giaodiem copyright
posted: 12.02.2006

   3. Văn Thân.

Đối với tuyệt đại đa số người dân Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 cho tới ngày nay, thì Văn Thân là một phong trào yêu nước kháng Pháp, do các sĩ phu khởi xướng và được quần chúng ủng hộ. Phong trào Văn Thân thất bại một phần vì khả năng quân sự yếu kém, nhưng phần lớn là vì trong nước đã có quá nhiều nội trùng. Dù yếu kém về quân sự nhưng với ý chí cương quyết chống xâm lăng của toàn dân, phong trào kháng Pháp trên rất có thể thành công, nếu Pháp không được sự tiếp tay và hỗ trợ đáng kể của một số không nhỏ tín đồ Gia Tô, như một số tài liệu của Giám mục Puginier cũng như những tài liệu lấy từ chính văn khố Pháp và Bộ Truyền Giáo Hải Ngoại Pháp của các sử gia Patrick J. N. Tuck và Mark W. McLeod mà tôi sẽ chưng dẫn sau đây chứng tỏ. Chúng ta cũng nên để ý, trong cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam của Cao Huy Thuần và cuốn Histoire De La Pénétration Francaise au Viet Nam (1858 - 1897) của Nguyễn Xuân Thọ, hai tác giả trên cũng đã đưa ra khá nhiều chi tiết và thực chất của phong trào Văn Thân.

Trong cuốn Trần Lục, có ba bài viết bàn tới vấn đề Văn Thân: bài Quan Lại Nhà Nguyễn và Khâm Sai Trần Lục của LM Trần Văn Kiệm, bài Cụ Sáu Đối Diện Với Văn Thân của Lê Hữu Mục, và bài Đạo Công Giáo Dưới Triều Vua Tự Đức của LM Vũ Thành. Bài của Lê Hữu Mục gay gắt nhất, hạ thấp và mạt sát thậm tệ Văn Thân dựa theo thiên kiến sai lầm và đầy mâu thuẫn của chính mình. Ngoài ra tác giả còn tung hô một cách huênh hoang, lố bịch, sai hẳn sự thực, Gia Tô Giáo cùng những người Gia Tô tân tòng mà thực chất chỉ là tôi tớ hèn mọn của Chúa, hay là tôi tớ hèn mọn của Vatican. Trước khi đi vào phần chứng minh những nhận định trên, chúng ta hãy xét đến cách xử dụng tài liệu của các tác giả ba bài trên. Đặc biệt, tác giả Lê Hữu Mục trích dẫn khá nhiều trong cuốn "Việt Nam (Gian) Giáo Sử" (VNGS) của LM Phan Phát Huồn. Thí dụ, LM Vũ Thành và Lê Hữu Mục cùng trích dẫn trong cuốn VNGS "một đạo Dụ" của Vua Tự Đức ban bố năm 1865, nội dung lên án Văn Thân và giới quan lại đã lừa dối triều đình về những hoạt động bán nước của giáo dân, hối hận là đã bách hại sai lầm tín đồ Gia Tô, và công nhận giáo dân là những người "yêu đạo và yêu nước" (trg. 381, 418). Sự thực về đạo Dụ ma này mà Phan Phát Huồn đưa ra là như thế nào? Giáo sư sử Mark W. McLeod, người đọc được tiếng Việt đã từng nghiên cứu các văn bản triều Nguyễn, đã phân tích tài liệu này một cách cặn kẽ như sau (Ibid., trg 89-90):

"Tác giả Phan Phát Huồn khẳng định rằng, vào khoảng năm 1865, vua Tự Đức ban một đạo Dụ trong đó nhà vua tỏ lòng kính ngưỡng sự trung thành của tín đồ Gia Tô đối với tôn giáo của họ và đối với nước Việt Nam. Nhà vua còn ghi nhận là chính sách cấm đạo Gia Tô của người là dựa trên sự thiếu hiểu biết sự thật về thái độ của tín đồ Gia Tô trong những năm chiến tranh. Một trong những điểm đầu tiên mà Phan Phát Huồn dẫn chứng trong cái gọi là đạo Dụ đó như sau:

Ta phải thừa nhận rằng, về những người công giáo, dù họ phải đối diện với một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, sự trung thành của họ đối với tôn giáo của họ và đối với luật lệ quốc gia đã khiến cho chúng ta phải ngưỡng mộ vô cùng."

(Đoạn trên tương đương với đoạn LM Vũ Thành viết trong cuốn Trần Lục, trang 418: "Vua ca ngợi người Công giáo: "Các người Công giáo đã trải qua tình thế khốn khổ nhất tuy nhiên vẫn trung thành với đạo và cũng trung thành với triều đình. Triều đình không thể không khen ngợi và ghi nhận điều đó...")

"Nếu tài liệu này đúng là một đạo Dụ của nhà vua, thì đó là một bằng chứng chắc chắn cho sự khẳng định của Phan Phát Huồn là thái độ của vua Tự Đức đối với các tín đồ Gia Tô đã thay đổi sâu xa trong những năm sau hòa ước 1862. Tuy nhiên, tính chất xác thực của tài liệu này thật đáng nghi ngờ. Những ý tưởng trong đó không tiêu biểu cho thái độ của vua Tự Đức biểu hiện trong những tài liệu của chính nhà vua trước thời chiến và trong thời chiến, khiến cho Phan Phát Huồn phải vác một gánh nặng chứng minh sự xác thực của tài liệu này.

"Điều này Phan Phát Huồn đã không làm được; tác giả không đưa ra xuất xứ của tài liệu, và ngày tháng ban bố đạo Dụ này chỉ là vài lời mơ hồ không chính xác "sau khi khám phá ra âm mưu của giới sĩ phu" mà có lẽ tác giả ám chỉ những cuộc nổi loạn ở trường thi năm 1864. Nhiều thành ngữ sai lạc và không phù hợp với nền văn hóa của Việt Nam (đã được dùng trong tài liệu) khiến cho ta phải nghi ngờ thêm tính chất xác thực của tài liệu này. Chỉ xét đến một thành ngữ rõ rệt nhất của tác giả dùng trong tài liệu, đó là gọi Gia Tô Giáo là "công giáo" và tín đồ Gia Tô Việt Nam là "người công giáo". Sự hàm ý ngoài ý chính này cần phải xét kỹ.

""Công" có thể có nghĩa là "chung, thông thường", "công cộng", "chính thức", hay "mở ra cho mọi người". Từ này được những tín đồ Gia Tô mới dùng đây để gọi Gia Tô giáo vì, như là một tôn giáo đi truyền đạo có tính cách quốc tế, không phải là riêng biệt cho nhóm văn hóa hay quốc gia nào. Nghĩa này mâu thuẫn với sự nhận thức chính thức của triều đình về Gia Tô Giáo, một tôn giáo bị coi như là "một tà đạo" đặc thù của nền văn hóa các nước Tây phương và gắn bó chặt chẽ với sự xâm lược quân sự vào Việt Nam. Trên bình diện triết lý, một hoàng đế Việt Nam trong thế kỷ 19 không thể gọi Gia Tô giáo là công giáo mà không chấp nhận nguyên tắc đa tôn giáo. Điều này từ bỏ tính cách không thể tách rời đạo đức Nho giáo và quyền lực chính trị, cái nguyên tắc chính trị mà quốc gia đặt căn bản trên đó. Trên bình diện lịch sử, một nhà vua cai trị Việt Nam trong thế kỷ 19 mà gọi Gia Tô giáo là công giáo có nghĩa là phủ nhận sự kết nối lịch sử của sự truyền giáo Gia Tô với sự xâm lược quân sự của Tây phương. Do đó, công giáo là từ mà tín đồ Gia Tô Việt Nam tự gọi mới gần đây... đặt từ này vào miệng của một hoàng đế Việt Nam trong thế kỷ 19 thì thật là vô lý, không hợp với thời đại.

Vì Phan Phát Huồn không đưa ra xuất xứ cũng như ngày tháng ban bố của tài liệu này, các độc giả của ông phải tự mình đi kiếm lấy xem cái tài liệu kỳ cục đó từ đâu mà ra... Thật là một điều nguy hiểm nếu chúng ta tin vào tính cách xác thực của cái tài liệu bằng tiếng Việt mà Phan Phát Huồn gọi đó là một đạo Dụ của vua Tự Đức."

