
Đi tìm Mặt
Mũi Truyền thuyết Hồng Bàng Nguyễn K.
1.- Phù hợp với đồng
thuận về chim Lạc như vật tổ của người Việt cổ, truyện Hồng Bàng,
ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái và sau đó đưa vào Đại Việt Sử Kí
Toàn Thư, hiện nay bị thấy như một cóp chép vay mượn. Xu hướng chung là
cho rằng, truyện này là một tiểu thuyết mà cái lõi có do vay mượn các
truyện tích trăm con của dân tộc ít người ở Việt nam. Đúng là khi lược
bỏ những chi tiết mà nhiều người cho là lấy từ truyền tích Trung hoa,
truyện Hồng Bàng sẽ ít nhiều giống với những chuyện trăm con của người
tự nhiên, như truyện cục thịt phân nhiều mảnh, mỗi mảnh thành một người
con, vv. Đặc biệt, người Mường, dân tộc đã có những đóng góp nhất
định vào lịch sử Việt nam, có hai truyện với những chi tiết và môtip
rất giống. Sự mộc mạc, giản đơn trong chi tiết và cung cách trình bày
các chuyện này so với truyền thuyết Hồng Bàng dĩ nhiên phải đưa đến
nhận định rằng truyện sau phát xuất từ các truyện trước. Truyện tích Mường,
mà trong thời gian qua được nhiều người chú ý do sự tương đồng với
truyện Hồng Bàng là như sau.[1] Ngày xửa ngày xưa,
có một nàng công chúa xứ Mường tên là Ngu Kơ, mang tiền kiếp một con
nai có đốm ngôi sao (cerf étoilé), cưới một ông hoàng tử con byua Yịt
tên Lương Wong, gốc vốn loài cá. Ít lâu sau, Ngu Kơ sinh được 50 con gái
và 50 con trai. Nhưng rồi cơm không lành canh chẳng ngọt. Từ ở chỗ con
cái không đủ đồ ăn thức uống, Ngu Kơ và Lương Wong ưa cãi vã với
nhau. Cuối cùng, Ngu Kơ và Lương Wong đành phải chia tay, đôi ngả đôi ta.
Ngu Kơ dẫn 50 người con lên miền rừng núi, và Lương Wong dẫn 50 người
con kia xuôi về miền sông biển. Ngu Kơ và đám con tạo nên những dòng vua
chúa mặc áo màu đen, và Lương Wong, các gia đình vua mặc áo màu vàng. Dân Mường thờ
kính bà Ngu Kơ như mẫu tổ và thường làm cờ có hình con nai đốm sao,
như một vật tổ để tưởng nhớ đến bà. Đúng là giống
đến mức khó mà nghĩ là có thể giống hơn nữa, đến độ có người đã
quả quyết, truyền thuyết Hồng Bàng có chỉ do đánh cắp từ truyện Mường
này, từ đây tạm gọi truyện Ngu Cơ, mà thôi. Vấn đề đặt ra, theo đó,
là truyện trăm con của các dân tộc ít người, trên đó truyện Hồng
Bàng được xây dựng, bắt nguồn từ đâu? 2.- Một ứng
viên là đạo bụt, vốn có mặt sớm sủa và có ảnh hưởng rộng rãi từ
các thế kỉ đầu tiên của kỉ nguyên tây lịch.[2]
Nói như thế, bất ngờ đối với nhiều người. Nhưng tính đến ảnh hưởng
này, dễ có ấn tượng là truyện Mường nêu trên biết đâu cũng mang dấu
ấn phật giáo. Nai
như con vật hiền lương vv. được đề cập trong nhiều truyện minh hoạ
giáo lí như các truyện tiền thân Bụt. Cá cũng thế. Rồi "tiền kiếp"
là một ý niệm về tái sinh. Lương Wong thì, cùng với tên Việt Lạc Long
Quân, làm liên tưởng đến rồng (S. nāga),
một linh vật quen thuộc trong truyện tích phật giáo. Và "50 con trai 50
con gái" cũng có thể xem như thỏa hiệp hiểu được giữa sự trọng
