
![]()
Trương Văn Tân
"The
Quantum and the Lotus" (by Matthieu Ricard & Trinh Xuan Thuan), Three Rivers
Press, New York 2001.
Nếu
tính từ ngày Gallieo huớng kính thiên văn tự chế của mình vào không gian
để quan sát cơ cấu vận hành của các hành tinh trong vũ trụ, cho đến ngày
hôm nay thì tư duy và phương pháp luận của khoa học hiện đại chỉ
ra đời non 400 năm. Khi cuộc cách mạng khoa học nổ ra ở đầu thế kỷ
20 mang đến cho nhân loại bộ môn cơ học lượng tử giải thích bản chất
của những vật nhỏ nhất như hạt sơ cấp và Thuyết Tương Đối của
Einstein giải thích những vật to nhất như vũ trụ, sự giao lưu giữa khoa
học và tôn giáo nhất là Ki-Tô giáo liên quan đến việc hiện hữu của
con người và vũ trụ đi đến một tình trạng gần như bế tắc. Cuộc
tranh luận của phe Sáng Thế và phe Tiến Hóa không đưa đến một kết luận
nào có thể thỏa hiệp mà càng lúc lại càng gay gắt. Sự xuất hiện gần
đây của lập luận "thiết kế thông minh" (intelligent design) chẳng
qua là một chiêu thức sáo mòn "bình mới rượu cũ" để duy trì
cái quan điểm rằng vì con người và thiên nhiên là những cấu tạo quá
ư phức tạp cho nên phải có người thiết kế toàn năng để hình thành.
Cụm từ "Chúa của những lỗ hổng" (God of the gaps) ám chỉ những
điều chưa được khoa học giải thích thì ở đấy Chúa xuất hiện. Nhưng
trên thực tế thì những lỗ
hổng của tri thức con người về thiên nhiên không chứng tỏ có điều gì
liên hệ đến Chúa. Luận điểm "thiết kế thông minh" đã được
một nhà khoa học phê bình một cách hài huớc là "người thiết kế
tòan năng" kia chẳng qua là "con nai biết bay" [1]!
Trước những
thành quả vượt bực trong khoa học nhất là trong vật lý và sinh học, một
câu hỏi lớn được đặt ra là có một tôn giáo nào có thể dung hòa với
khoa học trên khía cạnh phương pháp luận và nhận thức luận. Hay nói một
cách đơn giản hơn là có một hệ thống triết học tâm linh nào cùng đứng
trên một tiền đề với khoa học chấp nhận sự phi hiện hữu của một
Đấng Tối Cao toàn năng. Phật Giáo như là một lựa chọn tất nhiên cho
việc đối thoại giữa khoa học và tôn giáo vì cả hai cùng chia sẻ một
số điểm căn bản. Từ những nền tảng chung nầy, sự giao lưu sẽ
phá bỏ hàng rào phân biệt biểu kiến giữa hai lĩnh vực và xa hơn
nữa cho khoa học cái tính nhân bản và cho Phật Giáo một khuôn mặt
khoa học ở thế kỷ 21. Thiên
tài Einstein đã từng tiên đoán "Nếu có một tôn giáo có thể đáp
ứng được những nhu cầu của khoa học hiện đại, tôn giáo đó
có lẽ là Phật Giáo". Sự dung hòa giữa Phật Giáo và khoa học xảy ra
một cách tất nhiên bởi vì trong sự suy luận cả hai được đặt trên
cơ sở tôn trọng thực tế khách quan và sự tự do diễn đạt tư tưởng
không bị một áp đặt nào từ một thế lực bên ngoài hay bên trên
chi phối. Nó cũng xảy một cách tự nhiên bởi sự lan tỏa
rộng khắp của khoa học kỹ thuật đến các nước phương Đông nhất là
tại Ấn Độ và Trung Quốc nơi đã từng là cái nôi của nền văn minh nhân
loại, và cũng bởi nhu cầu mạnh mẽ tìm hiểu Phật Giáo tại các nước
phương Tây.
