giaodiem copyright

posted: 13.02.2006

206-muc.jpg (20625 bytes)
Lê Hữu Mục trước diễn đàn “chống Cộng”
 
206-muc-kieu.jpg (43432 bytes)
Sách của ba tác giả:
Lê hữu Muc, Phạm thị Nhung, Đặng quốc Cơ
 Tôi đọc
"TRUYỆN KIỀU VÀ TUỔI TRẺ"
của
Lê Hữu Mục, Phạm Thị Nhung, và Đặng Quốc Cơ

Trần Chung Ngọc

Lời mở đầu: Trong đầu óc của trí-thức-Catô-La-mã-giáo có một "cục bướu tinh thần" hay gây nên triệu chứng vừa mặc cảm lẫn kiêu căng. Mời bạn đọc quan sát tác giả Trần Chung Ngọc nhân đọc "Truyện Kiều và Tuổi trẻ" đã giải phẩu nó ra sao:

Đây không phải là bài "điểm sách" hay "phê bình sách" vì, thú thực cùng quý độc giả, tôi mới chỉ đọc hết có ba trang "Lời Nói Đầu" và 20 trang của chương "Tổng Luận về Truyện Kiều" trong cuốn Truyện Kiều và Tuổi Tre của ba tác giả: Lê Hữu Mục, Phạm Thị Nhung, và Đặng Quốc Cơ, Làng Văn ở Toronto, Canada, xuất bản, 1998. Chương "Tổng Luận về Truyện Kiều" do một trong ba tác giả, ông Lê Hữu Mục, viết.

Nhưng, cũng như đối với cuốn Những Bí Ẩn Đằng Sau Những Cuộc Thánh Chiến... của Lữ Giang, alias Nguyễn Cần, alias Tú Gàn, sau khi đọc "Lời Phi Lộ" trong cuốn sách trên, tôi viết một bài nhận xét và, cho tới ngày nay, sau nhiều năm, tôi vẫn chưa có thì giờ đọc tiếp.

Tôi e rằng, đối với tôi, cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ cũng sẽ chịu chung một số phận. Lý do là, trong hai phần tôi đọc ở trên, tôi thấy có nhiều sạn quá, có hạt sạn nhỏ, có hạt sạn to như...hòn cuội. Do đó, dù có đọc tiếp chắc cũng chỉ mất thời giờ vô ích, không biết hơn được điều gì mới lạ, vì với sự nhận xét của riêng tôi, và qua vài đoạn trích dẫn mà một độc giả, ông T.H.D., đã đăng trên tờ Thế Giới, số Tháng 1, 1999, tôi đã thấy rõ mức độ hiểu biết của các tác giả đối với truyện Kiều, chủ ý của các tác giả khi viết cuốn trên, và cách đặt vấn đề của các tác giả trước thế hệ trẻ.

Trong đoạn kết của Lời Nói Đầu, các tác giả viết: "Tác phẩm của chúng tôi chưa gọi được là một cảo thơm (sic) cho nên còn tồn tại nhiều khuyết điểm. Chúng tôi mong sẽ được sự góp ý của quí vị và các bạn trẻ để bổ khuyết". Vậy thì tôi xin mạo muội "góp ý" cùng các tác giả. Trước khi đi vào chi tiết, lượm ra một số cuội trong những đoạn tôi đọc, tôi nghĩ cần phải minh định một điều. Tôi vốn là người kiếm cơm bằng những kiến thức khoa học chứ không phải bằng vốn liếng văn chương chữ nghĩa. Tuy nhiên , trong bài này, tôi sẽ "múa dìu qua mắt thợ" để bàn về văn chương chữ nghĩa cao xa của ba tác giả nói trên qua một hiểu biết và luận lý (logic) thông thường, nếu có gì không đúng tiêu chuẩn "văn khoa" của quý vị tác giả, thì đó chỉ là vấn đề căn trí bất đồng đấy thôi.

Trước hết, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Lời Nói Đầu:

"...chúng tôi muốn giúp cho các bạn thanh niên hiểu rõ Truyện Kiều, đi sâu vào bản thông điệp của Nguyễn Du gửi cho thanh niên, yêu cầu họ tin tưởng vào tuổi trẻ của mình, sống thành thật với bản thân một cách tự do, và biết đấu tranh quyết liệt với mọi trở ngại, đầu tiên là với chính mình, để có thể sống một cách trong sạch. Muốn như vậy, các bạn trẻ phải hết sức can đảm, phải khai triển hết sức mạnh của ý chí, đồng thời phải tin vào thế giới bên kia, vào một lực lượng siêu nhiên nhất định, tỉ dụ., người đi đạo Phật thì tin tưởng vào Phật, người đi đạo Chúa thì trông cậy vào tình yêu của Chúa, người theo đạo Khổng thì phải sống theo đạo đức của Khổng Tử, v..v.."

Có thật chủ ý của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều chỉ là để đưa ra cái thông điệp cho thanh niên như các tác giả đã viết ở trên không? Thật ra, nếu chúng ta đọc Truyện Kiều một cách lặt vặt, ngoài toàn bộ tư tưởng của cuốn truyện (out of context), chúng ta có thể thấy rất nhiều thông điệp. Thí dụ, Hà Huy Giáp thấy thông điệp của Nguyễn Du là: "Mơ ước của Nguyễn Du muốn giải phóng kiếp người bị đày đọa đang được nhân dân ta biến thành hiện thực, dưới ngọn cờ chiến đấu của chủ nghĩa Mác - Lênin yêu nước, yêu người của Hồ Chủ tịch, của Đảng Lao Động Việt Nam." Nhận định hoang tưởng này, xét về bản chất, cũng không khác chi nhận định của ba tác giả cuốn "Truyện Kiều và Tuổi Trẻ" về một thông điệp của Nguyễn Du cho giới thanh niên. Bởi vì, cả hai loại nhận định này đều chỉ dựa trên vài chi tiết nhỏ nhặt trong truyện Kiều, nương vào đó mà đưa ra một "thông điệp" khác ngoài vấn đề văn chương chữ nghĩa.