nữ của người Mường và sự trọng nam khinh nữ lừng tiếng của Ấn độ,
tức là biến dạng hợp lí của môtip Ấn độ quen thuộc "100 con
trai". Trừ
cái tên, các điều này, cũng như các ý niệm vua chúa mà người ta từng dựa
vào để nghĩ truyện Ngu Cơ ít nhiều chịu ảnh hưởng người kinh,[3]
tất cả đều có trong Lục Độ Tập Kinh
(LĐTK) một công trình quan trọng được biên tập và rất có thể đã được
sử dụng rộng rãi ở “Việt nam” từ thế kỉ 2 tl.[4] Ở
đây, cũng lưu ý là môtip “trăm con từ cục thịt” của các dân tộc
ít người Việt nam cũng có trong một truyện tích phật giáo mà người đạo
bụt Việt thời đó hẳn cũng đã nói đến. Như sẽ thấy, truyện này có
vai trò quan trọng trong việc nhận diện chân tướng truyền thuyết Hồng Bàng. Các
chi tiết như nai, cá nêu trên dễ dàng được giải thích hợp lí như do trùng hợp tình cờ hoặc từ một
nguồn khác. Thoạt nhìn, ngay cả “tiền kiếp” –và “gốc”, theo mạch
văn cũng mang nghĩa tiền kiếp— cũng thế, rằng nó không do ảnh hưởng của
niềm tin tái sanh mà có, mà đơn giản là kết quả của sự ghi chép sai lạc
một cách nói về ‘vật tổ’ mà thôi. Nhưng
nếu đúng như thế, ý chỉ của câu chuyện đại khái là một biện minh rằng
người Mường (vv.) lên núi sống cách biệt vì khó sống chung với người
kinh, và họ thờ nai như vật tổ vì vật tổ của mẫu tổ là nai. Cách
nghĩ quanh quẩn, mộc mạc này có nơi người tự nhiên. Tuy
nhiên người Mường như một toàn thể không phải là ‘người tự nhiên’
thuần túy, không chỉ sống ở rừng sâu núi cao, trong tình trạng cách biệt
với người Việt ở đồng bằng. Hai Bà Trưng có thể là người Mường
(như sử gia Keith Weller Taylor đã gợi ý), và sau khi hai Bà thất trận, có
những bộ thuộc của họ đã nương thân nơi chùa viện. Và
nếu dụng tâm đàng sau câu chuyện chỉ như nêu trên, thì nó không cho thấy
người Mường nghĩ mình có dính dáng với quá khứ mà họ có chung với người
Kinh: Văn hóa Đông Sơn. Điều này khác hẳn với sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước (ĐĐĐN) của họ.[5] Là
một
‘mo’, một hình thức kinh kệ truyền đời và chính yếu được diễn
xướng trong tang lễ để nhắc nhỡ người chết và kẻ sống về sự tạo
lập thế giới (trời, đất, người, thú vv.), ĐĐĐN chứa
đựng những thông tin quí báu về tín ngưỡng cổ sơ của người Mường,
với những chi tiết và môtip giống truyện Hồng Bàng. Một trong các điểm
lưu ý ở đây là nó có nói đến “chùa chiền”: Trống
chim Tùng và Mái chim Tót, hai con chim khổng lồ trong buổi đầu hỗn mang của
Vũ trụ, định ăn trái độc mà chết vì không biết nương náu nơi đâu.
Nhưng chúng gặp mụ Dấn Dá, người Nữ đầu tiên của Vũ trụ, và được
khuyên, (sđd., tr. 40-1) “Hai cháu chớ vào rừng mà sợ con
gấu, Đừng
vào thung mà sợ con cọp
Con
mái tìm chỗ mát rỉa lông Sẽ
nên đá hay Trống, Con
trống thì ra rửa mỏ Sẽ
nên đá chùa chiền, hang Hao. Đào
đất cho nên sông sâu, ruộng rộng Cho
có nơi mà ăn Cho
có ngăn mà ở.” Đại
khái là đừng vào thâm sơn cùng cốc hiểm nguy, thay vì thế hãy tìm chỗ
‘lưng chừng’ thích hợp mà dựng nhà, lập chùa, khơi sông, mở ruộng.
