giaodiem copyright
posted: 16.02.2006

Tác phẩm “Búa Phù thuỷ” (Malleus Mallificarum) nguyên tác tiếng La-tinh của hai tác giả Linh mục Heinrich Kramer và James Penfer được cố tác giả bác sĩ Trần Quý Nhu hoàn tất phần dịch Việt ngữ trước khi ông qua đời. ‘Búa Phù thủy’ được nhà GĐ xuất bản vào mùa hè 2003, web Gđ được phép đăng lại với sự đồng ý của nhà xb GĐ, nhằm mục đích tưởng nhớ đến anh Trần Quý Nhu. Quý vị muốn có sách in trình bày trang nhã, mỹ thuật xin liên lạc với nhà xb Gđ ở Nam California, theo địa chỉ đã được giới thiệu trên web, nơi mục ‘Sách’.

206-nhu-2.jpg (44599 bytes)  Dịch-giả: Trần Quý Nhu

   Tác-giả: Linh-mục Heinrich Kramer và Linh-mục James Prenger

Búa Phù Thủy
Nguyên-tác: Malleus Maleficarum

DẪN NHẬP

CHỨNG-TÍCH CỦA MỘT THỜI KINH-HOÀNG

Năm 1184, khi tin-tưởng rằng quyền hành của tòa thánh Ca-tô (hay Catholic, cũng gọi là Công Giáo La mã, hay gọi tắt là Công La) ngự  trị trên các nước Âu-châu đã vững chắc, Giáo-hoàng Lucius III sáng lập tòa-án Pháp-đình hay Tòa Án Dị-Giáo (Inquisition), một loại tòa án đặc biệt để xử các tín đồ không tin đạo Công Giáo La mã hoặc từ bỏ đạo Công Giáo La mã để đi theo một tôn giáo khác. Kẻ bị tình nghi phạm tội theo dị giáo mà không chứng minh được rằng mình vô tội thì bị Tòa Án Đạo kết án và gửi cho nhà chức trách thế tục tức chính-quyền của vua chúa trừng phạt. Nhà chức trách thế tục nào không thi hành việc trừng-phạt thì bị cảnh cáo có thể bị đuổi khỏi giáo-hội. Điều đó có nghĩa là bị dồn vào đường cùng, không còn hi-vọng gì được sống bình-an trong xã hội nữa, vì không còn được luật-pháp của giáo-hội cũng như của vua chúa che chở.

Thời đó, Âu-châu bị nhiều trận dịch hạch tàn hại sinh-linh, y-khoa chưa tiến-bộ, các thầy thuốc đành chịu bó tay. Nên dân chúng gần như hoàn toàn tin vào quyền sinh sát của thiên chúa Giê-hô-va (Jehovah) và ngoan ngoãn chấp nhận quyền của các giáo sĩ. Để cai trị những người dân như vậy, vua chúa các nước theo đạo Ca-tô phải quị lụy trước giáo triều Rô-ma (Vatican). Vua chúa thường là cha truyền con nối. Nhưng lên ngôi phải được Tòa-thánh chính thức tấn phong mới mong giữ vững được ngôi báu. Vua chúa nào bướng bỉnh không vâng lệnh Tòa-thánh thì sẽ bị trừng trị khốn đốn. Đôi khi đành phải chịu nhục và tự hành hạ mình trước cơn giận của giáo-hoàng để xin khoan hồng.

Thánh Be-na (Bernard) mặc dù nói: “Phải thuyết-phục chớ đừng đặt để Đức Tin lên người khác”, nhưng lại thêm rằng:“Tuy vậy, gươm quan tòa đeo chẳng phải là vô ích, đem gươm đó ép buộc còn hơn để mặc cho họ gieo sự lầm lẫn cho những kẻ khác”.

Dân vùng Tu-lu-zờ (Toulouse), miền Nam nước Pháp, thờ Giê-su nhưng không tôn-sùng thiên chúa Giê-hô-va, họ lập giáo phái Cathari. Năm 1209, Giáo-hoàng In-nô-xen III (Innocent) ban lệnh thánh chiến để tiêu-diệt họ. Vua chúa ở miền Bắc nước Pháp và Đức hưởng ứng cử binh sĩ làm Thập-tự-quân đến đánh và được rất đông tín-đồ Ca-tô các nơi đến ủng hộ. Họ tràn vào thành Bê-zi-ê (Bézier), giết hết dân chúng, kể cả đàn bà và trẻ con. Giáo-phái Ca-tha-ri bị tan rã. Các nạn-nhân là những người giàu có nên cuộc chiến đã đem nhiều chiến lợi phẩm về cho quân đội cũng như Tòa Án Đạo. Khó có một cơ hội khác để hốt được nhiều tiền của như vậy, nên năm 1375 Ai-me-ric (Eymeric), một Quan Án Đạo than phiền: “Thời nay không còn những kẻ dị-giáo giầu có, các lãnh chúa không hi vọng kiếm được nhiều tiền, nên không chịu tốn phí cho chiến-tranh. Thật đáng buồn khi thấy tương lai cơ quan cứu thế của chúng ta trở thành mờ mịt.”