(...In about 1865, the author Phan Phat Huon asserts, Tu Duc issued an edict in which he declared his admiration for the Vietnamese Catholics' fidelity both to their religion and to the Vietnamese State. The Emperor further acknowledged therein that his former policies of interdiction of Catholicism had been based on his own ignorance of the reality of Catholic behavior during the war years. On the first of these points Phan Phat Huon's citation of the alleged edict reads as follows:

"As for the Catholics I must admit that, although they were faced with an extremely difficult situation, their fidelity both to their religion and to the laws of the country has earned boudless admiration"

...Were this document a veritable imperial edict, it would constitute conclusive proof of Phan Phat Huon's assertion that the Tu Duc Emperor's attitude toward the Vietnamese Catholic underwent a profound transformation during the years following the 1862 treaty. Yet the authenticity of the document is questionable. The ideas expressed therein are uncharacteristic of the Tu Duc Emperor's attitutdes as they can be seen in pre-war and wartime documents of his certain authorship, which obliges Phan Phat Huon to meet a heavy burden of proof. This he does not do; he cites no source for the document, and the only date is the imprecises "after the discovery of the sholars' plot," by which he perhaps means the examination field rebellions of 1864. Several linguistic anomalies and cultural incongruities further render the document suspect. To treat only the most stiking, the document's author refers to Catholicism as cong giao and to the Vietnamese Catholics as nguoi cong giao, the connotations of which must be examined.

Cong can be translated as "common," "public," "official," or "open to all". It is used by modern Vietnamese Catholics to designate the doctrine (giao) of Catholicism because, as an international proselytization religion, it is not particular to any cultural group or nation. This meaning stands in contradiction with the 19th-century official perception of Catholicism, which considered it to be "a heterodox doctine" culturally specific to Western countries and inextricably associated with their military aggression against Vietnam. On the philosophical level a Vietnamese Emperor of the 19th-century could not call Catholicism a cong giao without recognizing the principle of religious pluralism. To do so would have meant negating the inseparability of the Confucian ethics and political authority, the political principle on which the imperial state was based. On the historical level, for a 19th-century Vietnamese ruler to call Catholicism a "cong giao" would be to deny the perceived historical linkage of missionary Catholicism with European military aggression. Therefore, cong giao is a modern self-appellation employed by Vietnamese Catholics...; in the mouth of a 19th-century Vietnamese Emperor the term is an absurd anachronism.

Since Phan Phat Huon provides no source citation or precise date, his readers are left to discover for themselves whence came this curious document...It would be dangerous to place much credence in the genuineness of the Vietnamese-language document presented by Phan Phat Huon as an edict by Emperor Tu Duc.)

Sự phân tích của giáo sư Mark W. McLeod ở trên cho chúng ta thấy LM Phan Phát Huồn đã ngụy tạo văn kiện một cách thiếu thông minh để biến một tập đoàn phản bội dân tộc thành một đoàn thể yêu nước. Do đó, những tài liệu mà các tác giả trong cuốn Trần Lục trích dẫn từ cuốn VNGS của Phan Phát Huồn cùng những tài liệu của các tác giả Gia Tô viết với cùng mục đích như Phan Phát Huồn là những tài liệu không thể tin được, vì chúng không có giá trị trí thức nào.

Thật vậy, không phải chỉ có ngụy tạo văn kiện, mà Phan Phát Huồn còn bịa đặt ra nhiều chuyện vô lý khác như chúng ta sẽ thấy trong nhận định của một nữ trí thức trẻ. Cách đây 6 năm, ngày 10 tháng 8 năm 1993, Karen Bui ở San Jose đã đưa lên diễn đàn điện tử Vietnet cho giới trí thức trên toàn thế giới đọc nhận định sau đây về cuốn VNGS của Phan Phát Huồn:

"LM Phan Phát Huồn viết cuốn VNGS chẳng với một chủ đích nào khác hơn là xuyên tạc lịch sử để chạy tội đã giúp quân Pháp xâm chiếm Việt Nam của các thừa sai Pháp và giáo hôi Thiên Chúa Giáo Việt Nam.

Bằng giọng điệu hận thù, ganh ghét, ngạo mạn, kiêu căng, LM Huồn đã nhục mạ vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức; vu khống bôi nhọ các tu sĩ Phật Giáo và đồng bào bên lương, lên án phong trào "Bình Tây Sát Tả" của giới sĩ phu Văn Thân, xuyên tạc cuộc cách mạng của những anh hùng áo vải Tây Sơn...

Kể lại hàng trăm câu chuyện người Thiên Chúa Giáo bị bách hại, nhiều khi còn bi thảm hóa câu chuyện đến độ khó tin, nhưng tuyệt nhiên không hề tiết lộ một mảy may những hành động phản quốc của người Thiên Chúa Giáo, những người đã cấu kết với thực dân Pháp bán nước cho giặc ngoại xâm, áp bức dân lành, mở mang nước Chúa một cách hung hãn, nô lệ hóa cả dân tộc dưới bàn chân sắt của quân viễn chinh Pháp hòng thực hiện tham vọng biến Việt Nam thành một nước Thiên Chúa Giáo con dân nước Pháp tại phương Đông.

...Có người cho rằng người Thiên Chúa Giáo xử dụng chữ Công Giáo là vì chữ này được dịch từ chữ Catholicism mà ra chứ không phải chủ ý cho Thiên Chúa Giáo là quốc giáo.

Nhưng có thể nói ý đồ đó đã biểu hiện một cách lộ liễ qua cách đặt tên cho một cuốn sách mà nội dung hoàn toàn nằm trong phạm vi Thiên Chúa Giáo. VNGS là một tập tài liệu ngụy sử về giáo hội Thiên Chúa Giáo nhưng tác giả tự phong lịch sử đó là lịch sử Việt nam giáo (phần đề Tựa).

Đạo Phật vào Việt Nam gần 2000 năm, thăng trầm theo vận mệnh dân tộc, dựng nước và giữ nước, đóng góp bao nhiêu cơ nghiệp cho tiền đồ của dân tộc mà còn chưa giám hồ đồ tự xưng là Việt Nam Giáo - huống chi một giáo hội hiện còn lệ thuộc vào ngoại bang là Tòa Thánh La Ma - chưa kể đến lịch sử ô uế bán nước cho giặc ngoại xâm mà còn dám lộng ngôn, lộng ý, gọi tôn giáo mình là Việt Nam Giáo.

... Và kể từ ngày quyển VNGS ra đời (1962), hơn 30 năm qua, đã không có một phản ứng xây dựng từ phía tập thể Thiên Chúa Giáo thì chớ mà quyển sách này còn được nằm trong danh sách tài liệu tham khảo của rất nhiều sách báo Thiên Chúa Giáo. Điều đó có nghĩa là hầu như tự bản chất người Thiên Chúa Giáo, họ đã mang một tâm thức coi tôn giáo (của 7% dân chúng. TCN) là quốc giáo...

...Có thể nói VNGS là một sản phẩm tiêu biểu cho một tâm hồn bệnh hoạn, một đầu óc vong bản, thái độ, cung cách hành xử còn lệ thuộc ngoại bang, chưa thoát ra được quá khứ "cõng rắn cắn gà nhà".

