
[nguồn: đã đăng trên
tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số Tân Niên Thái Kim Lan Theo chân nàng Kiều đến
ngôi chùa thứ tư trong Ðoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du Tính ra trong tác phẩm ÐTTT, có ba tên chùa
được nêu ra trên chặn đường lưu lạc của nàng Kiều: Quan Âm Các,
Chiêu Ần Am, chùa Giác Duyên ở sông Tiền Ðường. Còn có một ngôi chùa
thứ tư nào? Ta hãy theo gót nàng Kiều đi tìm ngôi chùa ấy.
Trong quãng đời „êm đềm trướng rũ màn che“, trong vòng tay che chở ấm
êm của cha mẹ và hai em, không biết Kiều đã có lần nào theo mẹ đi chùa
như cô gái tuổi mười sáu của Nguyễn Nhược Pháp trong „Ði chùa Hương“
một sáng xuân hoa cỏ còn mờ hơi sương vào ngày mồng một tết hay vào dịp
nguyên tiêu? Nguyễn Du đã không kể cho ta biết. Chỉ thấy khi hoa lê nở
rộ vào tháng ba, hội đạp thanh, mấy chị em Kiều đi tảo mộ gặp Kim Trọng
và Kiều bắt đầu yêu. Người con gái tài sắc vẹn toàn và đa đoan đa cảm
ấy bắt đầu mơ mộng và ước mộng. Từ „người đâu gặp gỡ làm
chi, trăm năm biết có duyên gì hay không“ cho đến khi „một lời, vâng tạc
đá vàng thủy chung“ hứa hẹn hạnh phúc vĩnh viễn „đinh ninh hai miệng
một lời song song“, Kiều đã sống trong ước mộng màu hồng. Trong giấc
mộng nồng nàn yêu đương, chẳng thấy bóng dáng một ngôi chùa nào hiển
hiện, mà nàng Kiều rạo rực sống có lẽ cũng không quan tâm đến hai chữ
„chùa chiền“. Ngôi chùa đã không hiện
hữu trong tâm của nàng Kiều, dù trong xã hội thời bấy giờ những ngôi
chùa chắc chắn đã làm nên một phần cảnh trí, không gian sống của con
người đông phương. Mái chùa có thể rất là quen thuộc với gia đình họ
Vương, nhưng nó chưa vẽ ra một viễn tượng nào có ý nghĩa trong trí tưởng
của Kiều. Kịp đến khi nàng
tình nguyện „bán mình chuộc cha“, bị Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà lường
gạt, cuộc đời cô gái thanh lâu chỉ biết cúi đầu „sớm đưa Tống Ngọc,
tối tìm Tràng Khanh“. Lầu xanh ấy là nơi đày đọa tấm thân người thiếu
nữ ngây thơ chưa có một chút kinh nghiệm ở đời. Nàng trở thành nô lệ
cho khách làng chơi trong cái ngục tù xâu xé thể phách của người con gái
yếu đuối nơi đất khách. Thanh lâu có thể nói là địa ngục đầu tiên
mà Kiều nếm mùi khổ ải. Những khi „giật mình mình lại thương mình
xót xa“ nhớ lại „khi sao phong gấm rủ là“, hoảng hốt nhận ra „giờ
sao tan tác như hoa giữa đường“, nàng nhớ thương mái nhà ấm cúng của
cha mẹ, nhớ người yêu cũ. Nhưng hình như „nỗi lòng đòi đoạn xa gần,
chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau“ ấy cũng chỉ là những cơn giật mình
lúc tỉnh, phần đông là say, say để quên, say để chạy việc được
trong cái guồng máy tiếp khách làng chơi, Kiều chẳng có thì giờ để nhớ
đến những nơi yên tĩnh như bóng dáng một ngôi chùa. Trong tuyệt vọng
nàng vẫn còn nuôi hi vọng, với sắc đẹp, với tài hoa của mình, thế
nào nàng cũng có thể tìm cách thoát khỏi cá chậu chim lồng và sẽ có dịp
tìm về mái nhà êm ấm của mẹ cha. Nàng đã tìm được Thúc Sinh, hào hoa
công tử, sẵn sàng „trăm nghìn đổ một trận cười“, đã mê mệt
nàng, nên „đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều“ đã mua được nàng
khỏi tay mụ Tú Bà. Từ khi thoát khỏi vòng trần ai, Kiều sống trong tình
yêu đầm ấm của Thúc Sinh. Có thể nói từ khi bán mình, đây là những
giờ phút hạnh phúc mà nàng đã tưởng sâu như biển, tưởng dài như sông.
