giaodiem copyright
posted: 14.02.2006
MẬT MẢ DA VINCI
Tác giả: Dan Brown
Chuyển ngữ: Trần Niệm Từ

CHƯƠNG 3

 Không khí mát lạnh tháng Tư tạt vào cửa kiếng mở của chiếc Citroen ZX khi nó lưt vụt về phía nam qua khỏi Nhà hát Lớn và xuyên qua quảng trường Vendôme. Trong chiếc ghế khách, Robert Langdon có cảm tưởng như thành phố lao ngược lại khi chàng gắng thanh thản trí óc. Chàng có vẻ dễ coi hơn sau khi tắm và cạo râu vội vàng nhưng vẫn không bớt được lo âu. Hình ảnh kinh hoàng của cái xác nhà quản thủ vẫn in hằn trong tâm trí chàng.

Jacques Saunière đã chết.

Langdon không thể nào chịu được cái cảm giác mất mác sâu xa về cái chết của nhà quản thủ. Dù Saunière nổi tiếng ẩn dật, sự cống hiến nhiệt tâm của ông cho nghệ thuật đã làm cho ông càng thêm tôn kính. Những cuốn sách của ông về những mật mã dấu kín trong những bức họa của Poussin và Teniers đã là vài bài giáo khoa ưa chuộng của Langdon. Langdon rất trông chờ cuộc gặp mặt đêm nay, nhưng chàng lại thất vọng khi ông quản thủ không xuất hiện.

Hình ảnh cái xác của nhà quản thủ lại phơi bày chớp nhoáng trong tâm trí của chàng. Jacques Saunière đã tự mình làm thế? Langdon quay đầu nhìn ra bên ngoài cửa sổ để khỏi nghĩ đến tấm ảnh.

Thành phố đang lui nghỉ - những kẻ bán hàng rong đẩy những chiếc xe tay chứa kẹo hạnh nhân, những người hầu bàn mang những bao rác ra vĩa hè, một đôi tình nhân về muộn ôm nhau cho ấm trong cơn gió nhẹ thoảng mùi hương hoa lài. Chiếc Citroen lướt mình một cách uy quyền giữa cảnh hổn độn, tiếng còi hụ hai âm vang vọng làm giạt giòng xe cộ cứ như con dao.

Capitaine hài lòng khi biết ông vẫn còn ở Paris đêm nay,” Viên cảnh sát nói, lần đầu tiên lên tiếng kể từ khi họ rời khách sạn. “Một sự trùng hợp may mắn.”

Langdon chẳng thấy may mắn tí nào, và sự trùng hợp là một ý niệm mà chàng chẳng hề tin. Là một người bỏ cả đời tìm hiểu sự liên kết ẩn tàng của những biểu tượng và ý thức hệ hổn tạp, Langdon nhìn thế giới như một mạng đan quyện những lịch sử và biến cố chặt vào nhau. Sự nối kết có thể là vô hình, chàng thường thuyết giảng trong các lớp về tượng trưng học tại Harvard, nhưng chúng luôn ở đấy, chỉ bị chon vùi dưới bề mặt mà thôi.

“Tôi đoán rằng,” Langdon nói, “Viện Đại học Hoa Kỳ ở Paris đã cho các ông biết tôi đang ở đâu?”

Người tài xế lắc đầu. “Interpol.”

Interpol, Langdon nghĩ. nhĩ. Chàng đã quên rằng sự yêu cầu xét sổ thông hành của khách khi nhận phòng xem ra vô hại tại các khách sạn châu Âu, không thuần là một thủ tục kỳ quặc – nó là luật. Trong bất kỳ đêm nào khắp châu Âu, viên chức Interpol có thể chỉ trúng phóc ai ngủ ở đâu. Tìm ra Langdon tại Ritz có lẻ chỉ mất năm giây.

Khi chiếc Citroen lao nhanh xuyên qua thành phố, bóng của Tháp Eiffel được rọi sáng hiện ra cao vút ở phía xa bên phải. Nhìn nó, Langdon nghĩ đến Victoria, nhớ lại lời hứa bông lơn một năm trước rằng họ sẽ gặp mặt nhau mỗi sáu tháng tại một địa điểm lãng mạn khác nhau trên quả địa cầu. Langdon ngờ rằng Tháp Eiffel cũng phải ở trên danh sách. Buồn thay, chàng hôn Victoria lần cuối tại phi trường náo nhiệt ở Rome hơn một năm trước.