Tôi tự hỏi, phải chăng các tác giả viết cuốn Trần Lục với chủ đích xuyên tạc, bóp méo lịch sử để lừa dối và lạc dẫn giới trẻ, cũng như ông Lê Hữu Mục vừa giảng vừa giết Kiều trong cuốn Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ, giải thích rằng từ "dập dìu" trong câu "Dập dìu tài tử giai nhân" có nghĩa là trai gái lượn đi lượn lại quanh nhau, nghĩa là khiêu vũ, và đưa ra một điều hoang tưởng: Cụ Nguyễn Du phải đọc Thánh Kinh mới viết nổi một đoạn trong truyện Kiều. Nếu thực vậy thì các tác giả cuốn Trần Lục sẽ thất vọng, vì giới trẻ ngày nay, ở nước ngoài cũng như ở trong nước, không phải là những giáo dân sống trong những ốc đảo ngu dốt (từ của LM Trần Tam Tĩnh), mà là những người đã tiếp xúc với nền văn minh tiến bộ của nhân loại, trong đó có đầy đủ tài liệu xác thực nhất về bất cứ vấn đề gì. Nền văn minh này, qua nhiều thế kỷ, trên thực tế đã xua đi bóng tối dày đặc của ý thức hệ La Mã (Dr. Barnado: The thick darkness of Romanism), đồng thời giúp cho người dân Việt Nam, cũng như đã giúp cho hàng triệu người dân trên thế giới, nhất là ở trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nhận biết rõ bản chất thực sự của Gia Tô giáo, do đó thoát ra khỏi vòng u mê tăm tối trí thức của một ý thức hệ đã lỗi thời.

Tiếp nối chủ trương xuyên tạc và bóp méo lịch sử để chạy tội hợp tác với thực dân Pháp của Gia Tô giáo trong quá khứ, đi theo vết chân của Phan Phát Huồn, các tác giả trong cuốn Trần Lục cũng đưa ra những lý luận mơ hồ, yếu ớt với cùng một mục đích. Điển hình là Linh mục Trần Văn Kiệm đã khẳng định: "..người Thiên Chúa Giáo đâu có phản quốc, họ đâu có theo kẻ xâm lăng (trg. 322)" và đổ tội cho triều đình nhà Nguyễn về tội mất nước:

"...cái vạ nước ta mất vào tay người Pháp phải quy cho các vua nhà Nguyễn và quần thần. Đâu có phải do người Thiên Chúa Giáo bán nước (trg. 323)", và ông Lê Hữu Mục cũng viết: Đổ tội cho đạo Công Giáo đã cố í tạo ra những vụ hỗn loạn ngoài Bắc để giúp thực dân Pháp dễ dàng bắt buộc Tự Đức phải kí hàng ước ô nhục năm 1862 là đã hiểu sai lịch sử, lầm lẫn quân xâm lăng với những hành động đàng hoàng của Giáo hội Công giáo. (trg. 376)

Trong cuốn Công Giáo Chính Sử, chương 8, tôi đã trình bày tạm gọi là đầy đủ nguyên nhân việc cấm đạo, và mức độ hợp tác của người Gia Tô với thực dân Pháp, với những tài liệu chính xác nhất, phần lớn của các học giả, sử gia ngoại quốc, những người không có một lý do nào để vu khống Gia Tô Giáo. Ở đây tôi sẽ không đi vào chi tiết của những chủ đề này, mà chỉ đưa ra vài tài liệu điển hình để phủ bác luận cứ của LM Trần Văn Kiệm và của Lê Hữu Mục.

Trước hết là một tài liệu của Giáo sư sử Mark W. McLeod, Ibid., viết về cuộc xâm lăng của Garnier tại Bắc Kỳ như sau:

Hầu hết các tác giả Tây phương khi bàn về cuộc Bắc xâm của Garnier đã có thể phanh phui ra sự kết nối giữa Dupré, Dupuis, và Garnier. Tuy nhiên, không có một tác giả nào làm sáng tỏ đủ sự kiện Dupré kêu gọi sự trợ giúp của các thừa sai Gia Tô là một thành phần chủ yếu cho âm mưu của ông ta để moi cho bằng được những nhượng bộ từ triều đình Huế. Nghiên cứu chi tiết những văn thư liên lạc giữa Dupré, Garnier, và các thừa sai Gia Tô, chúng ta thấy rằng Dupuis đã dàn xếp để cho tín đồ Gia Tô hỗ trợ những hành động xâm lược của Garnier trước khi sự xâm lược bắt đầu.

(Most of the Western authors treating the (Garnier) affair have been able to uncover the linkage between Dupré, Dupuis, and Garnier... However, none of the authors has clearly shown that Dupré's appeals to the Catholic missionaries were an integral component of his plot to extort concessions from Hue. By examining in detail the correspondence among Dupré, Garnier, and the missionaries, it was shown that Dupré had arranged for Catholics support for Garnier's agrressions before the fact.)

Vậy thì Giáo hội Công giáo đàng hoàng ở chỗ nào? Mặt khác, sử sách đã ghi rõ,vua Tự Đức gặp rất nhiều khó khăn nội bộ, phần lớn là do những cuộc nội loạn ở ngoài Bắc do các giáo sĩ Gia Tô xúi giục cùng xách động giáo dân. Ông Lê Hữu Mục cần sang Pháp để kiểm chứng những tài liệu trước được giữ kín nhưng nay đã mở ra cho mọi người tự do nghiên cứu này.

Vấn đề tiếp theo chúng ta cần phải bàn luận là: người Thiên Chúa Giáo có phản quốc, có bán nước, có theo kẻ xâm lăng không? Câu trả lời nằm trong một văn kiện có tính cách khẳng định sau đây của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốn Đạo Gia Tô và Các Xã Hội Á Châu (Catholicisme et Sociétés Asiatiques) của Alain ForrestYoshiharu Tsuboi:

"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại."

(Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes. La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force. En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

Mong LM Trần Văn Kiệm cho vài ý kiến về văn kiện trên của Giám Mục Puginier, người cầm đầu giáo xứ Gia Tô Bắc Kỳ và biết rõ hơn ai hết vai trò của Giáo dân Việt Nam trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Nhưng không phải chỉ có một văn kiện của Giám mục Puginier nói lên vai trò của tín đồ Gia Tô đưa đến việc mất nước, mà còn nhiều tài liệu khác trong văn khố nước Pháp cũng đều chứng tỏ sự kiện này. Nếu LM Kiệm vì bận công việc mục vụ nên không có thì giờ đọc sách thì tôi xin đọc giúp ông, miễn phí, một số tài liệu khác.

Thật vậy, sự hợp tác và làm tay sai cho quân xâm lăng Pháp của những tín đồ Gia Tô Việt Nam, ngay từ ngày đầu cho tới ngày cuối, nay đã là những sự kiện lịch sử không ai có thể phủ nhận. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong cuốn viết về giai đoạn lịch sử Việt Nam trên của Mark L. McLeod, Ibid., trg. 45-47:

"Vai trò của những tín đồ Gia Tô trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha là gì?..Sự thực là, theo những tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp thì, ngay từ tháng 9, 1858, nhiều toán tín đồ Gia Tô Việt Nam đã tới liên lạc với những đoàn quân chiến đấu của Tây phương. Rigauld de Genouilly (tướng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng; TCN) đã họp họ lại thành hai chi đội và huấn luyện họ trong một doanh trại ở Tiên Trà. Một trong hai chi đội trên chiến đấu sát cánh với quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng, còn chi đội kia di chuyển xuống miền Nam, dự phần chiếa đấu trong cuộc xâm lược "lục tỉnh" và họ đã dự trận Kỳ Hòa. Sau trận Kỳ Hòa, những lính chiến đấu Gia Tô Việt Nam đã phục vụ những người Tây phương ở Đà Nẵng tiếp tục phục vụ người Pháp, làm lính chiến, thông ngôn, cu-li và thám báo, trong những vùng chiếm được ở miền Nam. Vì những dịch vụ này, họ được Đô Dốc - Toàn Quyền de la Grandière ban thưởng cho một số đất quanh vùng Sài-gòn.

Trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha từ 1858 đến 1862, những biện pháp cấm đạo của Vua Tự Đức càng ngày càng khắc nghiệt và dễ hiểu. Đó chính là vì Triều đình Huế tin rằng những tín đồ Gia Tô Việt Nam đã hỗ trợ những đoàn quân xâm lăng. Những đạo Dụ trong thời chiến này thường nhằm mục đích ngăn cản những tín đồ Gia Tô Việt Nam liên lạc với những lực lượng Pháp - Tây Ban Nha. Thí dụ, một đạo Dụ ban hành vào tháng 5, 1859, nêu rõ rằng, khi nghe tin thành Saigon thất thủ, những tín đồ Gia Tô Việt Nam ở miền Nam đã lợi dụng tình thế để khủng bố người "lương" hay "tốt" (nghĩa là, người phi- Gia Tô) và đi làm "tay sai và mật thám cho Tây Dương "

.. Theo quan niệm của Vua Tự Đức thì sự khắc nghiệt của những đạo Dụ cấm đạo trong thời chiến rất là chính đáng, vì những tín đồ Gia Tô Việt Nam "đã mang người Tây Dương vào trong xứ sở."

