giaodiem copyright
         posted: 16.02.2006

   Bài 2. “Búa Phù Thủy” – bản dịch của Trần Quý Nhu

SẮC-LỆNH CỦA GIÁO-HOÀNG

INNOCENT THỨ TÁM

INNOCENT, GIÁM-MỤC, NGƯỜI ĐẦY-TỚ CỦA CÁC ĐẦY TỚ THIÊN-CHÚA, ĐỂ NHỚ ĐỜI-ĐỜI.

 Với mối lo lắng trong tâm khảm Ta, vả lại bổn phận Tông-đồ của Ta cũng đòi hỏi, Ta mong-mỏi rằng Đức tin Ca-tô (Công giáo) phải đặc-biệt phát-triển, phồn-thịnh khắp nơi trong thời Ta, rằng tất cả nỗi đồi trụy tà đạo phải bị đảy xa khỏi ranh giới và biên cương người Mộ-đạo. Ta rất hoan hỉ tuyên bố và cũng xác nhận lại những phương tiện và phương pháp đặc-định, nhờ những phương pháp này lòng mong ước trung thực của Ta có thể lượm được kết-quả mong muốn. Vì khi tất cả những lầm lẫn bị trừ diệt nhờ chức nghiệp của Ta được Ta cần-mẫn thi hành, cũng như cái cuốc của người nông phu biết lo xa, thì mối dốc tâm tuân theo Đức tin thánh thiện ở Ta, và niềm tôn kính thường xuyên vào Đức tin Thiêng liêng trong Ta sẽ được in mạnh mẽ hơn vào tâm người Mộ-đạo.

 Quả thật, gần đây có lời lọt vào tai Ta gây cho Ta một mối buồn phiền đau xót. Đó là tin tức rằng ở mấy nơi thuộc miền Bắc nước Đức, cũng như ở các tỉnh, quận, hạt và giáo-phận, thuộc Mên (Mainz), Cô-lô-nhờ (Cologne), Tờ-re-vờ (Trèves), San-bua (Salzburg), và Bờ-re-men (Bremen), nhiều người nam cũng như nữ, không nghĩ đến sự cứu vớt cho chính họ, đã lạc ra ngoài Đức tin đạo Ca-tô, và sa ngã vào bầy quỉ sứ, cả quỉ đực lẫn quỉ cái, và dùng thần-chú, phù pháp, thư phù, và các thứ bùa ngải cùng tà thuật ghê tởm, đã phạm những đại tội, những tội dơ bẩn. Họ đã giết hài nhi còn nằm trong bụng mẹ, cả những con bê non, đã phá hoại hoa mầu ở ruộng-đất, quả nho, quả các cây ăn trái, lại nữa, đàn ông, đàn bà, gia-súc kéo cầy, kéo xe, mục-súc nuôi thành đàn, cùng với các thú vật khác, vườn nho, vườn cây ăn trái, đồng cỏ, mục trường, ngô, lúa mì, và những cốc loại khác. Hơn nữa, những kẻ khốn kiếp đó còn làm hại và hành hạ đàn ông, đàn bà, gia-súc kéo cầy, kéo xe, gia-súc nuôi thành đàn cùng những thú vật khác, gây ra bệnh hoạn nội thương cũng như ngoại thương sinh đau đớn và lở lói, vừa ghê gớm vừa thê thảm. Họ ngăn trở không cho đàn ông thực hành nhục dục, mà cũng không cho đàn bà thụ thai, khiến cho chồng không biết vợ, còn vợ thì không tiếp nhận được chồng. Hơn nữa và trên cả thảy, họ bổ báng rũ bỏ đức tin vốn nhờ phép Bí-tích Rửa tội mà có, và ngả theo sự xúi dục của Kẻ thù Nhân loại. Họ không hề chùn bước để dính vào và phạm vào những điều ghê tởm đê tiện nhất, những sự bạo hành dơ dáy nhất, gây nên mối hại khiến linh hồn họ chết đi. Thế là họ làm cho Thiên-chúa Uy nghi nổi giận và họ cũng gây nên tai tiếng và sự nguy hại cho nhiều người.

Và tuy rằng các người con yêu dấu của Ta là Henry Kramer và James Sprenger, Giáo sư Thần học, thuộc Dòng Tu sĩ Thuyết đạo (Friars Preachers), đã được thư tòa Tông đồ cử làm và hiện còn là Quan Án Đạo (Inquisitor) xử những vụ tà đạo đồi trụy, trước hết là ở các vùng thuộc Bắc Đức nói trên, bao gồm những quận, huyện, giáo-phận, và những nơi khác đã được xác-định, và thứ nhì là ở các địa hạt nằm dọc sông Ranh (Rhine); thế nhưng có không ít những tu sĩ cũng như thường dân ở các nơi ấy cãi rằng những bức thư ủy quyền kể trên không nói rõ và không xác định tên mỗi tỉnh, giáo-phận và huyện, hơn nữa hai vị được bổ nhiệm cùng với các hành vi khả ố hai vị phải đương đầu cũng không được chỉ định rõ theo thể-thức tỉ-mỉ rành mạch. Những người phản đối như thế không biết xấu hổ, thật trơ tráo chẳng chút ngượng ngùng nói rằng trong các tỉnh đó làm gì có sự vi phạm những đại-tội như thế, và kết quả là những vị Quan Án Đạo nói trên không có pháp quyền để dùng uy lực xử án ở các vùng vừa kể, và những vị Quan Án Đạo đó không tiến hành được việc trừng phạt, giam-cầm và bắt tội những can nhân bị kết án về những tội tàn ác và nhiều điều hung bạo được nêu ra.

Thế là trong các tỉnh, quận, giáo phận cùng huyện nói trên, những hành vi khả ố và đại tội nêu ra vẫn chưa bị trừng trị, nên không những là mối nguy hiểm hiển nhiên cho linh hồn nhiều người mà còn là hiểm họa đưa tới đầy đọa vĩnh cửu.

