
Bài 2. SẮC-LỆNH
CỦA GIÁO-HOÀNG INNOCENT THỨ TÁM Với mối lo lắng trong tâm khảm Ta, vả lại
bổn phận Tông-đồ của Ta cũng đòi hỏi, Ta mong-mỏi rằng Đức tin Ca-tô
(Công giáo) phải đặc-biệt phát-triển, phồn-thịnh khắp nơi trong thời
Ta, rằng tất cả nỗi đồi trụy tà đạo phải bị đảy xa khỏi ranh giới
và biên cương người Mộ-đạo. Ta rất hoan hỉ tuyên bố và cũng xác nhận
lại những phương tiện và phương pháp đặc-định, nhờ những phương pháp
này lòng mong ước trung thực của Ta có thể lượm được kết-quả mong
muốn. Vì khi tất cả những lầm lẫn bị trừ diệt nhờ chức nghiệp của
Ta được Ta cần-mẫn thi hành, cũng như cái cuốc của người nông phu biết
lo xa, thì mối dốc tâm tuân theo Đức tin thánh thiện ở Ta, và niềm tôn
kính thường xuyên vào Đức tin Thiêng liêng trong Ta sẽ được in mạnh mẽ
hơn vào tâm người Mộ-đạo. Quả thật, gần đây có lời lọt vào tai
Ta gây cho Ta một mối buồn phiền đau xót. Đó là tin tức rằng ở mấy nơi
thuộc miền Bắc nước Đức, cũng như ở các tỉnh, quận, hạt và
giáo-phận, thuộc Mên (Mainz), Cô-lô-nhờ (Cologne), Tờ-re-vờ (Trèves),
San-bua (Salzburg), và Bờ-re-men (Bremen), nhiều người nam cũng như nữ, không
nghĩ đến sự cứu vớt cho chính họ, đã lạc ra ngoài Đức tin đạo Ca-tô,
và sa ngã vào bầy quỉ sứ, cả quỉ đực lẫn quỉ cái, và dùng thần-chú,
phù pháp, thư phù, và các thứ bùa ngải cùng tà thuật ghê tởm, đã phạm
những đại tội, những tội dơ bẩn. Họ đã giết hài nhi còn nằm trong
bụng mẹ, cả những con bê non, đã phá hoại hoa mầu ở ruộng-đất, quả
nho, quả các cây ăn trái, lại nữa, đàn ông, đàn bà, gia-súc kéo cầy,
kéo xe, mục-súc nuôi thành đàn, cùng với các thú vật khác, vườn nho,
vườn cây ăn trái, đồng cỏ, mục trường, ngô, lúa mì, và những cốc
loại khác. Hơn nữa, những kẻ khốn kiếp đó còn làm hại và hành hạ
đàn ông, đàn bà, gia-súc kéo cầy, kéo xe, gia-súc nuôi thành đàn cùng những
thú vật khác, gây ra bệnh hoạn nội thương cũng như ngoại thương sinh
đau đớn và lở lói, vừa ghê gớm vừa thê thảm. Họ ngăn trở không cho
đàn ông thực hành nhục dục, mà cũng không cho đàn bà thụ thai, khiến
cho chồng không biết vợ, còn vợ thì không tiếp nhận được chồng. Hơn
nữa và trên cả thảy, họ bổ báng rũ bỏ đức tin vốn nhờ phép
Bí-tích Rửa tội mà có, và ngả theo sự xúi dục của Kẻ thù Nhân loại.
Họ không hề chùn bước để dính vào và phạm vào những điều ghê tởm
đê tiện nhất, những sự bạo hành dơ dáy nhất, gây nên mối hại khiến
linh hồn họ chết đi. Thế là họ làm cho Thiên-chúa Uy nghi nổi giận và
họ cũng gây nên tai tiếng và sự nguy hại cho nhiều người. Và tuy
rằng các người con yêu dấu của Ta là Henry Kramer và James Sprenger, Giáo sư
Thần học, thuộc Dòng Tu sĩ Thuyết đạo (Friars Preachers), đã được thư
tòa Tông đồ cử làm và hiện còn là Quan Án Đạo (Inquisitor) xử những vụ
tà đạo đồi trụy, trước hết là ở các vùng thuộc Bắc Đức nói
trên, bao gồm những quận, huyện, giáo-phận, và những nơi khác đã được
xác-định, và thứ nhì là ở các địa hạt nằm dọc sông Ranh (Rhine); thế
nhưng có không ít những tu sĩ cũng như thường dân ở các nơi ấy cãi rằng
những bức thư ủy quyền kể trên không nói rõ và không xác định tên mỗi
tỉnh, giáo-phận và huyện, hơn nữa hai vị được bổ nhiệm cùng với
các hành vi khả ố hai vị phải đương đầu cũng không được chỉ định
rõ theo thể-thức tỉ-mỉ rành mạch. Những người phản đối như thế không
biết xấu hổ, thật trơ tráo chẳng chút ngượng ngùng nói rằng trong các
tỉnh đó làm gì có sự vi phạm những đại-tội như thế, và kết quả
là những vị Quan Án Đạo nói trên không có pháp quyền để dùng uy lực
xử án ở các vùng vừa kể, và những vị Quan Án Đạo đó không tiến
hành được việc trừng phạt, giam-cầm và bắt tội những can nhân bị kết
án về những tội tàn ác và nhiều điều hung bạo được nêu ra. Thế
là trong các tỉnh, quận, giáo phận cùng huyện nói trên, những hành vi khả
ố và đại tội nêu ra vẫn chưa bị trừng trị, nên không những là mối
nguy hiểm hiển nhiên cho linh hồn nhiều người mà còn là hiểm họa đưa tới đầy đọa vĩnh cửu. Cho nên,
Ta vì bổn phân mà mong muốn trừ bỏ tất cả những chướng ngại và các
cản trở có thể ngăn chặn và trì hoãn công việc tốt đẹp của các vị