...Với những tài liệu hiện hữu, chúng ta chỉ có thể kết luận là triều đình nhà Vua tin rằng những tín đồ Gia Tô đã giúp đỡ quân đội Pháp và Tây Ban Nha, và triều đình không hẳn là hoàn toàn sai lầm trong nhận thức này. Do đó, những đạo Dụ chống Gia Tô quá khắc nghiệt của Vua Tự Đức trong thời chiến chỉ nhằm mục đích ngăn ngừa tín đồ Gia Tô bản xứ khỏi phối hợp cới những lực lượng xâm lược."

(What was the role of the Vietnamese Catholics during the Franco-Spanish invasion?... In fact, French archivalsources show clearly that, as early as September 1858, groups of Catholics began to reach the embattled European armies. Rigauld de Genouilly formed the men into two indigenous detachments and trained them at a camp at Tien Cha. One of these detachments fought alongside the Franco-Spanish soldiers at Da-nang; the other went southward to participate in the invasion of the "luc tinh" and fought in the battle of Ky Hoa. After the battle of Ky Hoa, the indigenous Catholics militamen who entered the service of the Europeans at Da nang continued to serve the French in the occupied south as soldiers, interpreters, coolies, and guides. They were rewarded for their services by Admiral-Governor de la Grandière, who granted them concessions of land in the Saigon area.

During the Franco-Spanish invasion of 1858-1862, the Tu Duc Emperor's interdictions of Catholicism grew increasingly severe and comprehensive. This was primarily because the Hue court believed that the Vietnamese Catholics supported the invading armies.

The wartime edicts were thus largely directed to the problem of preventing the Vietnamese Catholics from communicating with the Franco-Spanish forces. An edict of May 1859, for example, stated that, upon hearing of the fall of the Saigon citadel, the Vietnamese Catholics of the south were taking advantage of the situation in order to terrorize the "luong" or "good" (that is, non-Catholics) people and to serve as "lackeys and spies for the Westerners".

... The severity of the wartime edicts was justified, in the emperor's opinion, because the Catholics had "brought the Westerners into the country."

...With the existing documentation it can only be concluded that the imperial court believed that the Catholics were aiding the French and Spanish troops and that the court was not entirely wrong in this perception. Accordingly, the Tu Duc Emperor's wartime anti-Catholic edicts reached new extremes of severity primarily in order to keep the indigenous Catholics from linking with the invading forces.)

Lại nữa, đọc lại lịch sử Việt Nam trong giai đoạn Francis Garnier chiếm thành Hà Nội và các tỉnh lân cận như Phủ Lý, Nam Định, Hải Dương v..v.. chúng ta sẽ thấy sự thực về vai trò cộng tác, tiếp tay, hỗ trợ của giáo dân Gia Tô Việt Nam cho những đoàn quân xâm lăng ngoại quốc như thế nào (Mark L. McLeod, Ibid., trg. 114-122):

"Bản chất và mức độ hỗ trợ những đoàn quân viễn chinh Pháp của những tín đồ Gia Tô là như thế nào?

Những thư từ liên lạc và phúc trình của Balny và Harmand. được Garnier phái đi chinh phục nhiều tỉnh lỵ và những điểm trọng yếu trong miền đồng bằng, cho chúng ta thấy một kiểu hỗ trợ đáng kể của những tín đồ Gia Tô bao gồm - nhưng không chỉ giới hạn ở - những nhiệm vụ hành chánh và quân sự. Những nguồn tài liệu này cũng cho chúng ta thấy một kiểu xoay sở lẫn nhau giữa các sĩ quan Pháp và các thừa sai Gia Tô với kết quả là những kẻ "tình nguyện" thường cũng được lợi bằng hay hơn những sĩ quan Pháp.

... Để giúp chúng ta hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xét tới những hành động của Balny tại Phủ Lý và Hải Dương và của Harmand ở Nam Định, và nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa Bộ Truyền Giáo Gia Tô và các lực lượng quân sự Pháp. Sự phân tích những hành động này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai và những tín đồ Gia Tô Việt Nam. Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Gia Tô dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo Gia Tô đã dùng sức lao động (của tín đồ Gia Tô bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người "lương", mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Gia Tô, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua. Sự cộng tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Gia Tô thường không được các sử gia nhận biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ."

(What was the nature and extent of the assistance that the Catholics brought to the French expedition?

The correspondence and reports of Balny and Harmand, who were dispatched by Garnier to obtain the submission of many of the provincial citadels and strongpoints of the delta, reveal pattern of significant Catholic assistance that included - but not limited to - formal administrative and military duty. These sources further reveal a pattern of mutual manipulation by French officers and Catholic missionaries in which the "volunteers" often had as much or more to gain from the relationship as did the French officers.

... It is useful to consider Balny's actions at Phu Ly and Hai-duong and Harmand's at Nam-dinh with an emphasis on the relationship between Catholic Missions and the French forces. The analysis reveals that the French were far from alone in their attacks on the loci of Vietnamese authority because the invaders received a significant level of support from the missionaries and the Vietnamese Catholics. Moreover, the methods of the French officers and their Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a superior morality even by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged labor, resources, and information in return for French assistance in perpetuating summary executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic villages, and pillaging of imperial citadels. This Catholic collaboration with French imperialism has not been adequately recognized by historians, but it was a significant contributing factor to the French success in Tonkin.)

Nghiên cứu những văn thư của các sĩ quan Pháp dưới quyền Garnier - đặc biệt là báo cáo của Jules Harmand - cho chúng ta thấy rõ là sự hỗ trợ cuộc viễn chinh (của Pháp) của các tín đồ Gia Tô rất đáng kể. Theo Harmand thì sự hợp tác của Gia Tô là một yếu tố chủ yếu cho sự xâm chiếm thành công của Pháp vì đại đa số người dân Việt Nam có thái độ thù nghịch trước sự xâm lăng của Pháp. Trái lại, người Gia Tô hồ hởi giúp đỡ các lực lượng Pháp - với một giá nào đó.

(The examination of the writings of the French officers under Garnier - particularly the report of Jules Harmand - revealed that Catholic support for the expedition was significant... According to Harmand, Catholic collaboration was an essential factor in the success of the French occupation because the majority of the Vietnamese population was hostile to the French intrusion. The Catholics, however, were eager to bring their aid to the French force - for a price.)

Đối với Harmand, sự cộng tác của người Gia Tô là điều không có không được (sans quoi, non) để cho Pháp thành công: "Điều chắc chắn là những tín đồ Ki Tô đã tận lực giúp chúng ta, trong trường hợp đặc biệt của tôi (Harmand), họ đã giúp tôi hoàn thành dễ dàng nhiệm vụ mà Ông Garnier đã trao phó cho tôi.

(For Harmand, Catholic collaboration was a SINE QUA NON for French success: "It is certain that the Christians have performed for us great services; in my particular case they have greatly facilitated the task Monsieur Garnier set for me."

Những tài liệu chưng dẫn ở trên khiến cho ta không còn nghi ngờ gì nữa là sự thành công của Pháp tại Bắc Kỳ phần lớn là do sự phụ giúp của các giáo xứ Gia Tô.

(The documentation cited above...leaves little doubt that French success in the Tonkin delta was in no small measure due to the assistance provided by the catholic missions.)

Qua một số tài liệu vừa nêu ở trên, vấn đề người "Thiên Chúa Giáo" có phản quốc, có bán nước, có theo kẻ xâm lăng không?, với câu trả lời dứt khoát "Có", nay đã được chứng minh rõ ràng, không còn vương chút bóng tối nghi ngờ nào nữa (without a shadow of doubt).

