáo đâu có phản quốc, họ đâu
có theo kẻ xâm lăng (trg. 322)" và đổ tội cho triều đình nhà Nguyễn
về tội mất nước: "...cái vạ nước
ta mất vào tay người Pháp phải quy cho các vua nhà Nguyễn và quần thần.
Đâu có phải do người Thiên Chúa Giáo bán nước (trg. 323)", và ông
Lê Hữu Mục cũng viết: Đổ tội cho đạo Công Giáo đã cố í tạo ra những
vụ hỗn loạn ngoài Bắc để giúp thực dân Pháp dễ dàng bắt buộc Tự
Đức phải kí hàng ước ô nhục năm 1862 là đã hiểu sai lịch sử, lầm
lẫn quân xâm lăng với những hành động đàng hoàng của Giáo hội Công
giáo. (trg. 376) Trong cuốn Công Giáo
Chính Sử, chương 8, tôi đã trình bày tạm gọi là đầy đủ nguyên nhân
việc cấm đạo, và mức độ hợp tác của người Gia Tô với thực dân
Pháp, với những tài liệu chính xác nhất, phần lớn của các học giả,
sử gia ngoại quốc, những người không có một lý do nào để vu khống
Gia Tô Giáo. Ở đây tôi sẽ không đi vào chi tiết của những chủ đề này,
mà chỉ đưa ra vài tài liệu điển hình để phủ bác luận cứ của LM Trần
Văn Kiệm và của Lê Hữu Mục. Trước hết là một
tài liệu của Giáo sư sử Mark W. McLeod, Ibid., viết về cuộc xâm lăng
của Garnier tại Bắc Kỳ như sau: Hầu hết các tác
giả Tây phương khi bàn về cuộc Bắc xâm của Garnier đã có thể phanh
phui ra sự kết nối giữa Dupré, Dupuis, và Garnier. Tuy nhiên, không có một
tác giả nào làm sáng tỏ đủ sự kiện Dupré kêu gọi sự trợ giúp của
các thừa sai Gia Tô là một thành phần chủ yếu cho âm mưu của ông ta để
moi cho bằng được những nhượng bộ từ triều đình Huế. Nghiên cứu
chi tiết những văn thư liên lạc giữa Dupré, Garnier, và các thừa sai Gia
Tô, chúng ta thấy rằng Dupuis đã dàn xếp để cho tín đồ Gia Tô hỗ trợ
những hành động xâm lược của Garnier trước khi sự xâm lược bắt đầu. (Most of the Western
authors treating the (Garnier) affair have been able to uncover the linkage between Dupré,
Dupuis, and Garnier... However, none of the authors has clearly shown that Dupré's
appeals to the Catholic missionaries were an integral component of his plot to extort
concessions from Vậy thì Giáo hội
Công giáo đàng hoàng ở chỗ nào? Mặt khác, sử sách đã ghi rõ,vua Tự Đức
gặp rất nhiều khó khăn nội bộ, phần lớn là do những cuộc nội loạn
ở ngoài Bắc do các giáo sĩ Gia Tô xúi giục cùng xách động giáo dân.
Ông Lê Hữu Mục cần sang Pháp để kiểm chứng những tài liệu trước
được giữ kín nhưng nay đã mở ra cho mọi người tự do nghiên cứu này. Vấn đề tiếp theo chúng
ta cần phải bàn luận là: người Thiên Chúa Giáo có phản quốc, có bán nước,
có theo kẻ xâm lăng không? Câu trả lời nằm trong một văn kiện có tính
cách khẳng định sau đây của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn
trong cuốn Đạo Gia Tô và Các Xã Hội Á Châu (Catholicisme et Sociétés
Asiatiques) của Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi: "Giám Mục
Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì
người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ
như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh
mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp
sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một
ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với
ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng
không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa
thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi
được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi
và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại." (Sans les missionnaires et
les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on
aurait cassé toutes les pattes. La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de
justesse et de force. En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se
verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient
que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se
trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à
des vrais désastres. Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient
forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.) Mong LM Trần Văn Kiệm
cho vài ý kiến về văn kiện trên của Giám Mục Puginier, người cầm đầu
giáo xứ Gia Tô Bắc Kỳ và biết rõ hơn ai hết vai trò của Giáo dân Việt
Nam trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Nhưng không phải chỉ có một
văn kiện của Giám mục Puginier nói lên vai trò của tín đồ Gia Tô đưa
đến việc mất nước, mà còn nhiều tài liệu khác trong văn khố nước
Pháp cũng đều chứng tỏ sự kiện này. Nếu LM Kiệm vì bận công việc mục
vụ nên không có thì giờ đọc sách thì tôi xin đọc giúp ông, miễn phí,
một số tài liệu khác. Thật vậy, sự hợp
tác và làm tay sai cho quân xâm lăng Pháp của những tín đồ Gia Tô Việt "Vai trò của những
tín đồ Gia Tô trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha là
gì?..Sự thực là, theo những tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp thì,
ngay từ tháng 9, 1858, nhiều toán tín đồ Gia Tô Việt Nam đã tới liên lạc
với những đoàn quân chiến đấu của Tây phương. Rigauld de Genouilly (tướng
chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng; TCN) đã họp họ lại
thành hai chi đội và huấn luyện họ trong một doanh trại ở Tiên Trà. Một
trong hai chi đội trên chiến đấu sát cánh với quân Pháp - Tây Ban Nha ở
Đà Nẵng, còn chi đội kia di chuyển xuống miền Nam, dự phần chiếa đấu
trong cuộc xâm lược "lục tỉnh" và họ đã dự trận Kỳ Hòa.