Quan Án Đạo. Ta cũng rất mong muốn áp dụng những phương pháp mạnh để
ngăn ngừa bệnh tà đạo và những xấu xa khác đang tỏa chất độc làm hại
bao nhiêu linh hồn vô tội. Nhiệt-tâm của Ta cho Đức tin đặc-biệt thúc
gịục Ta, chỉ sợ các tỉnh, quận, giáo-phận, huyện, và địa-hạt trong
xứ Đức như Ta đã định rõ, không được hưởng những lộc do Tòa
Thánh ban như ấn định. Theo nội dung những tài liệu này, với uy lực của
thẩm quyền Tông đồ nơi Ta, Ta truyền lệnh và muốn rằng các vị Quan
Án Đạo kể trên được quyền tiến hành để sửa-chữa, giam tù, và tự
do trừng trị thích đáng bất cứ kẻ nào trong các quận hạt và giáo phận
đã được đặc biệt chỉ-định trong những thư Ta đã ban ra. Hơn nữa,
để được chắc chắn hơn, Ta nới rộng cho áp dụng uy quyền đó trên khắp
các tỉnh, quận, giáo-phận, huyện, và địa-hạt đã kể cũng như các người
và các tội-trạng Ta vừa mới nhắc lại. Và Ta ban cho mỗi một vị Quan
án Đạo hoặc cả hai vị chung nhau cũng như cho người con trai yêu dấu của
Ta là Gioan Grem-pe (John Gremper), tu sĩ thuộc địa phận Công-xi-tan
(Constance), Cử-nhân Văn-chương, công chứng viên của các vị đó, hoặc bất
cứ viên công-chứng nào thuộc công-quyền được các vị đó tạm-thời bổ
nhiệm đến các tỉnh, quận, giáo-phận, huyện và địa hạt nói trên, tất
cả được quyền tiến hành chiếu theo các luật lệ Tòa Án Đạo (Inquisition) mà xét-xử mọi người không
cần để ý đến đẳng-cấp và địa-vị. Trừng trị bằng cách phạt tiền,
giam tù xứng đáng với tội trạng những người bị thấy có tội,
hình-phạt nặng nhẹ tùy theo tội lỗi. Hơn nữa,
các vị đó còn được hưởng đầy-đủ quyền dẫn-giải và rao giảng,
càng nhiều càng tốt, lời Thiên-chúa cho mỗi giáo khu hoặc tất cả các
giáo khu trong các tỉnh. Các vị đó được quyền tự-do và hợp-pháp cử
hành bất cứ lễ-nghi nào hay thực hiện bất cứ công việc gì thấy đáng
làm cho các trường hợp nói trên. Chiếu theo uy-quyền tối-thượng ở Ta,
Ta một lần nữa ban cho các vị đó đặc quyền đầy đủ và toàn-vẹn. Đồng
thời với các bức thư Tông-đồ, Ta yêu-cầu người anh em khả kính của
Ta là Giám-mục địa phận Xì-tờ-ra-bua (Strasburg) những điều sau: Ông phải
đích thân tuyên bố, hoặc giao cho một người hay nhiều người khác
tuyên-bố, Sắc-lệnh quan-trọng Ta ban ra đây, ông phải long trọng tuyên bố
Sắc-lệnh này bất cứ lúc nào cần thiết, hoặc khi các vị Quan Án Đạo,
hoặc một trong hai vị ấy đòi hỏi. Ông không được để cho ai bất tuân
khiến nội-dung các điều ta nói đây bị khinh rẻ, hay bị ngăn trở bởi
bất cứ chức-quyền nào. Ông cũng phải răn đe tất cả những kẻ dám cản
trở hoặc phá rối các vị Quan Án Đạo, tất cả những kẻ chống lại các
vị ấy, tất cả những kẻ phản loạn, bất kể đẳng cấp, địa vị,
chức phẩm, quyền hành, tước vị, hay bất cứ danh phận gì, hoặc bất cứ
quyền đặc miễn nào mà họ trưng ra, dọa phạt họ bằng phép khai trừ
khỏi Giáo hội, án treo, huyền chức, và bằng những hình phạt ghê gớm hơn,
kiểm soát và trừng trị, tùy theo nhản quan của ông, không cho họ quyền
kháng án, và nếu ông muốn thì có thể lấy uy quyền của Ta phạt nặng
thêm, và sửa đổi các hình phạt thường-xuyên bao nhiêu tùy ông muốn, nếu
ông thấy hợp ý thì cứ kêu gọi chính quyền thế-tục giúp thêm. Chớ để bất cứ chướng ngại vật nào
ngăn trở những bức thư và sắc-lệnh Tông-đồ này. Không nên để cho bất
cứ ai liều lĩnh dùng bất cứ cách gì chống lại sắc lệnh này và đi
ngược bản tuyên ngôn ban rộng uy quyền và huấn thị Tông-đồ. Nhưng nếu
có kẻ nào dám làm như vậy tức là làm điều Thiên-chúa cấm đoán, thì
hãy cho kẻ ấy biết rằng họ sẽ bị cơn giận của Thiên-chúa Toàn-năng,
và các Tông đồ Phê-rô (Peter) và Phao-lồ (Paul) đổ lên đầu. Đưa ra tại Rô-ma, trong đền Thánh
Phê-rô, ngày 9 tháng 12, năm Chúa Chúng ta Hiện-thân một ngàn bốn trăm tám
mươi tư, nhằm năm Thứ nhất Ngôi Giáo-hoàng của Ta. BÚA PHÙ-THỦY PHẦN THỨ
NHẤT
Xin chú ý: (* chữ nghiêng)
trong ngoặc là chú thích của người dịch. Ta hãy xét ba điều cần yếu tùy thuộc lẫn
nhau tạo nên phù pháp là quỉ sứ, thày phù-thủy và sự được phép
Thiên-chúa. Bốn trong mười tám vấn đề sẽ nói về sức mạnh quỉ sứ,
các vấn đề còn lại nói về việc quỉ sứ làm. Vấn đề thứ nhất
được xem như lời giới thiệu toàn bộ tác phẩm. VẤN-ĐỀ I