Chúng ta hãy sang phần khác trong chủ đề Văn Thân qua những nhận xét của ông Lê Hữu Mục, người mà trong tiểu sử được giới thiệu là Khôi nguyên kỳ thi Tiến sĩ tại đại học Văn Khoa Saigon năm 1970 (Tôi xin nhắc ông Lê Hữu Mục rằng: bằng Tiến sĩ ở đại học văn khoa là do một ban giám khảo quyết định khi một thí sinh trình luận án tiến sĩ về một đề tài nào đó, không phải là một kỳ thi tuyển có nhiều người dự, cùng viết về một đề tài, mà có người đỗ đầu (khôi nguyên). Ngày xưa, có Thi Hương, Thi Hội (Kinh đô), Thi Đình (Sân Vua). Chỉ có những thí sinh đậu cử nhân ở Thi Hương mới được dự Thi Hội và Thi Đình, nơi đây học vị Tiến sĩ mới có nhiều cấp độ: Tiến sĩ đệ nhất giáp gồm Trạng nguyên (đỗ đầu), Bảng Nhãn, Thám Hoa; Tiến sĩ đệ nhị Giáp: Hoàng giáp; Tiến sĩ đệ tam giáp: Đồng Tiến sĩ. Năm 1970 không có sân vua, chỉ có sân dinh Độc Lập mà ông đội Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng Thống miền Nam ngồi ở đó. Rất có thể ông Lê Hữu Mục đã dự "kỳ thi Tiến Sĩ" ở sân dinh Độc Lập và đậu "khôi nguyên kỳ thi tiến sĩ" tại đó?. Mừng cho ông. TCN), Giáo sư tiếng Việt và chữ Nôm kiêm trưởng ban Việt Hán tại đại học Sài gòn (1963-1977)??

Ông "Trạng" Lê Hữu Mục nhận xét về các Văn Thân như sau:

Văn thân chỉ dừng lại ở học vị Tú Tài, nghĩa là chỉ mới bước những bước đầu tiên chập chững vào trường thi.. Các ông này vì chưa có địa vị rõ ràng nên hay hiếu thắng, lấn lướt, quyết định vội vàng nhiều khi thiếu suy nghĩ chín chắn. (trg. 346)

Tôi xin nói thêm về đời sống nghèo khổ của các ông tú, về những nỗ lực của họ để thoát khỏi cảnh sống tù túng, lòng ganh ghét đầy thù hận của họ đối với đạo Công giáo nói chung và với các vị thừa sai Âu châu nói riêng vì chính đạo này cũng như những người theo đạo đã dìm họ lún sâu vào đời sống nghèo nàn vô vị của họ. (trg. 348)

Hoàn cảnh của những ông tú như ông (Trần Tế Xương) thật đáng thương, không biết làm gì để sống nhưng lúc nào cũng lo sợ bị khinh, bị coi thường mặc dầu chính mình cũng tự biết là không có gì để cho người ta kính trọng cả. (trg. 355)

Đó là Văn Thân theo quan điểm của ông "khôi nguyên kỳ thi Tiến sĩ năm 1970 ở Sài gòn" Lê Hữu Mục. Ông tiến sĩ này chê các văn thân "chỉ dừng lại ở học vị Tú Tài", nghĩa là trong những Văn Thân, không có ai học quá Tú Tài. Do đó, những người như Tiến Sĩ Phan Đình Phùng cũng như nhiều vị quan cao cấp khác trong triều đình không được kể là Văn Thân. Ông Lê Hữu Mục làm ơn làm phước xem lại cái bằng tiến sĩ của ông cho thiên hạ nhờ.

Theo tự điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn thì Văn Thân là giới Sĩ Phu, giới trí thức trong nền Nho học khi xưa. Theo tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì Văn Thân là những người lấy văn học tiến thân mà ra đời. Hai định nghĩa này không quy định bằng cấp vì trong lịch sử Việt Nam, có những người không cần bằng cấp mà vẫn được nhà vua và triều đình trọng dụng. Trong xã hội Việt Nam khi xưa, Văn Thân là giới trí thức, biết giữ đạo Thánh Hiền, nên được mọi người kính trọng. Những người không được ra làm quan thì thường làm nghề dạy học, một nghề được xã hội Việt Nam khi xưa kính nể nhất. Bởi vậy, trong Nho giáo, Thầy giáo được xếp hàng thứ hai, trên cả cha mẹ: Quân, Sư, Phụ. Trong dân gian có những câu ca dao tục ngữ như "Không Thầy đố mày làm nên" hay "Muốn con hay chữ thì yêu lấy Thầy". Không biết ông tiến sĩ Lê Hữu Mục đã học những gì và ở đâu để mà hạ bút viết rằng "Văn thân chỉ dừng lại ở học vị Tú Tài" và các ông Tú "lúc nào cũng lo sợ bị khinh, bị coi thường mặc dầu chính mình cũng tự biết là không có gì để cho người ta kính trọng cả." Chúng ta nên đánh giá cái "khôi nguyên tiến sĩ" của ông Lê Hữu Mục ra sao?

Tệ hơn nữa, ông Lê Hữu Mục có vẻ dè bỉu chê bai giới Văn Thân là nghèo khổ và ông rất hãnh diện khi viết rằng "chính đạo (Công giáo) này cũng như những người theo đạo đã dìm họ (Văn Thân) lún sâu vào đời sống nghèo nàn vô vị của họ." (trg. 348). Ông viết câu này mà không ngờ rằng chính câu trên đã cho chúng ta thấy cái bản chất tà đạo của Công giáo. Thật vậy, một cái đạo mà cả đạo lẫn người đi đạo đã dìm sâu một lớp người vào đời sống nghèo nàn vô vị thì thực chất chẳng qua chỉ là một tà đạo, nó như một tế bào ung thư có tác dụng phá hủy dần dần thân thể xã hội Việt Nam, như sẽ được chứng minh trong một phần sau. Cho nên, các vua triều Nguyễn cũng như giới Văn Thân coi nó là một tà đạo tưởng cũng không phải là vô lý. Mặt khác, ông Lê Hữu Mục viết câu trên mà không nghĩ rằng mình đang mạ lỵ Chúa Giê su. Vì Chúa cho rằng chỉ có người nghèo mới vào được nước Chúa, còn người giàu thì vào nước Chúa còn khó hơn là con lạc đà chui qua lỗ kim. Chắc ông Lê Hữu Mục chưa từng đọc Thánh Kinh nên ông dè bỉu những người nghèo khổ mà không biết rằng chính Chúa cũng là một người nghèo khổ, con của một ông thợ mộc, sinh ra trong một máng cỏ, suốt đời chẳng làm được gì khấm khá, nên Chúa rất hận người giàu. (Luke 6: 20: Blessed are you poor, For yours is the Kingdom of God).

Vậy thực chất ảnh hưởng của Văn Thân đối với quần chúng ra sao? Trong luận án tiến sĩ Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam trình tại đại học Paris, Cao Huy Thuần viết, trg. 384:

Trước lời kêu gọi của vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết văn thân hưởng ứng đông đảo. Là những nhà ái quốc nhiệt thành, tự ý không chịu làm quan cho một triều đình đầu hàng giặc, có một uy tín lớn lao đối với người nông dân mà họ sống chung đụng với, đa số họ là những người nghèo; thật sự văn thân đại diện, theo chữ dùng của de Lanessan là "đảng dân tộc" (parti national) và trở thành những người dấy khởi cuộc kháng chiến ngày càng rộng lớn.

Do văn thân lãnh đạo, cuộc kháng chiến ngày càng được toàn thể dân chúng (trừ những tín đồ Gia Tô làm tay sai cho địch. TCN) ủng hộ một cách rộng rãi, tổ chức thật phi thường...

Mặt khác, nếu thực chất của văn thân chỉ như ông Lê Hữu Mục viết ở trên thì tại sao Giám mục Puginier lại đòi tiêu diệt cho bằng được giới văn thân? Tài liệu sau đây trong cuốn Những Thừa Sai Gia Tô Pháp và Chính Trị Đế Quốc ở Việt Nam, 1857,-1914, Một Khảo Luận Qua Các Tài Liệu (French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914, A Documentary Survey; 1987) của Patrick J. N. Tuck, có thể cho chúng ta rõ thực chất của Văn Thân:

Tài liệu số 120: Giám mục Puginier đối với giới Văn Thân.

