giaodiem copyright
posted: 12.02.2006

     4. Nền Thần Học Gia Tô.

Trong vài thập niên gần đây, trước sự tiến bộ về trí thức của nhân loại, trước sự tràn ngập của những tác phẩm nghiên cứu về Thánh Kinh và ý nghĩa của Thần Ki Tô (Christian God) trong cũng như ngoài giáo hội, vạch ra những sai lầm về lịch sử, khoa học, và Thần học v...v...trong Thánh Kinh, và những thuộc tính đã lỗi thời, đối ngược với những tiêu chuẩn luân lý đạo đức của con người ngày nay v...v...của Thần Ki Tô (Chúa Cha) và của Giê-su (Chúa Con) trong Thánh Kinh, Giáo hội Gia Tô La Mã (Công Giáo) đã tận dụng học thuật Gia Tô (Catholic scholarship) để uốn nắn đầu óc của đám tín đồ theo chiều hướng một nền thần học mới. Đáng tiếc là các bậc đại trí thức Gia Tô viết trong cuốn Trần Lục không biết đến chiều hướng này, nên vẫn bám chặt vào một nền thần học dựa theo những điều mà họ tin là những "mặc khải không thể sai lầm" của Thiên Chúa trong Thánh Kinh.

Học thuật Gia Tô bao gồm những lý thuyết Thần học mơ hồ, đã được thay đổi nhiều qua dòng lịch sử, để bảo vệ đức tin Gia Tô, chủ yếu nhằm vào giới trí thức; những sách lược tuyên truyền sai sự thực về "những sự tốt đẹp", những sắc thái "thánh thiện", và những "phép lạ" v...v... mà Giáo hội đưa ra để thu hút và giữ tín đồ; những tín lý vô căn cứ của Giáo hội đưa ra để duy trì quyền lực tự phong của giới lãnh đạo Gia Tô (Xin đọc chương 6, 7 trong cuốn Công Giáo Chính Sử, Ibid., trg 219-336).

Theo định nghĩa, Thần học là một môn học dùng để giải thích quan niệm về sự hiện hữu của Thần Ki Tô, được đặt ra như một tiền đề, rồi từ đó biện giải về mối liên hệ giữa Thần và con người, và làm phát triển trong con người lòng tin và thờ phụng Thần. Nhưng Gia Tô La Mã Giáo đã vận dụng tối đa xảo thuật sử dụng tính chất co dãn của ngôn từ vào trong môn Thần học, kể cả xuyên tạc, thay đổi sự thực để đạt mục đích toàn trị của Giáo hội. Thật vậy, trong cuốn Một Linh Mục Hiện Đại Xét Về Giáo Hội Lỗi Thời Của Mình (A Modern Priest Looks At His Outdated Church), một cuốn sách đã được một số trí thức trong cũng như ngoài giáo hội ca tụng, linh mục James Kavanaugh đã đưa ra một nhận xét như sau về nền Thần học Gia Tô, trang 6:

" Tuy nhiên, nền Thần học của chúng ta đã trở thành một trò chơi học thuật. Đó là một mớ luật lệ tích tụ trong sự cay đắng tôn giáo của những cuộc tranh chấp nhỏ mọn. Đó là một chuyện cổ tích về những chân lý đã nhàm chán, chỉ có tác dụng tước đoạt trách nhiệm cá nhân của con người và hạ thấp con người thành một nô lệ vô danh sợ sệt. Thần học đã tước đoạt đầu óc con người và chỉ để lại trong họ những lời học thuộc lòng... Đó là nền Thần học mà tôi đã học và truyền lại trong mọi kỳ xưng tội mà tôi nghe, trong mọi lớp học tôi dạy, trong mọi bài giảng tôi nói cho đám con chiên đầy mặc cảm tội lỗi."

(Our theology, however, has become a scholar's game. It is a code of rules accumulated in the petty wars of religious bitterness. It is a tale of tired truths, which only serve to rob man of personal responsibility and reduce him to the listlessness of a frightened slave. Theology took away man's mind and left him memorized words... This is the theology I learned and transmitted in every confession I heard, every class I taught, every sermon I gave to the guilt-infected flock.)

Và, trong cuốn "Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại: GiaVê và Giêsu" ("Mythology's Last Gods: Yahweh and Jesus", p. 16), Tiến sĩ William Harwood, một tín đồ GiaTô đã tỉnh ngộ và bỏ được một niềm tin sai lầm sau khi nghiên cứu lịch sử các tôn giáo trong đế quốc La Mã và khám phá ra rằng "bí tích" ăn thịt uống máu Chúa (Eucharist), thường được biết dưới một tên hoa mỹ là "bí tích ban Thánh thể", mà ông đã tin và thọ hưởng cái bí tích này hàng tuần và trong nhiều năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng các Thần (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của con người (Dr. Harwood..discovered that the "god-eating" ritual in which he participated weekly as a believing Christian had existed three thousand years before Jesus' birth. Not for three years, however, could he fully abandon the disproved beliefs to which he had been emotionally committed, and acknowledge that gods are as imaginary as fairies), đã viết:

"Người ta đã khám phá ra rằng, từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện, những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa, những điều tiên tri về những sự việc đã xảy ra, ghép với những điều tiên tri về tương lai đã được chứng tỏ là không chính xác, và không còn sai lầm gì nữa là chứa những lời nói láo cố ý. Nếu sự khám phá này được phổ biến tới đại chúng thì cái huyền thoại Do Thái - KiTô đã bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi vọng phục hồi.