Trong những giây phút ấy, ngôi chùa không phải là điều chi đáng nói và
có lẽ nó không hiện ra trong những lúc „hương càng đậm lửa càng nồng“
của nàng Kiều. Nhưng hạnh phúc không
lâu, cơn ghen của Hoạn Thư, một người đàn bà „ sâu sắc nước đời“,
đã thành một ngọn lửa dữ. Nhà bị đốt, bị bắt cóc, bị giam giữ,
quản thúc, phải làm nô tì trong gia đình họ Hoạn, nàng không biết Thúc
Sinh ở đâu từ lúc chia tay. Tâm trạng rối bời trong nhớ thương thắc mắc,
đồng thời bị hành hạ đánh đập, nàng như người ở trong đêm tối quờ
quạng, trong lòng chỉ mong được gặp lại Thúc Sinh. Ðể rồi khi gặp mặt,
cả hai lâm vào hoàn cảnh éo le thê thảm nhất của đời người : „rõ
ràng thật lứa đôi ta, làm ra con ở, chúa nhà đôi nơi“, bị bắt quì
chuốc rượu cho hai vợ chồng, bắt đánh
đàn mua vui, rồi phải chứng kiến người đã yêu mình đang „chung gối
loan phòng“ với người đàn bà khác. Ðêm hôm ấy đã là đêm dài nhất
và đau khổ đến tận cùng trong đời nàng Kiều : „Một mình âm ỷ đêm
chầy, Ðĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh“. Nhục nhã và bị tình phụ,
còn gì để cho con người hiện diện giữa con người, còn gì để con người
có thể đứng vững với người và với chính ta? Cô đơn và quằn quại
trong tủi nhục đến tuyệt vọng, lần đầu tiên ngôi chùa đã hiện ra
trong biển nước mắt năm canh không một lần chợp mắt của nàng Kiều.
Ý định thoát khỏi sự đày đọa thể xác và tâm hồn, sớm khuya phải
cung cúc hầu hạ hai người, phải hằng đêm vò võ chứng kiến cảnh ấm
êm của người khác có thể làm cho điên loạn con người, chính ý nghĩ
thoát khổ này đã đưa Kiều đến với hình ảnh một ngôi chùa nào đó có thể gở rối cho
nàng : „Rắp đem mệnh bạc, xin nhờ cửa Không“. Lần đầu tiên, ngôi
chùa hiện ra trong tâm nàng như một cơ hội giải thoát khỏi cảnh ngộ
thê thảm trong cái địa ngục trần gian là căn nhà họ Hoạn. Tâm của
nàng mù mịt trong đớn đau, đang tìm cách gõ vào một cánh cửa cuối
cùng, có thể đem đến bình an, bớt khổ : cửa Không. Bước chân tâm thức
của nàng đang quờ quạng đi tìm một cái phao cứu vớt có thể giúp nàng
vượt khỏi khổ nạn.
Rõ ràng là một ngôi
chùa của nhà giàu. Một ngôi chùa trong khuôn viên thế gia vọng tộc, bề
thế. Ý định của Hoạn Thư cho Kiều qua Quan Âm Các là vừa tỏ ra độ
lượng thể theo ý nàng, nhưng cũng vừa để kiểm soát nàng chặc chẽ.