Nếu chúng ta là những người "học thật", không phải là những "học giả" như ba tác giả cuốn "Truyện Kiều và Tuổi Trẻ", thì chúng ta phải biết rằng, giá trị truyện Kiều không nằm nơi cốt truyện, vì cốt truyện này không có gì đặc biệt, thời nào cũng có những nhân vật và nghịch cảnh như trong truyện Kiều. Giá trị truyện Kiều nằm nơi văn chương tài tình của Nguyễn Du, đã biến một chuyện tầm thường trong thời Gia Tĩnh Triều Minh bên Tàu thành một tác phẩm để đời, vì những câu thơ viết bằng chữ Nôm trong truyện Kiều đã đi thẳng vào lòng người dân Việt, từ giới trí thức cho tới giới bình dân, đến độ trong bất cứ hoàn cảnh nào trong xã hội người ta cũng có thể mượn đôi ba câu trong truyện Kiều để mô tả, thường gọi là "Lẩy Kiều." Những tên riêng của một số nhân vật trong truyện Kiều như Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Hoạn Thư, Ưng, Khuyển nay đã thành tên gọi những hạng người đặc biệt trong xã hội. Những câu thơ tả tình tả cảnh của Nguyễn Du, sau gần 200 năm, vẫn còn đậm đà, thấm thía và chính xác. Vì mục đích bài viết này không phải là bàn về văn chương truyện Kiều nên tôi xin được miễn đi vào các chi tiết. Ở đây, tôi chỉ muốn nói rằng, nếu chúng ta chỉ chú trọng vào vài chi tiết trong cốt truyện và bỏ qua toàn bộ những tư tưởng, triết lý trong truyện Kiều, không để ý đến tâm sự của Nguyễn Du khi viết truyện Kiều trong một bối cảnh lịch sử, xã hội, và cá nhân đặc biệt thì chúng ta cũng như những người cho cái vòi của con voi là cả con voi.

Khi người ta nhìn Kiều dưới một góc độ nhỏ hẹp nào đó thì thường người ta nhìn với một chủ ý. Chủ ý này, như trên đã nói, là nương vào cái góc độ nhỏ hẹp đó để quảng bá cho cái góc độ thường cũng rất là nhỏ hẹp của chính mình. Cái góc độ của ba tác giả viết cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ là như thế nào? Nó nằm ngay trong câu:

"... các bạn trẻ phải hết sức can đảm, phải khai triển hết sức mạnh của ý chí, đồng thời phải tin vào thế giới bên kia, vào một lực lượng siêu nhiên nhất định, tỉ dụ., người đi đạo Phật thì tin tưởng vào Phật, người đi đạo Chúa thì trông cậy vào tình yêu của Chúa, người theo đạo Khổng thì phải sống theo đạo đức của Khổng Tử, v..v.."

Cái "thông điệp" mà các tác giả muốn gửi cho giới thanh niên là "phải tin vào thế giới bên kia, vào một lực lượng siêu nhiên", được ngụy trang sau những bình phong như "can đảm", "ý chí", "Phật" và "Khổng tử".

Thật vậy, phân tích câu trên, chúng ta thấy một sự mâu thuẫn rất lớn, đồng thời để lộ một sự hiểu biết rất hời hợt về Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Khổng Giáo. Nếu giới thanh niên phải hết sức can đảm, phải khai triển hết sức mạnh của ý chí, nghĩa là can đảm đối diện với những thực tế của đời người, và vận dụng ý chí để thắng những nghịch cảnh thì đây chính là những hành động với ý "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều", do đó chuyện tin vào thế giới bên kia và vào một lực lượng siêu nhiên nào đó là điều không cần thiếtﬠvì niềm tin này mâu thuẫn với những đức tính can đảm, dùng ý chí của con người. Những người sẵn sàng chết vì niềm tin này là những người mê muội, mù quáng, tin vào một cái bánh vẽ trên trời, chứ không phải là những người can đảm, có ý chí.

Mặt khác, các tác giả đưa ra thông điệp trên nhưng không giải thích tại sao ta phải tin vào thế giới bên kia hay vào một lực lượng siêu nhiên nhất định, mà lại đưa ra những tỉ dụ hoàn toàn sai lầm. Chứng minh?

Thứ nhất, Phật tuyệt đối không phải là một lực lượng siêu nhiên. Phật chỉ là người tỉnh thức, người giác ngộ, và trong Kinh Pháp Hoa, Phật đã khẳng định rằng: "Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật Tánh", và "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành". Người theo đạo Phật, nếu có tin thì tin vào khả năng của chính mình, có thể tu tập thành Phật, chứ không tin Phật với hi vọng Phật là một lực lượng siêu nhiên bốc mình lên Niết Bàn. Người Phật tử cũng tin có đời sau hay kiếp sau, nhưng kiếp sau ra sao là do chính cái nghiệp của mình quyết định chứ không phải do một lực lượng siêu nhiên nào đó quyết định.

Thứ nhì, nói đến tình yêu của Chúa là nói đến lông rùa, sừng thỏ, là nói đến điều tưởng tượng của những người không đọc Thánh Kinh. Thật vậy, phải chăng tình yêu của Chúa nằm trong những lời Chúa phán trong Thánh Kinh như, Lưu Ca (Luke) 19:27 :

"Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta"

(Bring here those enemies of mine who did not want me to reign over them and slay them before me)

và Matthew 10: 34-36:

"Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn."