Phải
chăng tin rằng có những người làm thày phù thủy thì đó là một phần
niềm tin chính của người Công giáo và bướng bỉnh có ý tưởng ngược
lại thì rõ ràng là tà đạo. Có kẻ dám bác-bẻ rằng tin vậy không phải
là theo giáo thuyết của Công giáo; kẻ đó nêu ra rằng giới-luật
Ê-pi-scô-pi (Canon Episcopi, chương 25, vấn-đề 5) dạy: “Ai tin rằng: 'Tạo-vật
có thể biến thành hay hơn hoặc dở hơn, hoặc biến thành một loại
khác, hoặc một loại hao-hao giống loại khác bởi một kẻ không phải là
Tạo-hóa tức đấng sinh ra muôn vật' thì người đó còn xấu-xa hơn cả mọi
người, cả kẻ tà-đạo.” Vậy
ai bảo rằng “đã thấy thày phù-thủy làm được như thế” thì đó
không phải là một tín đồ Công-Giáo mà rõ ràng là một kẻ tà đạo. Vả lại, chẳng ai thấy có việc phù phé
trên thế gian. Và đây là chứng cớ: nếu có, ắt
phải là việc do quỉ sứ làm. Nhưng nghĩ rằng các quỉ sứ có tài thay đổi
thân thể tạo vật, hoặc tạo ra điều hại vĩnh viễn cho cơ thể, thì đó dường như không hợp với lời dạy
của Giáo-Hội. Trong trường hợp như thế thì họ có thể tiêu diệt cả
thế giới và mang đến một sự hoang mang toàn diện. Vả lại, mọi sự thay-đổi ở thân thể
người ta, như sức khỏe hoặc bệnh hoạn, đều liên hệ đến một nguyên
nhân, mà cuối cùng thì nguyên nhân là sự vận hành của các thiên thể,
trăng sao, như A-ris-tốt (Aristotle) đã trình bày trong tác phẩm Vật lý (cuốn
7, chương 4) của ông. Nhưng quỉ sứ không thay đổi nổi sự chuyển động
các ngôi sao, vì chỉ Thiên-chúa thay đổi được mà thôi, Đi-ô-ny-siu
(Dionysius) nói như thế trong thư gửi cho Thánh Pô-ly-cáp (Polycarp). Thế là
rõ ràng quỉ sứ không có hi vọng gây nổi sự biến đổi thật sự cho thân
thể tạo-vật. Vậy mỗi
khi có sự biến đổi thật, chúng ta phải nghĩ rằng nguyên nhân là một
cái gì khác, kín đáo, huyền diệu. Vả lại, về tài năng, Thiên Chúa giỏi hơn
quỉ sứ; về hành động, Ngài cũng giỏi hơn. Phù pháp trên thế gian đã
do đâu ra, hẳn phải do quỉ sứ làm để chống lại Thiên-chúa. Ta không
được nghĩ rằng quỉ sứ vượt nổi Thiên-chúa về quyền phép; vậy ta cũng
không được tin rằng tác phẩm cao quí bậc nhất do sự sáng thế tạo
nên, tức là con người và thú vật, có thể bị quỉ sứ làm hại. Vả chăng, loại nào đã chịu ảnh hưởng
dưới sức mạnh của vật có thân thể thì loại ấy không có ảnh hưởng
gì đối với loài vật có thân thể. Các thày phù thủy ước chừng sự vận
hành của một số vì sao để gọi quỉ sứ về, thế là quỉ sứ bị lệ
thuộc vào ảnh hưởng các sao. Vậy quỉ sứ không có đủ quyền lực để
tạo nổi sự thay đổi cho thân thể loài vật; thày phù thủy còn kém xa nữa
vì họ thua quỉ sứ. Vả lại,
quỉ sứ chẳng có quyền phép gì trừ chút kỹ thuật xảo trá mà thôi. Nhưng
kỹ-thuật không tạo nổi một vật thật. Có tác-giả nói: Những người
viết về thuật Luyện Bảo-kim biết rằng không hi vọng gì biến chế nổi
kim loại nọ thành kim loại kia. Thế nên quỉ sứ có dùng tới tận cùng xảo thuật cũng không thể chữa
khỏi hay gây nổi một loại bệnh hoạn nào. Sức khỏe hay bệnh hoạn do
nguyên nhân khác đem đến, nguyên nhân đó huyền bí nhưng không dính líu
đến quỉ sứ hay thày phù thủy. Nhưng quan điểm trong Sắc lệnh (Decretals)
của Giáo hoàng viết ngược lại: “Nếu các thày phù thủy và người
thuật sư làm mà ngầm được Thiên chúa cho phép và được trợ lực bởi
sức mạnh của ma quỉ, v.v.,” thì .. Sắc-lệnh ấy nói về hành vi ma
thuật cản-trở đời sống vợ chồng bởi sự kết hợp của ba điều: phù-pháp,
quỉ-sứ, sự được Thiên-chúa cho phép. Hơn nữa, quyền lực nào mạnh hơn
thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lực yếu. Mà quyền lực quỉ-sứ mạnh hơn
quyền lực con người. Không quyền lực nào trên mặt đất có thể so
sánh nổi với quỉ sứ vì nó được sinh ra chẳng có gì sợ hải (Job,
41:24, Vulgate). GIẢI-ĐÁP. Có ba điều lầm lẫn của tà đạo cần
được đả phá và bác bỏ thì sự thật mới hiển hiện. Trong tác phẩm Bình
giải Cuốn Các Lời Tuyển-lựa (iv, 34:3), thánh Thô-ma kể là quả
có những người dám chứng minh rằng hoàn toàn không có phù pháp trên thế
gian, rằng các hiện tượng thiên nhiên gây bởi nguyên nhân huyền bí mà
người ta không hiểu rõ đã bị óc tưởng tượng đổ cho phù-pháp sinh