Sau trận Kỳ Hòa, những lính chiến đấu Gia Tô Việt Nam đã phục vụ những
người Tây phương ở Đà Nẵng tiếp tục phục vụ người Pháp, làm lính
chiến, thông ngôn, cu-li và thám báo, trong những vùng chiếm được ở miền
Nam. Vì những dịch vụ này, họ được Đô Dốc - Toàn Quyền de la
Grandière ban thưởng cho một số đất quanh vùng Sài-gòn. Trong cuộc xâm lược
của liên quân Pháp - Tây Ban Nha từ 1858 đến 1862, những biện pháp cấm
đạo của Vua Tự Đức càng ngày càng khắc nghiệt và dễ hiểu. Đó
chính là vì Triều đình Huế tin rằng những tín đồ Gia Tô Việt .. Theo quan niệm của
Vua Tự Đức thì sự khắc nghiệt của những đạo Dụ cấm đạo trong thời
chiến rất là chính đáng, vì những tín đồ Gia Tô Việt ...Với những tài
liệu hiện hữu, chúng ta chỉ có thể kết luận là triều đình nhà Vua
tin rằng những tín đồ Gia Tô đã giúp đỡ quân đội Pháp và Tây Ban
Nha, và triều đình không hẳn là hoàn toàn sai lầm trong nhận thức này.
Do đó, những đạo Dụ chống Gia Tô quá khắc nghiệt của Vua Tự Đức
trong thời chiến chỉ nhằm mục đích ngăn ngừa tín đồ Gia Tô bản xứ
khỏi phối hợp cới những lực lượng xâm lược." (What was the role of the
Vietnamese Catholics during the Franco-Spanish invasion?... In fact, French
archivalsources show clearly that, as early as September 1858, groups of Catholics began
to reach the embattled European armies. Rigauld de Genouilly formed the men into two
indigenous detachments and trained them at a camp at Tien Cha. One of these detachments
fought alongside the Franco-Spanish soldiers at Da-nang; the other went southward to
participate in the invasion of the "luc tinh" and fought in the battle of Ky
Hoa. After the battle of Ky Hoa, the indigenous Catholics militamen who entered the
service of the Europeans at During the Franco-Spanish
invasion of 1858-1862, the Tu Duc Emperor's interdictions of Catholicism grew increasingly
severe and comprehensive. This was primarily because the The wartime edicts were
thus largely directed to the problem of preventing the Vietnamese Catholics from
communicating with the Franco-Spanish forces. An edict of May 1859, for example, stated
that, upon hearing of the fall of the Saigon citadel, the Vietnamese Catholics of the
south were taking advantage of the situation in order to terrorize the "luong"
or "good" (that is, non-Catholics) people and to serve as "lackeys and
spies for the Westerners". ... The severity of the
wartime edicts was justified, in the emperor's opinion, because the Catholics had
"brought the Westerners into the country." ...With the existing
documentation it can only be concluded that the imperial court believed that the Catholics
were aiding the French and Spanish troops and that the court was not entirely wrong in
this perception. Accordingly, the Tu Duc Emperor's wartime anti-Catholic edicts reached
new extremes of severity primarily in order to keep the indigenous Catholics from
linking with the invading forces.) Lại nữa, đọc lại
lịch sử Việt "Bản chất và
mức độ hỗ trợ những đoàn quân viễn chinh Pháp của những tín đồ
Gia Tô là như thế nào? Những thư từ liên
lạc và phúc trình của Balny và Harmand. được Garnier phái đi chinh phục
nhiều tỉnh lỵ và những điểm trọng yếu trong miền đồng bằng, cho chúng
ta thấy một kiểu hỗ trợ đáng kể của những tín đồ Gia Tô bao gồm -
nhưng không chỉ giới hạn ở - những nhiệm vụ hành chánh và quân sự.