(Do not think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a sword. For I have come to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daughter-in-law against her mother-in-law. And a man's foes will be those of his own household.)

Lịch sử Ki Tô Giáo cũng cho chúng ta thấy rõ rằng, bất cứ Ki Tô Giáo tới đâu là ở đó cũng xảy ra những điều Chúa phán về "tình yêu của Chúa" như trên.

Thứ ba, về Khổng Giáo thì đạo đức của Khổng Tử tuyệt đối không phải là một lực lượng siêu nhiên. Khổng giáo rất thực tế. Khi được hỏi về quan niệm Thần Linh, Đức Khổng tử đã trả lời: "Chuyện con người còn chưa rõ, nói chi đến chuyện Thần Linh", và khi được hỏi con người khi chết sẽ đi về đâu Người đã trả lời: "Chuyện sống còn chưa rõ, kể chi đến chuyện chết". Vậy đạo đức của Khổng tử đưa ra là để cho con người sống sao cho phải đạo giữa con người và con người, được gói ghém trong câu "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân", cái gì mình không muốn thì đừng có làm cho người khác, chẳng dính dáng gì tới quan niệm siêu nhiên cả.

Kết luận? Các tác giả cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ nói là để giúp cho giới thanh niên hiểu sâu xa về thông điệp của Nguyễn Du nhưng thực ra chỉ làm ô nhiễm đầu óc bọn tre bằng những điều hoang tưởng, không thích hợp với thời đại văn minh tiến bộ trên thế giới ngày nay, chưa kể là lạc dẫn giới trẻ bằng những kiến thức hời hợt về Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Khổng Giáo.

Cái mưu toan dựa vào truyện Kiều để đưa ra một "thông điệp" tôn giáo của chính mình đã được các tác giả để lộ trong câu sau đây:

"Cho đến nay, cuốn Truyện Kiều không phải chỉ là cuốn sách bói cho những người mê tín, nó đã trở thành cuốn Kinh Thi và đang được cả thế giới tôn trọng như một cuốn Thánh Kinh mới."

Đây có phải là một lời khen thực sự Truyện Kiều hay không? Khen quá lố là giả dối, không thật. Tôi nhớ đến lời Tổng Thống Lyndon Johnson khen ông Ngô Đình Diệm là Winston Churchill của Đông Nam Á. Khi ký giả Stanley Karnow hỏi Johnson có phải Tổng Thống thực sự nghĩ như vậy không? Johnson đã trả lời thẳng thừng: "Cục phân, nó là thằng nhóc duy nhất mà chúng ta có ở đó" (Shit, he is the only boy we got there).

Truyện Kiều được người Việt Nam tôn trọng vì nó là một tác phẩm đứng hàng đầu trong nền văn học nước nhà, không phải vì cốt truyện, mà vì những câu thơ lục bát đầy âm điệu, đầy ý nghĩa, đối với người Việt Nam. Và chỉ có người Việt Nam mới cảm nhận được hết cái hay của truyện Kiều. Dịch ra tiếng nước khác nó trở thành văn xuôi hoặc những câu thơ lủng củng mô tả một câu chuyện tầm thường, không tài nào lột hết ý và nghệ thuật trong những câu thơ của Nguyễn Du được. Có bao nhiêu người ngoại quốc biết đến Truyện Kiều và có được những cảm xúc như người Việt Nam khi đọc Truyện Kiều? Như vậy thì thế giới nào tôn trọng Truyện Kiều như cuốn Thánh Kinh mới? Truyện Kiều được tôn trọng trong nền văn học thế giới, nghĩa là trong giới trí thức với đầu óc suy lý. Thánh Kinh được tôn trọng trong quần chúng tín đồ mà tuyệt đại đa số là những người kém hiểu biết, ít học hay vô học, được đầu độc bởi một niềm tin không cần biết, không cần hiểu. Hai sự tôn trọng này hoàn toàn khác nhau.

Mặt khác, viết rằng: "cả thế giới tôn trọng Tuyện Kiều như một cuốn Thánh Kinh mới" hàm ý cả thế giới tôn trọng cuốn Thánh Kinh cũ. Thánh Kinh đây là Thánh Kinh Ki Tô Giáo. Nhưng có thật là cuốn Thánh Kinh cũ được cả thế giới tôn trọng hay không. Thánh Kinh là cuốn sách tôn giáo, chỉ được những tín đồ Ki Tô Giáo, những người không đọc Thánh Kinh, tôn trọng. Truyện Kiều là một tuyệt phẩm văn chương của người Việt Nam. So sánh Thánh Kinh với Truyện Kiều là đem giá trị của Truyện Kiều nhận xuống bùn, cũng như so sánh Tôm với Rồng, Chim Sẻ với Phượng Hoàng. Những lời Kinh vừa lủng củng, vừa hoang đường, vừa nhảm nhí ở trong Thánh Kinh, viết bởi những người với trí tuệ của thời bán khai, và dịch (bản tiếng Việt) bởi những người vừa không biết tiếng Hi Lạp, tiếng Anh, tiếng Pháp v..v.. vừa không biết tiếng Việt, không thể so sánh với những vần thơ tuyệt tác trong Truyện Kiều của một Nho gia như Nguyễn Du . Bảo rằng thế giới tôn trọng Truyện Kiều như là tôn trọng cuốn Thánh Kinh là coi thường trí tuệ của thế giới. Để cho vấn đề được sáng tỏ, sau đây tôi xin đưa ra nhận định của một số học giả về cuốn Thánh Kinh xem họ tôn trọng cuốn đó như thế nào.