Cho nên, Ta vì bổn phân mà mong muốn trừ bỏ tất cả những chướng ngại và các cản trở có thể ngăn chặn và trì hoãn công việc tốt đẹp của các vị Quan Án Đạo. Ta cũng rất mong muốn áp dụng những phương pháp mạnh để ngăn ngừa bệnh tà đạo và những xấu xa khác đang tỏa chất độc làm hại bao nhiêu linh hồn vô tội. Nhiệt-tâm của Ta cho Đức tin đặc-biệt thúc gịục Ta, chỉ sợ các tỉnh, quận, giáo-phận, huyện, và địa-hạt trong xứ Đức như Ta đã định rõ, không được hưởng những lộc do Tòa Thánh ban như ấn định. Theo nội dung những tài liệu này, với uy lực của thẩm quyền Tông đồ nơi Ta, Ta truyền lệnh và muốn rằng các vị Quan Án Đạo kể trên được quyền tiến hành để sửa-chữa, giam tù, và tự do trừng trị thích đáng bất cứ kẻ nào trong các quận hạt và giáo phận đã được đặc biệt chỉ-định trong những thư Ta đã ban ra.

Hơn nữa, để được chắc chắn hơn, Ta nới rộng cho áp dụng uy quyền đó trên khắp các tỉnh, quận, giáo-phận, huyện, và địa-hạt đã kể cũng như các người và các tội-trạng Ta vừa mới nhắc lại. Và Ta ban cho mỗi một vị Quan án Đạo hoặc cả hai vị chung nhau cũng như cho người con trai yêu dấu của Ta là Gioan Grem-pe (John Gremper), tu sĩ thuộc địa phận Công-xi-tan (Constance), Cử-nhân Văn-chương, công chứng viên của các vị đó, hoặc bất cứ viên công-chứng nào thuộc công-quyền được các vị đó tạm-thời bổ nhiệm đến các tỉnh, quận, giáo-phận, huyện và địa hạt nói trên, tất cả được quyền tiến hành chiếu theo các luật lệ Tòa Án Đạo  (Inquisition) mà xét-xử mọi người không cần để ý đến đẳng-cấp và địa-vị. Trừng trị bằng cách phạt tiền, giam tù xứng đáng với tội trạng những người bị thấy có tội, hình-phạt nặng nhẹ tùy theo tội lỗi.

Hơn nữa, các vị đó còn được hưởng đầy-đủ quyền dẫn-giải và rao giảng, càng nhiều càng tốt, lời Thiên-chúa cho mỗi giáo khu hoặc tất cả các giáo khu trong các tỉnh. Các vị đó được quyền tự-do và hợp-pháp cử hành bất cứ lễ-nghi nào hay thực hiện bất cứ công việc gì thấy đáng làm cho các trường hợp nói trên. Chiếu theo uy-quyền tối-thượng ở Ta, Ta một lần nữa ban cho các vị đó đặc quyền đầy đủ và toàn-vẹn.

Đồng thời với các bức thư Tông-đồ, Ta yêu-cầu người anh em khả kính của Ta là Giám-mục địa phận Xì-tờ-ra-bua (Strasburg) những điều sau: Ông phải đích thân tuyên bố, hoặc giao cho một người hay nhiều người khác tuyên-bố, Sắc-lệnh quan-trọng Ta ban ra đây, ông phải long trọng tuyên bố Sắc-lệnh này bất cứ lúc nào cần thiết, hoặc khi các vị Quan Án Đạo, hoặc một trong hai vị ấy đòi hỏi. Ông không được để cho ai bất tuân khiến nội-dung các điều ta nói đây bị khinh rẻ, hay bị ngăn trở bởi bất cứ chức-quyền nào. Ông cũng phải răn đe tất cả những kẻ dám cản trở hoặc phá rối các vị Quan Án Đạo, tất cả những kẻ chống lại các vị ấy, tất cả những kẻ phản loạn, bất kể đẳng cấp, địa vị, chức phẩm, quyền hành, tước vị, hay bất cứ danh phận gì, hoặc bất cứ quyền đặc miễn nào mà họ trưng ra, dọa phạt họ bằng phép khai trừ khỏi Giáo hội, án treo, huyền chức, và bằng những hình phạt ghê gớm hơn, kiểm soát và trừng trị, tùy theo nhản quan của ông, không cho họ quyền kháng án, và nếu ông muốn thì có thể lấy uy quyền của Ta phạt nặng thêm, và sửa đổi các hình phạt thường-xuyên bao nhiêu tùy ông muốn, nếu ông thấy hợp ý thì cứ kêu gọi chính quyền thế-tục giúp thêm.

 Chớ để bất cứ chướng ngại vật nào ngăn trở những bức thư và sắc-lệnh Tông-đồ này. Không nên để cho bất cứ ai liều lĩnh dùng bất cứ cách gì chống lại sắc lệnh này và đi ngược bản tuyên ngôn ban rộng uy quyền và huấn thị Tông-đồ. Nhưng nếu có kẻ nào dám làm như vậy tức là làm điều Thiên-chúa cấm đoán, thì hãy cho kẻ ấy biết rằng họ sẽ bị cơn giận của Thiên-chúa Toàn-năng, và các Tông đồ Phê-rô (Peter) và Phao-lồ (Paul) đổ lên đầu.

 Đưa ra tại Rô-ma, trong đền Thánh Phê-rô, ngày 9 tháng 12, năm Chúa Chúng ta Hiện-thân một ngàn bốn trăm tám mươi tư, nhằm năm Thứ nhất Ngôi Giáo-hoàng của Ta.

BÚA PHÙ-THỦY 

PHẦN THỨ NHẤT 

Xin chú ý: (* chữ nghiêng) trong ngoặc là chú thích của người dịch. 