ra. Một hạng người khác công nhận quả có thày phù thủy thật nhưng lại
cho rằng hiệu quả của pháp-thuật, của bùa chú chỉ là tưởng tượng và hoang đường. Hạng người thứ ba tuyên bố
rằng dù cho quỉ sứ thật có cộng tác với thày phù thủy, các việc
pháp thuật chẳng qua vẫn là ảo giác và huyền hoặc mà thôi. Những
lỗi lầm của mỗi hạng người đó phải được trình bày và bác bỏ. Lỗi
của hạng thứ nhất đã bị các tác giả chính thống, nhất là thánh
Thô-ma, cho thấy rõ ràng là tà thuyết, ông bảo :“Quan điểm ấy vừa hoàn
toàn trái ngược với lời các thánh dạy, vừa thiếu lòng tin ở ngay gốc
rễ.” Vì quyền uy của Thánh Kinh nói quỉ sứ có quyền lực trên thân thể
và tinh thần con người khi Thiên-chúa cho phép quyền lực đó hiện hữu;
Thánh Kinh có rất nhiều đoạn nói rõ ràng như vậy. Họ lạc đường nên
mới nói rằng không có gì là phù pháp cả, rằng phù pháp chỉ là sự tưởng
tượng hoàn toàn; họ còn bảo rằng quỉ sứ chẳng có ở đâu ngoài trí
tưởng tượng của kẻ ngu dốt, tầm thường, những kẻ ấy lầm lẫn đổ
lổi là những tai họa thiên nhiên do quỉ gây ra. Có kẻ tưởng tượng quá
mức đến nỗi trông thấy những hình thù, bóng dáng quỉ sứ, nhưng các
thứ này chẳng qua chỉ là phản ảnh trí tưởng tượng, rồi những người
đó tin thật có những thần linh hung dữ hay cả đến thày phù thủy hiện
hình. Nhưng giảng nghĩa như thế là trái với lòng tin chân chính vì lòng
tin dạy chúng ta rằng một số thiên thần từ thiên đường sa ngã thành
quỉ sứ. Chúng ta tin và công nhận rằng nhờ bản chất tinh-vi của chúng,
chúng có thể làm được nhiều điều phi thường mà chúng ta không làm nổi.
Và ta gọi những kẻ xúi dục quỉ sứ làm phép lạ độc ác là thày phù
thủy. Và bởi vì người đã rửa tội mà không tin, nói theo thuật ngữ,
là theo tà thuyết, cho nên những người đó là những người hoàn toàn
theo tà đạo. Những
người lầm-lẫn về hai điều còn lại không chối-cãi rằng có quỉ-sứ,
rằng chúng có tài-năng nhưng họ không đồng ý với nhau về hiệu-quả
phù-pháp và về thày phù-thủy. Một phe cho rằng thày phù-thủy có tham-dự
nhưng các thành-quả không có thực-chất mà chỉ là ảo-giác thôi. Một
phe cho rằng sự tham-dự của thày phù-thủy chỉ là tưởng-tượng nhưng họ
công-nhận rằng nạn-nhân có bị hại thật. Hai điều lầm lẫn đó nảy
sinh từ hai đoạn trong cuốn Giới luật Ê-pít cô-pi (Episcopi): Thứ nhất,
sự kết tội “mấy người đàn bà tưởng rằng trong đêm tối họ bay
đi với nữ thần Đi-a-na (Diana) hay Hê-rô-đia (Herodias)”; nhưng đọc Giới
luật (Canon) thì biết (Sắc-lệnh II,33:1-4). Vì rằng những điều như thế
thường xẩy ra chỉ do ảo giác và tưởng tượng, nhưng những ai cho rằng
tất cả những ảnh hưởng của ma thuật chỉ do ảo giác và tưởng tượng
mà thôi là một sự sai lầm lớn. Thứ nhì, dựa vào lời giới-luật này:
“Ai tin rằng 'Tạo-vật có thể biến thành hay hơn hoặc dở hơn, hoặc biến
thành một loại khác, hoặc một loại hao-hao giống loại khác bởi một kẻ
không phải là Tạo-hóa tức đấng sinh ra muôn vật' thì người đó còn xấu-xa
hơn cả mọi người, cả kẻ tà-đạo”, các tác-giả ấy kết-luận rằng
hiệu-quả phù-pháp không có thực-chất mà chỉ thuần-túy là tưởng-tượng
thôi. Những lầm-lẫn ấy đượm mùi tà-đạo và trái nghịch với ý-nghĩa
rõ-ràng trong Giới-luật; chúng tôi sẽ chứng-minh như vậy, trước hết do
dựa vào luật thiêng liêng, rồi do dựa vào luật giáo-hội và luật dân-sự
nữa. Trước hết chứng-minh tổng quát đã, rồi đặc-biệt trích lời Giới-luật,
và trong vấn-đề sau đây, chúng tôi sẽ trở lại giới-luật nữa. Quả thật, luật thiên-chúa ở nhiều chỗ
ra lệnh rằng không những phải tránh xa các bà phù-thủy mà còn phải giết
họ nữa. Tuy nhiên, ta không nên áp dụng luật này nếu các bà phù thủy
không thực sự thật tình cộng tác với quỉ sứ để gây đau đớn, thiệt
hại thực sự cho bất cứ ai. Cái chết
của một thân xác được giành cho các trọng tội về thân xác vật chất;
nhưng cái chết của linh hồn lại khác, nó có thể xảy ra khi linh hồn bị
ảo giác kỳ quái, hay có khi chỉ vì bị sự tưởng tượng cám dỗ mà
thôi. Đó là ý kiến Thánh Thô-ma trong Bình-giải Cuốn Các Lời Tuyển
Trích (ii.7) để giải đáp câu hỏi: dùng sức của quỉ sứ có phải
là điều gian ác không? Lý luận cho vui vậy, chứ thự tế thì Thánh