Những nguồn tài liệu này cũng cho chúng ta thấy một kiểu xoay sở lẫn
nhau giữa các sĩ quan Pháp và các thừa sai Gia Tô với kết quả là những
kẻ "tình nguyện" thường cũng được lợi bằng hay hơn những sĩ
quan Pháp. ... Để giúp chúng
ta hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xét tới những hành động của Balny tại Phủ
Lý và Hải Dương và của Harmand ở Nam Định, và nhấn mạnh đến sự liên
hệ giữa Bộ Truyền Giáo Gia Tô và các lực lượng quân sự Pháp. Sự
phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào
những cứ điểm của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được
một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ
Gia Tô Việt Nam. Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những
cộng tác viên Gia Tô dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao
theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ
truyền giáo Gia Tô đã dùng sức lao động (của tín đồ Gia Tô bản xứ;
TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để
thực hiện sự tàn sát liên miên người "lương", mạo phạm những
công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Gia Tô,
và cướp bóc những thành phố của nhà Vua. Sự cộng tác với chủ nghĩa
đế quốc Pháp của những tín đồ Gia Tô thường không được các sử
gia nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp
phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ." (What was the nature and
extent of the assistance that the Catholics brought to the French expedition? The correspondence and
reports of Balny and Harmand, who were dispatched by Garnier to obtain the submission of
many of the provincial citadels and strongpoints of the delta, reveal pattern of
significant Catholic assistance that included - but not limited to - formal administrative
and military duty. These sources further reveal a pattern of mutual manipulation by French
officers and Catholic missionaries in which the "volunteers" often had as much
or more to gain from the relationship as did the French officers. ... It is useful to
consider Balny's actions at Phu Ly and Hai-duong and Harmand's at Nam-dinh with an
emphasis on the relationship between Catholic Missions and the French forces. The analysis
reveals that the French were far from alone in their attacks on the loci of Vietnamese
authority because the invaders received a significant level of support from the
missionaries and the Vietnamese Catholics. Moreover, the methods of the French officers
and their Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a superior
morality even by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged
labor, resources, and information in return for French assistance in perpetuating summary
executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic
villages, and pillaging of imperial citadels. This Catholic collaboration with French
imperialism has not been adequately recognized by historians, but it was a significant
contributing factor to the French success in Nghiên cứu những văn
thư của các sĩ quan Pháp dưới quyền Garnier - đặc biệt là báo cáo của
Jules Harmand - cho chúng ta thấy rõ là sự hỗ trợ cuộc viễn chinh (của
Pháp) của các tín đồ Gia Tô rất đáng kể. Theo Harmand thì sự hợp tác
của Gia Tô là một yếu tố chủ yếu cho sự xâm chiếm thành công của
Pháp vì đại đa số người dân Việt (The examination of the
writings of the French officers under Garnier - particularly the report of Jules Harmand -
revealed that Catholic support for the expedition was significant... According to Harmand,
Catholic collaboration was an essential factor in the success of the French occupation
because the majority of the Vietnamese population was hostile to the French intrusion. The
Catholics, however, were eager to bring their aid to the French force - for a price.) Đối với Harmand, sự
cộng tác của người Gia Tô là điều không có không được (sans quoi, non)
để cho Pháp thành công: "Điều chắc chắn là những tín đồ Ki Tô đã
tận lực giúp chúng ta, trong trường hợp đặc biệt của tôi (Harmand), họ
đã giúp tôi hoàn thành dễ dàng nhiệm vụ mà Ông Garnier đã trao phó cho
tôi. (For Harmand, Catholic
collaboration was a SINE QUA NON for French success: "It is certain that the
Christians have performed for us great services; in my particular case they have greatly
facilitated the task Monsieur Garnier set for me." Những tài liệu chưng
dẫn ở trên khiến cho ta không còn nghi ngờ gì nữa là sự thành công của
Pháp tại Bắc Kỳ phần lớn là do sự phụ giúp của các giáo xứ Gia Tô. (The documentation cited
above...leaves little doubt that French success in the Qua một số tài liệu
vừa nêu ở trên, vấn đề người "Thiên Chúa Giáo" có phản quốc,
có bán nước, có theo kẻ xâm lăng không?, với câu trả lời dứt khoát
"Có", nay đã được chứng minh rõ ràng, không còn vương chút
bóng tối nghi ngờ nào nữa (without a shadow of doubt). Chúng ta hãy sang phần
khác trong chủ đề Văn Thân qua những nhận xét của ông Lê Hữu Mục, người
mà trong tiểu sử được giới thiệu là Khôi nguyên kỳ thi Tiến sĩ tại
đại học Văn Khoa Saigon năm 1970 (Tôi xin nhắc ông Lê Hữu Mục rằng: bằng
Tiến sĩ ở đại học văn khoa là do một ban giám khảo quyết định khi một
thí sinh trình luận án tiến sĩ về một đề tài nào đó, không phải là
một kỳ thi tuyển có nhiều người dự, cùng viết về một đề tài, mà
có người đỗ đầu (khôi nguyên). Ngày xưa, có Thi Hương, Thi Hội (Kinh đô),
Thi Đình (Sân Vua). Chỉ có những thí sinh đậu cử nhân ở Thi Hương mới
được dự Thi Hội và Thi Đình, nơi đây học vị Tiến sĩ mới có nhiều
cấp độ: Tiến sĩ đệ nhất giáp gồm Trạng nguyên (đỗ đầu), Bảng Nhãn,
Thám Hoa; Tiến sĩ đệ nhị Giáp: Hoàng giáp; Tiến sĩ đệ tam giáp: Đồng
Tiến sĩ. Năm 1970 không có sân vua, chỉ có sân dinh Độc Lập mà ông đội
Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống miền Ông "Trạng"
Lê Hữu Mục nhận xét về các Văn Thân như sau: Văn thân chỉ dừng
lại ở học vị Tú Tài, nghĩa là chỉ mới bước những bước đầu tiên
chập chững vào trường thi.. Các ông này vì chưa có địa vị rõ ràng
nên hay hiếu thắng, lấn lướt, quyết định vội vàng nhiều khi thiếu
suy nghĩ chín chắn. (trg. 346) Tôi xin nói thêm về
đời sống nghèo khổ của các ông tú, về những nỗ lực của họ để
thoát khỏi cảnh sống tù túng, lòng ganh ghét đầy thù hận của họ đối
với đạo Công giáo nói chung và với các vị thừa sai Âu châu nói riêng
vì chính đạo này cũng như những người theo đạo đã dìm họ lún sâu
vào đời sống nghèo nàn vô vị của họ. (trg. 348) Hoàn cảnh của những
ông tú như ông (Trần Tế Xương) thật đáng thương, không biết làm gì để
sống nhưng lúc nào cũng lo sợ bị khinh, bị coi thường mặc dầu chính
mình cũng tự biết là không có gì để cho người ta kính trọng cả. (trg.