 Ta hãy xét ba điều cần yếu tùy thuộc lẫn nhau tạo nên phù pháp là quỉ sứ, thày phù-thủy và sự được phép Thiên-chúa. Bốn trong mười tám vấn đề sẽ nói về sức mạnh quỉ sứ, các vấn đề còn lại nói về việc quỉ sứ làm. Vấn đề thứ nhất được xem như lời giới thiệu toàn bộ tác phẩm. 

VẤN-ĐỀ I 

Phải chăng tin rằng có những người làm thày phù thủy thì đó là một phần niềm tin chính của người Công giáo và bướng bỉnh có ý tưởng ngược lại thì rõ ràng là tà đạo.

 Có kẻ dám bác-bẻ rằng tin vậy không phải là theo giáo thuyết của Công giáo; kẻ đó nêu ra rằng giới-luật Ê-pi-scô-pi (Canon Episcopi, chương 25, vấn-đề 5) dạy: “Ai tin rằng: 'Tạo-vật có thể biến thành hay hơn hoặc dở hơn, hoặc biến thành một loại khác, hoặc một loại hao-hao giống loại khác bởi một kẻ không phải là Tạo-hóa tức đấng sinh ra muôn vật' thì người đó còn xấu-xa hơn cả mọi người, cả kẻ tà-đạo.”

Vậy ai bảo rằng “đã thấy thày phù-thủy làm được như thế” thì đó không phải là một tín đồ Công-Giáo mà rõ ràng là một kẻ tà đạo.

 Vả lại, chẳng ai thấy có việc phù phé trên thế gian. Và đây là chứng cớ: nếu có, ắt phải là việc do quỉ sứ làm. Nhưng nghĩ rằng các quỉ sứ có tài thay đổi thân thể tạo vật, hoặc tạo ra điều hại vĩnh viễn cho cơ thể, thì  đó dường như không hợp với lời dạy của Giáo-Hội. Trong trường hợp như thế thì họ có thể tiêu diệt cả thế giới và mang đến một sự hoang mang toàn diện.

 Vả lại, mọi sự thay-đổi ở thân thể người ta, như sức khỏe hoặc bệnh hoạn, đều liên hệ đến một nguyên nhân, mà cuối cùng thì nguyên nhân là sự vận hành của các thiên thể, trăng sao, như A-ris-tốt (Aristotle) đã trình bày trong tác phẩm Vật lý (cuốn 7, chương 4) của ông. Nhưng quỉ sứ không thay đổi nổi sự chuyển động các ngôi sao, vì chỉ Thiên-chúa thay đổi được mà thôi, Đi-ô-ny-siu (Dionysius) nói như thế trong thư gửi cho Thánh Pô-ly-cáp (Polycarp). Thế là rõ ràng quỉ sứ không có hi vọng gây nổi sự biến đổi thật sự cho thân thể tạo-vật.

Vậy mỗi khi có sự biến đổi thật, chúng ta phải nghĩ rằng nguyên nhân là một cái gì khác, kín đáo, huyền diệu.

 Vả lại, về tài năng, Thiên Chúa giỏi hơn quỉ sứ; về hành động, Ngài cũng giỏi hơn. Phù pháp trên thế gian đã do đâu ra, hẳn phải do quỉ sứ làm để chống lại Thiên-chúa. Ta không được nghĩ rằng quỉ sứ vượt nổi Thiên-chúa về quyền phép; vậy ta cũng không được tin rằng tác phẩm cao quí bậc nhất do sự sáng thế tạo nên, tức là con người và thú vật, có thể bị quỉ sứ làm hại.

 Vả chăng, loại nào đã chịu ảnh hưởng dưới sức mạnh của vật có thân thể thì loại ấy không có ảnh hưởng gì đối với loài vật có thân thể. Các thày phù thủy ước chừng sự vận hành của một số vì sao để gọi quỉ sứ về, thế là quỉ sứ bị lệ thuộc vào ảnh hưởng các sao. Vậy quỉ sứ không có đủ quyền lực để tạo nổi sự thay đổi cho thân thể loài vật; thày phù thủy còn kém xa nữa vì họ thua quỉ sứ.

Vả lại, quỉ sứ chẳng có quyền phép gì trừ chút kỹ thuật xảo trá mà thôi. Nhưng kỹ-thuật không tạo nổi một vật thật. Có tác-giả nói: Những người viết về thuật Luyện Bảo-kim biết rằng không hi vọng gì biến chế nổi kim loại nọ thành kim loại kia. Thế nên quỉ sứ có dùng tới  tận cùng xảo thuật cũng không thể chữa khỏi hay gây nổi một loại bệnh hoạn nào. Sức khỏe hay bệnh hoạn do nguyên nhân khác đem đến, nguyên nhân đó huyền bí nhưng không dính líu đến quỉ sứ hay thày phù thủy.

 Nhưng quan điểm trong Sắc lệnh (Decretals) của Giáo hoàng viết ngược lại: “Nếu các thày phù thủy và người thuật sư làm mà ngầm được Thiên chúa cho phép và được trợ lực bởi sức mạnh của ma quỉ, v.v.,” thì .. Sắc-lệnh ấy nói về hành vi ma thuật cản-trở đời sống vợ chồng bởi sự kết hợp của ba điều: phù-pháp, quỉ-sứ, sự được Thiên-chúa cho phép. Hơn nữa, quyền lực nào mạnh hơn thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lực yếu. Mà quyền lực quỉ-sứ mạnh hơn quyền lực con người. Không quyền lực nào trên mặt đất có thể so sánh nổi với quỉ sứ vì nó được sinh ra chẳng có gì sợ hải (Job, 41:24, Vulgate). 

GIẢI-ĐÁP.