Quyển "The
Quantum and the Lotus" (Lượng
tử và Hoa sen) so sánh phương pháp
suy luận và những tư tưởng cơ bản giữa Phật Giáo và khoa học. Quyển
sách ghi lại cuộc đối thoại thú vị giữa tiến sĩ Matthieu Ricard và
giáo sư Trịnh Xuân Thuận. Tác giả Ricard là một thiền sư Phật Giáo Tây
Tạng với học vị tiến sĩ về sinh học phân tử. Tác giả Trịnh Xuân
Thuận là giáo sư vật lý thiên văn xuất thân từ một gia đình Phật
Giáo. Trước quyển "The Quantum and the Lotus" cũng đã
có những công trình tương tự so sánh khoa học và tư tưởng phương Đông.
Ở giữa thập niên 70, quyển sách nổi tiếng "The Tao of Physics"
(Cái Đạo của Vật Lý) của Fritjof Capra được dịch ra 23 ngôn ngữ
đã tạo ra một phong trào tìm hiểu tư tưởng phương Đông qua lăng kính
khoa học. Cách đây mười năm, tác giả Trịnh Nguyên Phước đã viết
một bài tiểu luận so sánh Phật Giáo và khoa học [2]. Quyển "The
Quantum and the Lotus" có lẽ là quyển sách đầu tiên so sánh hai lĩnh
vực một cách có hệ thống và mạch lạc. Trong tất cả 15 chương sách,
tác giả Ricard - người đại diện Phật Giáo trong quyển sách, và
tác giả Trịnh Xuân Thuận - người đại diện khoa học, khảo luận những
điểm tương đồng của hai lĩnh vực để trả lời những vấn đề hóc
búa từ vũ trụ đến con người, từ khoa học đến mỹ học. Tôi đọc
quyển sách với một thái độ của người làm công tác khoa học nhưng
vừa mới chập chững tìm hiểu Phật Giáo. Quyển sách nầy không dễ
đọc bởi nó đòi hỏi độc giả phải có khái niệm cơ bản về hai môn
học: cơ học lượng tử và Phật Học.
Từ bản chất
và mục đích, Phật Giáo và khoa học mang những đặc tính khác nhau nhưng
không phải vì thế mà không thể bổ sung cho nhau. Triết học Phật
Giáo mang tính chất định tính (qualitative) tổng kết những khái niệm cơ
bản dựa trên kinh nghiệm để giáo huấn giác ngộ chúng sinh hiểu được
những nguyên nhân của sự đau khổ mà thoát ra khỏi định luật tự nhiên
"sinh lão bịnh tử" và vòng luân hồi của cõi ta bà dẫn đến cõi
tịnh độ Niết Bàn. Ngược lại, khoa học là một hệ thống định
lượng (quantitative) xác nhận sự
vật hay sự kiện bằng một con số hay phương trình toán học.
Trong quá trình đưa đến một kết quả định lượng nhà khoa học phải
nhìn sự vật một cách khách quan lạnh lùng, truy tìm bản thể của sự vật
bằng phương pháp thực nghiệm, bằng sự suy luận mang tính phân tích
và tổng hợp. Một kết quả khoa học phải có tính khách
quan vượt thời gian và không gian. Nếu không còn những giá trị nầy kết
quả khoa học phải được tu chỉnh để thích hợp. Mục đích của Phật
Giáo là giáo dục và giác ngộ con người để nâng cao đạo đức, biết
phân biệt thiện ác. Ngôn ngữ của Phật giáo là một ngôn ngữ của
hòa bình, vị tha và độ lượng. Mục đích của khoa học là sự tôn
trọng tuyệt đối tính khách quan nhưng chung qui chỉ dừng ở chỗ tìm hiểu
nguyên nhân của sự vật, quy luật tự nhiên mà không phân biệt
thiện ác, không thương không ghét.