Nghe chừng như là lời khuyên tàn quân trong một lễ tang sau khi hai Bà chết
đi! Trống
chim Tùng và Mái chim Tót sau đó đã đẻ ra những người con nói tiếng
Lào, tiếng Kinh, tiếng Mọn, tiếng Xiên Quan, tiếng Thái, tiếng Mán! Như
tiên tổ của Mường, Việt vv., cặp đôi trống chim Tùng-mái chim Tót, vừa
gần nhưng cũng vừa xa với cặp đôi Rồng-Tiên của truyện Hồng Bàng. Nhưng
cặp đôi này rõ là không phải nai cho riêng Mường và cá cho riêng Việt
như trong truyện Ngu Cơ –nếu hiểu ‘tiền kiếp’ như chỉ có nghĩa ‘vật
tổ’ như đề cập ở trên. Chúng
ta không thể không hỏi, Chuyện nào ‘đúng’, chuyện nào ‘sai’, và tại
sao? May
mắn là các di vật của Văn hóa Đông Sơn, khg. thế kỉ 8 tr.tl. – thế kỉ
1 tl., có thể gợi ra một câu trả lời. 3.- Trên các trống đồng Đông Sơn cùng
nhiều hiện vật khác của nền văn hóa này thấy có nhiều loại thú vật.[6]
Nhưng nếu có loài vật nào được ‘người Đông Sơn’, các tộc người
của nền văn hoá này, xem như vật tổ chung,
thì đó phải là chim. Trình
độ tư duy khái niệm của của người Đông Sơn cao, theo nghĩa họ có tri
nhận, phân biệt rõ rệt về sự khác biệt trên/dưới, trong/ngoài, trước/sau,
đực/cái, thuận/nghịch, sống/chết, như nghiên cứu của Gs Một trong những ví
dụ giúp thấy được khái niệm thuận/nghịch là, trên một băng hoạ cảnh
của trống đồng Ngọc Lũ, thuộc về hạng hiện vật cổ xưa có ý nghĩa
quan trọng nhất của văn hóa Đông Sơn, “các loài thú, chỉ có một con
quay đầu theo chiều nghịch [chiều của thiểu số, khác với chiều thuận
của đa số], nó đậu trên nóc nhà sàn mái cong, chim này là chim trĩ, hoặc
gà lôi …” (bđd., tr. 9) Những ví dụ như vậy
cũng cho thấy người Đông Sơn cũng có một mức độ khái niệm về chung/riêng. Dường như chưa được lưu ý
tìm hiểu, nhưng điểm này không thể thiếu để biết người Đông Sơn có
hay không một tư duy trừu tượng có hệ thống, hay có khái niệm rõ về
âm dương vv.. Tức là sự phân biệt chung/riêng vv. này có hay không lên đến
mức trừu tượng đủ để đi đến những khái niệm chung, như gom lạnh, nhẹ, giống cái, tối
vv. vào một khái niệm (ví dụ âm) và khái niệm khác (dương) cho những những
cái đối lại. Điều chắc chắn,
như có thể thấy từ các họa cảnh trên trống, là khái niệm chung/riêng
này được sử dụng rộng rãi, cho nhiều trường hợp khác nhau. Thế nên
có thể nói, khái niệm này đủ rộng để những người Đông Sơn xa cách,
xa lạ nhau thấy mình như thuộc về một cộng đồng chung. Điều này có
nghĩa là họ có lẽ đã có một mức độ của ý thức rằng họ là dân một
nước, có chung một nước, hay có ý niệm quốc gia. Rất là bất kính với
học giả thời nay!