Trước nguy cơ bị loại bỏ này, Giáo Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử gia của chính ông ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia thế tục và tìm ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin rằng thể nào cũng phải có. Kết quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng phải xác nhận là Thánh Kinh của họ thực ra chỉ là một ảo tưởng sai sự thực. Họ phúc trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài lập tức dẹp bỏ cái phúc trình này đi thì họ không còn là tín đồ GiaTô nữa. Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp luận khác để đánh đổ phương pháp của những sử gia trên, một phương pháp luận được tạo ra với mục đích rõ rệt là phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái - KiTô không phải là một tác phẩm hoang đường, không cần để ý đến chuyện phải xuyên tạc những bằng chứng đến cỡ nào để đi tới mục đích trên. Cái phương pháp luận đó là "Thần học"...

Đó là quyền lực của chính trị Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đã có hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái - KiTô, cho tới ngày nay, 90% dân chúng trong những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả phủ bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm giả tưởng."

(One by one the various books of the bible were discovered to contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations; prophecies ex-post-facto, usually combined with prophecies of the future that proved inaccurate; and unmistakable, deliberate lies. Had this discovery been allowed to reach general public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could not have hoped to recover.

Facing elimination, the current Pope appointed his own historians to examine the secular historians' conclusions and find the flaw in their evidence that he believed must be there. The outcome was that the Papal historians confirmed that their bible really was falsifiable fantasy. They presented the Pope with their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be Catholics. So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology to combat that of the historians, a methodology created for the specific purpose of reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is nonfiction, no matter how severely the evidence had to be distorted in order to achieve that objective. That methodology was 'theology'..

...Such was the power of the world's theocracies that, despite the publication of thousands of scholarly books and articles refuting every part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to ninety percent of the population of Christian-dominated societies.)

Cái thảm cảnh của con người hiện nay trên thế giới là vẫn còn một số không nhỏ bị giam giữ trong "những ốc đảo ngu dốt" (từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh), hoặc trong cái "bóng tối dày đặc của ý thức hệ La-mã" (theo Tiến Sĩ Barnado: The thick darkness of Romanism), không hề biết đến những tiến bộ của nhân loại cùng những sự thực về Ki Tô Giáo. Nhưng đối với lớp người hiểu biết thì nền Thần học Ki Tô Giáo, một nền Thần học đã chiếm địa vị độc tôn trong suốt 1000 năm của thời đại tăm tối (The dark Ages) ở Âu Châu với hậu thuẫn của gươm giáo, của những Tòa Hình án (Inquisitions), ngày nay đã mất đi tính cách thuyết phục và bị đẩy ra khỏi môi trường trí thức của nhân loại.

Giáo sư David Voas, đại học New Mexico, Hoa Kỳ, tác giả cuốn sách khảo cứu Tân Ước nổi tiếng: Cuốn Thánh Kinh Mang Tin Xấu: Cuốn Tân Ước (The Bad News Bible: The New Testament) đã viết trong phần dẫn nhập như sau:

Thần học, đã một thời như là bà hoàng của các khoa học, ngày nay có vẻ chỉ còn là bà hoàng của các tu viện, vẫn đàm tiếu về cùng những chuyện cổ xưa sau khi các em nhỏ hát Thánh ca đã trưởng thành và bỏ đi lâu rồi. Thật là đáng xấu hổ... Thần học - chấp nhận như là môn học về Thần Ki Tô - bị coi là không có chủ đề nào, hoặc ít nhất là không có chủ đề nào chúng ta có thể nghiên cứu. Đó là ngành học duy nhất với những chuyên gia thực sự không biết mình đang nói cái gì.

Vì không có chất liệu cho chủ đề, các nhà Thần học phải xử dụng đến hai lãnh vực kỳ quặc: óc tưởng tượng và Giáo quyền... Ngày nay, các tư tưởng gia Ki Tô có nhiệm vụ chứng tỏ Thánh Kinh có ý nghĩa, nhất quán, và có vẻ như là có thể biện hộ cho vấn đề luân lý đạo đức trong đó. Điều này có thể thật là khó khăn.

(Theology, once queen of the sciences, now seems merely queen of the cloisters, still gossiping about the same old stories long after the choir boys have grown up and moved on. It's a shame... Granted, theology - the study of God - suffers from the suspicion that it has no subject, or at least none we can study. It is the only field with experts who don't know what they are talking about.

Their subject matter being inaccessible, theologians must resort to the odd couple of imagination and authority... Christian thinkers now have the job of showing that scripture makes sense, is consistent, and appears morally defensible. This can be difficult.)

Cũng vì vậy mà John E. Remsburg đã viết trong cuốn Những Điều Tự Nhận Sai Sự Thực (False Claims), (của Giáo hội Gia Tô. TCN) trg. 3:

"Trong những giới thông minh ở Âu châu và Mỹ châu, nền Thần học Ki Tô trên thực tế đã chết."