Kết quả là khoa học có thể trở thành công cụ của những tập đoàn
chính trị sinh ra những khoa học gia cực ác như Bác Sĩ Ishii Shiro trong chiến
tranh thế giới thứ 2 [3]; nhưng nhân loại cũng có những khoa học gia cực
thiện như Giáo Sư Howard Florey người Úc chế tạo ra penicillin [4]. Giữa
hai đối cực nầy là một loạt khoa học gia làm việc với những mục đích
khác nhau đã được định sẵn bởi ông chủ của nguồn lương bổng!
Einstein có lần hóm hỉnh phê bình "Khoa học sẽ là một thứ tuyệt
vời, nếu người ta không phải nhờ vào nó để mưu sinh".
Quyển
sách nầy cho tôi nhiều ngạc nhiên thú vị về lý luận Phật
Giáo và những lời dạy của Đức Phật cách đây 2500 năm trước. Trong toàn
bộ cuộc đối thoại, tác giả Ricard
chỉ dựa trên một số khái niệm cơ
bản Phật Học để đối chiếu với cơ học lượng tử mà theo chỗ tôi
hiểu là: luật Nhân Quả, tính Không, giác ngộ, duyên sinh, duyên khởi, vô
ngã, vô thường. Những khái niệm nầy
cho thấy Đức Phật tôn
trọng tính khách quan và cảnh giác sự cuồng tín. Thật vậy, đối
với các môn đệ ngài đã nhiều lần dạy rằng "Hãy thực chứng
những lời dạy của ta như các ngươi khảo nghiệm sự chân giả của
vàng. Hãy chà xát vào đá, đập nó, nấu chảy nó. Đừng chấp nhận lời
dạy của ta chỉ vì sự tôn kính đối với ta. Chỉ chấp nhận nó khi các
ngươi thấy nó là sự thật" (trang 10). Lời dạy nầy chứng tỏ
Đức
Phật đã đi trước khoa học hàng ngàn năm trong phương pháp luận và tư
duy.
"Vũ
trụ có một khởi thủy ban đầu hay không? Có cần đến một Đấng Sáng
Tạo hay không?" là những đề tài của Chương 2 và Chương 3. Vụ
nổ lớn nguyên thủy (Big Bang) gần 15 tỷ năm trước là nguồn gốc phát
sinh ra vũ trụ bao gồm vật chất, thời gian và không gian. Cơ học lượng
tử đã chứng minh sự không cần thiết của một Đấng Sáng Tạo. Với một
kết luận tương tự, luật Nhân Quả và duyên sinh không chấp nhận
một khởi điểm nguyên thủy với khái niệm nổ "đùng" một cái
vạn vật đều hiện hữu từ cái không có (trang 27). Vạn vật xảy ra
vì một nguyên nhân và sự tương thuộc. Theo luật Nhân Quả và duyên sinh,
Big Bang chỉ là một giai đoạn của một chuỗi sự kiện vô thủy vô
chung. Theo tác giả Trịnh Xuân Thuận,
cơ học lượng tử chỉ cho ta biết vũ trụ ở thời điểm 10-43
giây sau Big Bang - rất gần thời điểm zero nhưng chưa phải là zero, lúc đó
vũ trụ chỉ là một điểm cực nhỏ có kích thước cỡ 10-33
cm. Hai con số nầy là thời gian và chiều dài Planck và cũng là giới
hạn đo lường của vật lý hiện đại. Chưa ai có thể phỏng đoán được
sự kiện gì đã xảy ra "trước" thời điểm zero của Big Bang.
Khoa học không suy diễn mông lung những sự kiện chưa có thể kiểm chứng
được. Tuy nhiên, hiện nay có
một số nhà vật lý đang nỗ lực tạo
dựng những lý thuyết "tiền Big Bang" (pre-Big Bang theories) để tiên
đoán cái gì "hiện hữu" trước đó. Dù phủ nhận hiện diện của một Đấng Sáng Tạo, tác giả Trịnh Xuân Thuận vẫn còn băn khoăn trước sự hình thành của vũ trụ dựa vào những điều kiện ban đầu được biểu hiện qua 15 hằng số (trang 39). Một hằng số điển hình là vận tốc ánh sáng (299792 km/giây), sau đó là hằng số vạn vật hấp dẫn G của Newton (6.67 x 10-11 Nm2/kg), khối lượng của electron (9.1091 x 10-31 kg), của proton, điện tích electron..... Những hằng số nầy bất biến đối với thời gian và không gian. Nếu có người ngoài hành tinh sống ở một thiên hà khác cũng sẽ đo được những hằng số nầy. Những hằng số nầy đòi hỏi một sự chính xác kỳ diệu cho sự tồn tại của vũ trụ chúng ta đang có hiện tại.