 Có ba điều lầm lẫn của tà đạo cần được đả phá và bác bỏ thì sự thật mới hiển hiện. Trong tác phẩm Bình giải Cuốn Các Lời Tuyển-lựa (iv, 34:3), thánh Thô-ma kể là quả có những người dám chứng minh rằng hoàn toàn không có phù pháp trên thế gian, rằng các hiện tượng thiên nhiên gây bởi nguyên nhân huyền bí mà người ta không hiểu rõ đã bị óc tưởng tượng đổ cho phù-pháp sinh ra. Một hạng người khác công nhận quả có thày phù thủy thật nhưng lại cho rằng hiệu quả của pháp-thuật, của bùa chú chỉ là tưởng tượng và  hoang đường. Hạng người thứ ba tuyên bố rằng dù cho quỉ sứ thật có cộng tác với thày phù thủy, các việc pháp thuật chẳng qua vẫn là ảo giác và huyền hoặc mà thôi.

Những lỗi lầm của mỗi hạng người đó phải được trình bày và bác bỏ. Lỗi của hạng thứ nhất đã bị các tác giả chính thống, nhất là thánh Thô-ma, cho thấy rõ ràng là tà thuyết, ông bảo :“Quan điểm ấy vừa hoàn toàn trái ngược với lời các thánh dạy, vừa thiếu lòng tin ở ngay gốc rễ.” Vì quyền uy của Thánh Kinh nói quỉ sứ có quyền lực trên thân thể và tinh thần con người khi Thiên-chúa cho phép quyền lực đó hiện hữu; Thánh Kinh có rất nhiều đoạn nói rõ ràng như vậy. Họ lạc đường nên mới nói rằng không có gì là phù pháp cả, rằng phù pháp chỉ là sự tưởng tượng hoàn toàn; họ còn bảo rằng quỉ sứ chẳng có ở đâu ngoài trí tưởng tượng của kẻ ngu dốt, tầm thường, những kẻ ấy lầm lẫn đổ lổi là những tai họa thiên nhiên do quỉ gây ra. Có kẻ tưởng tượng quá mức đến nỗi trông thấy những hình thù, bóng dáng quỉ sứ, nhưng các thứ này chẳng qua chỉ là phản ảnh trí tưởng tượng, rồi những người đó tin thật có những thần linh hung dữ hay cả đến thày phù thủy hiện hình. Nhưng giảng nghĩa như thế là trái với lòng tin chân chính vì lòng tin dạy chúng ta rằng một số thiên thần từ thiên đường sa ngã thành quỉ sứ. Chúng ta tin và công nhận rằng nhờ bản chất tinh-vi của chúng, chúng có thể làm được nhiều điều phi thường mà chúng ta không làm nổi. Và ta gọi những kẻ xúi dục quỉ sứ làm phép lạ độc ác là thày phù thủy. Và bởi vì người đã rửa tội mà không tin, nói theo thuật ngữ, là theo tà thuyết, cho nên những người đó là những người hoàn toàn theo tà đạo.

Những người lầm-lẫn về hai điều còn lại không chối-cãi rằng có quỉ-sứ, rằng chúng có tài-năng nhưng họ không đồng ý với nhau về hiệu-quả phù-pháp và về thày phù-thủy. Một phe cho rằng thày phù-thủy có tham-dự nhưng các thành-quả không có thực-chất mà chỉ là ảo-giác thôi. Một phe cho rằng sự tham-dự của thày phù-thủy chỉ là tưởng-tượng nhưng họ công-nhận rằng nạn-nhân có bị hại thật. Hai điều lầm lẫn đó nảy sinh từ hai đoạn trong cuốn Giới luật Ê-pít cô-pi (Episcopi): Thứ nhất, sự kết tội “mấy người đàn bà tưởng rằng trong đêm tối họ bay đi với nữ thần Đi-a-na (Diana) hay Hê-rô-đia (Herodias)”; nhưng đọc Giới luật (Canon) thì biết (Sắc-lệnh II,33:1-4). Vì rằng những điều như thế thường xẩy ra chỉ do ảo giác và tưởng tượng, nhưng những ai cho rằng tất cả những ảnh hưởng của ma thuật chỉ do ảo giác và tưởng tượng mà thôi là một sự sai lầm lớn. Thứ nhì, dựa vào lời giới-luật này: “Ai tin rằng 'Tạo-vật có thể biến thành hay hơn hoặc dở hơn, hoặc biến thành một loại khác, hoặc một loại hao-hao giống loại khác bởi một kẻ không phải là Tạo-hóa tức đấng sinh ra muôn vật' thì người đó còn xấu-xa hơn cả mọi người, cả kẻ tà-đạo”, các tác-giả ấy kết-luận rằng hiệu-quả phù-pháp không có thực-chất mà chỉ thuần-túy là tưởng-tượng thôi. Những lầm-lẫn ấy đượm mùi tà-đạo và trái nghịch với ý-nghĩa rõ-ràng trong Giới-luật; chúng tôi sẽ chứng-minh như vậy, trước hết do dựa vào luật thiêng liêng, rồi do dựa vào luật giáo-hội và luật dân-sự nữa. Trước hết chứng-minh tổng quát đã, rồi đặc-biệt trích lời Giới-luật, và trong vấn-đề sau đây, chúng tôi sẽ trở lại giới-luật nữa.

 Quả thật, luật thiên-chúa ở nhiều chỗ ra lệnh rằng không những phải tránh xa các bà phù-thủy mà còn phải giết họ nữa. Tuy nhiên, ta không nên áp dụng luật này nếu các bà phù thủy không thực sự thật tình cộng tác với quỉ sứ để gây đau đớn, thiệt hại thực sự cho bất cứ ai.