355) Đó là Văn Thân theo
quan điểm của ông "khôi nguyên kỳ thi Tiến sĩ năm 1970 ở Sài gòn"
Lê Hữu Mục. Ông tiến sĩ này chê các văn thân "chỉ dừng lại ở
học vị Tú Tài", nghĩa là trong những Văn Thân, không có ai học
quá Tú Tài. Do đó, những người như Tiến Sĩ Phan Đình Phùng cũng như nhiều
vị quan cao cấp khác trong triều đình không được kể là Văn Thân. Ông
Lê Hữu Mục làm ơn làm phước xem lại cái bằng tiến sĩ của ông cho
thiên hạ nhờ. Theo tự điển Hán Việt
của Nguyễn Văn Khôn thì Văn Thân là giới Sĩ Phu, giới trí thức trong nền
Nho học khi xưa. Theo tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì Văn Thân là
những người lấy văn học tiến thân mà ra đời. Hai định nghĩa này
không quy định bằng cấp vì trong lịch sử Việt Tệ hơn nữa, ông Lê
Hữu Mục có vẻ dè bỉu chê bai giới Văn Thân là nghèo khổ và ông rất
hãnh diện khi viết rằng "chính đạo (Công giáo) này cũng như
những người theo đạo đã dìm họ (Văn Thân) lún sâu vào đời sống
nghèo nàn vô vị của họ." (trg. 348). Ông viết câu này mà không ngờ
rằng chính câu trên đã cho chúng ta thấy cái bản chất tà đạo của Công
giáo. Thật vậy, một cái đạo mà cả đạo lẫn người đi đạo đã dìm
sâu một lớp người vào đời sống nghèo nàn vô vị thì thực chất chẳng
qua chỉ là một tà đạo, nó như một tế bào ung thư có tác dụng phá hủy
dần dần thân thể xã hội Việt Nam, như sẽ được chứng minh trong một
phần sau. Cho nên, các vua triều Nguyễn cũng như giới Văn Thân coi nó là một
tà đạo tưởng cũng không phải là vô lý. Mặt khác, ông Lê Hữu Mục viết
câu trên mà không nghĩ rằng mình đang mạ lỵ Chúa Giê su. Vì Chúa cho rằng
chỉ có người nghèo mới vào được nước Chúa, còn người giàu thì vào
nước Chúa còn khó hơn là con lạc đà chui qua lỗ kim. Chắc ông Lê Hữu Mục
chưa từng đọc Thánh Kinh nên ông dè bỉu những người nghèo khổ mà
không biết rằng chính Chúa cũng là một người nghèo khổ, con của một
ông thợ mộc, sinh ra trong một máng cỏ, suốt đời chẳng làm được gì
khấm khá, nên Chúa rất hận người giàu. (Luke 6: 20: Blessed are you poor, For
yours is the Vậy thực chất ảnh
hưởng của Văn Thân đối với quần chúng ra sao? Trong luận án tiến sĩ Đạo
Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Trước lời kêu gọi
của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết văn thân hưởng ứng đông đảo. Là
những nhà ái quốc nhiệt thành, tự ý không chịu làm quan cho một triều
đình đầu hàng giặc, có một uy tín lớn lao đối với người nông dân
mà họ sống chung đụng với, đa số họ là những người nghèo; thật sự
văn thân đại diện, theo chữ dùng của de Lanessan là "đảng dân tộc"
(parti national) và trở thành những người dấy khởi cuộc kháng chiến
ngày càng rộng lớn. Do văn thân lãnh đạo,
cuộc kháng chiến ngày càng được toàn thể dân chúng (trừ những tín đồ Gia Tô làm tay
sai cho địch. TCN) ủng hộ một cách rộng rãi, tổ chức thật phi thường... Mặt khác, nếu thực
chất của văn thân chỉ như ông Lê Hữu Mục viết ở trên thì tại sao
Giám mục Puginier lại đòi tiêu diệt cho bằng được giới văn thân?