Chẳng
hạn nếu G nhỏ hơn một chút thì vũ trụ chỉ là những đám khí
hydrogen không tạo được hành tinh, G lớn hơn một chút thì vũ trụ sẽ
nhanh chóng co lại ngay từ lúc sơ sinh. Ở cả hai trường hợp vũ trụ sẽ
hoàn toàn khác và con người sẽ không hiện hữu. Thậm chí, các con số nầy
cũng chi phối kích thước và khối lượng của các vật trong cuộc sống hằng
ngày. Chiều cao con người không thể vượt quá 2 m, núi cao nhất trên quả
điạ cầu không thể cao hơn 8 km, trái đất quay với vận tốc vừa phải
sao cho đúng với kích thước của mình đưa đến một ngày địa cầu là
24 tiếng [5]. Với những con số kỳ diệu nầy, vũ trụ được điều chỉnh
một cách chính xác nên con người hiện hữu và và từ đó ý thức
(conciousness) được thành hình.
Sự
điều chỉnh vô cùng chính xác ngay từ ban đầu của vũ trụ là một
việc có chủ ý hay một việc thuần ngẫu nhiên? Tác giả Trịnh Xuân
Thuận
đề cập đến thuyết đa vũ trụ mà trong đó nhiều vũ trụ được thành
hình với một loạt hằng số khác nhau nhưng chỉ có vũ trụ của
chúng ta "thắng lớn" như trúng số độc đắc bằng
một dải số rất hài hòa. Tuy nhiên, cá nhân tác giả Trịnh Xuân
Thuận
một cách gián tiếp không tin vào thuyết đa vũ trụ trong đó vũ
trụ chúng ta ngẫu nhiên thành hình và sự sống ngẫu nhiên xuất hiện
(trang 50). Cái "ngẫu nhiên" nầy đầy kịch tính nhiều gấp vạn lần
hơn cả
phim ảnh Hollywood hay phim chưởng Hong
Kong trong đó người hùng sẽ xuất hiện đúng lúc để cứu người đẹp
ra khỏi những bàn tay thô bạo, hoặc như trong phim "Dr Zhivago"
khi Zhivago nhìn qua cửa sổ xe bus "ngẫu nhiên" nhìn thấy Lara
đang đi trên phố, chàng vội nhảy ra khỏi xe lao về hướng của nàng nhưng
lại quá xúc động "ngẫu nhiên" đột quỵ trên đường
để rồi mãi mãi không gặp được nàng.... Như vậy, nếu không phải
ngẫu nhiên thì
vũ trụ và sự sống xuất hiện với một chủ ý. Nhưng tác giả Trịnh Xuân
Thuận
nhanh chóng biện luận rằng vì đã có nhiều bằng cớ phủ nhận sự hiện
diện của một Đấng Sáng Tạo, "chủ ý" ở đây có nghĩa là một "nguyên
lý tổ chức" (principle of organization) - không phải là Chúa được nhân
cách hóa trong ý nghĩa cổ điển mà là những định luật vật lý điều
chỉnh vũ trụ một cách vi diệu ngay từ lúc ban đầu. Tác giả Trịnh Xuân
Thuận
đã vô tình khoác lên Đấng Sáng Tạo một màu áo khác!