Cái chết của một thân xác được giành cho các trọng tội về thân xác vật chất; nhưng cái chết của linh hồn lại khác, nó có thể xảy ra khi linh hồn bị ảo giác kỳ quái, hay có khi chỉ vì bị sự tưởng tượng cám dỗ mà thôi. Đó là ý kiến Thánh Thô-ma trong Bình-giải Cuốn Các Lời Tuyển Trích (ii.7) để giải đáp câu hỏi: dùng sức của quỉ sứ có phải là điều gian ác không? Lý luận cho vui vậy, chứ thự tế thì Thánh Kinh Cựu Ứơc cuốn Phục Luật (Deuteromy, 18:10) ra lệnh giết hết thày pháp, thày bùa. Cuốn Lê-vi (Leviticus, 19:26) cũng nói: các ngươi không được làm phù pháp, bùa ngải ...; các ngươi không được hướng mặt về phía bóng ma, không được nhờ thày pháp, vì họ làm các ngươi ô uế. Kẻ nào đi theo bóng ma và thày pháp để gian dâm với họ(* Nói về tôn-giáo khác, Thánh-kinh có khi dùng từ-ngữ “gian-dâm với” thay cho “lễ-bái với”) ta sẽ đối mặt với kẻ đó và giết ngay ở giữa dân ta ... Sách Lê-vi cũng viết tiếp (Levi 20:6; 20:27): đàn ông hay đàn bà muốn làm phù-thủy hoặc bói toán phải bị giết đi, hãy ném đá vào những kẻ đó, máu chúng sẽ chảy trên thân chúng. Quỉ-sứ có thể làm việc lạ thường trên thân-thể các nàng phù-thủy py-thon (*python cũng có nghĩa là mãng xà).  Và cần nhớ rằng vì tín tội ấy mà Ô-chô-zi a (Ochozias) ngả bệnh rồi chết ( II    sách Các Vua: 22). Cả Saul cũng chết như thế (I  Các Vua 10:3).

Khi bình chú Thánh-kinh, các bậc giáo phụ đã luận giải về tài ba quỉ sứ và khả năng pháp thuật như thế nào?

Đọc lời các bác-sĩ trong sách Bình-giải Cuốn Các Lời Tuyển Trích ( Sentences 2:7-8) thì sẽ thấy, tất cả đều đồng ý với nhau rằng thày phù-thủy và thuật sư dựa vào tài năng của quỉ sứ để có thể làm được những việc phi thường chứ không phải là tưởng-tượng đâu; và Thiên-chúa cho phép như vậy. Ấy là tôi chưa đề-cập đến rất nhiều đoạn văn của Thánh Thô-ma; ông đã tỉ mỉ thảo luận những điều đó, ví dụ như trong Luận thuyết Chống Người Khác Đạo (III, 120); và trong Luận thuyết Về Giáo-lý (I, 114; II-II, 92-94). Xa hơn, chúng ta có thể tham khảo lời các nhà bình chú và các nhà chú thích Thánh-kinh về các bậc hiền-triết cùng các thày pháp trong triều đình những vua pha-rao (Exodus, 7). Chúng ta cũng có thể tham khảo các điều Thánh Au-gu-stin (Augustine) nói trong tác phẩm Đô-thị Thiên-chúa ( The City of God cuốn 18, chương 17), trong Luận về Giáo-lý Đạo Ki-tô (II, 20-24). Rất nhiều bác sĩ khác góp thêm ý kiến. Có thể nói rằng ai dám chống lại các điều ấy là khùng và không thể cãi nổi tội tà-đạo đâu.

Hơn nữa, theo luật nếu ai nghĩ khác về các điều nầy, hại đến đức tin mà Giáo-Hội qui định, là kẻ tà đạo. Đó là Tín-Lý.

Chối cãi rằng làm gì có thày phù thủy là đi ngược lại ý nghĩa rõ ràng trong Giới luật (Ê-pi-scô-pi), cứ xem luật giáo-hội thì biết. Chúng tôi được biết ý kiến các nhà chú giải Giới luật; Giới-luật viết: Nếu kẻ nào nhờ pháp thuật hoặc phù pháp thì... Vả lại, có người nói về nạn liệt-dương vì bị ếm bùa ngải; người bị tình trạng đó không giao cấu được, thế là không thực hiện được đời sống hôn nhân nên hôn ước bị vô hiệu hóa. Ý kiến ấy mà Thánh Thô-ma (trong sách Bình-giải Cuốn Các Lời Tuyển-trích) cũng đồng ý, nói rằng nếu phù-pháp gây hại cho việc hôn nhân trước khi hai vợ chồng giao hợp với nhau và nếu được kéo dài vĩnh viễn thì sẽ phá hỏng hôn ước. Và thật rõ ràng là sự phán đoán như vậy không phải dựa vào ảo-giác cùng sự tưởng-tượng.

Hãy tìm hiểu quan điểm của các tác giả có uy tín khác: Hen-ri xứ Sê-gu-si-ô (Henry of Segusio), ông viết thật đầy đủ trong sách Yếu Lược của ông; Gót-fray xứ Fon-ten (Godfrey of Fontaines) và Thánh Ray-mon xứ Pen-na-fo (Raymond of Penafort), những người này đã thảo luận rất rõ ràng từng chi tiết của vần đề và không nghi ngờ việc có hại cho hôn nhân nói trên là tưởng tượng hoặc không thực. Họ coi là nó xảy ra thật và có bằng chứng, và ước lượng rằng nếu bệnh kéo dài tới ba năm thì nên xếp vào loại bệnh vĩnh viễn hay tạm thời. Họ không có chút nghi ngờ sự việc gây ra do thầy phù thủy là ảo tưởng.