Trong các lễ nghi Ca-tô, nghi thức mà họ cho là quan trọng nhất, thiêng liêng nhất và vượt trên tất cả những nghi thức khác là phép thông công để hưởng mình thánh, tức là ăn thịt uống máu Giê-su. Dẫu lễ được cử hành long trọng đến đâu mà tín đồ không được nuốt mình thánh thì cũng như không. Tín đồ tin rằng hưởng mình thánh là thân thể và tinh thần của mình được hưởng tính thiêng liêng của “chúa cứu-thế”. Lúc mới bắt đầu, tín đồ được ăn bánh và uống thứ rượu đã được làm phép, nghĩa là đã biến thành thịt và máu Giê-su. Bánh khô nên phân phát không khó khăn. Trái lại rượu là chất lỏng dễ bị đổ và làm mất vẻ tôn-nghiêm. Vì thế, giáo-hội bèn viện lẽ trong thịt đã có sẵn máu, nên quyết-định chỉ cho tín-đồ ăn thịt tức là ăn bánh mà thôi.

Giáo-sĩ Jon Hu (John Huss), viện trưởng Đại-học Pra-gờ (Prague) ở vùng Bô-hê-mi (Bohemia) phàn nàn rằng nhiều giáo-sĩ sống cuộc đời trác-táng, bàn tay họ ô uế nên dù họ có làm phép, bánh và rượu cũng không thể trở thành thịt và máu chúa cứu thế được.

 Trái lại giáo-hội muốn bảo vệ sự tin tưởng nên nói rằng sự linh thiêng biến bánh và rượu thành thịt và máu không chịu ảnh hưởng của bàn tay giáo-sĩ. Vì thế và vì nhiều ý tưởng mới nữa của ông về tôn giáo, năm 1415 giáo hội kết án Jon Hu là tà đạo rồi thiêu sống. Dân vùng Bô-hê-mi rất bất bình vì Jon Hu là một người mà họ đã từng tôn kính là thánh thiện nay bị giết oan, nên họ gây ra nhiều cuộc chiến tranh   chống giáo hội mấy chục năm. Một trong những phái rất mạnh của phe gây chiến đòi tòa thánh La-mã phải cho phép tín đồ được vừa ăn bánh “thánh”, vừa uống rượu “thánh” nhưng giáo hội khước từ. Cuối cùng phái Bánh Rượu bại trận, vua của họ là Podebrad phải nhường ngôi cho một hoàng tử Ba-lan, rồi chẳng bao lâu qua đời (1471) vì bệnh. Từ đó trở đi, dân Bô-hê-mi đành chịu chỉ được ăn bánh thánh mà không có rượu

Giáo-hội Ca-tô không những chỉ dồn lực lượng vào những cuộc chiến diệt các nhóm dị giáo, mà còn chú trọng đến việc tiểu trừ  những cá nhân lẻ loi về tội tin vào thần khác   thay vì tin vào Thiên-chúa và Giê-su. Giáo-hội Ca-tô gọi những thần khác là quỉ sứ và những cá nhân như thế là thầy phù thủy.

Chủ trương diệt phù thủy đã được dạy trong Thánh Kinh. Giê-su phán rằng: “Đừng tưởng ta đến để phá luật-pháp hay lời các nhà tiên-tri. Ta đến không để phá mà để thực-hiện toàn-vẹn. Ta thề mà nói rằng, chừng nào thế-gian còn, trước khi thế-gian tàn, một dấu chấm, một nét phảy trong luật-pháp cũng không mất đâu!” (Ma-thêu, Matthew 5:17-18). Những luật-lệ mà Giê-su nói được ghi lại trong năm cuốn sách đầu của Thánh Kinh Cựu-Ứơc của đạo Ki-tô. Lệnh của Giê-hô-va trong Cựu Ứơc: “Ngươi không được phép để một người phù-thủy nào sống sót” (Exodus   23: 18).

Năm 1320, Giáo-hoàng Gioan (John) XXII  cho Tòa Án Đạo có toàn quyền xử các loại  thuật sư (sorcerer), trong đó bao gồm các thày phù thủy. Thuật sư dựa vào những hiện tượng thiên nhiên, cho rằng các ngôi sao có thể ảnh hưởng đến đời sống xấu hoặc tốt của con người mà chữa lành bệnh hay gây bệnh. Còn thày phù thủy được xem như là một thứ thuật sư khác biệt vì luôn luôn hợp tác với quỉ sứ. Từ năm 1450 tới năm 1750, nạn diệt phù thủy là một cơn ác mộng kinh hoàng cho người Tây-phương. Một sự ước lượng dè-dặt cho thấy độ 200.000 người bị đốt chết vì tội phù-thủy. Thời kỳ đó 200.000 người là một con số rất lớn.