“Ông đã cỡi lên nàng chưa?” Viên cảnh sát quay đầu hỏi.

Langdon ngước lên, chắc hẳn đã nghe lầm. “Xin lổi?”

“Nàng đáng yêu quá, phải không?” Viên cảnh sát quơ tay qua tấm kiếng chắn về phía Tháp Eiffel. “Ông đã cỡi lên nàng chưa?”

Langdon trợn tròn mắt. “Chưa, tôi chưa leo lên Tháp.”

“Nàng là biểu tượng của nước Pháp. Tôi nghĩ nàng tuyệt hão.”

Langdon gật đầu lặng lẽ. Các nhà biểu tượng học thường nhận xét rằng nước Pháp – một xứ nỗi danh về phô trương nam tính, ái tình lăng nhăng, và những nhà lãnh đạo nhỏ thó bất an như Napoleon và Người lùn Pepin – không thể chọn một biểu tượng quốc gia nào thích hợp hơn là một cái hình dương vật một ngàn bộ.

Khi họ đến ngả tư đường Rivoli thì đèn giao thông màu đỏ, nhưng chiếc Citroen chẳng chậm lại. Viên cảnh sát nhấn vọt chiếc xe con qua khỏi đoạn nối rồi phóng nhanh đến đoạn rậm cây ở đường Castiglione, nó là ng vào phía bắc của Khu vườn Tuileries nổi danh – một dạng Công Viên Trung Tâm của Paris. Đa số du khách diễn dịch sai Jardins des Tuileries như có liên hệ đến hàng ngàn hoa tulips (uất kim hương) nở rộ ở đấy, nhưng Tuileries lại dính dáng đến cái gì kém lãng mạn hơn thế. Đã có một thời công viên là một cái hố to lớn dơ bẩn mà các nhà thầu ở Paris đào đất sét để chế tạo những miếng ngói đỏ nổi tiếng của thành phố - còn gọi là tuiles.

Khi họ vào công viên vắng vẻ, viên cảnh sát mò tay dưới cái gờ xe tắt tiếng còi hụ. Langdon thở ra một hơi dài, thưởng thức sự yên lặng bất chợt.  Bên ngoài, ánh sáng của đèn đầu xe quét lên con đường sỏi mòn, tiếng rào rào của bánh xe tạo nên một điệu buồn ngủ. Langdon cứ tưởng Tuileries là một chốn thiêng liêng. Có những mảnh vườn mà Claude Monet đã thực nghiệm về dạng và màu, và đã phát khởi phong trào cho trường phái Ấn tượng. Tuy vậy đêm nay nơi này mang một vẻ lạ của điềm gỡ.

Chiếc Citroen rẻ trái, nhắm hướng tây về phía đại lộ chính của công viên. Đánh một vòng quanh hồ nước tròn, người tài xế lái xuyên qua một con đường vắng để vào một khoảng trống rộng lớn bên kia. Bây giờ Langdon mới nhìn thấy được phần cuối của Công viên Tuileries, dựa vào vòm cung đá vĩ đại.

Vòm cung Carroussel.  

Louvre galleryDù có lần đã diễn ra những nghi thức trác táng ở Vòm Carroussel, giới hâm mộ nghệ thuật vẫn tôn sùng nơi này vì một lý do khác hẳn. Từ khu dạo mát ở cuối vườn Tuileries, người ta có thể thấy bốn trong những viện bảo tàng nghệ thuật tuyệt vời nhất của thế giới … mỗi cái nằm ở bốn điểm của chiếc la bàn.

Ngoài cửa xe bên phải, về phía nam bên kia sông Seine và bến Voltaire, Langdon có thể nhìn thấy mặt tiền được chiếu sáng của nhà ga cổ - bây giờ trở thành Nhà Bảo tàng Orsay khả kính. Liếc nhìn về bên trái, chàng có thể thấy cái chóp của Trung tâm Pompidou cực tân kỳ, chứa Bảo tàng viện của Nghệ thuật Hiện đại. Phía sau về hướng tây, Langdon biết cái trụ đá hình tháp cổ của vua Ramses vương lên quá ngọn hàng cây làm bờ cho Bảo tàng viện Jeu de Paume.