Học giả Lloyd M. Graham viết như sau trong cuốn Những Dối Trá và Huyền Thoại Của Thánh Kinh (Deceptions and Myths of the Bible,) trang 5:

"Cuốn Thánh Kinh không phải là "lời của Thượng đế" mà là những cóp nhặt từ những nguồn tài liệu dân gian. Vườn Địa Đàng, Adam và Eve được lấy từ các chuyện của dân Babylone; trận "lụt cả"í hay Hồng thủy chỉ là sự phóng đại của khoảng 400 câu chuyện về những trận lụt; chuyện cái tàu lớn của Noah chúng ta có thể thấy trong cả tá những huyền thoại về Hồng thủy; ngay cả tên các con của Noah cũng là những tên cóp nhặt, cũng như những chuyện như hi sinh Isaac, phán xét Solomon, Samson xô đổ cột; cái tên Moses cũng lấy từ tên Mises của dân Syrie, các luật của Thượng đế lấy từ luật của Hammurabi. Đấng cứu thế được dẫn xuất từ đấng cứu thế Madhi của Ai Cập, một vài câu được chép lại nguyên văn từ kinh điển Ai Cập. Giữa Giê-su và nhân vật Horus của Ai Cập, Gereald Massey kiếm thấy 137 điểm tương tự, và giữa đấng Ki Tô và Krishna có đến cả vài trăm điểm giống nhau. Làm sao mà Thánh Kinh có thể coi là những lời mặc khải của Thượng đế?"

(The Bible is not "the word of God" but stolen from pagan sources. Its Eden, Adam and Eve were taken from the Babylonian account; its Flood or Deluge is but an epitome of some four hundred flood accounts; it Ark and Ararat have their equivalents in a score of Deluge myths; even the names of Noah's sons are copies, so also Isaac's sacrifice, Solomon's judgment, and Samson's pillar act; its Moses is fashioned after the Syrian Mises; its laws after Hammurabi's code. Its Messiah is derived from the Egyptian Mahdi, Savior, certain verses are verbatim copies of Egyptian scriptures. Between Jesus and the Egyptian Horus, Gerald Massey found 137 similarities, and those between Christ and Krishna run into the hundreds. How can the Bible be a revelation?)

Trong cuốn "Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại: GiaVê và Giêsu" ("Mythology's Last Gods: Yahweh and Jesus", p. 16), Tiến sĩ William Harwood, một tín đồ GiaTô đã tỉnh ngộ và bỏ được một niềm tin sai lầm sau khi nghiên cứu lịch sử các tôn giáo trong đế quốc La Mã và khám phá ra rằng "bí tích" ăn thịt uống máu Chúa (Eucharist) mà ông đã tin và thọ hưởng cái bí tích này hàng tuần và trong nhiều năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng các Thần hay Thượng Đế (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của con người (Dr. Harwood..discovered that the "god-eating" ritual in which he participated weekly as a believing Christian had existed three thousand years before Jesus' birth. Not for three years, however, could he fully abandon the disproved beliefs to which he had been emotionally committed, and acknowledge that gods are as imaginary as fairies), đã viết:

"Người ta đã khám phá ra rằng, từng quyển một trong Thánh Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện, những phỏng đoán không chính xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa, những điều tiên tri về những sự việc đã xảy ra, ghép với những điều tiên tri về tương lai đã được chứng tỏ là không chính xác, và không còn sai lầm gì nữa là chứa những lời nói láo cố ý. Nếu sự khám phá này được phổ biến tới đại chúng thì cái huyền thoại Do Thái - KiTô đã bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi vọng phục hồi.

Trước nguy cơ bị loại bỏ này, Giáo Hoàng đương thời (John Paul II) bổ nhiệm một số sử gia của chính ông ta để khảo sát những kết luận về Thánh Kinh của những sử gia thế tục và tìm ra trong những bằng chứng của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin rằng thể nào cũng phải có. Kết quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng phải xác nhận là Thánh Kinh của họ thực ra chỉ là một ảo tưởng sai sự thực. Họ phúc trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài lập tức dẹp bỏ cái phúc trình này đi thì họ không còn là tín đồ CaTô nữa. Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp luận khác để đánh đổ phương pháp của những sử gia trên, một phương pháp luận được tạo ra với mục đích rõ rệt là phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh của Do Thái - KiTô không phải là một tác phẩm hoang đường, không cần để ý đến chuyện phải xuyên tạc những bằng chứng đến cỡ nào để đi tới mục đích trên. Cái phương pháp luận đó là "Thần học"...

Đó là quyền lực của chính trị Thần quyền của thế giới mà, mặc dù đã có hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn bộ Thánh Kinh Do Thái - KiTô, cho tới ngày nay, 90% dân chúng trong những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo không hề biết đến sự hiện hữu của những bằng chứng bất khả phủ bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một tác phẩm giả tưởng."

(One by one the various books of the bible were discovered to contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations; prophecies ex-post-facto, usually combined with prophecies of the future that proved inaccurate; and unmistakable, deliberate lies. Had this discovery been allowed to reach general public, Judeo-Christian mythology would have suffered a blow from which it could not have hoped to recover.

Facing elimination, the current Pope appointed his own historians to examine the secular historians' conclusions and find the flaw in their evidence that he believed must be there. The outcome was that the Papal historians confirmed that their bible really was falsifiable fantasy. They presented the Pope with their reports and, when he promptly suppressed them, they all ceased to be Catholics. So the Pope ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology to combat that of the historians, a methodology created for the specific purpose of reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is nonfiction, no matter how severely the evidence had to be distorted in order to achieve that objective. That methodology was 'theology'..

...Such was the power of the world's theocracies that, despite the publication of thousands of scholarly books and articles refuting every part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to ninety percent of the population of Christian-dominated societies.