Dựa
trên luật Nhân Quả, tác giả Ricard
quả quyết rằng nếu không chấp nhận một điểm khởi đầu thì cũng không
có "nguyên lý tổ chức" bởi nếu "nguyên lý tổ chức"
là nguyên nhân và điều kiện ban đầu cho sự hình thành của vũ trụ thì
Big Bang sẽ xảy ra liên tục không nghỉ. Điều nầy vô lý. Cái nhìn của
Phật Giáo là không có điểm khởi đầu, vô thủy vô chung và bản chất vô
thường chi phối mọi hiện tượng vì vậy đi tìm một
"nguyên lý tổ chức" là việc không cần thiết (trang 57-58). Đây
là một lập luận để tránh né vấn đề hay là một cách nhìn khác do bản
chất định tính của Phật Giáo trong đó mọi
hiện tượng được nhìn bằng sự tương thuộc duyên sinh?
Tất
cả do duyên sinh nên vô ngã. Vì luật Nhân Quả nên "cái nầy thuộc
vào cái kia, cái nầy sinh cái kia sinh, cái nầy diệt cái kia diệt".
Tác giả Ricard
nói đến tính
Không trong Phật Giáo qua sự liên hệ lôgic giữa vô ngã, vô thường và
duyên sinh. Đó là cái nhìn Trung Đạo (
Trong
thế giới vĩ mô (macrocosm), nguyên lý bất định Heisenberg mất ý nghĩa. Khác
với những vật cực nhỏ mà vị trí của nó dựa vào tính xác suất
ở nhiều nơi A, B, C.... khác nhau, một vật to như
cái bàn không thể lúc thì ở trong phòng học lúc thì tự động nhảy
vào nhà bếp hoặc "rong chơi" ngoài sân. Cái bàn trong phòng học
sẽ mãi mãi ở đúng vị trí của nó trừ khi ta phải xê dịch. Như vậy,
trong thế giới vật lý vĩ mô khác vi mô. Nhưng đâu là lằn ranh phân biệt
vi mô và vĩ mô, vật lý dường như không có câu trả lời định lượng dứt
khoát [6]. Theo tác giả Ricard,
Phật Giáo quan niệm thuộc tính vi mô lần lần phát triển thành thuộc
tính vĩ mô mà không cần lằn ranh phân biệt. Tính Không hay vô ngã vô thường
thành một định luật bao quát toàn diện không phân biệt vật lớn vật
nhỏ, vi mô hay vĩ mô.
Khái
niệm vô thường và khoa học được phân tích chi tiết hơn ở Chương 6. Vô
thường hay là sự thay đổi liên tục được tác giả Ricard
phân biệt là "vô thường thô" (gross impermanence), như sự thay đổi
thời tiết, xâm thực của một ngọn núi, sự giãn nở của vũ trụ
hay sự biến đổi tình cảm, và "vô thường tinh" (subtle
impermanence) xảy ra trong một khoảnh khắc ngắn nhất (trang 101). Khi ta
cảm nhận được sự biến đổi là việc không thể tránh được và mang
tính rộng khắp thì ta có thể hiểu là vũ trụ không phải được tạo thành
bằng những thực thể cố định, riêng biệt mà là một hệ thống của
những luồng tương tác liên tục không dứt của trùng trùng duyên
khởi. Từ thế giới vĩ mô như vũ trụ ta thử đi
vào thế giới vi mô của các hạt sơ cấp để tìm xem tính vô thường vẫn
còn hiện hữu hay không. Nguyên tử là đơn vị chung nhỏ nhất của vật
chất làm thành con
người, hoa lá đến hạt bụi. Nguyên tử có hạt nhân. Nếu kích thước
một nguyên tử là bằng một sân vận động thì hạt nhân có kích thước
bằng hạt gạo nằm giữa sân. Hạt nhân được cấu tạo bởi proton và
neutron. Hai loại hạt sơ cấp nầy lại được tạo thành bởi hạt
quark. Cứ 3 quarks tạo thành một proton hay neutron. Vật lý hiện đại cho ta
biết quark là hạt sơ cấp nhỏ nhất của nguyên tử, có nghĩa là cái nhỏ
nhất trong cấu trúc vạn vật. Ở điều kiện thích nghi quark có thể
biến thành dạng khác. Sự chuyển hoán nầy
đưa đến sự biến đổi từ proton thành neutron và ngược lại. Đây là một
thí dụ của "vô thường tinh" đã được tác giả Ricard đề cập.