Theo sự nhận xét của các ông ấy, chứng liệt dương là có thực do quỉ sứ dùng quyền lực gây ra theo giao ước giữa quỉ sứ với thày phù-thủy, hoặc do chính quỉ sứ gây ra mà không có thày phù thủy can dự vào. Việc đó thường hiếm xảy ra trong Giáo-hội, bởi vì hôn nhân là một phép bí tích tuyệt vời; nhưng đối với những người đạo khác, việc đó có thật xảy ra, vì quỉ dữ hành động y như là chúng   có quyền đối với các người đàn ông. Phê-rô xứ Pa-lút (Peter of Palude) thuật lại trong cuốn sách thứ tư liên hệ về việc một anh chàng có vợ: anh đã hứa hôn với một thần tượng, thế mà anh vẫn hứa hôn với một cô gái trẻ. Nhưng anh không giao hợp được với cô ta vì quỉ sứ luôn luôn hiện thành một người thật nằm xen vào giữa.

Nhưng dẫu sao trong Giáo-hội, quỉ sứ thường hành động xuyên qua thầy phù thủy để tạo những hậu quả có lợi cho nó, tức là làm cho người ta mất linh hồn. Sau đây sẽ thảo luận là theo phương pháp  nào và bằng phương tiện nào cũng như xét đến bảy cách mà quỉ sứ có thể làm hại con người như nói trên. Một trong những vấn đề được bàn cãi giữa các nhà thần học với các nhà giới luật là: làm thế nào chữa khỏi bệnh liệt dương vừa nói; liệu có được phép chữa bằng thứ gọi là phản bùa không; phải làm gì nếu thày phù thủy gây ra nạn liệt dương đó đã chết, đây là một trường hợp mà Gót-fray xứ Fon-ten đã xét trị trong sách Yếu lược (Summa) của ông. Những vấn đề như thế sẽ được giải thích rõ ràng hơn trong Phần Ba của tác phẩm nầy.

Kế đến, lý-do tại sao các giới-luật-gia đã rất cẩn thận thảo ra một bảng có nhiều thứ hình phạt, phân biệt tội phù pháp ra thành loại kín đáo, loại công khai, phân biệt thày phù thủy với thày bói. Sự phạt nạn mê tín tai hại ấy có nhiều hình thức; ví-dụ: kẻ nào công khai phạm lỗi thì bị từ chối phép ban thánh thể; nếu phạm bí mật thì sẽ bị tội hành xác bốn mươi ngày.

Nếu kẻ phạm lỗi là tu-sĩ thì bị ngưng chức và giam vào một tu viện; nếu là thường dân thì sẽ bị trục xuất khỏi giáo-hội. Tất cả những kẻ bỉ ổi đó và những tên đồng lõa đều bị trừng phạt, dù viện dẫn bất cứ lý do gì cũng không được tha thứ.

 Trong dân luật, sự trường phạt cũng giống như vậy. Trong cuốn Yếu-lược (Summa, cuốn 9, Bộ Luật Ju-sti-niên: 9, 18) luật gia Azo nói: ta nên biết rằng tất cả những kẻ thường được gọi là ảo thuật và những kẻ sành thuật bói toán đều đáng tử hình. Hình phạt đó phải được áp dụng lại.

Bản án đúng của các luật nầy là: ai bói toán cũng là phạm luật, phần thưởng sẽ là chết dưới lưỡi gươm của đao phủ. Và hơn nữa: có những kẻ dùng quỉ-thuật hại tính-mệnh người vô-tội, làm phụ-nữ đổi nết thành dâm-dật đủ thứ, những kẻ ấy phải bị ném cho dã thú ăn thịt. Và luật pháp cho phép ai cũng được làm chứng chống lại họ. Khi xét về việc bảo vệ Đức tin, Giới-luật ra lệnh rõ ràng như thế.

Và thủ tục tương tự cũng được phép áp dụng để kết án bọn tà đạo. Khi xử tội này, ai cũng có thể đứng ra làm chứng y như trường hợp xử tội khi quân. Bởi vì phù pháp là tội đại phản nghịch chống lại uy quyền Thiên-chúa. Cho nên họ phải bị đem ra tra tấn để bắt thú tội. Bất cứ ai, không đếm xỉa đến đẳng cấp, địa vị, nếu đã bị nghi thì phải tra tấn. Và ai bị tìm thấy có tội, dù do tự khai, vẫn bị căng nọc ra, bị móng tay sắt cào hai bên sườn, bị tra tấn đau đớn bằng đủ loại theo luật định để trừng trị đích đáng.

 Ghi-chú: Ngày xưa những kẻ phạm tội như thế bị hình phạt kép: lưỡi gươm, móc sắt xé thân xác, và bị ném cho dã thú ngấu nghiến.  Thời Trung cổ, họ bị đốt bằng dàn củi mà phần lớn có lẽ là phụ nữ.

 Dân luật cấm giao thiệp với những người ấy: kẻ bói toán không được bén mảng vào bất cứ nhà ai; đồ đạc của họ bị đốt hết, không ai được phép tiếp đón, hỏi han; hoặc họ bị đày ải ra ngoài đảo xa xôi, hoang vắng, đồ đạc thì bị đem bán đấu giá hết.

Hơn nữa, những người thăm hỏi, tiếp đãi thày phu -thủy cũng bị phạt lưu đầy và tịch biên hết tài sản (Luật Ju-sti-niên IX,16; IX, 18:3-7).

 Các giảng viên giảng giải những hình phạt ấy cho dân và vua chúa ở chỗ nào thì bóp nghẹt được các thày phù thủy ở chỗ đó, hiệu nghiệm hơn cả là đem các lý lẽ trong Thánh Kinh ra tranh luận.