Chúng ta cũng nên nhớ rằng đã một thời Giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, vi phạm luật này có thể bị xử tịch thu tài sản, bị vạ tuyệt thông, hay bị tử hình. Về sự việc này, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, một tín đồ Gia Tô trong 30 năm thuở thiếu thời, đã viết như sau trong bài "Ít Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa Giáo":

"Tôi mới đầu không hiểu tại sao Giáo hội cấm không cho giáo dân có Kinh Thánh hay đọc Kinh Thánh, nhất là bằng Quốc Ngữ. Dần dà tôi mới thấy sự cấm đoán đó hết sức là hữu lý, vì nếu cứ để cho giáo dân đọc Kinh Thánh, dần dà họ sẽ bới ra được những cái dở của Kinh Thánh, những chỗ dịch sai, dịch bậy của Kinh Thánh, những chỗ thêm, bớt vào Kinh Thánh.... Ngày nay người ta đã bới móc ra rằng Kinh Thánh có nhiều đoạn mâu thuẫn nhau; năm quyển Cựu Ước đầu tiên không phải do Maisen viết mà do nhiều người viết về sau này; Jeremiah, Daniel cũng do nhiều người viết ở nhiều thế kỷ khác nhau; Thánh thư cho giáo đoàn Hebrews, Thánh thư Thessalonians II, Thánh thư Peter II không phải do Paul và Peter viết ra. Thực là điên cái đầu..."

Sau nhiều năm nghiên cứu, từ năm 1985, Hội nghị các chuyên gia Ki Tô Giáo nghiên cứu về nhân vật Giê Su (The Jesus Seminar), gồm khoảng 200 học giả thuộc mọi tông phái trong Ki Tô giáo, đã viết trong tác phẩm "Năm Phúc Âm" (The Five Gospels, trg. 2) như sau:

"Chúa Ki Tô (Giê Su) của tín điều và tín lý, trong thời Trung Cổ đã là một niềm tin vững chắc, không còn thuyết phục được những người (khoa học gia) đã nhìn thấy những vòm trời (như trong Thánh Kinh mô tả. TCN) qua Kính Thiên Văn của Galileo. Những Thần Thánh và Quỷ dữ cổ xưa đã bị quét ra khỏi những vòm trời đó bằng cái kính đáng kể này. Copernicus, Kepler, và Galileo đã triệt phá những trụ xứ huyền hoặc (Thiên đường) của các Thần (hay Thượng Đế) và Satan và để lại cho chúng ta những thiên đường thế tục."

(The Christ of deed and dogma, who had been firmly in place in the Middle Ages, can no longer command the assent of those who have seen the heavens through Galileo's telescope. The old deities and demons were swept from the skies by that remarkable glass. Copernicus, Kepler, and Galileo have dismantled the mythological abodes of the gods and Satan, and bequeathed us secular heavens.)

Qua những tài liệu trên chúng ta có thể tin được chăng những lời truyền đạo mới tập sự của các tác giả trên là cả thế giới tôn trọng cuốn Thánh Kinh? Nếu các tác giả trên muốn biết thêm về một số nhận định tổng quát về cuốn Thánh Kinh và tác dụng của nó trên nhân loại thì sau đây là vài tài liệu khác:

David Voas, Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), trong cuốn "Cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước" ("The Bad News Bible: The New Testament", trg. 1 - 2) đã viết như sau:

"Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những gì, hoặc ít nhất là Thánh kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của hắn (nghĩa là Giê-Su; TCN) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Giê-su không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn. Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin xấu."

(The problem is that people think they know what's in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son seems in the New. The message of Jesus isn't all good news; paradise is an uncertain prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)

Linh mục Ernie Bringas viết về ảnh hưởng của sự tin mù quáng vào Thánh kinh như sau trong cuốn Những Thảm Họa Trong Quá Khứ và Hiện Tại Do Sự Sùng Tin Thánh Kinh (Going by the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority) trg. 17:

"Trải qua nhiều thế kỷ, sự sùng tín Kinh Thánh đã dẫn tín đồ Ki Tô trong một niềm tin mù quáng, trong sự khủng bố, ngược đãi người Do Thái vàì những người phi Ki-Tô, giết hại và khủng bố, áp bức phái nữ, đè nén dục tính, kiểm duyệt, tạo tâm lý tôn sùng, và nhiều lầm lạc khác. Những mô thức hành xử có tính cách hủy diệt này, người ta có thể thấy dễ dàng là chúng bắt nguồn từ sự tin vào quyền năng tuyệt đối của những điều viết trong Thánh Kinh."

(Over the past centuries, bibliolatry has led Christians in bigotry, the persecution of Jews and other non-Christians, murder and terrorism, the oppression of women, the suppression of sexuality, censorship, cult mentality, and other aberrations. The destructive behavior patterns can be easily traced to the unchallenged authority accorded biblical writing.)

Robert G. Ingersoll, một tư tưởng gia lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đã đưa ra một thách đố: ông sẽ tặng một giải thưởng là $100 (năm 1890) cho vị linh mục hay mục sư nào dám lên bục giảng, giảng những đoạn mà chính Ingersoll trích dẫn từ Thánh kinh. Trong nhiều năm, không có một người nào nhận lời thách đố này cả. Một người có óc suy luận tối thiểu có thể mường tượng ngay ra là nội dung những đoạn đó trong Thánh Kinh nó như thế nào. Ông viết về những tác hại của Thánh Kinh và của niềm tin vào Chúa trên nhân loại:

" Nhân danh Chúa Ki Tô hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ. Nhân danh hắn những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người thông thái nhất, giỏi nhất.

Nhân danh hắn sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm. Trong phúc âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn, và những lời của hắn đã gia thêm sự kinh khủng vô tận vào sự chết. Phúc âm của hắn chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình thương yêu như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người. Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra - Chúa Ki Tô theo quan niệm thần học cũng chưa từng được sinh ra."