Rõ ràng là bản
chất vô thường quán xuyến từ quark cái nhỏ nhất trong vật chất đến
cái to nhất là
vũ trụ.
Vì là một
người "vô thần ngoại đạo" vẫn thường quan niệm "chết là
hết chuyện" tôi rất kinh ngạc khi đọc đến Chương 10 và 11 đề
cập đến việc tái sinh nói về sự sống sau khi chết. Tôi truy cập
những trang web Phật Giáo tìm hiểu xem đây có phải là những tư
tưởng chính thống hay chỉ là những điều mê tín dị đoan. Trong việc
truy tìm nầy tôi phát hiện ra "Thuyết Tái Sinh" được xem như là
một hệ luận của Luân Hồi và rất được trân trọng trong lý thuyết Phật
Học. Suy nghĩ theo tư duy khoa học bỗng nhiên vô hiệu. Tôi bỗng nhiên
lúng túng. Tác giả Ricard đưa ra một trường hợp tái sinh của một
phụ nữ Ấn Độ tên là Shanti Devi và cũng chứng kiến việc tái sinh của
người thầy của mình là Khyentse Rinpoche. Tiền kiếp của Shanti Devi qua đời
vì bịnh hậu sản và sau đó tái sinh vào một gia đình khác. Khi đứa bé
gái được tái sinh nầy lớn lên, cô bé lúc nào cũng nằng nặc muốn
gặp lại người chồng cũ. Người chồng quá sợ hãi không dám gặp trực
tiếp nhưng muốn biết sự tình như thế nào bèn nhờ người anh họ
đến dò la hư thực. Khi người anh họ vừa mới bước vào nhà thì cô bé
la lên kêu đúng tên họ lại còn bảo "Hồi xưa anh thường lợi dụng
lúc chồng tôi đi vắng lân la đến nhà ve vãn tôi!!". Ông anh họ
nhà chồng nghe xong gần té xỉu vì sự thật không thể nào chối cãi....
Một trường
hợp đúng thì cũng đủ chứng minh "Thuyết Tái Sinh" hiện hữu.
Tôi lúng túng vì không biết phải lý giải thế nào cho thích hợp. Phật
Giáo đưa ra khái niệm "thân trung ấm" [7] để diễn tả sự sống
sau khi chết trước khi linh hồn [8] đi tái sinh. Có lẽ thân trung ấm không
phải là đối tượng nghiên cứu của khoa học nên khoa học chưa có câu
trả lời. Như vậy, sự tái sinh là sự truyền đạt (transmission) linh
hồn hoặc ý thức trong quá trình "tái tạo" và sự truyền đạt nầy
có giống như việc truyền tín hiệu từ chiếc điện thoại di động nầy
đến chiếc khác?! Có thể xem linh hồn như một loại sóng "điện từ"
sinh học? Súc vật và con người có linh hồn, còn thực vật thì
sao? Tôi dùng con số cho đơn giản, nếu vài thế kỷ trước đây tổng
số loài người và những sinh linh khác chỉ có vài tỉ bây giờ sinh
sôi nẩy nở ra vài chục tỉ thì số cung của linh hồn sẽ ít hơn số cầu.
Có thực sự là linh hồn có thể phân chia như sự sinh sôi của tế bào để
tiếp ứng đủ cho số cầu? Đó là chưa kể một số linh hồn được giác
ngộ thoát khỏi cõi ta bà vãng sinh tịnh độ. Tác giả Trịnh Xuân Thuận
cũng có một thắc mắc tương tự. Ông nghĩ phải có một nguồn ý
thức vô hạn trong vũ trụ để cung ứng và "nhập" vào hình hài của
hàng chục tỉ sinh linh. Tác giả Ricard trấn an với lời giải thích hơi nhập
nhằng rằng là nguồn ý thức hay linh hồn biết "tùy cơ ứng biến"
để gia giảm số lượng tương ứng với con số của hình hài (trang
199)! Dựa vào câu chuyện "khó tin nhưng có thật" của Shanti
Devi, linh hồn tái sinh sẽ trở lại bản thể của của tiền kiếp. Hóa
ra, linh hồn vừa là một "vật" bất biến vừa là một cái
"ngã" độc lập trong quá trình tái sinh liên tục. Sự suy diễn
nầy đưa đến một kết luận cực kỳ mâu thuẫn đối với bản chất vô
thường vô ngã của Phật Giáo.