Khi một nông dân chẳng may có con bò cái không ra sữa, hoặc có gà vịt bị chết, anh ta lại ghét sẵn một chị hàng xóm vì chị ấy khó tính  hay cãi cọ, là anh có thể nghi rằng chị đó làm phù thủy hại anh ta rồi đi tố cáo với nhà thờ hay nhà chức trách.

Người có nốt thẹo, nốt ruồi, hay hạt cơm có hình thù đặc biệt khiến cho kẻ mê-tín tin là dấu của quỉ sứ cũng có thể bị kết tội phù thủy. Một giáo sư luật ở Cô-lô-nhờ (Cologne) tại Đức nói rằng người có dấu đó không thể nào sống thánh thiện được.

Dân gian tưởng tượng ra nạn phù pháp, các Quan Án Đạo chẳng những tin theo, còn dùng trí thông minh của họ thêu dệt thêm ra nhiều tình tiết ly kỳ. Lúc các quan chức và vua chúa tin thì dân chúng càng tin mạnh hơn.

Jean Bodin, một luật sư, cũng là một nhà thần học nổi tiếng ở Pháp vào cuối thế kỷ 16 viết: “Ta đốt lửa nhỏ chầm chậm để quay, để nấu thày phù thủy chẳng phải là làm hình phạt gì nghiêm khắc lắm, so với nỗi thống khổ vĩnh-cửu đang chờ đợi họ ở địa ngục, lửa của ta bất quá chỉ kéo dài hơn một giờ là thày phù-thủy đã chết rồi”. Xem thế thì biết rằng những người bình dân thiếu học vấn có thể tự tin là mình thánh thiện đến thế nào lúc tố cáo những người mà họ tin là phạm tội phù thủy.

Sự tra tấn đã làm cho các nạn nhân chịu  không nỗi đau-đớn nên đành nhận những tội mà họ thực sự không có phạm. Quan Án Đạo thường dùng những cách tra tấn dã man nhất để nạn nhân khai tên những người mà họ có thể nhớ tên. Những người đó có thể là bạn hoặc kẻ thù.

Năm 1628, ông Johannes Junius, xã trưởng xã Bamberg, bị giam giữ vì lúc một người bạn bị tra tấn cực hình, người bạn đã khai là có hợp tác với ông để làm nghề phù thủy. Ông nhờ một người lén chuyển một bức thư cho người con gái. Thư kể rằng sau khi ông bị tra tấn nhiều lần, người tra-tấn bảo ông: “Trời ơi! Này ông! Tôi van xin ông, ông xưng tội đi, dù có tội thật hay không. Bịa ra một điều gì cũng được, vì ông sẽ không chịu nổi sự tra tấn nữa đâu. Dù có chịu nổi hoặc ngay cả ông là một bá tước chăng nữa, ông vẫn không thoát, và ông sẽ bị tra tấn mãi cho đến lúc nào ông nhận mình là thày phu thủy, cứ xem các vụ án thì thấy, vụ nào cũng giống vụ nào”.

Trong một cuốn sổ ghi năm 1630, một giáo sĩ ở Hirschberg, gần Paderborn, thuật lại lời một phụ nữ: “Trước kia, tôi chưa bao giờ tưởng tượng nổi rằng sự tra tấn có thể khiến cho người ta xưng bậy như tôi đã làm. Tôi không phải là thày phù thủy, cũng chưa bao giờ trông thấy quỉ sứ, thế mà tôi phải nhận tội, lại còn vu cáo người khác nữa. Tôi xin cha, nhờ ơn Chúa, giúp cho tôi được cứu vớt.”

Nơi nào áp dụng sự tra tấn và tịch thu tài sản của nạn nhân, như ở Đức, ở Pháp, thì số nạn nhân bị gán là phù thủy lên đến hàng vạn. Trái lại nơi nào không áp-dụng, như ở Anh, số người bị cáo buộc chỉ bằng một phần trăm mà thôi.

Nạn diệt phù thủy xảy ra trầm trọng ở Pháp và Đức, còn ở  Anh thì nhẹ hơn. Còn tại Ái-nhĩ-lan và Hòa-lan thì không có.

Các giáo sĩ dòng Đa-minh (Dominican) làm Quan Án Đạo đã khai sinh ra tội phù thủy vào thế kỷ 15 và 16, còn các giáo sĩ dòng Tên (Jesuit) thì đem lý thuyết nầy vào nước Đức. Ở Anh, chưa tới 1.000 người bị hành hình vì tội phù thủy, nhưng ở Đức, tối thiểu cũng 100.000 người bị giết (100.000 người vào thời kỳ đó không phải là con số nhỏ).