[8] Dù sao, chắc chắn
là, với ý thức này, họ đã phải có những kí hiệu, biểu tượng chung
nói lên những ý thích, tập tục, tin tưởng chung. Và chim, so với các thú
vật khác, là yếu tố chung, bao trùm
trên các trống Đông Sơn. Các họa cảnh trên trống cho thấy, nói chung một giống chim mõ dài (“con diệc”)
có vẻ được quan tâm đặc biệt. Trên một băng hoạ cảnh trên mặt trống
Ngọc Lũ, những con chim này, 18 con tất cả, được vẽ như đang nối đuôi
nhau bay. Đây là chim vật tổ của người Việt cổ, theo đồng thuận của
giới nghiên cứu Việt nam. Nhưng không chỉ như
thế. Trên băng họa cảnh này, những con chim này và những con thuộc một
giống chim khác lại được vẽ thành từng cặp không thể tách riêng, với con to xoải
cánh vươn cổ bay đi liền với con nhỏ khép cánh thu mình đứng (x. hình 1). Phải chăng đây là đôi chim vật
tổ của người Việt cổ, mà Đẻ Đất Đẻ Nước đề cập như Trống
chim Tùng-Mái chim Tót? Có lí nào không phải
như thế, mà chỉ có độc nhất một chim vật tổ độc thôi, khi mà nói
chung hiện vật Đông Sơn tràn đầy thông tin về một dạng quan niệm ‘đối
đãi’ (to-nhỏ, trống-mái vv.), và, ở một mức độ nào đó, ‘lưỡng hợp’
của người xưa?
[9]
Hình 1. Một phần mặt
trống đồng Ngọc Lũ. Photos courtesy of Trocadero.com [The
Silom Galleria – Dù sao, vật tổ là
chim nên phải đẻ trứng, và người Mường, người Việt vv. là con cái
chim thì phải nở từ trứng! Nhưng, một lần nữa,
có chắc là người Đông Sơn có chim như vật tổ chung? Ngoài các suy lí
mà học giả đưa ra, dựa trên hiện vật Đông Sơn vv., còn có chứng liệu
độc lập nào để khẳng định rằng, sự thật như thế chứ không thể
khác? Như đã nói, trong
truyền thống Ấn độ có môtip “trăm cục thịt thành trăm con trai”.
Trong văn học bản sinh của đạo bụt môtip này có khi trở thành “trăm
con trai từ một bọc thịt”, như trong một truyện cũng được chuyển dịch
tại Trung hoa vào đầu thế kỉ 3 tl., thời LĐTK đang lưu hành rộng rãi
ở đất-nước Việt cổ. Truyện này đại ý
kể một bà trưởng giả sinh ra một “bọc thịt” làm người chồng rất
buồn rầu, nhưng nhờ ông theo lời khuyên của Bụt mà bọc thịt vở ra
thành trăm đứa con trai đẹp đẽ, tài giỏi hơn người và, sau đó, đi tu
tất cả đều thành chánh quả. Như Thế thì môtip gốc
“bọc thịt vở thành trăm con trai” đã được cải biên, trong Lục Độ
Tập Kinh, thành “trăm trứng nở trăm con trai”. Sự cải biên truyện
tích răn đời do tôn trọng niềm tin tôn giáo bản địa vv. là đặc tính
xuyên suốt lịch sử truyền giáo của đạo bụt. Do đó, có thể khẳng định,
tạm thời, là tin tưởng của người bản địa về cội nguồn của mình
đã được nhà truyền giáo tôn trọng; sự cải biên bọc thịt thành (bọc)
trăm trứng, cũng như các chi tiết “bà trưởng giả” thành “vợ vua”
vv., là “tùy duyên”, “phương tiện thiện xảo”, hay theo lối nhập gia
tùy tục, rồi đi vào LĐTK khi nó được biên tập. Đó là bằng chứng
độc lập, cụ thể cho thấy nguồn gốc bản địa của môtip “đẻ trứng,
trứng nở con”. Suy ra, có thể nói hầu như
chắc chắn là người Việt cổ tin mình như phát
sinh từ trứng sinh bởi chim vật tổ thiêng liêng. Và ‘trăm con’, nói
theo ĐĐĐN và theo tính cách liên tục và bản địa của các nền văn hóa
từ Văn Hóa (Lúa nước) Hòa Bình từ kh. 12.000 năm tr.tl. cho đến Văn hóa
Đông Sơn, là các bộ tộc bản địa chứ không phải ‘Bách Việt’. 4.- Chim như vật tổ của người Việt cổ
là vấn đề tranh cãi giữa học giả Việt & Hoa. Việc một số nhà
nghiên cứu Trung hoa chấp nhận quan điểm Việt nam về vấn đề này có vẻ
cũng do hậu ý và thiên kiến chứ không từ một lập luận đủ sức mạnh
thuyết phục.[11]
Cái nhìn chung/riêng vv. của người Đông Sơn và tình tiết “bọc trăm trứng”
trong LĐTK giúp giải quyết được vấn đề một cách khách quan. Nhưng vật
tổ chim có hay không là một cặp, như
trống chim Tùng-mái chim Tót của ĐĐĐN, lại là vấn đề khác. Thật vậy, cái nhìn
của người Đông Sơn, như thấy trên các hiện vật của văn hóa này, tự
nó chưa đủ giá trị bằng chứng để nói người Việt cổ có tín ngưỡng
cặp chim vật tổ. Do đó, và do lằn ranh mờ ảo giữa kinh & thượng
trong những thế kỉ đầu kỉ nguyên tây lịch, có thể nghi ngờ rằng, biết
đâu cặp chim vật tổ của người Mường đã có từ hình tượng Âu Cơ
& Lạc Long Quân (hầu như chắc chắn có trong thời LĐTK, như sẽ đề cập). Vấn đề này quan trọng.