Quan Âm Các là nhà tù giam long Kiều. Tất cả những nghi thức xuất gia đều đủ cả, tam qui ngũ giới,
áo cà sa, pháp danh Trạc Tuyền đều tươm tất thi hành. Kiều bắt đầu làm
quen với một cuộc sống khác hẳn ngày trước, không phải chiều khách
làng chơi, không nô lệ phục dịch, mà chỉ „ngày pho thủ tự, đêm nhồi
tâm hương“, nâu sồng, muối dưa. Nhưng thực sự lòng nàng còn nồng,
còn cháy, dù đã tìm đến giọt nước cành dương để „tưới lửa lòng“
đang khổ. Đau, thương, nhớ ngùn ngụt. Không! Quan Âm Các chỉ là nơi lánh
nạn trong cơn bão táp, trong cơn tuyệt vọng nhưng trong lòng Kiều vẫn còn
khao khát cuộc sống ở ngoài đời. Bao lâu còn tủi hờn, đau lòng xót dạ
thì bước chân của Trạc Tuyền còn lưu luyến nơi ngưỡng cửa thế gian
: vùi đầu vào lời kinh là chỉ để dấu nước mắt khóc thầm cho số phận
bẽ bàng, Kiều vẫn còn nhớ Thúc Sinh. Nàng là người chí tình, đã được
Thúc Sinh bao bọc chở che chiều chuộng, cho nàng biết được hạnh phúc thực
sự của đời sống vợ chồng, nay bỗng bị người khác không chế, tước
đoạt hạnh phúc ấy, nàng vẫn cứ một lòng nhớ đến người mà mình đã
nhận làm chồng hiện đang „trong gang tấc, lại gấp mười quan san“.
Quan Âm Các đối với Kiều chỉ là chốn tạm lánh thân, để khỏi phải
đớn đau trực diện. Chúng ta hãy nghe Nguyễn Du tả cảnh đời Quan Âm
Các:
Bước chân của nàng
Kiều đến Quan Âm Các là bước chân lưỡng lự, trong thế chẳng đặng
đừng, nơi đó chỉ là chốn tạm, xa đi bụi hồng quấn quít vướng chân,
nhưng hờn tủi, thất vọng, hổ thẹn, tủi thân xen lẫn với nhớ thương
vẫn sủi bọt trong lòng. Kịp đến khi bị Hoạn
Thư bắt gặp Thúc Sinh trốn ra tình tự, nàng quá sợ hãi, bỏ trốn đi
trong đêm khuya. Thân gái đặm đường lao đao, „mịt mù dặm cát đồi cây“…sợ
hãi, kinh hoàng, bơ vơ không nơi bám víu. Lần đầu tiên trong đời nàng ra
đi một thân một mình, quyết định lên đường dứt khoát. Những lần trước
từ khi xa cha mẹ, dù miễn cưỡng, dù bị bắt buộc, nàng vẫn có người
bên cạnh đi kèm theo. Ðây là lần đầu tiên Kiều mạo hiểm dấn bước
một mình, cao chạy xa bay, trốn, rời bỏ người mà nàng tưởng có thể
che chở cho nàng nhưng hoàn toàn bất lực trước người vợ quá sâu hiểm.
Những bước …tự do trong đêm khuya sao quá hãi hùng cho người con gái yếu
đuối chẳng biết trông cậy vào ai. Bơ bơ trong rừng cây, giữa đêm sâu
hút, giữa trời rộng bao la, tình cảnh thật là tội nghiệp vô vàn. May
sao và mừng sao, thấp thoáng trong rừng cây:
Bước chân của Kiều
vội vàng mừng rỡ khôn xiết, có lẽ chưa bao giờ trong đời nàng đã rảo
bước hăm hở đến một ngôi chùa như thế „Xăm xăm gõ mái cửa ngoài“. Chiêu ẩn am, ba chữ
đầy ý nghĩa, xin mời người đến tá túc khỏi mọi nan nguy của cuộc đời.