Nhưng ngay trước mặt, về hướng đông, xuyên qua lối đi có vòm cung, bây giờ Langdon có thể thấy cung điện đá nguyên khối Renaissance đã trở thành viện bảo tàng nghệ thuật nổi danh nhất thế giới.

Viện bảo tàng Louvre.

Langdon thoáng có cảm giác bàng hoàng quen thuộc khi mắt chàng cố gắng vô vọng tiếp thu toàn bộ khối dinh thự. Xuyên qua một đại quảng trường mênh mông, mặt tiền đường bệ của Louvre vương cao như một thành trì trên bầu trời Paris. Ôm quanh theo hình móng ngựa vĩ đại, Louvre là dinh thự dài nhất châu Âu, trãi dài hơn ba cái tháp Eiffel nằm nối liền nhau. Ngay cả cái đại quảng trường rộng một triệu bộ vuông nằm giữa hai cánh của viện bảo tàng cũng không sánh được vẻ uy nghiêm của bề ngang mặt tiền. Langdon đã có lần đi bộ vòng quanh Louvre, một hành trình kinh ngạc đến ba dặm.

Phải dành đến năm tuần một du khách mới thưởng thức được sáu-mươi-lăm ngàn ba trăm mẫu nghệ thuật trong tòa nhà, nhưng hầu hết du khách chọn lối thưởng ngoạn thu gọn, mà Langdon gọi là “Louvre Nhẹ” – một cuộc chạy nước rút qua viện để xem ba tác phẩm danh tiếng: Mona Lisa, Venus de Milo và tượng thần Victory có cánh. Art Buchwald đã có lần khoe là đã xem hết cả ba tuyệt tác trong vòng năm phút và năm-mươi-sáu giây.

Người tài xế kéo ra máy bộ-đàm điện cầm tay và nói tiếng Pháp rất nhanh. “Monsieur Langdon est arrivé. Deux minutes.” (Ông Langdon đã đến. Hai phút nữa.)

Một lời xác nhận không đoán được vọng lại lốp đốp.

Viên cảnh sát cất cái máy, quay lại Langdon. “Ông sẽ gặp capitaine nơi lối vào chính.”

Người tài xế làm ngơ trước cái bảng cấm xe cộ di chuyển trên đại quảng trường, rồ thêm máy phóng chiếc Citroen vượt qua lề. Lối vào chính của Louvre bây giờ lộ rõ, vươn lên kiêu hãnh đàng xa, bao quanh bởi bảy cái hồ con hình tam giác có vòi phun nước được chiếu sáng.

Kim-Tự-Tháp.

PyramicLối vào mới của Louvre ở Paris đã được nổi danh không kém chính viện bảo tàng. Kim-tự-tháp bằng kiếng tân hiện đại gây nhiều tranh cãi đã được thiết kế bởi kiến trúc sư Mỹ gốc Hoa I. M. Pei, vẫn còn làm cho giới thủ cựu chế nhạo là đã hủy hoại chân giá trị của cái sân Phục Hưng. Goethe đã từng miêu tả cái kiến trúc như là điệu nhạc đong cứng, và những nhà chỉ trích Pei cho cái kim-tự-tháp này như là những móng tay cào trên bảng phấn. Tuy vậy, những kẻ ngưỡng mộ Tiến bộ ca tụng cái kim-tự-tháp trong suốt cao bảy-mươi-mốt bộ là một sự điều phối hào nhoáng của cấu trúc cổ và phương pháp tân kỳ - một dây nối biểu tượng giữa cũ và mới – giúp đưa Louvre vào thiên niên kỷ kế tiếp.

“Ông có thích cái kim-tự-tháp của chúng tôi?” Viên cảnh sát hỏi.

Langdon chau mày. Hình như dân Pháp thích hỏi người Mỹ điều này. Dĩ nhiên, nó là một câu hỏi hóc búa. Thú nhận là anh thích thì biến anh thành người Mỹ vô thẩm mỹ, và bảo không thích thì là điều sĩ nhục đối với người Pháp.

“Mitterand là một người can đảm,” Langdon trả lời nước đôi. Vị tổng thống Pháp vừa qua đã ủy nhiệm việc kiến trúc kim-tự-tháp nghe nói mắc một “phức cảm Pharaoh.” Một mình chịu trách nhiệm việc dựng các trụ đá, nghệ thuật, và các hình vật cổ Ai-cập khắp cả Paris, Francois Mitterand vốn ham thích văn hoá Ai-cập một cách tốn kém đến nổi dân Pháp ví ông như Nhân Sư Sphinx.