Không giải quyết được, rất dễ đi vào vòng lẩn quẩn, với giả thiết
là, ngay cả tình tiết trăm trứng, theo đó chính niềm tin chim vật tổ, cũng
có thể đã có do ảnh hưởng đạo bụt: Trừ phi các trống đồng được người
Việt cổ xem như linh thiêng, những họa hình trên đó chỉ cho
thấy họ ưa thích, gần gũi với chim so với các loài vật khác. Các học
giả không tin vào giả định chim vật tổ không phải không có lí. Và khi
mà một tác phẩm đầy ảnh hưởng, và sớm có ảnh hưởng, trong nguồn
văn phật giáo có tình tiết ‘500 trứng’, khó mà không nghĩ đến khả
năng ‘500 trứng’ và môtip ‘bọc thịt’ và/hoặc ‘100 cục thịt’ đã
hợp nhất thành 100 trứng![12] Nghĩ về sự sử dụng
những con số 100 và 500 đầy rẫy trong kinh sách thì càng không thể nói
suy luận này quá đáng. Nhưng nếu người
Mường xưa học lại truyền thuyết trăm trứng từ người đạo bụt, tại
sao 100 trứng lại biến thành 1919 trứng? Lẽ ra con số 100 phải được giữ
nguyên, hoặc nếu không thì được ‘chuyển dịch’ thành 99, vừa trung
thành với sự ưa thích số 9 của truyền thống Mường (99 thật ra là 9x9
trong lối đếm Mường!) vừa diễn tả được con số 100 của người Ấn,
mà nghĩa nguyên sơ phải là ‘thật nhiều trong mức độ có thể đếm cụ
thể được’. 5.- Con số thường gặp trong các tương
quan đặc biệt trong ĐĐĐN là 1919. Cặp chim khổng lồ Trống chim Tùng-Mái
chim Tót đẻ nhiều trứng nhưng hư hại cả, phải đến lần thứ hai,
được 1919 trứng thì trứng mới nở con, mới “lao nhao tiếng Kinh … hớt
hải tiếng Mán” (sđd., tr. 47). Ở một
chỗ trước đó của ĐĐĐN, có tình tiết 1919 khu vực sinh ra từ sự mục
rã của cành cây si (: cây sự sống, mà gốc biến ra mụ Dấn Dá). Có trong các tương
quan đầy ý nghĩa như vậy, 1919 phải là con số thiêng. Khi nó không thể
nói lên ý niệm ‘hàng ngàn’ –người Mường cổ sơ không thể quen thuộc
với ý niệm như vậy— và thường xuyên được nối kết cái nhìn đối
đãi hay đôi/đối, như thấy phần nào ở trên, phải chăng nó là hai lần 19? Nếu đúng thế, con
số này đã phải có từ lâu, rất lâu, thuở con người bắt đầu biết
đếm số, từ sự vật cụ thể, gần gũi, như những ngón tay ngón chân của
mình. Dùng một ngón tay để
đếm các ngón khác, họ không thấy, không khái niệm được số 20, và
càng không ‘thấy’ số 0, điều đỏi hỏi một bước nhảy lượng tử
trong tư duy trừu tường![13]
Họ chỉ có được, khái niệm được con số 19, vì đây là con số cao nhất
của số ngón tay và chân đếm được. Thế thì 1919, trong giả định về
sự độc lập với ảnh hưởng phật giáo, thật ra là như thế, 2 lần 19? Nhưng không có dữ
kiện gì để phải nghĩ đây là khả năng duy nhất. Khả năng thứ hai là
người Mường xưa không đếm các ngón chân, mà chỉ các ngón tay thôi.