(Among the intelligent classes of Europe and America, Christian theology is practically dead)

Cho nên, nếu chúng ta thấy một người nào ở trong Giáo hội Gia Tô thuộc loại "Giáo Hoàng nói thì chỉ biết tuân chỉ", mà mang học vị "Tiến sĩ Thần học" thì chúng ta phải hiểu ngay rằng học vị này chỉ được đào tạo với mục đích bảo vệ những tín lý đã lỗi thời bất kể phải dùng đến thủ đoạn nào. Còn những Tiến sĩ Thần học thứ thiệt nổi danh là những "con chiên ghẻ" trong giáo hội như Hans Kung, Charles Curran, Edward Schillebeeckx v..v..., những người dám đặt vấn đề Đồng Trinh, Sống Lại, Thăng Thiên, Giáo Hoàng không thể sai lầm, kiểm soát sinh sản v...v... với Tòa Thánh, thì họ đã bị Giáo Hoàng khóa miệng, cấm dạy học, cấm viết sách v..v.. vì họ không chịu nhắm mắt, bịt mũi tin theo những lời "Giáo hội dạy rằng". Lẽ dĩ nhiên, ngoài giáo hội cũng có những giáo sư Thần học dạy trong các đại học, nhưng họ không lệ thuộc Tòa Thánh Vatican và vẫn giữ tư cách độc lập trí thức của họ. Cũng vì vậy mà ngày nay chúng ta mới có những tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc về những sự thật của Ki Tô Giáo mà tính cách chính xác và trí thức của những tác phẩm này không ai có thể phủ nhận.

Kết quả những cuộc nghiên cứu về Thánh Kinh xuyên suốt qua nhiều thế kỷ đã được tóm tắt như sau bởi Linh mục Ernie Bringas (Ibid., trg. 91):

"Với sự tái khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được. Trong một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống lại của Chúa, và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp nhận như là những sự thực lịch sử.

"Trong những năm 1835-1836, cuốn Khảo Sát Cặn Kẽ Về Đời Sống của Giê-su (The Life of Jesus Critically Examined) của D. F. Strauss đã quy một số chuyện trong Tân Ước là "huyền thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo. Ngày nay, kết quả những cuộc nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và xác nhận sự khẳng định này. Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo điều giáo hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:

1. Đức Mẹ đồng trinh

2. Hiện thân của Chúa (Thượng đế hiện thân thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê-su.)

3. Nhiệm vụ cứu rỗi của Chúa

4. Sự sống lại của Chúa.

5. Sự thăng thiên của Chúa (Thân xác Chúa bay lên trời 40 ngày sau khi sống lại)

6. Chúa trở lại trần (để làm sống lại những người chết cho ngày phán xét cuối cùng)

7. Ngày phán xét cuối cùng (Chúa Cha phán xét luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)

(With the rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur. In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew increasingly unacceptable as historical realities.

In 1835-1836, The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to some NT narratives as "myth" and defined those unhistorical elements as expressing a series of religious ideas. Today, analytical studies continue to support and confirm this assertion. The majority of scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines as myth:

1. The virgin birth

2. The Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)

3. The work of Atonement (plan for salvation)

4. The resurrection

5. The ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the resurrection)

6. The Second Coming (the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last Judgment)

7. The Last Judgment (the judgment of all by God at Christ's Second Coming)

Chúng ta thấy rằng, nền thần học Gia Tô đã thay đổi nhiều với thời gian, nhưng một số tác giả trong cuốn Trần Lục vẫn còn dựa vào một nền thần học cũ kỹ, lỗi thời để viết về Trần Lục và những tín điều trong Gia Tô Giáo.

Điều lạ lùng đối với tôi là những bậc trí thức như những tác giả trong cuốn Trần Lục lại có thể tung ra một cuốn sách chứa đầy mâu thuẫn. Mâu thuẫn về tư tưởng thì chúng ta có thể chấp nhận, vì cuốn sách được viết bởi nhiều tác giả. Nhưng mâu thuẫn về sự kiện thì là một điều khó hiểu, vì các tác giả trong cuốn Trần Lục đều là những bậc trí thức. Chúng ta hãy lấy vài thí dụ.

Về tiểu sử của Trần Lục, chúng ta hãy đọc ba đoạn văn sau đây của ba tác giả khác nhau trong cuốn Trần Lục:

1.     Phải án đầy đi Lạng Sơn, hồi đó mới chịu sáu chức, do đó giáo hữu bị đày chung với ngài mới đặt cho cái tên "Cụ Sáu".. Năm 1860, được phép về thụ phong linh mục ở Kẻ Trừ, rồi lại lên Lạng Sơn truyền đạo cho số giáo dân bị tù đày tại đó (Đức Ông Trần Ngọc Thụ, trg 18)

2.     Năm 1858 Cha Jeantet truyền chức Phó Tế cho Thầy, người ta quen gọi là chức Sáu, và thầy Triêm ở bậc thầy sáu này mãi cho tới năm 1860, khi về chịu chức linh mục ở Kẻ Trừ. Vì ở bậc thầy sáu lâu năm (mới có 2 năm thôi) nên người ta đã gọi thầy Triêm là Cụ Sáu. (Đức Ông Trần Văn Khả, trg. 261)