Tài liệu sau đây trong cuốn Những Thừa Sai Gia Tô Pháp và Chính Trị Đế
Quốc ở Việt Nam, 1857,-1914, Một Khảo Luận Qua Các Tài Liệu (French
Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914, A Documentary
Survey; 1987) của Patrick J. N. Tuck, có thể cho chúng ta rõ thực chất của
Văn Thân: Tài liệu số 120:
Giám mục Puginier đối với giới Văn Thân. Điều rất rõ ràng
là sự thù nghịch của Giám mục Puginier đối với giới sĩ phu trước hết
bắt nguồn từ cái đạo Gia Tô của ông ta. Do đó tôi đã lưu ý ông ta
là giới sĩ phu phải biết đến những thừa sai đã có những cảm nghĩ gì
về họ: họ có thể nghĩ rằng các viên chức Pháp cũng có cùng những cảm
nghĩ như vậy vì là đồng đạo với các thừa sai, đưa đến việc các sĩ
phu nhận thức về tương lai của giới văn thân. Chỉ điều này cũng đủ
để cho họ trở thành kẻ thù của nước Pháp.. Tôi nói thêm rằng những
sĩ phu có thể có thái độ khác nếu chúng ta đối xử với họ cho xứng
đáng, họ có quyền mong đợi như vậy, bằng cách kính trọng tôn giáo,
phong tục và truyền thống hành chánh của họ. Nói tóm lại, thay vì theo
con đường không thực tế và nguy hiểm là đe dọa và đàn áp họ, chúng
ta nên đối xử với họ tử tế và bảo đảm tương lai của họ. Không có môt lời
nói nào của tôi có một ảnh hưởng. Tôi gặp một sự đáp ứng khó giải
quyết và cuộc trao đổi ý kiến cũng như bữa cơm chiều được kết thúc
bằng một lời đáp quyết liệt: "Phải dẹp họ đi (Văn Thân)." Vấn đề là, ở An
Nam cũng như ở Trung Hoa, giới sĩ phu đại diện cho giai cấp cai trị trong
quần chúng. Vì học vấn cũng như địa vị ưu tú của họ trong xã hội,
họ rất gắn bó với luật lệ, phong tục và tôn giáo của xã hội họ. Vậy,
lẽ tự nhiên là họ cảm thấy khó chịu khi những người nước ngoài
không ngớt tấn công vào mọi thứ mà họ tôn kính, những thứ lập thành
căn bản quyền lực của họ. Kết quả là, các thừa sai đừng có mong mà
cải đạo họ. Sự thực là, trong hơn hai thế kỷ mà các công cuộc truyền
giáo Gia Tô hoạt động ở Trung Hoa cũng như ở bán đảo Đông Dương, có
thể tổng cộng không quá mười sĩ phu theo đạo. Toàn bộ giới có học
và quan lại trong quần chúng đã tránh né sự truyền đạo này. Và họ
khó mà có thể làm khác được, vì theo đạo Gia Tô thì họ sẽ mất đi
vai trò chỉ đạo tinh thần và sẽ bị đại đa số trong xã hôi khinh khi. Đại cương thì những
thừa sai Gia Tô chỉ có thể tuyển mộ tín đồ trong những giai cấp thấp
nhất, và phần chính là trong những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị
xã hội An-Nam ruồng bỏ. (It seemed very clear that
the hostility of Bishop Puginier towards the scholars was above all inspired by his
Catholicism. So I remarked to him that the scholars must know how the missionaries felt
about them: they might think that the French officials felt the same way since they shared
the same religion, and that in consequence the scholars must have developed real
apprehensions about their own future as a class. It required no more than this to turn
them into enemies of Nothing that I said had
any effect. I met with an intractable response and both the conversation and the diner
ended with this final reply: "They must be suppressed". Now, in ..In general Catholic
missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for
various reasons have been rejected by Annamese society (J. L. de Lanessan, "Les
Missions et Leur Protectorat", Paris, Alcan, 1907, pp. 40-43) Tại sao giới Văn Thân
lại không chịu cải đạo? Bởi vì, tuy nghèo khổ, nhưng họ đã thấm nhuần
tư cách của người quân tử: "Bần tiện bất năng di", nghèo khổ
nhưng lòng không thay đổi, không như những kẻ hạ tiện, vì một vài cái
mồi vật chất nhỏ mọn và một cái bánh vẽ trên trời mà đã vội vàng
bỏ cả mồ mả, ông bà, tổ tiên. Chúng ta thấy rằng
tài liệu trên của Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan đã cho chúng ta
biết bộ mặt thực của giám mục Puginier cũng như thực chất công cuộc
truyền đạo ở Việt Tình trạng về chiều
của Tống nho kéo dài đến hết thời Tự Đức, càng ngày càng trở nên lạc
lõng, phản động, xa rời thực tế và quần chúng, và hoàn toàn bất lực
khi phải đối diện với Công giáo để giải quyết những vấn đề chính
trị quốc tế...Tất cả mọi khó khăn họ chỉ giải quyết bằng cách đổ
tội cho người Công giáo (trg. 352) Nói cho đúng, đạo
Công giáo là đạo của tiểu nhân, nói theo từ ngữ của các nhà nho, chỉ
khác một điểm lá các tiểu nhân ấy, một khi nhận lãnh ân sủng của
Thiên Chúa, lại có khả năng trở thành thánh nhân như Chúa... Đạo Công giáo còn
là đạo của đàn bà trẻ con... Chúa phán: "Ai không nên như trẻ con
thì không được vào nước thiên đàng." (trg. 355) Giải phóng và thăng
tiến phụ nữ (luật cấm đa thê của Gia Tô. TCN) là dẹp bỏ nghề coi tử
vi của họ (văn thân), nghề xem đất đai, xem ngày lành tháng tốt của họ.