(In Christ name millions and millions of men and women have been imprisoned, tortured and killed. In his name millions and millions have been enslaved. In his name the thinkers, the investigators, have been branded as criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best. In his name the progress of many nations was stayed for a thousand years. In his gospel was found the dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to death. His gospel filled the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime, made happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial, canonized credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man. It would be far better had the New Testament never been written - far better had the theological Christ never lived.)

Ngoài ra, cũng đã có những công cuộc nghiên cứu và xuất bản những tác phẩm về mọi khía cạnh của Thánh kinh, thí dụ như: liệt kê những chuyện dâm ô trong Thánh Kinh ("The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scriptures", Ben Edward Akerley; All The Obscenities in the Bible, Kasmar Gene; những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v...v...trong Thánh kinh ("The Bible Handbook", W.P. Ball, G.W. Foote, John Bowden, Richard M. Smith etc..; "The Born Again Skeptic's Guide to the Bible", Ruth Hurmence Green; One Hundred Contradictions in the Bible, Marshall J. Gauvin.; phân tích và phê bình những chuyện trong Thánh Kinh ("The Bible Unmasked" (Lột Mặt Nạ Thánh Kinh), Joseph Lewis; phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh ("Christianity Cross-Examined" (Thẩm vấn KiTô giáo), William Floyd) v...v... và v...v...

Những tín đồ Ki Tô Giáo thường không đọc Thánh Kinh, khoan nói đến chuyện đọc những tác phẩm thuộc loại nghiên cứu trên, chỉ tin theo những lời rao giảng sai sự thực của các đấng bề trên rằng cuốn Thánh Kinh được cả thế giới tôn trọng. Cũng vì vậy mà Ira Cardiff, một khoa học gia, đã đưa ra nhận xét sau đây:

"Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh. Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó - đừng nói là đọc cả cuốn.

Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi."

(Virtually no one really reads the Bible. The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it - much less reads all of it. If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it.)

Vài tài liệu nêu trên cũng đủ để chứng tỏ rằng các tác giả cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ chỉ viết lấy được, làm nhiệm vụ của những Thừa Sai trong thời Trung Cổ (Middle Ages), còn được gọi là thời kỳ đen tối (Dark Ages) mà các học giả xưa và nay đều cho rằng đó là "thời kỳ man rợ và đen tối trí thức" trong suốt 1000 năm ở Âu Châu (The age of barbarism and intellectual darkness).

Nhiều học giả, chuyên gia về tôn giáo, giáo sư đại học, kể cả những linh mục, mục sư v..v.. đã nhận xét cuốn Thánh Kinh như trên mà mấy "học giả" An-nam ta vẫn còn sống trong hoang tưởng. Không những thế, theo độc giả T.H.D viết trong tờ Thế Giới, ông Lê Hữu Mục còn khẳng định rằng "Phải công nhận Nguyễn Du đã phải đọc Kinh Thánh mới viết nổi đoạn này."

Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, trên đất nước Việt Nam làm gì có Thánh Kinh mà đọc. Cuốn Thánh Kinh nằm trong hoang tưởng này của ông Lê Hữu Mục viết bằng tiếng nước nào, ai dịch và xuất bản năm nào? Tuyệt đại số tín đồ Gia Tô thì không biết chữ, giới Nho sĩ thì cho Gia Tô Giáo là một tà đạo, vậy mà ông Lê Hữu Mục cho rằng Cụ Nguyễn Du đã lấy cảm hứng từ Thánh Kinh để viết ra một đoạn trong Truyện Kiều, phản ánh một sự thiếu hiểu biết về lịch sử và tình trạng xã hội trong thời của Nguyễn Du. Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck, đã đưa ra một nhận xét như sau:

"Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các Hội Truyền Giáo Gia Tô hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới cấm quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ. Đại cương thì các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ."

(In fact during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism. In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.)

Chúng ta đều biết, Nguyễn Du là một Nho gia, chịu ảnh hưởng rất nhiều của Phật Giáo, điều này chúng ta có thể thấy bàng bạc trong khắp Truyện Kiều. Mặt khác. đọc lịch sử chúng ta thấy rằng, tuy được Bá Đa Lộc giúp để chiến thắng nhà Tây Sơn, Vua Gia Long rất nghi kỵ Gia Tô Giáo, do đó đã chọn Vua Minh Mạng làm người nối nghiệp. Chính Vua Gia Long đã mời cụ Nguyễn Du ra làm quan. Vậy chúng ta có thể tin được chăng là cụ Nguyễn Du đã lấy cảm hứng từ cuốn Thánh Kinh để viết một đoạn trong truyện Kiều? Kết hợp Thánh Kinh với một đoạn trong Truyện Kiều đúng là một điều hoang tưởng của những người cuồng tín. Mà cuồng tín, theo định nghĩa của Giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Quang trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư: 1954-1963, là sự tổng hợp của đần độn và hợm hĩnh, huênh hoang, khoác lác. Hơn nữa, chính ông Lê Hữu Mục cũng chưa đọc Thánh Kinh thì làm sao có thể cho rằng Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh. Vì không đọc Thánh Kinh nên ông Mục mới cho rằng cả thế giới tôn trọng cuốn Thánh Kinh trong khi sự thực thì trái ngược hẳn như đã dẫn chứng ở trên. Sau đây tôi sẽ bình luận về một điểm trong chương "Tổng Luận về Truyện Kiều" của ông Lê Hữu Mục. Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây, trang 111:

"...chữ Nôm cũng như chữ Hán ngày xưa không hề có dấu chấm câu, và chính cách chấm câu nhiều khi không đúng của người đọc đã làm cho thơ kém giá trị, tỉ dụ câu: Ngổn ngang gò đống kéo lên (c.49) đã bị hiểu là "gò đống kéo lên ngổn ngang". Thông minh như Nguyễn Văn Vĩnh mà cũng dịch câu thơ này là: Nombreux les tertres et les tumulus défilent sous les yeux des promeneurs et surgissent de toutes parts (Kim Vân Kiều, Khai Trí, 1970, tr. 17), nghĩa là "ngổn ngang gò đống diễn hành trước mắt của các khách bộ hành và kéo lên khắp nơi". Sau đó mấy chục năm, học giả Paul Schneider vẫn không hiểu khác Nguyễn Văn Vĩnh: Pêle mêle se dressent et défilent tertres et mamelons (Kim Vân Kiều, Thanh Long, 1986, tr. 7). Ông Đặng Quốc Cơ không chấp nhận cách đọc này và chủ trương rằng chủ-ngữ của kéo lên là tài tử giai nhân ở câu 47 trước câu 49 hai câu và nếu cần dịch câu thơ ra tiếng Pháp thì nên dịch là Hommes de talent et femmes élégantes... pêle-mêle gravissent tertres et mamelons... Nhiều chữ Nôm của tác giả bị đọc sai cho nên ý nghĩa của câu thơ cũng bị hiểu sai và từ ngữ bị đánh giá là thiếu trong sáng, tỉ dụ chữ tạn bị phiên sai là tận, tạn chân trời thành tận chân trời..."

Như vậy có nghĩa là một bài thơ hay bài văn bằng tiếng Nôm hay tiếng Hán ai muốn đọc sao thì đọc, chấm câu ở đâu cũng được hay sao? Trong thể thơ lục bát, một bộ hai câu, câu sáu câu tám, luôn luôn gói trọn một nghĩa đầy đủ, không làm gì có chuyện một câu sáu làm chủ ngữ cho câu sáu tiếp theo. Tôi cho rằng ông Lê Hữu Mục và Đặng Quốc Cơ đã hiểu quá sai mấy câu thơ trên của Nguyễn Du. Nguyễn Văn Vĩnh và Paul Schneider đã dịch rất đúng ý của Nguyễn Du tuy phần tiếng Pháp không lột được hết ý của câu thơ. Chứng minh?

Chúng ta không thể chỉ đọc từ câu "Dập dìu tài tử giai nhân" cho đến hết câu "Ngổn ngang gò đống kéo lên" và kết luận chủ ngữ của kéo lên là tài tử giai nhân. Tài tử giai nhân kéo lên đâu? Lên các gò đống ngổn ngang. Kéo lên đó để làm gì? Để "chơi xuân" như hai chị em nàng Kiều? Thật là hoang đường. Cụ Nguyễn Du mà biết hậu thề hiểu Kiều như vậy thì chắc chắn chẳng bao giờ cụ viết Truyện Kiều.

Chúng ta hãy đọc lại Kiều, từ câu 41:

Cỏ non xanh tận chân trời,

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.

Gần xa nô nức yến anh

Chị em sắm sửa bộ hành choi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Ngổn ngang gò đống kéo lên,

Thoi vàng vò rắc tro tiền giấy bay.

Chúng ta thấy ngay rằng hai câu đầu tả một cảnh mùa xuân. Hai câu tiếp theo cho chúng ta biết đó là vào dịp lễ tảo mộ. Hai câu tới tả cảnh tượng trong xã hội trong dịp lể tảo mộ và hai chị em Kiều sửa soạn đi du xuân. Hai câu tiếp tả cảnh nhộn nhịp của ngày lễ. Hai câu cuối tả cái gì, nếu không phải là quang cảnh lễ thanh minh?

"Cỏ non xanh tận chân trời" cho ta thấy cảnh một cánh đồng cỏ mênh mông bát ngát, không có đồi núi hay gò cao ngăn chặn, làm vướng mắt. Chị em Kiều "bộ hành chơi xuân" chứ không phải là lái xe Lexus chơi xuân. Do đó, từ đằng xa, bước trên cỏ (đạp thanh) Kiều chỉ thấy cánh đồng cỏ. Khi gần tới khu vực người ta đi tảo mộ mới thấy xuất hiện những gò đống nghĩa là mồ mả ngổn ngang. Ngổn ngang có nghĩa là nhiều, không có thứ tự, hàng lối gì hết. Đó chính là cảnh những mồ mả, cái to cái nhỏ, cái thấp cái cao, cái dài cái ngắn v..v.. nằm trong khu vực tảo mộ. Nguyễn Du đã dùng từ kéo lên rất khéo. Vì từ xa tới gần, đột nhiên ta thấy mồ mả xuất hiện, mới đầu còn nhỏ, chưa rõ, càng tới gần càng thấy rõ hơn, lớn hơn, làm cho khách bộ hành có cảm tưởng như các mồ mả được kéo từ dưới đất lên. Những mồ mả này không được xắp đặt theo một hàng lối nào hết nên trông chúng có vẻ ngổn ngang. Và trên các mồ mả hay quanh các mồ mả đó ta thấy gì? Thì đó: "Thoi vàng vò rắc tro tiền giấy bay." Câu này bổ túc cho câu trên và cho chúng ta hình ảnh trọn vẹn của cảnh tảo mộ.