3.     Giám mục Jeantet (tên Việt là Khiêm) kêu Thầy bí mật trở về Kẻ Sở gần Phủ Lý, truyền cho Thầy chức Linh mục rồi bảo cứ trở lại Lạng Sơn mà hoạt động dưới danh xưng mới là Cụ Sáu..(LM Trần Văn Kiệm, trg. 325)

Phân tích ba đoạn văn trên chúng ta thấy có nhiều mâu thuẫn về cùng một sự kiện. Đức Ông Trần Ngọc Thụ thì viết Trần Lục "chịu 6 chức" nên được gọi là "Cụ Sáu". Đức Ông Trần Văn Khả thì cho rằng Trần Lục ở chức Phó Tế, nghĩa là chức Sáu, lâu năm nên được gọi là "Cụ Sáu". Còn Linh mục Trần Văn Kiệm thì lại khẳng định là "Cụ Sáu" là danh xưng mới do Giám mục Jeantet ra lệnh cho Trần Lục dùng để hoạt động sau khi truyền chức linh mục cho Trần Lục.

Vậy chúng ta nên tin ai? Bảo rằng trong hệ thống Gia Tô thì bao giờ Đức Ông cũng đúng hơn linh mục. Nhưng chính hai Đức Ông cũng lại trái ngược nhau. Một mặt khác, chúng ta biết rằng trước năm 1860, Trần Lục đã được gọi là "Cụ Sáu" rồi, nhưng "Cụ Sáu" của chúng ta sinh năm 1825, vậy khi được gọi là "Cụ Sáu" thì Cụ mới có nhiều nhất là 35 tuổi. Ở Việt Nam có ai gọi một thanh niên 35 tuổi là Cụ không? Hay là cách gọi này là cách gọi đặc biệt trong vùng Phát Diệm và trong nhà tù Lạng Sơn?

Đó là về một điểm trong tiểu sử của Trần Lục.

Về Thần học Gia Tô, Đức Ông Trần Văn Khả còn viết hay hơn nữa. Thí dụ:

Trong Kinh cầu Thánh Giuse, chúng ta đọc như sau: "Ông Thánh Giuse là Cha Nuôi Con Đức Chúa Trới"(Đức Ông Trần Văn Khả, trg. 269); Ngay sau đó Đức Ông viết: Chúa Giêsu là dòng dõi Vua Đa-vít, mà Thánh Giuse (cha nuôi của Giêsu) là một thành phần (Matthew 1:16)

Nếu Giuse chỉ là cha nuôi của Giêsu thì dù cho Giuse thuộc dòng dõi vua David thì Giêsu cũng không thể nào thuộc dòng dõi vua David. Vì sao? Vì Giêsu là hoa trái của sự "xâm phạm tiết hạnh" của Thánh Linh vào Mary, một người đàn bà Do Thái đã có chồng là Giuse, nếu chúng ta tin được chuyện Thánh Linh có thể làm cho Mary mang thai. Vì vậy, Giêsu mới được gọi là Con Thiên Chúa. Đã là Con Thiên Chúa thì không thể thuộc dòng dõi vua David. Tôi có cảm tưởng rằng Đức Ông Trần Văn Khả cũng như các tín đồ Gia Tô, được Giáo hội dạy sao thì cứ nhắc lại y chang mà không hề bận tâm suy nghĩ xem điều mình nói có hợp lý hay không. Nhưng tại sao Giáo hội lại dạy Giêsu thuộc dòng dõi vua David? Vì theo niềm tin của dân Do Thái thời bấy giờ, thì một đấng Cứu Thế sẽ xuất hiện để cứu dân Do Thái và đấng Cứu Thế này bắt buộc phải thuộc dòng dõi Vua David. Do đó, vài người Do Thái theo Giêsu, viết Phúc Âm, vừa muốn chứng minh rằng Giêsu đích thực là đấng Cứu Thế nên phải thuộc dòng dõi vua David, vừa muốn "chứng minh" rằng Giêsu là Con Thiên Chúa nên mới đặt ra câu chuyện hoang đường là do Thánh Linh phủ nên Mary sinh ra Giêsu. Nhưng trí tuệ của những người viết Phúc Âm vào thời đó chưa đủ trình độ để nhận ra tính loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), nghĩa là có cái này thì không thể có cái kia, về hai vai trò "Con Thiên Chúa" và "Thuộc dòng dõi vua David". Khoan nói đến chuyện Matthew và Luke viết về gia phả Giê su, từ vua David trở xuống, hoàn toàn khác nhau, với một đàng thì 42 thế hệ, đàng khác thì 26 thế hệ với tên khác nhau. Vì thế, ngày nay thế giới mới cho rằng tiểu sử của Giêsu là một tiểu sử bất minh nhất trong những tiểu sử bất minh. Đó là chuyện Giêsu sinh ra. Còn chuyện Giêsu chết thì sao? Đức Ông Trần Văn Khả viết:

Núi này (núi Sọ) ghi lại việc Chúa Ki Tô chịu đóng đinh và chết trên cây thập tự (Đức Ông Trần Văn Khả, trg. 273)

Ở đây chúng ta nhận thấy có lòng sùng mộ đặc biệt đối với Phép Thánh Thể, với cuộc tử nạn của Chúa Giêsu Ki Tô. (trg. 279)