 Luật-pháp ở Anh cấm tra tấn, nhưng ở Đức lại cho phép. Có một phụ nữ ở Đức bị tra tấn tới 56 lần. Nước Đức thời Trung-cổ gồm có khoảng 300 xứ (lãnh-địa) tự trị, có xứ theo đạo Ca-tô, có xứ theo đạo Tin Lành, gom chung lại thành Đế quốc Thần thánh La-mã. Tuy luật-pháp của đế quốc, gọi là luật Ca-ro-lin (Caroline), qui định thày phù-thủy bị tra tấn và bị xử tử, nhưng mỗi xứ có luật pháp riêng, có khi trái ngược với luật đế-quốc. Luật năm 1572 của xứ Saxony theo đạo Tin Lành khắt khe với thày phù thủy hơn cả luật đế quốc. Quận-công William III xứ Juliers-Berg nghe lời vị y sĩ riêng của ông là Johan Weyer, không phạt tội phù thủy. Nhưng tới năm 1581, vì  bị bệnh ông đổi tính rồi ra lệnh tra tấn những ai bị tình nghi làm phù thủy. Philipp Adolf von Ehrenberg, Vương-tước kiêm Giám-mục xứ Wurzburg, đã cho đốt hàng trăm thày phù thủy, còn nghe lời các giáo sĩ dòng Tên, đem cả người sẽ kế vị mình ra đốt. Năm 1630, ông ân hận, chấm dứt hẳn việc xử án về tội phù thủy. Carpzov theo đạo Tin Lành phái Luther hình như đã cho đốt 20.000 thày phù thủy ở xứ  Sa-xo-ny. Trong xứ Sa-xo-ny theo đạo Tin Lành, vùng Quedlinburg chỉ có 12.000 dân mà trong một ngày vào năm1589 có đến 133 người bị đốt về tội phù thủy. Từ năm 1615 đến năm 1635, có tới 5.000 người ở vùng Strasburg bị đốt vì tội đó.  

Tác-phẩm “Búa Phù-Thủy” nguyên tên là Malleus (* Búa) Maleficarum(* Phù-thủy), viết bằng tiếng La-tinh, ra đời vào lúc các nước theo Công-giáo La-mã đương khát-khao được một tài liệu có thẩm quyền hướng dẫn trong công việc diệt phù thủy. Nên cuốn sách nầy đã thỏa mãn được lòng mong mỏi của các Quan Án Đạo trong lúc họ rất bận rộn thi hành một nhiệm-vụ “thiêng liêng cao cả”. Tác phẩm được xuất-bản lần đầu tiên vào năm 1486, bốn năm sau khi Giáo-hoàng Innocent VIII ban sắc lệnh diệt phù thủy và cử hai tác giả cuốn sách làm Quan Án Đạo.

Cho tới năm 1520, tác phẩm đó đã được in lại tối thiểu là mười ba lần. Sau khi đã sửa lại, từ năm 1574 đến năm 1669, được in thêm mười sáu lần nữa. Nhiều lần không ghi nơi và năm xuất bản. Tối thiểu cũng đã in ở Đức mười sáu lần, ở Pháp mười một lần, ở Ý hai lần. Bên Anh cũng xuất bản nhiều lần.

Búa Phù-thủy đã được dịch sang nhiều thứ tiếng. Bản dịch sang tiếng Đức của J.W.R. Schmidt được xuất-bản tại Bá-linh năm 1906. Bản dịch sang tiếng Anh của Linh-mục Montague Summers được John Rodker xuất bản tại Luân-đôn năm 1928.  Bản dịch sang tiếng Pháp của Amand Danet được Plon xuất-bản năm 1973.

Cả hai người soạn Búa Phù-thủy đều nổi tiếng là những người suất sắc về môn triết-học kinh-viện. Heinrich Kramer là người Đức, chào đời tại một thị trấn nhỏ Schlettstadt, vùng Alsace, cách Tây Nam Strasburg 40 km. Ông là người thông minh, tu theo dòng Đa-Minh, sau được cử làm viện trưởng của dòng tại thị trấn đó. Năm 1474, được bổ nhiệm làm Quan Án Đạo phụ trách các vùng Tyrol, Salzburg, BohemiaMoravia. Năm 1500, Giáo-hoàng Alexander VI cử làm đại-diện Tòa-thánh kiêm Quan Án Đạo vùng BohemiaMoravia. Tại đó, ông có trách-nhiệm hủy diệt hai phái tà giáo Waldense và Picard. Ông qua đời tại Bohemia năm1505.

James Sprenger cũng người Đức, sinh tại Basel vào khoảng năm 1436 hay 1437. Năm 1452, ông đi tu theo dòng Đa-minh tại quê nhà. Sau khi đậu Master về thần-học, ông được cử làm viện trưởng một tu viện ở Cô-lô-nhờ (Cologne). Năm 1480 được bầu làm khoa trưởng phân khoa Thần-học tại Đại học Cô-lô-nhờ. Năm 1488,  được bầu làm trưởng dòng Đa-minh trên toàn nước Đức. Ông chết ngày 6 tháng 12, năm 1495 tại Strasburg và được chôn cất tại đấy.