Cho nên, Nguyễn Văn Vĩnh dùng động từ "surgir" để dịch kéo lên là rất đúng, vì surgir có nghĩa là nhô lên. Còn các ông Lê Hữu Mục và Đặng Quốc Cơ, vì hiểu gò đống như gò Đống Đa, mà những gò này lại ngổn ngang ở nơi tảo mộ, để cho tài tử giai nhân kéo nhau lên đó khiêu vũông Lê Hữu Mục giảng dập dìu là "lượn đi lượn lại chung quanh nhau", nghĩa là khiêu vũ, ông không nói rõ khiêu vũ điệu gì, Valse, Tango hay Cha Cha Cha), nên đã dùng động từ "gravir" để dịch từ kéo lên, nhưng gravir lại là trèo lên chứ không phải là kéo lên. Hiểu như vậy thì nghĩa của câu này trở thành lạc lõng, đứng một mình, chẳng ăn nhập gì với cảnh ngày lễ thanh minh cả. Thật là tội nghiệp cho những thanh niên nào đã được (hay "bị") các ông này vừa giảng vừa giết Kiều như trên.

Mặt khác, ông Lê Hữu Mục cho rằng trong câu 41 là chữ tạn chứ không phải chữ tận. Ông không giải thích tạn chân trời có nghĩa gì và khác với tận chân trời ở chỗ nào. Tự điển Việt-Anh của Nguyễn Văn Khôn lại khẳng định là tạn với tận tuy hai mà một, không hề khác nhau.

Tôi có nên tiếp tục nhặt sạn nữa hay không, và có đáng không? Thật ra, muốn phê bình cho đầy đủ hai mươi trang sách của chương "Tổng Luận về Truyện Kiều" tôi có thể viết cả một cuốn sách. Nhưng tôi chẳng hơi đâu đi làm cái chuyện mất thì giờ vô ích để phê bình những điều diễn giải kỳ quặc của ông Lê Hữu Mục, phản ánh một kiến thức vô cùng giới hạn về các quan niệm triết lý và về các đạo giáo trên thế giới, thí dụ như: "Nguyễn Du công nhận quyền lực tối cao của Trời, nghĩa là quyền sáng tạo ra con người, quyền sáng thế của Tạo Hóa" (ông Lê Hữu Mục muốn nói đến quyền sáng thế của một ông "mắt sâu, râu rậm, tóc quăn, mũi lõ ngồi trên vòm trời bằng đồng thau có những cánh cửa để các thiên thần mở ra cho mưa rơi xuống".TCN); hay giảng ba chữ tài trong câu "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài" chính là tam tài nghĩa là Thiên, Địa, Nhân; và "tâm Thúy Kiều chính là Chơn Tâm (Phật), đạo tâm (Nho), thiện tâm (Công Giáo) (cái thiện tâm đã đưa Âu Châu vào thời đại man rợ và đen tối trí thức suốt 1000 năm với 9 cuộc Thánh Chiến, những Tòa Án xử Dị Giáo với những cảnh tra tấn man rợ nhất của lịch sử loài người, những cuộc chiến tranh tôn giáo, những bước song hành với các thế lực Thực dân v...v.. TCN); và tâm tình (văn hóa Việt Nam). Những điều gán ghép gượng gạo và kỳ quặc này làm sao có thể thuyết phục được giới thanh niên tiêu hóa nổi những lời truyền giáo thuộc thời Trung Cổ. Tôi nghĩ rằng giới thanh niên chẳng ai đọc cuốn Truyện Kiều và Tuổi Trẻ làm chi. Họ đang sống trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, và cái thông điệp vào đầu thế kỷ 19 của Nguyễn Du, nếu thực sự là thông điệp như các tác giả khẳng định, cũng chẳng có ảnh hưởng gì tới họ. Còn cái thông điệp riêng của các tác giả về niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên thì nó đã mất đi hiệu lực từ mấy thế kỷ nay rối, họa chăng chỉ còn sót lại trong những thành phần kém nhất và trong những xã hội kém mở mang nhất trên thế giới. Trong cuốn Missionaries, một tác phẩm nghiên cứu về những thành quả truyền giáo của Ki Tô Giáo nói chung trên khắp thế giới, đi kèm với một chương trình TV 6 kỳ của đài BBC, Julian Pettifer & Richard Bradley đã đưa ra nhận định như sau:

"Đòi hỏi những người Âu Châu tin vào một thế giới của Thượng đế và Satan có vẻ như là đòi hỏi họ phải từ bỏ sự thông minh của chính mình. Quan trọng hơn nữa, những lợi khí của thương vụ thừa sai: củ cà rốt "cứu rỗi" và cây gậy "đày đọa đởi đời" đã mất đi hiệu lực đe dọa rồi."

(...Asking Europeans to believe in a world of God and Satan, seems to be asking them to deny their own intelligence. More importantly, the tools of the missionaries' trade, the carrot and stick of salvation and damnation, have lost the power to frighten.)

Để kết luận, tôi cho rằng nhận xét sau đây của độc giả T.H.D. trên tờ Thế Giới, Tháng 1, 1999, trang 32, rất là chính xác:

"...nếu ai đã đọc Truyện Kiều và Tuổi Trẻ sẽ không khỏi bực mình và thất vọng với lối ngụy biện của Giáo sư Lê Hữu Mục. Ông Mục đã diễn giải quan điểm tôn giáo như một nhà truyền giáo mới tập sự; ông lồng tư tưởng Ki Tô giáo, Phật Giáo và các đạo khác vào nội dung truyện Kiều một cách gượng ép, áp đặt và thiếu lương thiện."

Riêng tôi, tôi không cảm thấy bực mình hay thất vọng, vì tôi đã đọc một số sách thuộc loại trên rồi, những cuốn sách mà mục đích viết ra là để xuyên tạc, từ bỏ nền văn hóa dân tộc để quảng bá cho một nền văn hóa "hễ phi dân tộc thì thể nào cũng phản dân tộc."

 
© Copyright 2006 giaodiem.com
 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Copyright web Giao Điểm | Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com