Vậy thì Chúa Giêsu tự nguyện chịu đóng đinh hay là bị tử nạn? Chịu đóng đinh là tự nguyện leo lên thập giá để cho người ta đóng đinh lên mình. Còn tử nạn là vì tai nạn mà chết. Lại một điều mâu thuẫn khác của cái gọi là "giáo hội dạy rằng" và tín đồ nhắc lại mà không suy nghĩ. Giáo hội dạy rằng Chúa Cha cho Chúa Con giáng trần, chịu chết trên thập giá, lấy máu mình rửa sạch tội lỗi của nhân loại. Chỉ có điều, từ ngày Chúa chết trên thập giá, tội lỗi con người càng ngày càng gia tăng, con người càng ngày càng chê Chúa, xa Chúa cho nên Chúa mới tạo ra những thiên tai, bệnh tật, chiến tranh khốc liệt chết hàng triệu người để tiếp tục trừng phạt con người. Một mặt khác, giáo hội cũng dạy rằng Chúa tử nạn vì bị người Do Thái giết, dựa theo những lời bịa đặt của Thánh Phao Lô,ư hoặc vài lời trong Phúc Âm John mà các học giả ngày nay đã cho là giáo hội ngụy tạo, thêm thắt vào Thánh Kinh về sau để có cớ bách hại người Do Thái, vì hầu hết dân Do Thái không tin Giêsu là đấng Cứu Thế của dân tộc họ.

Đức Ông thì viết như vậy, còn tín đồ trí thức thì sao? Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của Phạm Đình Khiêm

Nếu Thánh vịnh của Vua Đa-vít là một tác phẩm Cựu Ước thì công trình xây dựng của Cụ Trần Lục lại chứa đựng toàn bộ Kinh Thánh với Phúc Âm là chủ yếu (Phạm Đình Khiêm, trg. 120)

Câu này chứng tỏ ông Phạm Đình Khiêm chưa từng đọc Thánh Kinh. Ông muốn ca tụng Trần Lục nhưng lại không biết rằng Thánh Kinh chứa không thiếu những điều độc ác, giết chóc, loạn luân, mâu thuẫn, thương luân bại lý, phản khoa học, hoàn toàn sai lầm v...v... Vậy thì công trình xây dựng của Cụ Trần Lục cũng chứa những thứ này hay sao? Đó là điều ông không hề nghĩ tới, hoặc có thể không biết tới. Hơn nữa, ông cũng không biết rằng , ngày nay các học giả nghiên cứu Thánh Kinh đã chứng minh được rằng trong 150 bài "Thánh Vịnh", chỉ có vài bài là được sáng tác trong thời đại của David, phần còn lại được sáng tác vào khoảng và sau thời kỳ lưu đầy (Exile). Nhưng Thánh Vịnh là cái gì mà gọi là một tác phẩm Cựu Ước?

"Thánh vịnh" là một tập hợp 150 bài thơ dài ngắn khác nhau mà nội dung là những lời rên rỉ, ca thán, vò đầu bứt tai, của những kẻ loạn thần kinh, bài nào cũng buồn chán như bài nào (Xin đọc The Happy Heretic của Judith Hayes, p. 131: Psalms: This is one long, whining, grousing, hand-wringing, neurotic harangue. There are 150 chapters, each as depressing as the next.)

Chúng ta hãy đọc tiếp một đoạn khác.

Mẹ trên trời đã hiện ra với những hiện tượng lẫy lừng ở Fatima năm 1917, long trọng tuyên xưng tước hiệu là "Đức Mẹ Mân Côi" và khuyến cáo mọi người sám hối cải thiện, lần chuỗi Mân Côi, tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Người còn nhắn nhủ Đức Giáo Hoàng và hàng Giáo Phẩm ký thác Hội Thánh và thế giới cho sự phù hộ mẫn ái của Khiết tâm Mẹ, để Mẹ có thể rộng tay can thiệp cho thế giới trước những thảm họa sắp tới do tội lỗi loài người ngày càng chồng chất. (Phạm Đình Khiêm, trg. 123)

Đoạn trên phản ánh một lòng tin mù quáng, bất kể lý lẽ. Hiện tượng lẫy lừng ở Fatima là hiện tượng nào. Phải chăng đó là hiện tượng "mặt trời quay tít ba lượt, rồi nhảy ra khỏi quỹ đạo, tiến gần đến trái đất theo một đường gẫy khúc, ngưng lại, rồi trở về vị trí cũ?". Nếu thực sự như vậy thì trái đất này đâu còn tồn tại cho tới ngày nay? Mặt khác, Đức Mẹ đã là Mẹ của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì quyền phép vô cùng, đã tạo ra cả vũ trụ này, tại sao Mẹ còn phải "long trọng tuyên xưng danh hiệu là Đức Mẹ Mân Côi và đòi mọi người phải tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ (một tín điều do Giáo hoàng Pius IX đưa ra năm 1854, bắt mọi tín đồ phải tin), và phải hiến dâng thế giới nhỏ nhoi này cho Mẹ?. Ở trên đời, những gì mà người khác tôn vinh thì may ra còn có chút giá trị, chứ mình tự xưng thì chẳng mấy khi có giá trị, vì những lời tự xưng thường phản ánh những điều không thật. Sau cùng, ông Phạm Đình Khiêm cũng không biết rằng những thông điệp của Đức Mẹ Mân Côi ở Fatima là những thông điệp...chống Cộng (Xin đọc Công Giáo Chính Sử, chương VII). Ông Khiêm cũng không hề quan tâm đến sự kiện là những lời hứa của Mẹ chỉ là những lời hứa cuội, vì thực ra những lời hứa đó là do giáo hội đặt vào miệng Mẹ. Điều hiển nhiên là sau khi Mẹ hứa sẽ rộng tay can thiệp cho thế giới trước những thảm họa sắp tới do tội lỗi loài người ngày càng chồng chất, thì trên thế giới đã xảy ra biết bao cuộc chiến tranh kéo dài liên miên bất tận cho tới ngày nay. Ông Phạm Đình Khiêm chủ ý muốn tôn sùng Đức Mẹ, nhưng câu viết trên của ông lại có ảnh hưởng ngược lại, vì rõ ràng đó là những điều "giáo hội dạy rằng" cho những người không bao giờ cần đến sự suy nghĩ.