Trong toàn bộ
cuộc đối thoại, tác giả Ricard và tác giả Trịnh Xuân Thuận nói đến
những điểm tương đồng thú vị nhưng tôi không thấy hai tác giả đề cập
đến những điểm tương phản. Dù có mang một tâm tình lạc quan nhất,
tôi không nghĩ hai lĩnh vực lại có thể có những điểm tương đồng một
cách hài hòa như hai
bánh xe răng lúc nào cũng ăn khớp với nhau. Tác giả Ricard xoay
quanh tính Không, duyên sinh, vô thường, vô ngã trong toàn quyển sách;
nó cho một cách nhận thức mới ở những chương đầu nhưng sự
trùng lập làm cách biện luận trở thành đơn điệu dễ làm cho người
đọc cảm thấy nhàm chán ở những chương sau. Thỉnh thoảng tác giả
Ricard chấp nhận hoặc phản bác có phần độc đoán giáo điều một hiện
tượng hay một luận điểm, không giải thích rành mạch hoặc chỉ trích dẫn
một vài câu nói của các triết gia chưa bao giờ được thực chứng. Tác
giả Trịnh Xuân Thuận đưa ra những vấn đề khoa học và đặt
ra những câu hỏi khúc mắc nhưng hầu như chấp nhận những ý kiến của tác
giả Ricard mà ít khi phản luận theo tư duy khoa học.
Một câu hỏi
thường được đặt ra "Phật Giáo là một tôn giáo, khoa học hay triết
học?". Sau khi đọc quyển sách nầy, tôi nhận thấy Phật Giáo mang đặc
tính của cả ba. Tác giả Ricard xem Phật Giáo là một "khoa học thiền
tu" (comtemplative science) thì cũng không phải là ngoa ngữ nếu nhìn từ
mục đích của khoa học và Phật Giáo là cả hai cùng truy tìm bản chất mọi
hiện tượng sự vật trong một tinh thần tôn trọng sự thật khách quan.
Phật Giáo vượt hơn hẳn khoa học trên mặt đạo đức vì không những
mang đến con người một tài sản tư duy quí báu với một vũ trụ
quan và nhân sinh quan rõ rệt, lại còn dẫn dắt con người trong việc giác
ngộ trên con đường hướng thiện vô ngã vị tha.
Einstein từng
nói "Khoa học không có tôn giáo thì què quặc, tôn giáo không có
khoa học thì mù lòa". Sự bổ sung giữa Phật Giáo và khoa học trở
nên cần thiết cho việc nâng cao cùng lúc tư duy và đạo đức con người.
Mặc dù đi trước khoa học hơn 2000 năm Phật Giáo vẫn cần được phân
tích bằng phương pháp khoa học hiện đại để hội nhập vào thời đại
mới vốn dĩ đa dạng. Ngược lại, ngoài việc áp dụng của tư tưởng nhập
thế của Phật Giáo khoa học cần nghiên cứu những vấn đề đã
được Phật Giáo tiên đoán cũng như những khái niệm cốt lõi trong Phật
Học. Vấn đề thành hình tâm linh và thuyết tái sinh có thể là đề tài
nghiên cứu khoa học thú vị nếu không nó dễ trở nên những chuyện mê
tín hoang đường được thêu dệt cho nhiều mục đích vụ lợi khác nhau.