“Đại úy tên là gì?” Langdon hỏi thay đổi đề tài.

“Bezu Fache,” người tài xế bảo, tiến dần đến ngỏ vào chính của kim-tự-tháp. “Chúng tôi gọi ông ta là le Taureau.”

Langdon liếc sang, tự hỏi mọi người Pháp đều mang tính danh động vật bí ẩn. “Ông gọi đại úy của ông là Bò Mộng?”

Người đàn ông mở lớn mắt. “Pháp ngữ của ông khá lắm, Ông Langdon.”

Tiếng Pháp của tôi ẹ lắm, Langdon nghĩ, nhưng hình tượng học về thuật tử vi của tôi thì không tệ. Kim Ngưu Taurus luôn là con bò mộng. Chiêm tinh là một biểu tượng bất biến trên khắp hoàn cầu.

Viên cảnh sát ngừng xe và chỉ một cánh cửa lớn bên cạnh kim-tự-tháp nằm giữa hai vòi phun nước. “Lối vào ở đấy. Chúc ông may mắn.”

“Ông không vào cùng à?”

“Tôi được lệnh rời ông đây. Tôi còn nhiệm vụ khác phải làm.”

Langdon thở dài và ra khỏi xe. Thực là trò xiếc của các ông.

    Viên cảnh sát rồ xe phóng đi.

    Khi đứng một mình nhìn theo ánh đèn đuôi xe xa dần, chàng biết rằng mình có thể xét lại, ra khỏi sân, vẩy một chiếc taxi về ngủ. Có điều gì bảo với chàng ấy là ý bẩn.

    Vừa lúc chàng đi vào vùng hơi nước của các vòi phun, Langdon có cảm giác bất an tưởng như mình đang bước qua một ngưởng cửa ảo vào một thế giới khác. Tính chất mộng mị của đêm nay lại phủ chụp chàng một lần nữa. Mới hai mươi phút trước chàng còn ngủ trong phòng khách sạn. Bây giờ chàng lại đứng trước kim-tự-tháp trong suốt xây bởi Nhân Sư, chờ đợi một người cảnh sát được gọi là Bò Mộng.

    Ta đang bị kẹt trong một bức tranh vẽ của Salvador Dali, chàng nghĩ.

    Langdon bước sải đến ngỏ vào chính - một cánh cửa quay to lớn. Căn tiền sảnh bên kia mờ sáng và vắng hoe.

    Ta nên gỏ cửa chăng?

    Langdon tự hỏi có nhà Ai-cập học khả kính nào của Harvard đã từng gỏ cánh cửa trước của một kim-tự-tháp để mong có tiếng trả lời. Chàng giơ tay lên định đập vào tấm kiếng, bổng một bóng người xuất hiện từ trong bóng tối bên dưới, bước dài lên chiếc cầu thang hình cong. Người đàn ông vạm vở và sẩm màu, trông cứ như kẻ quê mùa thô lỗ, trong bộ lễ phục chéo ngực hơi chật so với đôi vai rộng. Ông ta tiến đến đầy uy quyền trên đôi chân thấp và mạnh khỏe. Ông đang chuyện trò trên chiếc điện thoại di động và vừa dứt khi đến nơi. Ông làm dấu cho Langdon đi vào.

    “Tôi là Bezu Fache,” ông tuyên bố khi Langdon đẩy chiếc cửa quay. “Đại úy của Bộ Chỉ Huy Trung Ương Cảnh Sát Tư Pháp.” Giọng nói của ông chừng mực và rung trầm… tựa như cơn bảo đang dồn đến.

    Langdon đưa tay để bắt. “Robert Langdon.”

    Bàn tay to lớn của Fache nắm chặt tay Langdon với sức mạnh.

    “Tôi đã xem tấm ảnh,” Langdon bảo. “Nhân viên của ông nói là Jacques Saunière tự mình đã –”

    “Ông Langdon,” đôi mắt mun đen của Fache nhìn chằm chặp. “Điều ông thấy trong tấm ảnh chỉ là phần đầu của những gì Saunière đã làm.” 

(Kỳ tới: Chương 5) 

Trần Niệm-Từ

© Copyright 2006 giaodiem.com
 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com