Các nhà hành đạo công giáo đã đập vỡ nồi cơm của Văn Thân, làm gì
họ không căm thù Công giáo thâm gan tím ruột? Làm gì họ không kêu gọi
nhau đứng lên vạch mặt chỉ tên những người Công giáo đã bán đứng họ,
và bán đứng những người rường cột của làng xóm như họ tức là bán
nước. (trg. 356) Theo họ nghĩ, khi bãi
bỏ lệ thờ cúng tổ tiên, người Công giáo lại đụng đến nồi cơm của
họ một lần nữa, và lần này rất trầm trọng vì nó thủ tiêu tất cả
những quyền lợi vật chất mà nhà nho lãnh đạo tinh thần trong thôn xóm
có thể thu hoạch được nhờ tục lệ này. (trg. 357) Đọc những đoạn trên
chúng ta thấy thực chất học vị tiến sĩ và kiến thức của ông Lê Hữu
Mục ra sao? ·
Thứ nhất, qua những tài liệu mà tôi
vừa trích dẫn, cái tội của những người Gia Tô đối với quốc gia dân
tộc đã rõ ràng, việc gì mà các Văn Thân phải "đổ tội cho những
người Công Giáo"? Tại sao Văn Thân lại ghét thậm tệ những người
Gia Tô? Vì Văn Thân là những người yêu nước không chấp nhận những
hành động phản bội quốc gia của người Gia Tô. Trong cuốn French
Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in "Xét về toàn bộ,
truyền thống tôn giáo Việt Nam là một truyền thống dễ hấp thụ, pha trộn,
để cho con người có thể theo nhiều con đường khác nhau đi đến chân
lý. Đối ngược với
điều trên, những điều tự nhận của Ki Tô Giáo về một tâm linh duy nhất
thật là phi lý và kỳ cục đối với người Việt (Overall, Vietnamese
religious tradition was absorbant and syncretic, allowing for the pursuit of many paths to
the Truth. In contrast with this, the exclusive spiritual claims of Christianity seemed
irrational and eccentric to the Vietnamese. However, missionaries strategies of conversion
were exceptionally intrusive. The social and political effects of their proselytism could
be highly disruptive. It was this which aroused popular as well as elite hostility) "Theo quan điểm
của người Việt (...From a Vietnamese
point of view, the massacres of Christians were not merely an expression of political
frustration. It served a practical purpose in striking at a significant dimension of
French military effort. For the French, after initial hesitations (Doc. 106), were making
considerable use of Vietnamese Christians as axiliaries in the war. Christian Vietnamese
were employed as coolies, interpreters and miliciens; and Vietnamese Christians also
financed and organized privates forces such as the "armée Joseph", a body of
about 7000 irregulars.. Above all, as Bishop Puginier pointed out, Christians were useful
in gathering field intelligence on Vietnamese resistance preparations and on Chinese force
deployments (Doc. 116). A later anti-Christian decree of Thuyet, issued in 1885, confirms
that it was the intelligence gathering function of the Christian communes that was
particularly feared (Doc. 113). Những báo cáo về
tín đồ Gia Tô đốt làng xóm, chùa chiền, và cướp bóc trong những làng
phi - Gia Tô một cách quá mức, bất cứ khi nào chúng theo gót giầy của những
lính xâm lăng Pháp, là điều hiển nhiên. (Reports of Catholics
burning of villages, pagodas, and pillages of "pacified" non-Catholic villages
to the excess were well known, whenever they follow the bootsteps of the French invaders.) Vậy, đáng lẽ ra ông
Lê Hữu Mục nên viết là Văn Thân xử tội người Công Giáo mới đúng chứ
còn viết Văn Thân đổ tội cho người Công Giáo thì trật lất. ·
Thứ nhì, những người Công Giáo giải
quyết chính trị như thế nào? Làm tay sai cho ngoại nhân và theo gót giầy
của quân xâm lăng giết người yêu nước, tàn phá quê hương là giải quyết
những vấn đề chính trị quốc tế hay sao? ·
Thứ ba, Công Giáo là đạo của tiểu
nhân, đàn bà và trẻ con. Điều này ông Lê Hữu Mục viết đúng. Nhưng
ân sủng của Thiên Chúa là cái gì, và Thiên Chúa có thực là thánh không?
thánh như thế nào? ai bảo là thánh? bao nhiêu phần trăm dân chúng trên thế
giới cho Thiên Chúa Gia Tô là thánh? những người tin rằng có một Thiên
Chúa và Thiên Chúa đó là thánh thuộc những thành phần nào trong xã hội?