Và Kiều không mong gì hơn trong hoàn cảnh bấy giờ là được lưu lại
nơi ấy. Lần đầu tiên nàng cảm thấy ngôi chùa thật sự là nơi cứu nạn
cứu khổ. Chân nàng bước đến với nỗi mừng thoát cơn hoạn nạn, lạc
loài. Nàng không mong gì hơn được ở ẩn, được yên thân. Với Chiêu Ẩn
am, mái chùa trở nên không còn xa lạ. Nàng bắt đầu thân thuộc với
không gian đạm bạc, yên tĩnh, hiền lành, không còn có cảm giác đau đớn
bị nanh vuốt của ghen tuông cấu xé, không còn hờn tủi oán giận, nàng
vui được nương náu cửa không, chứ không còn miễn cưỡng như khi ở
Quan Âm Các. Ta hãy nghe Nguyễn Du tả
đời sống của Kiều trong Chiêu Ẩn Am:
Khác với khi ở Quan
Âm Các trong tâm trạng đầy lo âu dằn vặt mà không dám hé lời than thở,
ở Chiêu Ẩn Am, Kiều bắt đầu nếm được vị „thong dong của tháng
ngày“, vị tự do không bị ràng buộc bởi tình khổ, bởi nô lệ, bởi
ham muốn. Thế nhưng, Chiêu Ần
Am cũng vẫn chỉ là một run rủi tình cờ trên đường phiêu bạc của
nàng Kiều như một chiếc lá rụng xuống trong vườn cây. Sự yên phận của
nàng là do hoàn cảnh đưa đẩy và nàng không có chọn lựa nào khác hơn là
vui mừng chấp nhận. Chiêu Ẩn Am chưa phải là ngôi chùa chắc chắn trong
tâm của nàng Kiều. Có thể nàng sẽ lưu lại đó suốt cuộc đời, nếu
không có những biến cố xảy ra tiếp theo, nhưng những biến cố tiếp
theo cho ta thấy nàng vẫn còn là người nòi tình, nhiều ước mộng, ham sống,
vẫn đam mê và ngu muội trong cõi luân hồi. Cho đến khi hoàn cảnh bắt buộc phải rời Chiêu Ẩn Am, Kiều trở
thành nạn nhân của bọn buôn người khác, phải đi tiếp khách ở thanh
lâu. Bị bắt buộc trở lại guồng máy của cuộc đời trầm luân, Kiều
lại đóng vai „con người“ dấn thân kiêu ngạo trong chốn giang hồ (mắt
xanh chẳng để ai vào!) và đạt đến đỉnh cao danh vọng với người hùng
Từ Hải. Nàng cũng vẫn là „nhi nữ thường tình“ như thưở nào, vẫn
rắp tâm ân đền oán trả, vẫn yêu say sưa và vẫn ghét đắng cay, vẫn
ước mơ và vẫn đầy hi vọng với cuộc đời trần thế. Người đọc đã tưởng nàng ở trong danh
vọng giàu sang, thì sẽ quên ngôi chùa, quên nơi chốn „an bần lạc đạo“,
nơi nàng đã có lần lưu lại trong cơn khốn khổ. Người đọc không ngạc
nhiên về sự đền ơn cứu khổ của Kiều đối với sư Giác Duyên nhưng
thật sự ngạc nhiên, khi đọc được những lời Kiều, bây giờ đang ở
ngôi cao mệnh phụ đường đường với Từ Hải, trò chuyện với Giác
Duyên:
Hóa ra có một ngôi
chùa vẫn còn nằm trong trí nhớ của Từ Hải phu nhân hiện đang giàu sang
tột đỉnh, nó quen thuộc như „cố nhân“, đó là nơi trú ẩn của kẻ
hành nhân lạc loài, cháy khát. Tuy đang sống trong nhung lụa, tình cảm „muối
dưa“ đã có một lần chia chung Kiều vẫn còn giữ trong lòng. Mái chùa
ấy, vị sư ấy, đời sống thanh bần ấy đã trở thành một hình ảnh
sâu lắng, hình như nó dần dần thâm căn, mọc rễ trong vô thức nàng Kiều,
thân thiết quen thuộc cũng không khác ngôi nhà cha mẹ sinh thành. Trong lời nhắn gửi sư