 Luật dân sự nhiệt liệt tán dương những ai chống lại phù pháp. Và những ai chịu khó nhọc bỏ công để ngăn ngừa hoa mầu không bị bão táp, hoặc mưa đá phá hoại, đều được trọng thưởng thay vì bị nghiêm phạt. Bao nhiêu sự tai hại có thể ngăn ngừa được một cách hợp pháp sẽ được  thảo luận toàn bộ dưới đây. Liệu thái-độ này có thoát tội tà-đạo chăng: không công-nhận các phù-pháp có thật hay chống lại nhẹ thôi các phù pháp? Mỗi người hãy phán đoán theo ý mình nhưng chớ có viện cớ ngu dốt để chạy tội. Trong lãnh vực này, viện cớ ngu dốt được không? Chúng ta sẽ xét xem... Dựa theo những lời đã trình bày, chúng tôi rút ra được kết luận sau đây: Ý kiến rất chắc chắn, rất đúng quan điểm của một con chiên hay hầu hết người Công-giáo là có các ông và các bà phù thủy được hổ trợ bởi quỉ sứ trong một sự liên hệ chặt chẻ và được Thiên Chúa cho phép; để tạo ra những nguy hại thực sự, có thực-chất. Ngoài ra họ vẫn có thể dùng xảo-thuật tạo ra những ảo-thị, những ảo-giác quái-dị.

Vì phạm-vi cuộc khảo-sát đang làm đây là vấn đề phù-pháp, cho nên những thuật khác với phù-pháp không được xét tới, như thuật của thày bói, thày đoán; các thuật đó khác xa pháp-thuật của thày phù-thủy.

 Các điều lầm-lẫn thứ nhì và thứ ba cùng nảy ra từ sự hoàn-toàn hiểu lầm lời Giới-luật Ê-pi-scô-pi; tôi không nói về điều đầu tiên nữa, nó tự kết-tội rành-rành ra đấy vì nó rõ là trái lời Thánh-kinh. Vậy nào chúng ta hãy đi tìm hiểu đúng ý thiêng-liêng trong Giới-luật! Và trước hết chúng ta hãy chống lại điều lầm-lẫn thứ nhì, điều đó nói rằng tuy hai đầu là sự thực-tại nhưng phương-tiện ở khoảng giữa chỉ là ảo-giác.

 Cần chú ý rằng trong nhóm mê tín có mười bốn loại riêng rẽ nhưng vì cần vắn tắt nên chúng tôi bỏ qua các chi tiết, vả lại các loại mê tín ấy đã được Thánh I-si-đo (Isidone, Những Căn Nguyên, VIII, 9) và Thánh Thô-ma (tác-phẩm Thứ Hai Trong Bộ Nhì, vấn-đề 92, chương 2) đã trình bày rất minh bạch rồi. Dẫu sao, vấn đề cuối của Phần Thứ Nhất trong tác phẩm nầy chúng tôi sẽ nói rõ về những loại tương đối thấp nhân lúc thảo luận sự nguy hại của tà đạo phù-pháp.

 Những người đàn bà thuộc hạng được gọi là rắn độc (python) là những người bị quỉ sứ nhập vào, sai khiến nói hoặc làm những điều rất ngạc nhiên; loại này thường được xếp vào hạng nhất. Còn hạng mà trong đó gồm các nàng phù-thủy thì gọi là thuật-sư.

Hai hạng ấy khác nhau xa; kẻ trong hạng nọ không ắt làm những điều thuộc hạng kia; Giới luật có nói về những mãng xà ấy nhưng lại không đả-động đến các nàng phù-thủy; vậy nếu cho rằng nạn mê-tín của mọi hạng đều đưa đến sự du-hành trong trí tưởng-tượng thôi, nếu bảo: “Vì hạng phụ-nữ ấy chỉ du-hành được trong trí tưởng-tượng mà thôi nên không nàng phù-thủy nào di chuyển bằng thân xác thật sự được” là hiểu lầm Giới-luật. Và ai, vì muốn dựa vào Giới-luật đó nên cãi rằng việc các nàng phù-thủy gieo tai-họa hay bệnh-hoạn chỉ là sự tưởng-tượng thuần-túy, đều hoàn-toàn hiểu sai Giới-luật và là sai lầm nghiêm trọng.

Hơn nữa, có những kẻ tuy công-nhận có hai đối cực, một là quỉ-sứ, hai là bệnh-hoạn tức là bệnh thấy rõ, có thực-chất và xảy ra ở thực-tại, nhưng lại cho rằng kẻ trung-gian (công-cụ), tức là nàng phù-thủy, chỉ can-dự bằng sự tưởng-tượng thôi; tôi dám, vì theo triết-học thì phương-tiện phải luôn-luôn chung một bản thể với hai đầu, nói rằng đó là những kẻ sai-lầm nghiêm-trọng bực nhất.

 Thật là vô ích để tranh cãi rằng kết quả nào do phù pháp sinh ra cũng chỉ là sự tưởng tượng không có thực. Sự tưởng tượng thuần túy không làm nên và cũng không giúp được gì cho quyền phép của quỉ sứ. Chiếu theo giao-ước với quỉ-sứ, các nàng phù-thủy phải thành-thật và thực-sự làm đầy-tớ cho nó và tận-tụy phụng-sự nó; và đây không phải là thực hiện trong giấc mơ hay trong ảo-giác. Vậy ta phải công nhận rằng các nàng thực tình cộng tác bằng thân xác với quỉ sứ. Phù pháp nào cuối cùng cũng như thế, dù nàng phù thủy tung bùa ra bằng một cái nhìn, hay một câu niệm, hay một cái ngải để ở dưới ngưỡng cửa ra vào, mà dùng cái gì thì cũng hoàn toàn nhờ vào quỉ sứ, vấn đề sẽ được chứng minh dưới đây.

 Thực ra ai chú ý đọc lời Giáo-luật cũng thấy bốn điểm đặc biệt nổi bật.