Trên đây tôi đã đưa ra những nhận định về bốn chủ đề chính trong cuốn Trần Lục. Một số lớn những điều các tác giả viết trong cuốn này phản ánh tín ngưỡng Gia Tô. Tự do tín ngưỡng là quyền tự do của con người với điều kiện tín ngưỡng đó không phương hại đến tín ngưỡng của người khác và phải phù hợp với sự tiến bộ của nhân loại. Xét về mặt nổi, Tòa Thánh Vatican đã đi theo con đường này từ lâu nhưng về mặt chìm thì sách lược của giáo hội Gia Tô La Mã vẫn không mấy thay đổi. Nạn nhân là những tín đồ đầu óc yếu kém, sống trong những ốc đảo tăm tối cách biệt với sự tiến bộ của nhân loại. Nạn nhân cũng là những người dân ít học trong các quốc gia kém mở mang, luôn luôn bị áp lực của cường quyền và kinh tế, thường xuyên bị cám dỗ bởi vật chất vô thường, một vũ khí khá hữu hiệu của những nhà truyền giáo Ki Tô nói chung.

Những tín đồ Gia Tô thường tin vào một mớ những tín điều, bí tích v..v..tạo thành nền tảng tín ngưỡng của Gia Tô La Mã Giáo. Những tín điều này đã không còn hấp dẫn trong các xã hội tân tiến Âu Mỹ, nhất là trong giới trí thức, khoa học. Cũng vì vậy, ngay cả trong hàng giáo phẩm Gia Tô cũng không còn mấy người tin vào những tín điều này nữa. Những vị trong hàng giáo phẩm Gia Tô như LM James Kavanaugh, LM Joseph McCabe, LM Charles Davis, LM Georges Las Vergnas v..v.., Giám Mục John Shelby Spong, các nhà Thần học Gia Tô như Hans Kung, Edward Schillebeeckx, Uta Ranke-Heinemann, và ngay cả Học Hội Giêsu (The Jesus Seminar) gồm hơn 300 linh mục, mục sư, nhà thần học v...v... nghiên cứu về nhân vật Giêsu, đã cống hiến cho nhân loại những tác phẩm giải hoặc trong thời đại này để giúp cho con người thoát khỏi cái bóng tối dày đặc của một nền Thần học đã lỗi thời, không còn hợp với sự tiến bộ trí thức của nhân loại nữa.

Trước áp lực của sự tiến bộ trí thức trên thế giới, Giáo Hoàng Giôn Pôn Hai đã phải công nhận thuyết Big Bang (Xin đọc A Brief History of Time của Stephen Hawking), nghĩa là vũ trụ và thế giới của chúng ta sinh ra từ một sự nổ bùng lớn của một dị điểm (singularity) vô cùng nóng, vô cùng đặc, chứ không phải là do Thượng đế "sáng tạo" ra trong 6 ngày. Giáo Hoàng cũng công nhận thuyết Tiến Hóa, nghĩa là con người là do sự tiến hóa của những sinh thể ban khai tạo thành, và tiến trình này đã kéo dài tới 4 tỷ năm, chứ không phải là do Thượng đế lấy đất sét (trong đất sét không có chất hữu cơ, mà thân thể con người gồm toàn chất hữu cơ, hơn 65% là nước) tạo ra tổ tông loài người là Adam cách đây mới hơn 6000 năm. Giáo Hoàng cũng đã thú nhận sự sai lầm của Giáo hội trong vụ án Galilei cách đây 366 năm, nghĩa là công nhận sự sai lầm của Thánh Kinh viết về vũ trụ v...v... Và gần đây nhất, tháng 7, 1999, Giáo Hoàng cũng đã phủ nhận quan niệm cổ xưa về Thiên đường, củ cà rốt để dụ con người, và Hỏa Ngục, cây gậy để đe dọa con người. Tuyệt đại đa số những tín đồ Gia Tô không hề biết đến những sự thay đổi sâu xa trong não trạng của hàng giáo phẩm này, vì Giáo hội vẫn cố giữ đầu óc tín đồ trong bức màn vô minh.