Sắc lệnh của Giáo hoàng In-nô-xen III (Innocent) xác nhận cần phải diệt các thày phù thủy là những kẻ “gây hại” cho dân gian, và bổ nhiệm hai tác giả làm Quan Án Đạo. Sắc lệch của giáo hoàng thường được in ở đầu tác phẩm “Búa Phù-Thủy”, nó là thành lũy bảo-vệ vững vàng giá-trị của tác-phẩm và thẩm-quyền của các tác-giả ở những xứ theo đạo Ca-tô. Giáo-hoàng In-nô-xen bị bệnh, trong mấy tuần lễ liền chỉ sống nhờ sữa của phụ-nữ rồi chết vào ngày 25 tháng 7, năm 1492, được chôn-cất trong đền Thánh Phê-rô (Peter, Pierre). Đó là ông giáo-hoàng đã khó nhọc đối phó với những cuộc chiến-tranh do vụ John Huss gây nên.

Phần lớn lý-luận trong tác-phẩm Búa Phù-Thủy là dựa theo cuốn Formicarius và cuốn Praeceptorium của viện trưởng Johannes Nider dòng Đa-minh.

R.H.Robbins phê bình rằng hai tác giả chỉ cốt bênh vực thần thuyết của mình nên lý luận nhiều khi không hợp lý. Ví dụ như đã sai lầm giảng rằng “femina” (đàn bà) là do chữ “fe” (faith, lòng tin) và chữ “minus” (kém) tạo thành. Và chữ “diabolus” (quỉ-sứ) là do chữ “dia” (hai) và chữ “bolus” (chết) với ý là giết chết cả thể xác lẫn linh hồn, tạo thành. Linh-mục Summers công nhận rằng những lỗi lẫm ấy không chối cãi được nhưng chẳng vì thế mà ta không nhận ra “giá-trị” lớn của tác phẩm.

Trong kho tàng văn chương về phù thủy, Búa Phù-thủy là tác phẩm nổi bật, quan trọng và có nhiều uy-quyền nhất. Về phương diện luật pháp thì trong gần ba trăm năm diệt phù-thủy, trên bàn vị quan tòa nào ở Âu-châu cũng có bày Búa Phù-thủy, dù ở xứ theo Công-giáo La-mã hay Tin Lành. Linh-mục Summers nhận thấy rằng Búa Phù-thủy rất xuất sắc về các mặt tâm-lý-học, lịch-sử và luật-pháp, sau này đã được nhiều tác giả dùng làm sách tra-cứu để viết nên những tác phẩm có giá trị.

Búa Phù-thủy là chứng tích về những hoạt-động tôn giáo cực kỳ quan trọng ở Tây-phương trong các thế kỷ 15, 16 và 17. Ta hãy xét qua một ít sự việc đang xảy ra trên thế giới hiện tại rồi so sánh với thời đó xem xã hội loài người đã biến chuyển ra sao về mặt tín ngưỡng. 

Ngày nay có ba tôn giáo thờ thiên chúa Giê-hô-va là Do-thái-giáo, Ki-tô-giáo và Hồi-giáo. Do-thái-giáo chỉ thờ phụng một mình thần Giê-hô-va, Ki-tô-giáo cũng thờ thần Giê-hô-va nhưng còn thờ thêm Giê-su, họ tôn Giê-hô-va làm chúa cha và Giê-su là chúa con, và tin tưởng thánh kinh Do-thái là lời thiên-chúa, họ gọi đó là Cựu-ước. Còn Tân-ước do họ tạo ra về sau. Hồi-giáo vẫn tôn sùng thiên-chúa Giê-hô-va nhưng họ gọi là Allah, họ viết kinh riêng gọi là Koran và họ tôn kính Giê-su là nhà tiên-tri. Nói chung, các giáo-sĩ của mỗi tôn-giáo nầy đều dạy tín đồ rằng hai tôn-giáo kia sai-lầm không đáng tin. Ki-tô-giáo chia thành nhiều giáo-phái, mỗi giáo-phái cho rằng mình là đúng, tất cả các giáo-phái khác đều sai lầm cả.

Đối với cuộc xung đột giữa Do-thái theo Do-thái-giáo và Palestine theo Hồi-giáo, có người bảo đó là sự tranh giành giữa hai chủng tộc chớ không hẳn là giữa những người theo đạo Do-thái với những người theo đạo Hồi. Nhưng cuộc xung đột giữa những người đạo Ca-tô với những người Tin Lành ở Ái-nhĩ-lan, hay giữa những người đạo Ca-tô ở đảo  Đông Timor với những người Hồi-giáo của In-đô-nê-si-a là những người cùng chủng tộc thì khó mà bảo rằng không vì lý do tôn giáo.