Những lời
phát biểu của tác giả Ricard về Phật Giáo trong quyển sách chỉ ở
trình độ dẫn nhập. Tôi cảm thấy có nhu cầu tìm hiểu sâu xa hơn về sự
tương đồng và tương dị giữa Phật Giáo và khoa học. Đi tìm thư tịch
về Phật Giáo ở một ngôi chùa địa phương làm tôi thất vọng. Những
bài trên những trang web Phật Giáo mang nhiều tính tản mạn và
ít tính thuyết phục. Sự thiếu sót thư tịch và tài liệu tham khảo
dẫn đến việc khập khiễng trong kiến thức. Mặt khác, tại hải ngọai
ở những nơi có nhiều người Việt sinh sống, chùa chiền lớn nhỏ được
xây cất tùy tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của cư dân. Sự
phát triển không cân bằng giữa kiến thức tu
tập và vật chất dễ đưa
đến sự nhầm lẫn giữa "đạo pháp" và "mê tín" với
một hệ quả là sự mê tín sẽ có nguy cơ tồn tại mãi mãi như một
căn bệnh trầm kha di truyền.
Bản chất của
vô thường là mọi vật đều biến đổi, với một tác nhân duyên khởi mọi
vật có thể tiến hóa hay thoái hóa. Phật Giáo cũng không nằm ngoài
những qui luật mà tự thân nó lập nên. Dù tác giả Ricard có lạc quan cho
rằng cái nhìn Trung Đạo sẽ giúp các nhà khoa học lý giải được những
nghịch lý, nhưng cuộc đối thoại giữa Phật Giáo và khoa học chỉ có thể
tiếp tục khi nào có sự phát triển song song của hai lĩnh vực. Khoa học
là đứa con sanh sau đẻ muộn nhưng khoa học có tác động sâu rộng
đến đời sống tinh thần và vật chất của loài người vì nó đã
biết tìm và vận dụng một cách hiệu quả những qui luật tự nhiên
vào cuộc sống đời thường. Phật Giáo đi trước hơn 2000 năm nhưng
sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có những phát triển mới trên nền
tảng cũ. Nền tảng cũ dù trân quí bao nhiêu thì cùng sẽ mai một như
một ao tù tư tưởng nếu vắng bóng những bước đột phá cho tương lai. Phật
Giáo là một hệ thống tư tưởng duy lý. Đức Phật không phải là Thượng
Đế toàn năng. Phật Giáo vì vậy cần phải được tiếp cận với
một thái độ phê phán có khoa học như Đức Phật đã từng dạy "Đừng
chấp nhận lời dạy của ta chỉ vì sự tôn kính đối với ta. Chỉ chấp
nhận nó khi các ngươi thấy nó là sự thật".
Ngoài những việc tu tập trong quan hệ thầy trò, Phật Giáo cần
phải có nhiều cuộc hội thảo quốc tế bao gồm mọi tông phái giống
như các hội thảo khoa học trong đó mọi người đều bình đẳng trình
bày, thảo luận và tranh cãi để nâng cao trình độ hiểu biết Phật Học.
Phật Giáo là
"khoa học của tâm hồn" và cũng là một kho tàng tri thức của
nhân loại tích tụ hơn 2500 năm nhưng cho đến bây giờ ở thế kỷ 21 vẫn
chưa được phát huy và triển khai đúng mức.
15 December
2005 TVT
Ghi
Chú 1.
R. P. Crease,
Physics World, 18, pp 19, October 2005 2.
http://chimviet.free.fr/20/khc0050.htm 3.
Trong thời
gian Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc ở chiến tranh thế giới thứ
2, Ishii Shiro thừa lệnh Nhật Hoàng Hirohito thành lập Đơn Vị 731 tại
Mãn Châu để làm thí nghiệm nhân thể trên các tù nhân Trung Quốc và
Đồng Minh. 4.
Howard
Florey sinh trưởng tại 5.
Trinh Xuan
Thuan, "Giai điệu bí ẩn và con người đã tạo ra vũ trụ" (người
dịch Phạm Văn Thiều), NXB Khoa Học và Kỹ Thuật, Hà Nội 2000 6.
M.
Arndt, K. Hornberger and A. Zeilinger, Physics World, 18, pp 35, March 2005 8.
Trong sách
hai tác giả dùng từ "ý thức" (conciousness) để ám chỉ
"linh hồn" (soul) có lẽ để làm giảm màu sắc huyền bí.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com