Cho nên, trên thực tế, Giáo hội Gia Tô vẫn duy trì những tín điều dựa vào những sự sai lầm trong Thánh Kinh trong đám tín đồ thấp kém, số tín đồ này chiếm hơn 70% tổng số tín đồ trên thế giới, và thường thuộc những nước kém mở mang ở Phi Châu, Nam Mỹ, Châu Mỹ La Tinh, Phi Luật Tân và một số cộng đồng nhỏ ở Á Châu. Tại sao? Vì quyền lợi vật chất cũng như tinh thần của hàng giáo phẩm trong giáo hội đều tùy thuộc đám tín đồ đông đảo này. Truyền thống cấm tín đồ đọc bất cứ cuốn sách nào mà giáo hội cho rằng có ảnh hưởng đến đức tin của tín đồ là một bằng chứng rõ rệt về sách lược "ngu dân dễ trị" của giáo hội, nhưng đồng thời cũng nói lên sự thiếu tự tin của giáo hội, vì giáo hội cũng tự biết rằng tín ngưỡng Gia Tô đặt căn bản trên quá nhiều điều sai lầm, không còn phù hợp với thế giới hiện tại. Do đó, một khi mà con người được mở mang trí tuệ thì củ cà rốt Thiên đường và cây gậy hỏa ngục sẽ mất đi hiệu lực.

Vấn đề khó hiểu đối với tôi là trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại đến trình độ ngày nay mà tại sao tác phẩm Trần Lục lại vẫn có thể xuất hiện? Phải chăng các tác giả trong đó đã đánh giá quá thấp trí tuệ của người dân Việt ngày nay? Phải chăng họ không hề biết đến những thay đổi về suy tư trong giới lãnh đạo Gia Tô cũng như những công cuộc nghiên cứu nghiêm chỉnh và chính xác về đạo Gia Tô? Phải chăng họ không biết đến những tài liệu về vai trò của Gia Tô GiáoViệt Nam trong thế kỷ 19 được lưu trữ tại Pháp, Bồ Đào Nha v..v... nhưng nay đã mở cho công chúng tham khảo? Phải chăng trí tuệ của các tác giả trong cuốn Trần Lục không đủ để nghiên cứu và hiểu những vấn đề trong đó? Tôi không tin như vậy. Vậy thì tại sao?

Tôi cho rằng quý vị đó đã mang nặng trên vai cái mặc cảm tội lỗi đối với dân tộc của giáo hội Gia Tô Việt Nam từ ngày đầu cho tới ngày nay, do đó tìm cách cất bỏ cái mặc cảm này. Nhưng họ đã đi sai đường, tưởng rằng với vài tác phẩm ngụy tạo văn kiện, xuyên tạc, bóp méo lịch sử v..v.. là họ có thể thay đổi được lịch sử. Con đường này, giáo hội Gia Tô hoàn vũ đã theo trong cả ngàn năm khi quyền lực tôn giáo cũng như quyền lực thế tục của giáo hội đã chiếm địa vị tối thượng trong những xã hội Tây phương, nhưng sau cùng đã thất bại. Tại sao? Vì không ai có thể đi ngược lại định luật tiến hóa của con người. Thánh Chiến, Tòa án xử dị giáo, xóa bỏ nền văn hóa phi Ki Tô, bách hại dân Do Thái, liên kết với thực dân, thỏa hiệp với Phát xít, chống khoa học, cấm tín đồ đọc sách v..v.., cuối cùng Giáo hội đã đạt được những gì?

Hơn 84% dân số trên thế giới vẫn không chấp nhận Phúc Âm của Chúa Gia Tô, ở Nam Mỹ mỗi ngày có tới 8000 người bỏ Chúa Gia Tô để theo Chúa Tin Lành, ở Mỹ cứ hai giờ đồng hồ lại có một linh mục bỏ Chúa Gia Tô để hoặc theo tôn giáo khác hoặc đi...lấy vợ, Do Thái cũng như các nước Hồi Giáo cấm không cho Chúa vào, Chúa Chính Thống ở Nga Sô toan tính ra luật đặt Chúa Gia Tô ra ngoài vòng pháp luật (outlaw Catholicism) nhưng bị áp lực kinh tế nên tạm thời phải hoãn thông qua đạo luật này, Chúa Tin Lành và Chúa Gia Tô vẫn tiếp tục giết nhau ở Bắc Ái Nhĩ Lan, Ấn Độ đòi trục xuất những nhà truyền giáo ngoại quốc muốn mang Chúa vào, Trung Quốc cấm Chúa hành nghề công khai, Việt Nam cấm mang Chúa vào khuyến dụ dân tộc thiểu số để toan tính lập thành những khu tự trị tách khỏi Việt Nam và đặt dưới quyền cai trị tinh thần của người da trắng (một điểm son cho chính quyền Việt Nam đã nhìn xa thấy rộng), Thái Lan tố cáo trước dư luận thế giới là Chúa Ki Tô nói chung đã xuyên tạc và mạ lỵ Phật Giáo ở Thái Lan, Giáo Hoàng Giôn Pôn Hai đã nhiều lần đi tới các quốc gia trong thế giới thứ ba để xin lỗi về những bất hạnh mà giáo hội Gia Tô đã gây nên tại các quốc gia này, các mục sư Tin Lành cũng xin lỗi dân da đỏ ở Tân Thế Giới (Mỹ) về những hành động diệt chủng và phá hủy nền văn hóa bản địa... Tất cả những sự kiện kể trên đã cho chúng ta thấy rõ hiện trạng của Ki Tô Giáo nói chung trên hoàn cầu. Tuy nhiên các nhà truyền giáo Ki Tô chưa bỏ mộng "Phúc Âm hóa" thế giới. Không còn rao bán được Phúc Âm trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, họ mang Phúc âm và tiền của, vật chất để kiếm linh hồn cho Chúa ở những nước kém mở mang mà sự nghèo khổ là một yếu tố để cho đám dân ít học dễ dáng theo đạo. Số linh hồn kiếm được càng nhiều thì hậu thuẫn chính trị của họ càng lớn, hậu thuẫn chính trị càng lớn thì quyền lợi vật chất càng nhiều. Đó là mục đích tối hậu của các nhà truyền giáo từ xưa tới nay chứ chẳng phải là vấn đề tâm linh đạo đức hay cứu rỗi gì đó. Chỉ cần nhìn vào tài sản của các giáo hội độc thần và quyền lực tôn giáo của các hàng giáo phẩm trên thế giới là chúng ta thấy rõ sự thật.