Trẻ con là giai đoạn chưa phát triển về thể xác cũng như về trí tuệ
của con người. Chỉ có những người có đầu óc như của trẻ con, ngây
thơ, ai nói gì cũng tin, dễ bị đầu độc bằng cách nhồi sọ, mới có
hi vọng vào nước thiên đàng của Chúa. Chúa phán vậy vì Chúa biết những
người đã trưởng thành, thông minh, sáng suốt, có đầu óc, biết suy nghĩ,
thí dụ như những Văn Thân, thì khi nghe nói đến nước thiên đường chỉ
cười. Tại sao? Vì với đầu óc suy luận, họ nhận ra rằng thiên đường
đó chỉ là một "hoang đường". ·
Thứ tư, không có một tài liệu cổ
kim nào ghi rằng Văn Thân sống vào nghề xem tử vi và ngày lành tháng tốt.
Nghề thầy giáo thì đúng hơn. Ông Lê Hữu Mục đã dựng lên một người
rơm để rồi tự tay mình quật người rơm đó xuống. Thủ đoạn này thật
là quen thuộc, chúng ta có thể thấy rõ ràng trong cuốn Bước Qua Ngưỡng
Cửa Hi Vọng của Giáo hoàng Giôn Pôn Hai (John Paul II). Ông Lê Hữu Mục
cũng liên kết nồi cơm và tất cả quyền lợi vật chất của Văn Thân với
tục lệ thờ cúng tổ tiên của người Việt, một tục lệ đã có từ
ngàn xưa trong khắp dân gian, từ dân cùng đinh trong nhà tranh vách nát cho tới
vua chúa trong triều đình. Bỏ lệ thờ cúng tổ tiên là làm mất nồi cơm
và tất cả quyền lợi vật chất của Văn Thân? Chỉ có những đầu óc
Gia Tô thuộc loại Alexandre de Rhodes cuồng tín, mà cuồng tín, theo định
nghĩa của giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang, chính là sự tổng hợp của ngu
dốt và huênh hoang khoác lác, bịa đặt, xuyên tạc như trong Phép Giảng 8
Ngày mới có thể nghĩ ra một luận cứ hoang đường như vậy. ·
Thứ năm, ông Lê Hữu Mục viết ở
trên là các ông Tú (Văn thân) "lúc nào cũng lo sợ bị khinh, bị coi
thường mặc dầu chính mình cũng tự biết là không có gì để cho người
ta kính trọng cả." , giờ chính ông lại phủ bác câu ông viết ở
trên: "họ là những người rường cột của làng xóm và nhà nho lãnh
đạo tinh thần trong thôn xóm." Phải chăng ông chỉ viết lấy được,
viết cho hả cái ấm ức trong lòng mà không cần để ý đến những điều
vô lý, tiền hậu bất nhất trong những tư tưởng của ông? ·
Thứ sáu, xin ông Lê Hữu Mục học lại
định nghĩa của từ "bán đứng" và xem lại xem ông dùng từ
"bán đứng" trong câu ông viết ở trên có khớp không. Tôi không
có hứng giảng Việt văn cho một ông giáo sư dạy tiếng Việt như tiểu sử
của ông đã ghi. Xuyên tạc, dựng lên
những điều không tưởng để hạ thấp, dè bỉu v..v.. giới Văn thân xong
rồi, ông Lê Hữu Mục mới đánh bóng những người Gia Tô: Phải công nhận rằng
nhóm Công giáo thời đó có nhiều điểm mạnh, mà điểm mạnh nhất của
họ là họ thấu triệt tình hình quân sự, kĩ nghệ, thương mại trên thế
giới, họ đã phần nào hấp thụ văn hóa Âu châu, hiểu thế nào là dân
chủ, tự do, là cá nhân, xã hội, là khoa học kĩ thuật..(trg. 359) Ông Lê Hữu Mục công
nhận Công giáo là đạo của tiểu nhân, chỉ nhờ vào ân sủng của Thiên
Chúa để biến thành Thánh như Thiên Chúa, và của đàn bà và trẻ con. Toàn quyền Đông Dương
de Lanessan đã khẳng định rằng các thừa sai chỉ có thể tuyển mộ tín
đồ trong những tầng lớp cặn bã của xã hội, đã bị xã hội Việt Nam
ruồng bỏ, nghĩa là bọn du thử du thực, đầu trộm đuôi cướp, thất học.
Vậy cái nhóm Công giáo thời đó mà thấu triệt tình hình quân sự, kỹ
nghệ, thương mại trên thế giới... và hiểu thế nào là dân chủ, tự
do, là cá nhân, xã hội, là khoa học kỹ thuật... là cái nhóm nào vậy?