Điều rất rõ ràng là sự thù nghịch của Giám mục Puginier đối với giới sĩ phu trước hết bắt nguồn từ cái đạo Gia Tô của ông ta. Do đó tôi đã lưu ý ông ta là giới sĩ phu phải biết đến những thừa sai đã có những cảm nghĩ gì về họ: họ có thể nghĩ rằng các viên chức Pháp cũng có cùng những cảm nghĩ như vậy vì là đồng đạo với các thừa sai, đưa đến việc các sĩ phu nhận thức về tương lai của giới văn thân. Chỉ điều này cũng đủ để cho họ trở thành kẻ thù của nước Pháp.. Tôi nói thêm rằng những sĩ phu có thể có thái độ khác nếu chúng ta đối xử với họ cho xứng đáng, họ có quyền mong đợi như vậy, bằng cách kính trọng tôn giáo, phong tục và truyền thống hành chánh của họ. Nói tóm lại, thay vì theo con đường không thực tế và nguy hiểm là đe dọa và đàn áp họ, chúng ta nên đối xử với họ tử tế và bảo đảm tương lai của họ.

Không có môt lời nói nào của tôi có một ảnh hưởng. Tôi gặp một sự đáp ứng khó giải quyết và cuộc trao đổi ý kiến cũng như bữa cơm chiều được kết thúc bằng một lời đáp quyết liệt: "Phải dẹp họ đi (Văn Thân)."

Vấn đề là, ở An Nam cũng như ở Trung Hoa, giới sĩ phu đại diện cho giai cấp cai trị trong quần chúng. Vì học vấn cũng như địa vị ưu tú của họ trong xã hội, họ rất gắn bó với luật lệ, phong tục và tôn giáo của xã hội họ. Vậy, lẽ tự nhiên là họ cảm thấy khó chịu khi những người nước ngoài không ngớt tấn công vào mọi thứ mà họ tôn kính, những thứ lập thành căn bản quyền lực của họ. Kết quả là, các thừa sai đừng có mong mà cải đạo họ. Sự thực là, trong hơn hai thế kỷ mà các công cuộc truyền giáo Gia Tô hoạt động ở Trung Hoa cũng như ở bán đảo Đông Dương, có thể tổng cộng không quá mười sĩ phu theo đạo. Toàn bộ giới có học và quan lại trong quần chúng đã tránh né sự truyền đạo này. Và họ khó mà có thể làm khác được, vì theo đạo Gia Tô thì họ sẽ mất đi vai trò chỉ đạo tinh thần và sẽ bị đại đa số trong xã hôi khinh khi.

Đại cương thì những thừa sai Gia Tô chỉ có thể tuyển mộ tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần chính là trong những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ.

(It seemed very clear that the hostility of Bishop Puginier towards the scholars was above all inspired by his Catholicism. So I remarked to him that the scholars must know how the missionaries felt about them: they might think that the French officials felt the same way since they shared the same religion, and that in consequence the scholars must have developed real apprehensions about their own future as a class. It required no more than this to turn them into enemies of France. I added that the scholars would probably have a different attitude if we treated them properly, as they had a right to expect, by showing regard for their religion, customs and administrative traditions etc.. In a word, instead of taking the unrealistic and dangerous course of threatening to suppress them, we should treat them well and reassure them about their future.

Nothing that I said had any effect. I met with an intractable response and both the conversation and the diner ended with this final reply: "They must be suppressed".

Now, in Annam as in China the scholars represent the governing class of the population. They are very attached to the laws, customs and religion of their own society. So naturally they became annoyed when foreigners incessantly attack everything which they themselves revere and which form the basis of their own authority. Consequently it is not from among them that missionaries might hope for religious conversions, In fact during the two cwnturies and more that the Catholic missions have been operating in China and the Indochina peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism. And it could hardly be otherwise, for in making themselves Catholics this element would lose all moral authority and would be despised by the majority of society..

..In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society (J. L. de Lanessan, "Les Missions et Leur Protectorat", Paris, Alcan, 1907, pp. 40-43)

Tại sao giới Văn Thân lại không chịu cải đạo? Bởi vì, tuy nghèo khổ, nhưng họ đã thấm nhuần tư cách của người quân tử: "Bần tiện bất năng di", nghèo khổ nhưng lòng không thay đổi, không như những kẻ hạ tiện, vì một vài cái mồi vật chất nhỏ mọn và một cái bánh vẽ trên trời mà đã vội vàng bỏ cả mồ mả, ông bà, tổ tiên.

Chúng ta thấy rằng tài liệu trên của Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan đã cho chúng ta biết bộ mặt thực của giám mục Puginier cũng như thực chất công cuộc truyền đạo ở Việt Nam. Tài liệu này cũng chứng tỏ thật rõ ràng chỗ đứng của Văn Thân trong xã hôi Việt Nam vào thế kỷ 19. Tất cả những điều này đều trái ngược với những thiên kiến sai lầm của ông Lê Hữu Mục viết về Văn Thân. Chúng ta hãy tiếp tục xét đến vài điểm khác của ông Lê Hữu Mục:

Tình trạng về chiều của Tống nho kéo dài đến hết thời Tự Đức, càng ngày càng trở nên lạc lõng, phản động, xa rời thực tế và quần chúng, và hoàn toàn bất lực khi phải đối diện với Công giáo để giải quyết những vấn đề chính trị quốc tế...Tất cả mọi khó khăn họ chỉ giải quyết bằng cách đổ tội cho người Công giáo (trg. 352)

Nói cho đúng, đạo Công giáo là đạo của tiểu nhân, nói theo từ ngữ của các nhà nho, chỉ khác một điểm lá các tiểu nhân ấy, một khi nhận lãnh ân sủng của Thiên Chúa, lại có khả năng trở thành thánh nhân như Chúa...

Đạo Công giáo còn là đạo của đàn bà trẻ con... Chúa phán: "Ai không nên như trẻ con thì không được vào nước thiên đàng." (trg. 355)

Giải phóng và thăng tiến phụ nữ (luật cấm đa thê của Gia Tô. TCN) là dẹp bỏ nghề coi tử vi của họ (văn thân), nghề xem đất đai, xem ngày lành tháng tốt của họ. Các nhà hành đạo công giáo đã đập vỡ nồi cơm của Văn Thân, làm gì họ không căm thù Công giáo thâm gan tím ruột? Làm gì họ không kêu gọi nhau đứng lên vạch mặt chỉ tên những người Công giáo đã bán đứng họ, và bán đứng những người rường cột của làng xóm như họ tức là bán nước. (trg. 356)

Theo họ nghĩ, khi bãi bỏ lệ thờ cúng tổ tiên, người Công giáo lại đụng đến nồi cơm của họ một lần nữa, và lần này rất trầm trọng vì nó thủ tiêu tất cả những quyền lợi vật chất mà nhà nho lãnh đạo tinh thần trong thôn xóm có thể thu hoạch được nhờ tục lệ này. (trg. 357)

Đọc những đoạn trên chúng ta thấy thực chất học vị tiến sĩ và kiến thức của ông Lê Hữu Mục ra sao?

·        Thứ nhất, qua những tài liệu mà tôi vừa trích dẫn, cái tội của những người Gia Tô đối với quốc gia dân tộc đã rõ ràng, việc gì mà các Văn Thân phải "đổ tội cho những người Công Giáo"? Tại sao Văn Thân lại ghét thậm tệ những người Gia Tô? Vì Văn Thân là những người yêu nước không chấp nhận những hành động phản bội quốc gia của người Gia Tô.

Trong cuốn French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914, Patrick J. N. Tuck viết, trg. 28:

"Xét về toàn bộ, truyền thống tôn giáo Việt Nam là một truyền thống dễ hấp thụ, pha trộn, để cho con người có thể theo nhiều con đường khác nhau đi đến chân lý.