Có vẻ như những tác giả trong cuốn Trần Lục không hề biết đến những diễn biến về vấn đề tôn giáo xảy ra trên thế giới, đặc biệt trong những nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ. Cho nên họ vẫn còn tin vào những giáo điều đã không còn hợp với thề giới hiện đại nữa. Họ vẫn còn tin là Thiên Chúa Giáo là chính đạo, đem an vui, tiến bộ cho mọi nơi, mọi thời (Phạm Xuân Thu, trg. 199) mà không hề để ý đến lịch sử đẫm máu, chống nhân quyền, chống tự do, chống khoa học v..v.. của giáo hội trong suốt 2000 năm nay, lý do tại sao Giáo Hoàng Giôn Pôn Hai phải bôn ba vất vả đi ngược đi xuôi để xin lỗi bàn dân thiên hạ về những tội ác của Gia Tô Giáo.

Chính Giáo Hoàng đã có những hành động sám hối, khai phóng như vậy mà tại sao đến thời buổi này giáo hội Gia Tô Việt Nam vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫn không chịu thú nhận tội lỗi của mình đối với dân tộc và đất nước trong quá khứ, vẫn tiếp tục gây thêm tội lỗi cho tới ngày nay qua đường lối xuyên tạc lịch sử, che đậy một quá khứ không mấy tốt đẹp. Dù những lời tung hô Alexandre de Rhodes, Pétrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Trần Lục, Lê Hữu Từ, Nguyễn Bá Tòng v..v.. có đúng đi chăng nữa thì vài cá nhân đó cũng chẳng thể nào thay đổi được bộ mặt thực của Gia Tô Giáo tại Việt Nam, huống chi tất cả những lời tung hô đều sai sự thực, dựa trên sự ngụy tạo văn kiện và xuyên tạc lịch sử. Ngày nay, với những sử liệu đầy đủ và chính xác, với trí tuệ của người dân Việt đã tiến bộ mở mang, làm sao giáo hội có thể có hi vọng lừa dối được người dân bằng những điều hoang đường và sai sự thực?

Tôi ước mong Giáo hội Gia Tô Việt Nam hãy nhận định rõ tình hình, can đảm tự mình xưng tội với lịch sử, yêu cầu Tòa Thánh xin lỗi dân tộc Việt Nam về những bất hạnh mà Gia Tô Giáo đã mang tới Việt Nam trong quá khứ, trả lại tài sản đất đai mà giáo hội đã dựa vào thế lực thực dân Pháp cưỡng chiếm của Phật Giáo hay vơ vét của người dân bằng cách cho vay rồi lấy đất họ thế cho Nhà Chung khi họ không có tiền trả nợ và lãi, đồng thời bỏ đi những toan tính xuyên tạc lịch sử, hoặc đề cao Gia Tô giáo trái với những sự kiện lịch sử, hoặc ca tụng các nhân vật Gia Tô không đúng sự thực với mục đích làm đẹp mặt giáo hội, và hãy thay đổi đường lối lệ thuộc ngoại bang, trở về với dân tộc, nỗ lực giúp dân giúp nước qua những hành động cụ thể. Được như vậy sự cất bỏ cái mặc cảm tội lỗi không phải là khó. Người Việt Nam bản tính hiền hòa cộng với ảnh hưởng của Phật Giáo nên không hay mang tâm thù hận. Việt Nam cũng có câu "đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh kẻ chạy đến". Chạy đến với dân tộc thực sự thì sẽ được toàn dân niềm nở đón tiếp, bằng cứ tiếp tục theo lệnh ngoại bang phá hại, lũng đoạn đất nước thì muôn đời vẫn là tội đồ của dân tộc. Chánh đạo đã vạch rõ, tương lai của Giáo hội Gia Tô Việt Nam tùy thuộc ở cách hành xử của Giáo hội đối với quốc gia dân tộc, hiện tại và trong tương lai, và hiển nhiên sự hòa hợp tôn giáo trong đại khối dân tộc chỉ có thể xây dựng được trên sự thành tâm, tôn trọng sự thật, độc lập, và đặt chủ quyền quốc gia lên hàng đầu.

Trần Chung Ngọc

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com