Đầu thập niên 1990, Nam-tư bị tan rã thành nhiều nước nhỏ. Croatia tuyên bố độc lập vào tháng 6 năm 1991, một tháng sau dân Ca-tô với dân Chính-thống-giáo, cả hai đều thờ Giê-su nhưng đánh nhau. Bosnia tuyên-bố độc lập vào tháng 2. 1992. Hai tháng sau, dân Chính-thống-giáo vây dân Hồi-giáo, và chẳng bao lâu thì dân Ca-tô, dân Chính-thống-giáo và dân Hồi-giáo ở đó đánh nhau tay ba, cuộc chiến kéo dài mấy năm. Năm 1995, khoảng 25.000 người Hồi-giáo ẩn náu trong đồn quân Hòa-lan với danh nghĩa là quân Liên-hiệp-quốc, ở Srebrenica trong xứ Bosnia. Quân Se-bờ đạo Chính-thống tràn vào, bất chấp quân Liên-hiệp-quốc, họ tách rời đàn ông Hồi- giáo từ 16 tuổi trở lên, được khoảng bốn tới năm ngàn người rồi đem đi bắn chết tập thể.

Sáng ngày 11 tháng 9, năm 2001, một máy bay dân sự đâm vào một trong hai tháp cao của World Trade Center ở thành phố Nữu-ước, Hoa-kỳ. Chẳng bao lâu sau, một máy bay dân sự khác cũng lao vào cái tháp còn lại, cả hai tháp sụp đổ gây thiệt mạng gần bốn ngàn người vô tội. Buổi sáng cùng ngày, máy bay chở khách thứ ba lao vào Ngũ-giác-đài làm chết thêm một số người nữa. Tất cả những người lái các máy bay ấy đều là tín-đồ Hồi-giáo cực đoan. Họ hành động theo chương trình của người lãnh đạo là Osama bin Laden. Bin Laden được chính phủ cực đoan nước Afghanistan (A-Phú-Hản) dung dưỡng để thực hiện các kế hoạch khủng bố trên thế giới với mục tiêu là diệt các dân mà họ gọi là ma quỷ để xây dựng một thế giới Hồi-giáo lành mạnh theo ý thiên chúa Allah mà họ tôn thờ. Mấy tháng trước lúc lái máy bay phá hoại World Trade Center, họ đã phá nhiều tượng Phật trên đất Afghanistan, trong đó có ngôi tượng Phật đứng, cao nhất thế-giới ở tỉnh Bamayan. Họ không cần biết các tượng ấy là những công-trình nghệ thuật vĩ đại, những di sản vô giá của tổ tiên họ để lại, họ chỉ biết nghĩ rằng đó là những di tích của tà-giáo, cần phải phá hủy để giữ cho đất của Allah được trong sạch.

Nước Hoa-kỳ dùng võ lực tấn công. Trong lúc bom đạn ào ào rơi xuống, chính phủ Afghanistan, thả tự do cho mấy người Mỹ và Đức đang bị giam giữ. Những người bị bắt nầy đến hoạt-động với tư-cách là nhân-viên của một cơ quan xã hội làm việc từ thiện giúp những người dân nghèo nàn cùng khổ. Chính-phủ A-Phú-Hản nói rằng họ có đầy đủ chứng cớ để bắt vì mấy người nầyhông những lén-lút tuyên-truyền đạo Tin Lành, mà còn dụ dỗ lôi cuốn cả người Afghan làm việc đó. Theo luật Hồi giáo của A-Phú Hản, những người đi dụ tín đồ đạo Hồi cải qua đạo khác là một trọng tội và những người Afghan hợp tác với họ còn nặng tội hơn nữa.

Thánh kinh vẫn còn là tiêu chí của những người thờ Jehovah như Do-thái, Giê-hô-va dạy trong Thánh Kinh: “Ngươi phải diệt tất cả các dân-tộc mà Thiên-chúa của ngươi đã giao cho ngươi” (Phục-luật, Deut. 7:16), thế là người Do thái có lý-lẽ tôn giáo để diệt dân Palestine.

Đối với dân Hồi-giáo, tham dự thánh chiến để bảo vệ đạo của thiên-chúa Allah là một hành động thiêng liêng cao cả. Khi lao vào Trade World Center người lái máy bay tự cho rằng mình đang diệt một lũ ma quỉ đáng chết, đáng bị đày đời đời trong địa ngục, và mình đang hi sinh cho một mục-đích vô cùng thiêng-liêng và cao cả!