Đối ngược với điều trên, những điều tự nhận của Ki Tô Giáo về một tâm linh duy nhất thật là phi lý và kỳ cục đối với người Việt Nam. Ngoài ra, chiến thuật dụ người vào đạo của các thừa sai có tính cách xâm nhập độc chiếm. Ảnh hưởng xã hội và chính trị của sự truyền đạo này có tính cách phá hại cao độ. Chính điều này đã gây nên thái độ thù nghịch trong giới sĩ phu cũng như trong đại chúng"

(Overall, Vietnamese religious tradition was absorbant and syncretic, allowing for the pursuit of many paths to the Truth. In contrast with this, the exclusive spiritual claims of Christianity seemed irrational and eccentric to the Vietnamese. However, missionaries strategies of conversion were exceptionally intrusive. The social and political effects of their proselytism could be highly disruptive. It was this which aroused popular as well as elite hostility)

"Theo quan điểm của người Việt Nam, những sự tàn sát tín đồ Ki Tô Giáo không chỉ là một biểu thị của sự hoang mang chính trị. Nó có một mục đích thực tế là đánh thẳng vào một chiều kích đáng kể trong nỗ lực quân sự của Pháp. Về phần Pháp, sau những do dự ban đầu (Tài liệu 106), đa ỵ tận dụng những tín đồ Ki Tô Việt Nam như là các trợ quân trong cuộc chiến. Những tín đồ Ki Tô Việt Nam được sử dụng làm cu-li, thông ngôn và lính chiến đấu; và giáo dân Việt Nam đã góp tiền tổ chức những lực lượng riêng thí dụ như "đoàn quân Joseph" khoảng 7000 người.. Thật vậy, như Giám mục Puginier đã vạch rõ, Giáo dân rất hữu dụng trong việc lấy tin tức tình báo quân sự về những sửa soạn của kháng chiến quân Việt Nam và về sự chuyển quân của quân Trung Hoa (Tài liệu 116). Một đạo luật chống Ki Tô mà Thuyết (Tôn Thất) ban ra năm 1885 xác nhận là chính cái nhiệm vụ lấy tin tức tình báo này của những cộng đồng Ki Tô mới thật là đáng sợ (Tài liệu 113)."

(...From a Vietnamese point of view, the massacres of Christians were not merely an expression of political frustration. It served a practical purpose in striking at a significant dimension of French military effort. For the French, after initial hesitations (Doc. 106), were making considerable use of Vietnamese Christians as axiliaries in the war. Christian Vietnamese were employed as coolies, interpreters and miliciens; and Vietnamese Christians also financed and organized privates forces such as the "armée Joseph", a body of about 7000 irregulars.. Above all, as Bishop Puginier pointed out, Christians were useful in gathering field intelligence on Vietnamese resistance preparations and on Chinese force deployments (Doc. 116). A later anti-Christian decree of Thuyet, issued in 1885, confirms that it was the intelligence gathering function of the Christian communes that was particularly feared (Doc. 113).

Những báo cáo về tín đồ Gia Tô đốt làng xóm, chùa chiền, và cướp bóc trong những làng phi - Gia Tô một cách quá mức, bất cứ khi nào chúng theo gót giầy của những lính xâm lăng Pháp, là điều hiển nhiên.

(Reports of Catholics burning of villages, pagodas, and pillages of "pacified" non-Catholic villages to the excess were well known, whenever they follow the bootsteps of the French invaders.)

Vậy, đáng lẽ ra ông Lê Hữu Mục nên viết là Văn Thân xử tội người Công Giáo mới đúng chứ còn viết Văn Thân đổ tội cho người Công Giáo thì trật lất.

·        Thứ nhì, những người Công Giáo giải quyết chính trị như thế nào? Làm tay sai cho ngoại nhân và theo gót giầy của quân xâm lăng giết người yêu nước, tàn phá quê hương là giải quyết những vấn đề chính trị quốc tế hay sao?

·        Thứ ba, Công Giáo là đạo của tiểu nhân, đàn bà và trẻ con. Điều này ông Lê Hữu Mục viết đúng. Nhưng ân sủng của Thiên Chúa là cái gì, và Thiên Chúa có thực là thánh không? thánh như thế nào? ai bảo là thánh? bao nhiêu phần trăm dân chúng trên thế giới cho Thiên Chúa Gia Tô là thánh? những người tin rằng có một Thiên Chúa và Thiên Chúa đó là thánh thuộc những thành phần nào trong xã hội? Trẻ con là giai đoạn chưa phát triển về thể xác cũng như về trí tuệ của con người. Chỉ có những người có đầu óc như của trẻ con, ngây thơ, ai nói gì cũng tin, dễ bị đầu độc bằng cách nhồi sọ, mới có hi vọng vào nước thiên đàng của Chúa. Chúa phán vậy vì Chúa biết những người đã trưởng thành, thông minh, sáng suốt, có đầu óc, biết suy nghĩ, thí dụ như những Văn Thân, thì khi nghe nói đến nước thiên đường chỉ cười. Tại sao? Vì với đầu óc suy luận, họ nhận ra rằng thiên đường đó chỉ là một "hoang đường".

·        Thứ tư, không có một tài liệu cổ kim nào ghi rằng Văn Thân sống vào nghề xem tử vi và ngày lành tháng tốt. Nghề thầy giáo thì đúng hơn. Ông Lê Hữu Mục đã dựng lên một người rơm để rồi tự tay mình quật người rơm đó xuống. Thủ đoạn này thật là quen thuộc, chúng ta có thể thấy rõ ràng trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng của Giáo hoàng Giôn Pôn Hai (John Paul II). Ông Lê Hữu Mục cũng liên kết nồi cơm và tất cả quyền lợi vật chất của Văn Thân với tục lệ thờ cúng tổ tiên của người Việt, một tục lệ đã có từ ngàn xưa trong khắp dân gian, từ dân cùng đinh trong nhà tranh vách nát cho tới vua chúa trong triều đình. Bỏ lệ thờ cúng tổ tiên là làm mất nồi cơm và tất cả quyền lợi vật chất của Văn Thân? Chỉ có những đầu óc Gia Tô thuộc loại Alexandre de Rhodes cuồng tín, mà cuồng tín, theo định nghĩa của giáo sư sử Nguyễn Mạnh Quang, chính là sự tổng hợp của ngu dốt và huênh hoang khoác lác, bịa đặt, xuyên tạc như trong Phép Giảng 8 Ngày mới có thể nghĩ ra một luận cứ hoang đường như vậy.

·        Thứ năm, ông Lê Hữu Mục viết ở trên là các ông Tú (Văn thân) "lúc nào cũng lo sợ bị khinh, bị coi thường mặc dầu chính mình cũng tự biết là không có gì để cho người ta kính trọng cả." , giờ chính ông lại phủ bác câu ông viết ở trên: "họ là những người rường cột của làng xóm và nhà nho lãnh đạo tinh thần trong thôn xóm." Phải chăng ông chỉ viết lấy được, viết cho hả cái ấm ức trong lòng mà không cần để ý đến những điều vô lý, tiền hậu bất nhất trong những tư tưởng của ông?

·        Thứ sáu, xin ông Lê Hữu Mục học lại định nghĩa của từ "bán đứng" và xem lại xem ông dùng từ "bán đứng" trong câu ông viết ở trên có khớp không. Tôi không có hứng giảng Việt văn cho một ông giáo sư dạy tiếng Việt như tiểu sử của ông đã ghi.

Xuyên tạc, dựng lên những điều không tưởng để hạ thấp, dè bỉu v..v.. giới Văn thân xong rồi, ông Lê Hữu Mục mới đánh bóng những người Gia Tô:

Phải công nhận rằng nhóm Công giáo thời đó có nhiều điểm mạnh, mà điểm mạnh nhất của họ là họ thấu triệt tình hình quân sự, kĩ nghệ, thương mại trên thế giới, họ đã phần nào hấp thụ văn hóa Âu châu, hiểu thế nào là dân chủ, tự do, là cá nhân, xã hội, là khoa học kĩ thuật..(trg. 359)

Ông Lê Hữu Mục công nhận Công giáo là đạo của tiểu nhân, chỉ nhờ vào ân sủng của Thiên Chúa để biến thành Thánh như Thiên Chúa, và của đàn bà và trẻ con.