Kinh Cựu Ứơc cuốn Phục Luật (Deuteromy, 18:10) ra lệnh giết hết thày
pháp, thày bùa. Cuốn Lê-vi (Leviticus, 19:26) cũng nói: các ngươi không được
làm phù pháp, bùa ngải ...; các ngươi không được hướng mặt về phía
bóng ma, không được nhờ thày pháp, vì họ làm các ngươi ô uế. Kẻ nào
đi theo bóng ma và thày pháp để gian dâm với họ(* Nói về tôn-giáo khác, Thánh-kinh có khi dùng
từ-ngữ “gian-dâm với” thay cho “lễ-bái với”) ta sẽ đối mặt
với kẻ đó và giết ngay ở giữa dân ta ... Sách Lê-vi cũng viết tiếp
(Levi 20:6; 20:27): đàn ông hay đàn bà muốn làm phù-thủy hoặc bói toán phải
bị giết đi, hãy ném đá vào những kẻ đó, máu chúng sẽ chảy trên
thân chúng. Quỉ-sứ có thể làm việc lạ thường trên thân-thể các nàng
phù-thủy py-thon (*python cũng có nghĩa là mãng xà). Và cần nhớ rằng vì tín tội ấy mà
Ô-chô-zi a (Ochozias) ngả bệnh rồi chết ( II
sách Các Vua: 22). Cả Saul cũng chết như thế (I Các Vua 10:3). Khi
bình chú Thánh-kinh, các bậc giáo phụ đã luận giải về tài ba quỉ sứ
và khả năng pháp thuật như thế nào? Đọc
lời các bác-sĩ trong sách Bình-giải Cuốn Các Lời Tuyển Trích
( Sentences 2:7-8) thì sẽ thấy, tất cả đều đồng ý với nhau rằng thày
phù-thủy và thuật sư dựa vào tài năng của quỉ sứ để có thể làm
được những việc phi thường chứ không phải là tưởng-tượng đâu; và
Thiên-chúa cho phép như vậy. Ấy là tôi chưa đề-cập đến rất nhiều
đoạn văn của Thánh Thô-ma; ông đã tỉ mỉ thảo luận những điều đó,
ví dụ như trong Luận thuyết Chống Người Khác Đạo (III, 120); và trong Luận
thuyết Về Giáo-lý (I, 114; II-II, 92-94). Xa hơn, chúng ta có thể tham khảo lời
các nhà bình chú và các nhà chú thích Thánh-kinh về các bậc hiền-triết
cùng các thày pháp trong triều đình những vua pha-rao (Exodus, 7). Chúng ta cũng
có thể tham khảo các điều Thánh Au-gu-stin (Augustine) nói trong tác phẩm Đô-thị
Thiên-chúa ( The City of God cuốn 18, chương 17), trong Luận
về Giáo-lý Đạo Ki-tô (II, 20-24). Rất nhiều bác sĩ khác góp thêm ý
kiến. Có thể nói rằng ai dám chống lại các điều ấy là khùng và
không thể cãi nổi tội tà-đạo đâu. Hơn nữa,
theo luật nếu ai nghĩ khác về các điều nầy, hại đến đức tin mà
Giáo-Hội qui định, là kẻ tà đạo. Đó là Tín-Lý. Chối
cãi rằng làm gì có thày phù thủy là đi ngược lại ý nghĩa rõ ràng
trong Giới luật (Ê-pi-scô-pi), cứ xem luật giáo-hội thì biết. Chúng tôi
được biết ý kiến các nhà chú giải Giới luật; Giới-luật viết: Nếu
kẻ nào nhờ pháp thuật hoặc phù pháp thì... Vả lại, có người nói về
nạn liệt-dương vì bị ếm bùa ngải; người bị tình trạng đó không
giao cấu được, thế là không thực hiện được đời sống hôn nhân nên
hôn ước bị vô hiệu hóa. Ý kiến ấy mà Thánh Thô-ma (trong sách Bình-giải
Cuốn Các Lời Tuyển-trích) cũng đồng ý, nói rằng nếu phù-pháp gây hại
cho việc hôn nhân trước khi hai vợ chồng giao hợp với nhau và nếu được
kéo dài vĩnh viễn thì sẽ phá hỏng hôn ước. Và thật rõ ràng là sự
phán đoán như vậy không phải dựa vào ảo-giác cùng sự tưởng-tượng. Hãy
tìm hiểu quan điểm của các tác giả có uy tín khác: Hen-ri xứ Sê-gu-si-ô
(Henry of Segusio), ông viết thật đầy đủ trong sách Yếu Lược của
ông; Gót-fray xứ Fon-ten (Godfrey of Fontaines) và Thánh Ray-mon xứ Pen-na-fo
(Raymond of Penafort), những người này đã thảo luận rất rõ ràng từng chi
tiết của vần đề và không nghi ngờ việc có hại cho hôn nhân nói trên
là tưởng tượng hoặc không thực. Họ coi là nó xảy ra thật và có bằng
chứng, và ước lượng rằng nếu bệnh kéo dài tới ba năm thì nên xếp
vào loại bệnh vĩnh viễn hay tạm thời. Họ không có chút nghi ngờ sự việc
gây ra do thầy phù thủy là ảo tưởng. Theo sự
nhận xét của các ông ấy, chứng liệt dương là có thực do quỉ sứ
dùng quyền lực gây ra theo giao ước giữa quỉ sứ với thày phù-thủy, hoặc
do chính quỉ sứ gây ra mà không có thày phù thủy can dự vào. Việc đó
thường hiếm xảy ra trong Giáo-hội, bởi vì hôn nhân là một phép bí
tích tuyệt vời; nhưng đối với những người đạo khác, việc đó có thật
xảy ra, vì quỉ dữ hành động y như là chúng
có quyền đối với các người đàn ông. Phê-rô xứ Pa-lút
(Peter of Palude) thuật lại trong cuốn sách thứ tư liên hệ về việc một