Tân Ước viết rằng sau khi bị đóng đinh chết, Giê-su sống lại, truyền lệnh cho đồ đệ hãy đi dạy cho mọi dân tộc tuân lời ông, làm phép rửa tội cho mọi người để thành tín-đồ của ông (Matt. 28:19-20). Tuyên truyền đạo Tin Lành là thực hiện lời chúa cứu thế Giê-su dặn-dò. Lén lút tuyên truyền ngay ở những nơi bị nghiêm cấm là dám dấn thân vào một sứ mệnh mà họ cho là thiêng liêng cao cả.

Tôn-giáo hay giáo-phái thờ Thần nào cũng tự thấy mình tuyệt đối phải, tuyệt đối đúng, và lấy việc dụ tín đồ của tôn giáo khác làm tín đồ của mình là một nhiệm vụ thiêng liêng cao cả. Vì vậy giữa họ với nhau mà cũng xung-đột  chiến tranh liên miên.

Những vụ tận diệt tà đạo, tàn sát thày phù thủy ở Tây-phương thời xưa và những vụ xung đột tôn giáo giết hại sinh-linh vào thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 có khác nhau về hình-thức nhưng vẫn do cùng một động-cơ thúc đảy. Các Quan Án Đạo ngày xưa cho tra tấn người, đốt chết người hoặc những kẻ ngày nay thẳng tay tàn sát người khác đạo vẫn cho thấy rằng họ đang tuân theo những mệnh lệnh tuyệt đối của Thiên Chúa và họ đang làm một sứ-mệnh “vô cùng cao-cả” như tín lý tôn giáo  của họ đã dạy.

Cùng một đạo Ki-tô nhưng giáo-phái này cho rằng tất cả các giáo-phái khác không tuân đúng lời Giê-su đã dặn dò. Vì vậy nên giữa các phái luôn luôn xẩy ra xung đột với nhau là lẽ tất nhiên. Giáo-hoàng Gioan Phao-lồ II (John Paul II) đi thăm châu Mỹ La-tinh, thấy các đạo Tin Lành tuyên truyền mạnh quá và mình đã bị họ cướp mất một số khá lớn tín đồ. Đã có lúc ông mất bình tĩnh thốt ra với đám con chiên chen chúc chào đón rằng hãy coi chừng đám chó sói. “Đám chó sói” là chỉ những người Tin Lành đã cướp mất tín đồ của ông.

Lời vị chủ chăn ấy chẳng những bộc-lộ cảm tưởng của một kẻ thua trận, mà còn phản ánh nỗi lòng của những kẻ thua trận trong chiến cuộc tôn giáo.

Ai thua trong chiến cuộc tôn giáo ngày nay? Thua là tín đồ của mình bị tôn giáo khác cướp mất, đất mình đang làm chủ bị tôn-giáo khác chia phần hoặc chiếm chủ quyền. Dựa vào số tín-đồ bị mất, nói chung các tôn-giáo khác đang thua đạo Ki-tô và trong đạo Ki-tô thì    phái Ca-tô, phái Chính Thống đang thua các phái Tin Lành. Nhiều xã hội của các tôn-giáo khác đang lo ngại đạo Ki tô. Năm 2001, Ấn-độ có một phong trào của giới bình dân đổi từ Ấn-độ-giáo sang đạo Phật, chính phủ Ấn phải kềm hảm bớt phong trào vì sợ rằng đạo Ki-tô lợi dụng thời cơ thì khó lòng đối phó.

Trong mấy thế-kỷ trước, những cuộc truyền đạo là những cuộc viễn chinh ít tốn kém, giúp cho những đoàn quân nhỏ của các nước Ki-tô Tây-phương chiếm được những thuộc địa mênh mông, thu được những mối lợi lớn lao ở khắp năm châu, đồng thời tạo nên ở nhiều xứ những sự xung đột tôn giáo triền miên cho đến ngày nay.

Các nhà chính-trị nói chung đều biết áp-dụng những kinh nghiệm quí báu ấy. Hiện nay đa số những xứ giầu mạnh trên thế giới, và có thể coi như là bá chủ thế giới, là những xứ theo truyền thống đạo Ki-tô. Kỹ-nghệ của họ không thể tồn tại nếu thiếu nguyên liệu khai thác được ở những nước khác. Làm cho nước khác suy yếu là cách để duy trì địa vị bá-chủ của mình. Họ đã đề cao quyền tự do tôn giáo, tự-do truyền đạo để gây xáo trộn ở các nước đang phát triển. Họ đã và đang thành công.

Những người đi tuyên truyền đạo công-khai hay lén-lút, đều là những kẻ thành công nhất. Nhiều người lén lút đi truyền đạo thường dựa vào thế lực tôn giáo hay thế lực của chính phủ họ. Nếu chẳng may bị bắt, giáo hội  của họ liền vận động chánh phủ họ can thiệp. Như ta thấy, họ thường thoát nạn dễ dàng. Báo chí Mỹ thường đăng tải các chương trình đi truyền đạo Tin Lành, kể cả những chương trình truyền đạo ở các nước họ bị ngăn cấm. Nhưng các cuộc xung-đột tôn-giáo không nhất thiết được liên miên nuôi dưỡng như vậy.