Giác Duyên nhờ chuyển lời đến sư Tam hợp thật gói ghém nhiều điều:
người viết có cảm
tưởng như đang nghe bà hoặc mẹ đang ngồi tiếp một vị tiểu sư của
chùa nhà trong buổi trưa nắng thét, và giữa hai ngụm trà mời khách, cẩn
trọng, thân thiết hỏi thăm cảnh chùa làng nay ra sao, còn cây bồ đề
đang đổ bóng trên sân, sư cụ có còn trì kinh như xưa hay đã đi hái thuốc
phương xa và xin kính gửi lạy Phật lạy sư „một lời chung thân“. Nghe
gần gủi và thân quen câu nhắn gửi ấy, thì biết mái chùa, nếp sống
nâu sồng, các vị sư đã có mặt từ bao giờ trong trái tim của Kiều. Cho đến khi đỉnh cao
danh vọng sụp đổ vì nhẹ dạ nghe theo lời đường mật của tên quan
gian trá họ Hồ, xui Từ Hải ra hàng. Từ Hải chết, bị bắt ép nhục
nhã, Kiều đã chấm dứt cuộc đời đoạn trường khổ bằng cách gieo
mình xuống sông Tiền Ðường. Trong cơn mê trôi trên dòng nước, nàng được
Giác Duyên cứu thoát đem trở về chùa. Mái chùa bên ven sông Tiền Ðường
mà Giác Duyên dựng lên đơn sơ lắm, mái tranh vách đất, khác xa một trời
một vực với cung điện nguy nga, mà cũng khác với những ngôi chùa nhà
giàu, chỉ là một mái thảo lư đúng nghĩa với cửa không: trời nước mênh
mông, lồng lộng lượng từ bi:
Một mái chùa cỏ,
không có gì ở bên trong, chỉ có một ý nguyện cứu người hoạn nạn. Họ
gặp nhau, mừng rỡ. Trong ngôi thảo lưu đạm bạc ấy, Kiều có cảm giác
từ một cơn ác mộng hồng lâu, nhà vàng gác tía, trở về trong một vũ
trụ rộng mở, trong đại ngã thiên nhiên, mà bấy lâu nay nàng chỉ có một
khái niệm mơ hồ mông lung. Trong không gian chay tịnh diệt cái ngã thích sở
hữu, Kiều học nhìn thế giới, thiên nhiên với một nhãn quan không còn
đối đãi, tù túng như ở lầu Ngưng Bích, mà mở rộng cùng chia: chia gió
trăng, chia đạm bạc, chia cái vô cùng của nước mây:
Vũ trụ quan và nhân
sinh quan đã xoay chiều, nhà tù luân hồi nghiệp chướng đã được mở rộng
toang, ý niệm không gian và thời gian không còn hạn hẹp trong cái ngã chật
chội, cỏn con danh lợi. Với hai câu thơ:
so với thuở trước cảnh
vật quanh lầu Ngưng Bích, nơi Kiều bị giam lỏng :
Nguyễn Du đã diễn tả
sự giải phóngcủa nàng Kiều bằng bốn chiều biến đổi : ba chiều không
gian như ngoại cảnh và chiều thứ tư là thời gian nội tâm, trong sự chuyển
vần từ tù túng trói buộc sang thong dong đi về „hôm sớm“, „trước
sau“. Chỉ với hai câu thơ đầy hình tượng thiên nhiên mở ra ý niệm
siêu hình về thời gian và không gian, cũng đủ cho thấy sức sáng tạo thi
ca và tư tưởng của Nguyễn Du quyện vào nhau như cánh đại bàng lướt gió,
nếu có ai như nhà phê bình Ðổng Văn Thanh [1]
muốn đem con chim đại bàng này nhốt lại trong chuồng gà thì chỉ chuốc
lấy thất bại mà thôi. Chính nơi thảo lưu này
Kiều đã thấm nhuần cuộc sống nương cửa Bồ Ðề, tuy nhiên Giác Duyên
cũng đã nhận thấy lòng trần của Kiều vẫn còn chưa dứt hẳn, nàng vẫn
còn một căn bệnh chưa nguôi : nhớ nhà!. Khi