anh chàng có vợ: anh đã hứa hôn với một thần tượng, thế mà anh vẫn
hứa hôn với một cô gái trẻ. Nhưng anh không giao hợp được với cô ta
vì quỉ sứ luôn luôn hiện thành một người thật nằm xen vào giữa. Nhưng
dẫu sao trong Giáo-hội, quỉ sứ thường hành động xuyên qua thầy phù thủy
để tạo những hậu quả có lợi cho nó, tức là làm cho người ta mất
linh hồn. Sau đây sẽ thảo luận là theo phương pháp nào và bằng phương tiện nào cũng như xét
đến bảy cách mà quỉ sứ có thể làm hại con người như nói trên. Một
trong những vấn đề được bàn cãi giữa các nhà thần học với các nhà
giới luật là: làm thế nào chữa khỏi bệnh liệt dương vừa nói; liệu
có được phép chữa bằng thứ gọi là phản bùa không; phải làm gì nếu
thày phù thủy gây ra nạn liệt dương đó đã chết, đây là một trường
hợp mà Gót-fray xứ Fon-ten đã xét trị trong sách Yếu lược (Summa) của
ông. Những vấn đề như thế sẽ được giải thích rõ ràng hơn trong Phần
Ba của tác phẩm nầy. Kế đến,
lý-do tại sao các giới-luật-gia đã rất cẩn thận thảo ra một bảng có
nhiều thứ hình phạt, phân biệt tội phù pháp ra thành loại kín đáo, loại
công khai, phân biệt thày phù thủy với thày bói. Sự phạt nạn mê tín
tai hại ấy có nhiều hình thức; ví-dụ: kẻ nào công khai phạm lỗi thì
bị từ chối phép ban thánh thể; nếu phạm bí mật thì sẽ bị tội hành
xác bốn mươi ngày. Nếu kẻ
phạm lỗi là tu-sĩ thì bị ngưng chức và giam vào một tu viện; nếu là
thường dân thì sẽ bị trục xuất khỏi giáo-hội. Tất cả những kẻ bỉ
ổi đó và những tên đồng lõa đều bị trừng phạt, dù viện dẫn bất
cứ lý do gì cũng không được tha thứ. Trong dân luật, sự trường phạt cũng giống
như vậy. Trong cuốn Yếu-lược (Summa, cuốn 9, Bộ Luật Ju-sti-niên:
9, 18) luật gia Azo nói: ta nên biết rằng tất cả những kẻ thường được
gọi là ảo thuật và những kẻ sành thuật bói toán đều đáng tử hình.
Hình phạt đó phải được áp dụng lại. Bản
án đúng của các luật nầy là: ai bói toán cũng là phạm luật, phần thưởng
sẽ là chết dưới lưỡi gươm của đao phủ. Và hơn nữa: có những kẻ
dùng quỉ-thuật hại tính-mệnh người vô-tội, làm phụ-nữ đổi nết thành
dâm-dật đủ thứ, những kẻ ấy phải bị ném cho dã thú ăn thịt. Và luật
pháp cho phép ai cũng được làm chứng chống lại họ. Khi xét về việc bảo
vệ Đức tin, Giới-luật ra lệnh rõ ràng như thế. Và thủ
tục tương tự cũng được phép áp dụng để kết án bọn tà đạo. Khi xử
tội này, ai cũng có thể đứng ra làm chứng y như trường hợp xử tội
khi quân. Bởi vì phù pháp là tội đại phản nghịch chống lại uy quyền
Thiên-chúa. Cho nên họ phải bị đem ra tra tấn để bắt thú tội. Bất cứ
ai, không đếm xỉa đến đẳng cấp, địa vị, nếu đã bị nghi thì phải
tra tấn. Và ai bị tìm thấy có tội, dù do tự khai, vẫn bị căng nọc ra,
bị móng tay sắt cào hai bên sườn, bị tra tấn đau đớn bằng đủ loại
theo luật định để trừng trị đích đáng. Ghi-chú: Ngày xưa những kẻ phạm tội
như thế bị hình phạt kép: lưỡi gươm, móc sắt xé thân xác, và bị
ném cho dã thú ngấu nghiến. Thời
Trung cổ, họ bị đốt bằng dàn củi mà phần lớn có lẽ là phụ nữ. Dân luật cấm giao thiệp với những người
ấy: kẻ bói toán không được bén mảng vào bất cứ nhà ai; đồ đạc của
họ bị đốt hết, không ai được phép tiếp đón, hỏi han; hoặc họ bị
đày ải ra ngoài đảo xa xôi, hoang vắng, đồ đạc thì bị đem bán đấu
giá hết. Hơn nữa,
những người thăm hỏi, tiếp đãi thày phu -thủy cũng bị phạt lưu đầy
và tịch biên hết tài sản (Luật Ju-sti-niên IX,16; IX, 18:3-7). Các giảng viên giảng giải những hình phạt
ấy cho dân và vua chúa ở chỗ nào thì bóp nghẹt được các thày phù thủy
ở chỗ đó, hiệu nghiệm hơn cả là đem các lý lẽ trong Thánh Kinh ra
tranh luận. Luật dân sự nhiệt liệt tán dương những
ai chống lại phù pháp. Và những ai chịu khó nhọc bỏ công để ngăn ngừa
hoa mầu không bị bão táp, hoặc mưa đá phá hoại, đều được trọng
thưởng thay vì bị nghiêm phạt. Bao nhiêu sự tai hại có thể ngăn ngừa
được một cách hợp pháp sẽ được thảo
luận toàn bộ dưới đây. Liệu thái-độ này có thoát tội tà-đạo
chăng: không công-nhận các phù-pháp có thật hay chống lại nhẹ thôi các
phù pháp? Mỗi người hãy phán đoán theo ý mình nhưng chớ có viện cớ
ngu dốt để chạy tội. Trong lãnh vực này, viện cớ ngu dốt được không?