     Ngày Thứ Tư, 21 tháng bảy năm 1999, Giáo-hoàng Gioan Phao-lồ II đã tuyên-bố: “Thiên-chúa khải thị dạy chúng ta rằng thiên-đường không phải chỉ là một danh-từ trừu-tượng cũng không phải là một nơi làm bằng vật-chất ở trên những đám mây, nhưng là một mối liên-hệ sống động trong tâm ta với Ba Ngôi Thiên Chúa.” Lời tuyên bố nầy chứng tỏ giáo hoàng dám can đảm cho tín-đồ thấy sự sai-lầm trong một niềm tin sâu đậm và lâu đời rằng thiên-đường là một nơi làm bằng vật chất ở trên trời. Họ vẫn đinh-ninh tin rằng đến ngày Tận-thế, tức là lúc Phán-xét cuối cùng, xương thịt của họ tan nát từ lâu bỗng dưng gom lại và sống lại nguyên vẹn như tấm thân đang hiện có, và hồn họ sẽ nhập vào xác. Mặc dù lời tuyên-bố trên của vị chủ chiên tới năm 2003 vẫn chỉ vang đến tai một số ít tín đồ nhưng lòng can đảm đó thật đáng kể.

Một việc đáng kể khác xẩy ra vào ngày Chủ nhật, 12 tháng 3 năm 2000, khi giáo hoàng tuyên bố trong một bài thuyết-giảng (homily): “Chúng tôi xin lỗi vì những sự chia rẽ xảy ra giữa những tín-đồ Ki-tô với nhau, vì những cuộc baọ hành chúng tôi đã dùng trong khi phụng sự đức tin và thái độ nghi hoặc, thù hằn  đối với những người theo các tôn giáo khác.”

Hành động thú tội và xin lỗi của giáo-hoàng một phần là để cứu vản tình thế đang có nguy cơ suy sụp vì quá tàn ác, mặt khác nhằm xoa dịu lương tâm thế giới để bước thêm những bước nữa trong chính sách chiếm tín đồ bằng phương pháp tinh vi hơn. Dẫu sao, cũng có những dấu hiệu cho thấy rằng các giáo sĩ Ca-tô dạy cho tín đồ có thái độ hòa hoãn hơn với những người khác tôn giáo và một số tín đồ hình như có lắng nghe phần nào.

Con người theo một tôn-giáo không phải để tìm đường giải thoát tâm linh cho người khác, mà để tìm giải thoát tâm linh cho mình. Nhưng trong khi hành đạo để tiến tới sự giải-thoát, không ai được quyền dẫm lên cuộc sống của kẻ khác, nhất là không được sát hại sinh-mạng của kẻ khác. Một tôn-giáo không thể gọi là chân chánh được khi chủ trương tiêu diệt các tôn-giáo khác, mà lich sử đã cho thấy nhiều tôn giáo bàn tay đã nhuốm máu. Nhưng thật đáng tiếc! Loài người đã quá bảo thủ duy-trì tính lạc hậu và dả man của tín ngưỡng cho nên trên thế-gian ngày nay những tôn-giáo như vậy lại là những tôn giáo mạnh có thế lực nhất.

Loài người hướng theo lương-tâm để phát-triển xã-hội nhưng so sánh những cuộc sát hại để diệt dị-giáo, diệt phù-thủy vào các thế-kỷ 15, 16 17 với những cuộc xung-đột đẫm máu giữa các tôn-giáo hiện nay, ta thấy sự tiến bộ về mặt đạo đức của con người quá chậm chạp. Một trong những nguyên nhân khiến cho sự tiến bộ chậm chạp là thiếu học hỏi những kinh nghiệm đau thương của nhân loại, và thiếu thành thực trong việc truy tìm nguyên nhân của các lỗi lầm mà con người đã phạm để tránh tái phạm.  Lịch-sử  về các cuộc diệt dị giáo, diệt phù-thủy ở Tây-phương là những kinh nghiệm quá đau đớn về những lầm-lỗi quá tàn-nhẫn, rất đáng cho chúng ta biết để có thể trưởng-thành trên mặt tín ngưỡng mà tiết kiệm được xương máu. Búa Phù-thủy là một trong các chứng tích quan trọng nhất về những kinh-nghiệm ấy.

Bản Búa Phù Thủy bản tiếng Việt này được dịch từ bản tiếng Anh của Linh-mục Summers, và đối chiếu với bản tiếng Pháp của Amand Danet để kiểm chứng.

 Trần Quý Nhu
  21.1.2003
 
--Đọc “Búa Phù thủy” bài 2: Sắc lệnh của Giáo hoàng Innocent VIII--
 
© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com