Điểm thứ nhất là: trách nhiệm tuyệt đối của tất cả các giảng viên và giáo sĩ đối với các hội thánh dưới quyền họ, của bất cứ ai có trách nhiệm cứu thoát linh hồn là dạy đàn chiên rằng chỉ có một, một mà thôi, Thiên-chúa thật, và không ai được thờ phụng gì khác ở Thiên đường hay ở mặt đất. Điểm thứ hai, tuy rằng những người đàn bà đó tưởng là mình đi (theo họ nghĩ và nói) với nữ thần Đi-an (Diana) hay với Hê-rô-đi-a(Herodias), thực ra họ đi với quỉ sứ; chẳng qua quỉ sứ tự xưng bằng danh từ ngoài đạo và mê hoặc mắt họ. Và điểm thứ ba là sự vận hành đi xa có thể chỉ là ảo giác, bởi vì quỉ sứ có quyền lực phi thường đối với tinh thần những người phụng sự nó; họ đi trong trí tưởng tượng thuần túy mà họ lại nghĩ là thân thể họ hiện đang đi thực sự. Và điểm thứ tư là: các thày phù thủy có một sự thỏa thuận vâng lời quỉ sứ tất cả mọi điều. Nhưng cho rằng những lời Giáo luật đó ắt bao trùm mọi hạng phù pháp là vô lý.

Thày phù thủy có thực sự đi không; hay chỉ ở trí tưởng tượng giống các nàng python. Đó là điều sẽ được xét đến trong Phần Nhì, Vấn đề 1, Chương 3 của tác phẩm này; chúng tôi cũng sẽ thảo luận xem họ được chuyển vận như thế nào. Như thế, chúng tôi đã loại xong điều sai lầm thứ nhì về căn bản và ý nghĩa Giáo luật.

 Lầm lẫn thứ ba, tức sự hiểu sai lời Giáo luật là bảo rằng mọi phù pháp đều là ảo giác, có thể bị chính Giáo luật cho thấy sai. Giáo luật nói “Ai tin rằng: 'Tạo vật có thể biến thành tốt hơn hoặc dở hơn, hoặc biến thành một loại khác, hoặc một loại tương tự giống loại khác bởi một kẻ không phải là Tạo-hóa tức đấng sinh ra muôn vật thì người đó còn xấu xa hơn cả thế nhân hay kẻ tà đạo”. Ba phần của Giáo luật này, nếu hiểu theo danh từ thì hoàn toàn trái ngược với ý nghĩa    của Thánh kinh, với lời giải thích Thánh-kinh của các Bác sĩ trong Giáo-hội. Thày phù thủy có thể tạo nên sinh vật, nhưng các sinh vật ấy đều không hoàn hảo, đọc giáo luật sau đây thì thấy (Sắc-lệnh II, 26.5.14).

Cho nên lời Thánh Au-gus-tin chẳng làm chúng ta ngạc nhiên, ông nói về sự biến các cây gậy thành rắn của các thuật sư ở triều đình của một vị Pha-rao; vị bác sĩ thánh thiện ấy đã bình giải câu: Pha-rao (Pharao) gọi họ là hiền nhân và thuật sư... (Xuất-hành, Exodus 7: 11; Nói Về Đô-Thị Thiên-Chúa X, 8). Chúng ta cũng có thể chiếu theo lời bình chú của Stra-bô, ông nói rằng quỉ sứ vội mải đi lên đi xuống khắp thế gian khi thày phù thủy niệm chú sai khiến chúng làm việc, chúng có thể thu lượm các thứ hạt rồi pha trộn với nhau để làm hỏng chủng loại sinh vật.

Chúng ta cũng có thể tham chiếu sách Thú Tính của An-be-tu Mác-nu (Albertus Magnus); và tác phẩm của Thánh Thô-ma (Yếu-lược Về Thần-học, Phần I, vấn đề 114, điều 4). Cốt cho giản lược, chúng tôi sẽ không trích dẫn dài dòng những tác phẩm đó ra đây, nhưng điều ấy vẫn được chứng minh đầy đủ, vì một số sinh vật có thể được sinh ra bởi cách đó.

 Về điểm thứ nhì, “Người ta có thể làm cho tạo vật thành hay hơn hoặc dở hơn”, cần phải luôn luôn hiểu rằng việc này chỉ có thể làm được khi Thiên-chúa cho phép, tất nhiên phải nhờ vào quyền lực Ngài và làm như vậy là để sửa đổi hay để trừng phạt. Và Thiên Chúa thường cho phép quỉ sứ hành động với tính cách là người thừa hành và tôi tớ Ngài, dẫu sao trong mọi sự việc chỉ một mình Thiên-chúa có thể giáng họa và chỉ một mình Ngài có thể chữa khỏi, bởi vì “Ta giết chết và ta làm cho sống lại” (Phục Luật, Deute 32: 39).

Và Ngài sai các thiên thần hung dữ làm theo lệnh Ngài. Thánh Au-gu-stin làm chứng cho điều ấy khi ông nói: Quả thật có bùa, có ngải dữ, các thứ này chẳng những gây bệnh hoạn mà còn giết người . Thứ ba, chúng ta cũng cần phải biết một điều xảy ra trong thời buổi ngày nay là, dựa vào lực quỉ sứ, cả nam lẫn nữ phù thủy hay tự biến mình thành chó sói và các ác thú khác. Vậy là Giáo luật nói đến sự biến hình thực sự ở thực tại, chớ không phải sự khác thường do xảo thuật tạo ra. Đây là những điều Thánh Au-gu-stin viết trong cuốn Về Đô-thị Thiên-chúa (cuốn 18, chương 17-18), ông kể chuyện kỳ dị về nàng phù thủy Xia-xơ (Circe) những bạn đồng  hành với Đi-ô-mét (Diomedes), với cha của Pơ-ra-xi-tan-ti-ớt  (Praestantius). Chúng tôi sẽ trở lại bàn tỉ mỉ về điều này trong Phần Nhì (Vấn-đề Thứ Nhất, các chương VI-VII).

 đọc tiếp bài 3:

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com