Chúng ta sẽ xét xem... Dựa theo những lời đã trình bày, chúng tôi rút ra
được kết luận sau đây: Ý kiến rất chắc chắn, rất đúng quan điểm
của một con chiên hay hầu hết người Công-giáo là có các ông và các bà
phù thủy được hổ trợ bởi quỉ sứ trong một sự liên hệ chặt chẻ
và được Thiên Chúa cho phép; để tạo ra những nguy hại thực sự, có thực-chất.
Ngoài ra họ vẫn có thể dùng xảo-thuật tạo ra những ảo-thị, những
ảo-giác quái-dị. Vì phạm-vi
cuộc khảo-sát đang làm đây là vấn đề phù-pháp, cho nên những thuật
khác với phù-pháp không được xét tới, như thuật của thày bói, thày
đoán; các thuật đó khác xa pháp-thuật của thày phù-thủy. Các điều lầm-lẫn thứ nhì và thứ ba
cùng nảy ra từ sự hoàn-toàn hiểu lầm lời Giới-luật Ê-pi-scô-pi; tôi
không nói về điều đầu tiên nữa, nó tự kết-tội rành-rành ra đấy vì
nó rõ là trái lời Thánh-kinh. Vậy nào chúng ta hãy đi tìm hiểu đúng ý
thiêng-liêng trong Giới-luật! Và trước hết chúng ta hãy chống lại điều
lầm-lẫn thứ nhì, điều đó nói rằng tuy hai đầu là sự thực-tại nhưng
phương-tiện ở khoảng giữa chỉ là ảo-giác. Cần chú ý rằng trong nhóm mê tín có mười
bốn loại riêng rẽ nhưng vì cần vắn tắt nên chúng tôi bỏ qua các chi
tiết, vả lại các loại mê tín ấy đã được Thánh I-si-đo (Isidone, Những
Căn Nguyên, VIII, 9) và Thánh Thô-ma (tác-phẩm Thứ Hai Trong Bộ Nhì,
vấn-đề 92, chương 2) đã trình bày rất minh bạch rồi. Dẫu sao, vấn đề
cuối của Phần Thứ Nhất trong tác phẩm nầy chúng tôi sẽ nói rõ về những
loại tương đối thấp nhân lúc thảo luận sự nguy hại của tà đạo phù-pháp. Những người đàn bà thuộc hạng được
gọi là rắn độc (python) là những người bị quỉ sứ nhập vào, sai khiến
nói hoặc làm những điều rất ngạc nhiên; loại này thường được xếp
vào hạng nhất. Còn hạng mà trong đó gồm các nàng phù-thủy thì gọi là
thuật-sư. Hai hạng
ấy khác nhau xa; kẻ trong hạng nọ không ắt làm những điều thuộc hạng
kia; Giới luật có nói về những mãng xà ấy nhưng lại không đả-động
đến các nàng phù-thủy; vậy nếu cho rằng nạn mê-tín của mọi hạng đều
đưa đến sự du-hành trong trí tưởng-tượng thôi, nếu bảo: “Vì hạng
phụ-nữ ấy chỉ du-hành được trong trí tưởng-tượng mà thôi nên không
nàng phù-thủy nào di chuyển bằng thân xác thật sự được” là hiểu lầm
Giới-luật. Và ai, vì muốn dựa vào Giới-luật đó nên cãi rằng việc
các nàng phù-thủy gieo tai-họa hay bệnh-hoạn chỉ là sự tưởng-tượng
thuần-túy, đều hoàn-toàn hiểu sai Giới-luật và là sai lầm nghiêm trọng. Hơn nữa,
có những kẻ tuy công-nhận có hai đối cực, một là quỉ-sứ, hai là bệnh-hoạn
tức là bệnh thấy rõ, có thực-chất và xảy ra ở thực-tại, nhưng lại
cho rằng kẻ trung-gian (công-cụ), tức là nàng phù-thủy, chỉ can-dự bằng
sự tưởng-tượng thôi; tôi dám, vì theo triết-học thì phương-tiện phải
luôn-luôn chung một bản thể với hai đầu, nói rằng đó là những kẻ
sai-lầm nghiêm-trọng bực nhất. Thật là vô ích để tranh cãi rằng kết
quả nào do phù pháp sinh ra cũng chỉ là sự tưởng tượng không có thực.
Sự tưởng tượng thuần túy không làm nên và cũng không giúp được gì
cho quyền phép của quỉ sứ. Chiếu theo giao-ước với quỉ-sứ, các nàng
phù-thủy phải thành-thật và thực-sự làm đầy-tớ cho nó và tận-tụy
phụng-sự nó; và đây không phải là thực hiện trong giấc mơ hay trong ảo-giác.