Giáo dân thì như vậy, còn các Linh mục bản xứ thời đó thì được đào
tạo để nhiều nhất là làm cái loa phóng thanh cho các giám mục ngoại quốc
bề trên để mê hoặc đám dân cùng đinh thấp kém. Vậy cái nhóm trí thức
Công giáo trên là cái nhóm nào, học ở trường nào, chương trình học ra
sao, đã có những đóng góp gì cho quốc gia v..v..? Thực ra, không phải
là cái nhóm Công Giáo này không có cơ hội giúp nước (thực ra là giúp thực
dân Pháp). Sau khi chiếm Bắc Kỳ, vì toàn bộ giới Văn Thân và quan lại
không chịu hợp tác với một triều đình hàng giặc cũng như với thực dân
Pháp nên Pháp đã ra thông cáo kêu gọi sự hợp tác của những người có
khả năng để lấp vào chỗ trống trong guồng máy hành chánh Việt Nam dưới
sự chỉ đạo của Pháp. Chúng ta hãy đọc hai tài liệu sau đây của
Patrick J. N. Tuck viết về sự việc này: Tài liệu số 68: Bây giờ, tỉnh Hà
Nội đã được bình định.. Tuy những tín đồ Gia Tô là những người đầu
tiên hiến thân giúp đỡ, tôi (Francis Garnier) cẩn thận tránh chỉ tin cậy
vào họ... Tôi ra thông cáo mời giới sĩ phu đến gặp tôi, vì tôi không
muốn họ nghĩ rằng tôi có thành kiến chống đối họ. (Document 68: The Tài liệu số 73: Trong khi đó, tôi
(Harmand, sĩ quan của Garnier ớ Document 73: (Meanwhile I (Harmand)
continued to receive incessant visits: there was literally a queue at my door from seven
in the morning till nightfall. I was obliged to receive this crowd even during my
mealtimes. These were people who, in response to the proclamation made by Mr. Garnier,
asked to be given arms, put themselves forward as officers and scholars, or even came
asking to be made "huyen" or "phu". They were nealy all Catholics, and
a considerable number came from the Hai tài liệu trên, một
của Garnier, một của Harmand, đã nói lên thực chất của cái mà ông Lê Hữu
Mục gọi là nhóm Công giáo đã thấu triệt tình hình quân sự, kĩ nghệ,
thương mại trên thế giới, họ đã phần nào hấp thụ văn hóa Âu châu,
hiểu thế nào là dân chủ, tự do, là cá nhân, xã hội, là khoa học kĩ
thuật.. Tại sao cả Garnier và Harmand đều không chịu dùng cái nhóm
Công giáo này dù họ đã tình nguyện đến phục vụ cho Garnier và Harmand? Chúng ta nên nhớ, những
giáo dân lên Nam Định xin hợp tác với Pháp đã được các linh mục của
họ ở Ninh Bình, trong số này chắc phải có linh mục Trần Lục, tuyển chọn
và tiến dẫn cho các quan đại Pháp, nhưng các quan đại Pháp lại chê là
họ ngu dốt, tham lam ti tiện và mù chữ. Viết ra những điều hoàn toàn
trái ngược với sự thật, phản ánh một tâm địa lắt léo, một kiến
thức nghèo nàn hời hợt, không hiểu ông Lê Hữu Mục có mục đích gì?
Người Gia Tô thường cho rằng họ có thể làm bất cứ điều gì, bất kể
thủ đoạn, miễn là để làm "sáng danh Thiên Chúa trên trời",
thì sau này họ sẽ được Chúa cho lên Thiên đường. Có thể ông Lê Hữu
Mục cũng nghĩ như vậy và tin rằng ông sẽ được Giáo hội phong thánh
vì có công lớn với giáo hội, và khi nhắm mắt hai tay buông xuôi sẽ được
Chúa đón lên thiên đường hội họp cùng ông Diệm, ông Nhu, hay ông Trần
Lục. Mừng cho ông. Tới đây, tôi hi vọng
độc giả đã thấy thực chất những bài viết bởi các bậc đại trí thức
Gia Tô trong cuốn Trần Lục ra sao rồi. Còn một chủ đề cuối cùng trong
cuốn Trần Lục tôi muốn bàn tới, đó là những quan niệm thần học mà
một số tác giả đưa ra để tôn vinh đức tin của Trần Lục cũng như của
các tín đồ Gia Tô. Muốn bàn đến đức tin Gia Tô, chúng ta cần ít ra là
một cuốn sách tối thiểu là vài trăm trang. Hiển nhiên là tôi không thể
bàn về đức tin này một cách sâu rộng trong phạm vi của một bài viết
mà mục đích chỉ là đưa ra vài nhận định về cuốn Trần Lục. Tuy nhiên,
tôi có thể nói tóm tắt là, những điều viết về đức tin Gia Tô trong
cuốn Trần Lục là dựa vào một nền thần học đã lỗi thời, thí dụ
như những quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ đồng trinh, Chúa sống
lại và bay lên trời, những bí tích như rửa tội, ban thánh thể v..v... của
những người, từ Đức Ông trở xuống, viết về Thánh Kinh mà thực sự
chưa bao giờ đọc Thánh Kinh. Tôi sẽ đưa ra vài thí dụ để chứng minh
luận cứ này. Nhưng trước hết, chúng ta hãy bàn chút ít về nền Thần Học
Gia Tô ngày nay. | à đọc tiếp:
Thần học Gia-tô |
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com