con người vừa mới sinh ra, nó đã bắt đầu nhớ, nhớ mẹ. Kiều không
nhớ không được:
Nhớ như thế thì
không tu được. Phải quay trở lại trần thôi. Mái chùa ấy vẫn còn là một
định chế bên ngoài cho Kiều dừng chân, tạm thời thoát tục, nàng thụ
động chấp nhận bước chân vào đó, vui mừng được thoát nạn khi ở
trong đó, nhưng nó vẫn ở ngoài Kiều. Nó vẫn còn là điều gì theo qui ước
ngay cả khi nàng nói :
Kiều tưởng đã dừng
chân nơi thảo am ở sông Tiền Ðường, ấy vậy mà nàng vẫn còn lưu luyến
chưa dứt được sợi dây ràng buộc của tình cũ nghĩa xưa, của cha mẹ
thân yêu. Cũng thật thường tình, có thể thông cảm mà không hoài nghi thắc
mắc tự vấn : Có nên thất vọng hay
nên vui mừng khi thấy Kiều được đoàn tụ gia đình? Có thật Kiều đã
rời bỏ mái thảo lưu có nhiều trăng, nhiều mây, sông nước mênh mang ấy?
Ngay khi nàng „giã sư giã cảnh“ theo lệnh phụ thân trở về với gia đình
là thôi, bỏ hết con đường học đạo? Nguyễn Du không trả lời
những thắc mắc ngớ ngẩn ấy, mà đòi ta phải đi tìm. Cuộc đoàn tụ
đã được Nguyễn Du diễn tả với tất cả sự nhạy bén thấu hiểu tâm
trạng và tâm lý người trở về cũng như của mọi nhân vật [2].
Trong chuỗi thơ liên tiếp đầy diễn biến nội tâm „bi hoan mấy nỗi“
ta bỗng bắt gặp một hai câu thơ tuồng như vô tình mà rất hữu ý giữa
những câu ca ngợi cuộc hòa hợp tâm đắc Kiều - Kim :
Và chợt hiểu thêm một
điều : bước chân trở lại trần của nàng Kiều lần này không giống những
bước chân ra đi vào cõi hồng trần nữa, nó tương tự như bước chân của
một thực thể đã liễu tri được mọi qui luật của cuộc đời, từ đó
đã được giải phóng, một thực thể đã ra khỏi dòng đời nhưng lại
bước về, nhập thế [3]
. Kiều nhập thế lần này khác với lần trước, nàng không quên mái
chùa. Hơn thế nữa, nàng lập nên một am mây, một cửa Không, ngay giữa
lòng đời, miệt mài một chữ „nghĩa“ với người với đời. Bước vào ngôi chùa
ấy, nàng Kiều không còn lưỡng lự tiến thối, không còn cảm giác tạm
thời, cảm giác bị động, bởi vì chính nàng là người chủ động, người
sáng tạo ra nó, là người „phát tâm Bồ đề“ cho ý nguyện tiếp tục
công việc hàng tâm. Bước vào chùa hay đi vào đời đối với Kiều bấy
giờ cũng trong cùng một ý nghĩa trọn thành, không đối đãi. Ngôi chùa ấy vô danh,
chỉ là một am mây thôi, không rồng bay phượng múa, cũng không có sư sãi,
nhưng tinh tấn hôm mai dầu đèn. Nó đúng là VÔ MÔN, hay có thể viết
trên cửa một chữ „TÂM“, tùy duyên ai bước đến… Muenchen cuối năm 2005 [1] Ðổng văn Thanh, tác giả người Trung quốc, tác phẩm „Thanh đại văn học luận cảo“, so sánh tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện với Ðoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du. [2] Xem: Thái Kim Lan, Ý niệm đoàn viên trong truyện Kiều [3] Ðây cũng là khái niệm về Bồ Tát, mẫu người đạt đạo lý tưởng theo Phật giáo Ðại Thừa.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com