Vậy ta phải công nhận rằng các nàng thực tình cộng tác bằng thân xác
với quỉ sứ. Phù pháp nào cuối cùng cũng như thế, dù nàng phù thủy
tung bùa ra bằng một cái nhìn, hay một câu niệm, hay một cái ngải để
ở dưới ngưỡng cửa ra vào, mà dùng cái gì thì cũng hoàn toàn nhờ vào
quỉ sứ, vấn đề sẽ được chứng minh dưới đây. Thực ra ai chú ý đọc lời Giáo-luật cũng
thấy bốn điểm đặc biệt nổi bật. Điểm
thứ nhất là: trách nhiệm tuyệt đối của tất cả các giảng viên và
giáo sĩ đối với các hội thánh dưới quyền họ, của bất cứ ai có
trách nhiệm cứu thoát linh hồn là dạy đàn chiên rằng chỉ có một, một
mà thôi, Thiên-chúa thật, và không ai được thờ phụng gì khác ở Thiên
đường hay ở mặt đất. Điểm thứ hai, tuy rằng những người đàn bà
đó tưởng là mình đi (theo họ nghĩ và nói) với nữ thần Đi-an (Diana)
hay với Hê-rô-đi-a(Herodias), thực ra họ đi với quỉ sứ; chẳng qua quỉ
sứ tự xưng bằng danh từ ngoài đạo và mê hoặc mắt họ. Và điểm thứ
ba là sự vận hành đi xa có thể chỉ là ảo giác, bởi vì quỉ sứ có
quyền lực phi thường đối với tinh thần những người phụng sự nó; họ
đi trong trí tưởng tượng thuần túy mà họ lại nghĩ là thân thể họ hiện
đang đi thực sự. Và điểm thứ tư là: các thày phù thủy có một sự thỏa
thuận vâng lời quỉ sứ tất cả mọi điều. Nhưng cho rằng những lời
Giáo luật đó ắt bao trùm mọi hạng phù pháp là vô lý. Thày
phù thủy có thực sự đi không; hay chỉ ở trí tưởng tượng giống các
nàng python. Đó là điều sẽ được xét đến trong Phần Nhì, Vấn đề 1,
Chương 3 của tác phẩm này; chúng tôi cũng sẽ thảo luận xem họ được
chuyển vận như thế nào. Như thế, chúng tôi đã loại xong điều sai lầm
thứ nhì về căn bản và ý nghĩa Giáo luật. Lầm lẫn thứ ba, tức sự hiểu sai lời
Giáo luật là bảo rằng mọi phù pháp đều là ảo giác, có thể bị
chính Giáo luật cho thấy sai. Giáo luật nói “Ai tin rằng: 'Tạo vật có
thể biến thành tốt hơn hoặc dở hơn, hoặc biến thành một loại khác,
hoặc một loại tương tự giống loại khác bởi một kẻ không phải là Tạo-hóa
tức đấng sinh ra muôn vật thì người đó còn xấu xa hơn cả thế nhân
hay kẻ tà đạo”. Ba phần của Giáo luật này, nếu hiểu theo danh từ
thì hoàn toàn trái ngược với ý nghĩa
của Thánh kinh, với lời giải thích Thánh-kinh của các
Bác sĩ trong Giáo-hội. Thày phù thủy có thể tạo nên sinh vật, nhưng các
sinh vật ấy đều không hoàn hảo, đọc giáo luật sau đây thì thấy (Sắc-lệnh
II, 26.5.14). Cho
nên lời Thánh Au-gus-tin chẳng làm chúng ta ngạc nhiên, ông nói về sự biến
các cây gậy thành rắn của các thuật sư ở triều đình của một vị
Pha-rao; vị bác sĩ thánh thiện ấy đã bình giải câu: Pha-rao (Pharao) gọi
họ là hiền nhân và thuật sư... (Xuất-hành, Exodus 7: 11; Nói Về Đô-Thị
Thiên-Chúa X, 8). Chúng ta cũng có thể chiếu theo lời bình chú của
Stra-bô, ông nói rằng quỉ sứ vội mải đi lên đi xuống khắp thế gian
khi thày phù thủy niệm chú sai khiến chúng làm việc, chúng có thể thu lượm
các thứ hạt rồi pha trộn với nhau để làm hỏng chủng loại sinh vật. Chúng
ta cũng có thể tham chiếu sách Thú Tính của An-be-tu Mác-nu (Albertus
Magnus); và tác phẩm của Thánh Thô-ma (Yếu-lược Về Thần-học, Phần
I, vấn đề 114, điều 4). Cốt cho giản lược, chúng tôi sẽ không trích dẫn
dài dòng những tác phẩm đó ra đây, nhưng điều ấy vẫn được chứng
minh đầy đủ, vì một số sinh vật có thể được sinh ra bởi cách đó. Về điểm thứ nhì, “Người ta có thể
làm cho tạo vật thành hay hơn hoặc dở hơn”, cần phải luôn luôn hiểu
rằng việc này chỉ có thể làm được khi Thiên-chúa cho phép, tất nhiên
phải nhờ vào quyền lực Ngài và làm như vậy là để sửa đổi hay để
trừng phạt. Và Thiên Chúa thường cho phép quỉ sứ hành động với tính
cách là người thừa hành và tôi tớ Ngài, dẫu sao trong mọi sự việc chỉ
một mình Thiên-chúa có thể giáng họa và chỉ một mình Ngài có thể chữa
khỏi, bởi vì “Ta giết chết và ta làm cho sống lại” (Phục Luật,
Deute 32: 39). Và
Ngài sai các thiên thần hung dữ làm theo lệnh Ngài. Thánh Au-gu-stin làm chứng
cho điều ấy khi ông nói: Quả thật có bùa, có ngải dữ, các thứ này chẳng
những gây bệnh hoạn mà còn giết người . Thứ ba, chúng ta cũng cần phải
biết một điều xảy ra trong thời buổi ngày nay là, dựa vào lực quỉ sứ,
cả nam lẫn nữ phù thủy hay tự biến mình thành chó sói và các ác thú
khác. Vậy là Giáo luật nói đến sự biến hình thực sự ở thực tại,
chớ không phải sự khác thường do xảo thuật tạo ra. Đây là những điều
Thánh Au-gu-stin viết trong cuốn Về Đô-thị Thiên-chúa (cuốn 18, chương
17-18), ông kể chuyện kỳ dị về nàng phù thủy Xia-xơ (Circe) những bạn
đồng hành với Đi-ô-mét (Diomedes), với
cha của Pơ-ra-xi-tan-ti-ớt (Praestantius).
Chúng tôi sẽ trở lại bàn tỉ mỉ về điều này trong Phần Nhì (Vấn-đề
Thứ Nhất, các chương VI-VII).
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com