Toàn quyền Đông Dương de Lanessan đã khẳng định rằng các thừa sai chỉ có thể tuyển mộ tín đồ trong những tầng lớp cặn bã của xã hội, đã bị xã hội Việt Nam ruồng bỏ, nghĩa là bọn du thử du thực, đầu trộm đuôi cướp, thất học. Vậy cái nhóm Công giáo thời đó mà thấu triệt tình hình quân sự, kỹ nghệ, thương mại trên thế giới... và hiểu thế nào là dân chủ, tự do, là cá nhân, xã hội, là khoa học kỹ thuật... là cái nhóm nào vậy? Giáo dân thì như vậy, còn các Linh mục bản xứ thời đó thì được đào tạo để nhiều nhất là làm cái loa phóng thanh cho các giám mục ngoại quốc bề trên để mê hoặc đám dân cùng đinh thấp kém. Vậy cái nhóm trí thức Công giáo trên là cái nhóm nào, học ở trường nào, chương trình học ra sao, đã có những đóng góp gì cho quốc gia v..v..?

Thực ra, không phải là cái nhóm Công Giáo này không có cơ hội giúp nước (thực ra là giúp thực dân Pháp). Sau khi chiếm Bắc Kỳ, vì toàn bộ giới Văn Thân và quan lại không chịu hợp tác với một triều đình hàng giặc cũng như với thực dân Pháp nên Pháp đã ra thông cáo kêu gọi sự hợp tác của những người có khả năng để lấp vào chỗ trống trong guồng máy hành chánh Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Pháp. Chúng ta hãy đọc hai tài liệu sau đây của Patrick J. N. Tuck viết về sự việc này:

Tài liệu số 68:

Bây giờ, tỉnh Hà Nội đã được bình định.. Tuy những tín đồ Gia Tô là những người đầu tiên hiến thân giúp đỡ, tôi (Francis Garnier) cẩn thận tránh chỉ tin cậy vào họ... Tôi ra thông cáo mời giới sĩ phu đến gặp tôi, vì tôi không muốn họ nghĩ rằng tôi có thành kiến chống đối họ.

(Document 68: The province of Hanoi is at this present moment pacified... Although the Christians were the first to offer me their help, I took care to avoid relying exclusively on them...I issued a proclamation inviting the scholars to come and find me, because I did not want them to feel I harboured any prejudice against them.. (A.O.M Aix. Indochine, Amiraux 12,466)

Tài liệu số 73:

Trong khi đó, tôi (Harmand, sĩ quan của Garnier ớ Nam Định) tiếp tục nhận được không ngớt những người muốn gặp tôi: có một đoàn dài xếp hàng trước cửa văn phòng tôi từ bảy giờ sáng đến chập tối. Tôi bắt buộc phải tiếp cái đám đông này, ngay cả trong những bữa ăn của tôi. Có những người, đáp ứng thông cáo của Garnier, yêu cầu tôi cấp vũ khí cho họ, tự xưng là sĩ quan hay sĩ phu, và ngay cả yêu cầu tôi cho họ làm quan huyện, quan phủ. Hầu như tất cả những người này đều là tín đồ Ki Tô, và một số lớn đến từ Ninh Bình, do các linh mục gửi đến. Trong mọi trường hợp, những tín đồ Ki Tô này tự chứng tỏ là những kẻ tham lam ti tiện thiếu khả năng như họ đã tự đề cao... Nếu có thể được, tôi muốn dùng càng nhiều những người ngoại đạo càng tốt, phần chính là để không xẩy ra những bất hòa tự nhiên trong vùng, nhưng cũng vì hầu hết những tía đồ Ki Tô đều là những người ở trình độ thấp, đã bị chính quyền An Nam coi thường, không quen giao thiệp, và tuyệt đối không có kinh nghiệm gì về hành chánh. Hơn nữa, trong bọn họ hiếm mà có người biết chữ. Vì tôi biết chắc như vậy nên tôi cần phải nói thẳng ra, không hề có thành kiến. Điều chắc là những tín đồ Ki Tô đã phục vụ chúng ta rất nhiều, và làm cho nhiệm vụ (chinh phục) của chúng ta được dễ dàng, nhưng họ cũng làm cho tôi lo lắng không ít.

Document 73:

(Meanwhile I (Harmand) continued to receive incessant visits: there was literally a queue at my door from seven in the morning till nightfall. I was obliged to receive this crowd even during my mealtimes. These were people who, in response to the proclamation made by Mr. Garnier, asked to be given arms, put themselves forward as officers and scholars, or even came asking to be made "huyen" or "phu". They were nealy all Catholics, and a considerable number came from the province of Ninh Binh, sent by priests. The Christians showed themselves in all instances indecently covetous, and as incompetent as they were conceited. In their own interests I always tried to temper their ardour. I wanted to nominate as far as possible more pagans than Christians, mainly so as not to cause natural discontent in the area, but also because the Christians, almost all of low degree, are disregarded by the Annamese government, are not familiar with business matters, and are absolutely new to administration. Moreover they are rarely literate. Since I am sure of this, I must speak openly and without prejudice. It is certain that the Christians have served us well, and have greatly eased our task, but they have caused me a lot of worry.)

Hai tài liệu trên, một của Garnier, một của Harmand, đã nói lên thực chất của cái mà ông Lê Hữu Mục gọi là nhóm Công giáo đã thấu triệt tình hình quân sự, kĩ nghệ, thương mại trên thế giới, họ đã phần nào hấp thụ văn hóa Âu châu, hiểu thế nào là dân chủ, tự do, là cá nhân, xã hội, là khoa học kĩ thuật.. Tại sao cả Garnier và Harmand đều không chịu dùng cái nhóm Công giáo này dù họ đã tình nguyện đến phục vụ cho Garnier và Harmand?

Chúng ta nên nhớ, những giáo dân lên Nam Định xin hợp tác với Pháp đã được các linh mục của họ ở Ninh Bình, trong số này chắc phải có linh mục Trần Lục, tuyển chọn và tiến dẫn cho các quan đại Pháp, nhưng các quan đại Pháp lại chê là họ ngu dốt, tham lam ti tiện và mù chữ. Viết ra những điều hoàn toàn trái ngược với sự thật, phản ánh một tâm địa lắt léo, một kiến thức nghèo nàn hời hợt, không hiểu ông Lê Hữu Mục có mục đích gì? Người Gia Tô thường cho rằng họ có thể làm bất cứ điều gì, bất kể thủ đoạn, miễn là để làm "sáng danh Thiên Chúa trên trời", thì sau này họ sẽ được Chúa cho lên Thiên đường. Có thể ông Lê Hữu Mục cũng nghĩ như vậy và tin rằng ông sẽ được Giáo hội phong thánh vì có công lớn với giáo hội, và khi nhắm mắt hai tay buông xuôi sẽ được Chúa đón lên thiên đường hội họp cùng ông Diệm, ông Nhu, hay ông Trần Lục. Mừng cho ông.

Tới đây, tôi hi vọng độc giả đã thấy thực chất những bài viết bởi các bậc đại trí thức Gia Tô trong cuốn Trần Lục ra sao rồi. Còn một chủ đề cuối cùng trong cuốn Trần Lục tôi muốn bàn tới, đó là những quan niệm thần học mà một số tác giả đưa ra để tôn vinh đức tin của Trần Lục cũng như của các tín đồ Gia Tô. Muốn bàn đến đức tin Gia Tô, chúng ta cần ít ra là một cuốn sách tối thiểu là vài trăm trang. Hiển nhiên là tôi không thể bàn về đức tin này một cách sâu rộng trong phạm vi của một bài viết mà mục đích chỉ là đưa ra vài nhận định về cuốn Trần Lục. Tuy nhiên, tôi có thể nói tóm tắt là, những điều viết về đức tin Gia Tô trong cuốn Trần Lục là dựa vào một nền thần học đã lỗi thời, thí dụ như những quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ đồng trinh, Chúa sống lại và bay lên trời, những bí tích như rửa tội, ban thánh thể v..v... của những người, từ Đức Ông trở xuống, viết về Thánh Kinh mà thực sự chưa bao giờ đọc Thánh Kinh. Tôi sẽ đưa ra vài thí dụ để chứng minh luận cứ này. Nhưng trước hết, chúng ta hãy bàn chút ít về nền Thần Học Gia Tô ngày nay.

| à đọc tiếp:   Thần học Gia-tô |

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com