Theo đó số 9 là con số cao nhất có thể khái niệm được, vì đó là tổng
số ngón đếm được. Phải chăng 19 là 1 + 9, con số của ngón dùng để
đếm cộng con số các ngón khác trên hai tay—tức là, nó là con số mà người
cổ sơ đã phát hiện như thật sự có
trên hai bàn tay, tức 10, mặc dù chỉ họ thấy có 9 thôi? Nếu thế, dễ hiểu
là con số 1(+)9 được xem như thiêng liêng, nhiệm mầu, và 1919 thì thiêng
liêng nhiệm màu nhất trong cái nhìn cặp đôi! Nhưng suy đoán này
chỉ có thể đúng với các nhóm người cổ sơ phát minh được hệ số đếm
10 thôi, như người Ấn thuộc Văn minh Người Việt cổ (kể
cả người Mường) chắc chắn đã không nghĩ ‘xa’ như vậy. Rõ ràng người
Mường xưa đã không biết đến, và sau đó, biết đến nhưng vẫn không
ưa chuộng cách đếm theo hệ thập phân. Họ dừng lại ở số 9 như số
cao nhất, ưa thích con số này đến độ đã gọi, ví dụ, 27 như 39, tức
3 lần 9. Thế thì phải chăng
1919 thật ra là một cách diễn tả số 81, tức là 99 của họ? Nhưng suy luận
này không có một hỗ trợ độc lập nào cả. 6.- Việc hiểu được ‘con số’ 1919 bí
ẩn có liên hệ mật thiết với sự thiết lập một lời giải, một chứng
minh, rằng đôi chim trên trống Ngọc Lũ chính là cặp chim vật tổ của người
Việt cổ. Tạm chấp nhận điều này, vấn đề tiếp theo là, trống Ngọc
Lũ là hiện vật Đông Sơn duy nhất cho phép hiểu như vậy; các trống
cùng loại khác, như trống sông Đà, trống Hoàng Hạ vv., (x. hình 2) chỉ
có một chim vật tổ, chim trống.[15]
Hình 2. Một phần mặt trống Sông Đà, từ link dẫn ở chú thích 6. Sự kiện này rất lạ
ngay cả khi bỏ, không nói về vấn đề chim vật tổ. Sự khác biệt này,
cũng như sự sai biệt về con số chim giữa các trống Đông Sơn với nhau,
phải chăng có do cố tình, để nói lên một điều quan trọng gì đó? Khó mà nghĩ khác khi
không thể nói, các nghệ nhân tạo nên những chiếc trống này không có
quan niệm đôi/đối vv. vốn là điều được thấy rất nhiều trên di chỉ
Văn hóa Đông Sơn. Theo đồng thuận
trong giới nghiên cứu, trống đồng không phải là một vật dụng thông thường.
Ở đây, có thể khẳng định, lần đầu tiên, rằng trống Ngọc Lũ đã
được xem là một linh vật. Linh vật hiểu
theo nghĩa trống đánh lên là để mời gọi, kêu cầu sự hiện diện và
linh lực của vật tổ ở mọi nơi chốn (= 18) của đất-nước và mọi đời (=18) quá khứ
và hiện tại. Rằng trống Ngọc Lũ
từng được người Việt cổ xem như linh vật là điều nhiều tác giả người
Việt ao ước. Nhưng hiểu biết quen thuộc về tín ngưỡng vật tổ chỉ gợi
ý hay hỗ trợ thôi chứ không có tác dụng chứng minh. Chứng minh dứt
khoát là bí mật của con số 18 trên trống đồng, sẽ trình bày sau. Hệ luận là chủ
nhân của một linh vật như trống Ngọc Lũ có vị thế tín ngưỡng và
chính trị cao vượt chủ nhân các trống Đông Sơn khác. Trên các trống
này không có đủ số vật tổ, số cặp vật tổ cũng như không đủ số
18 vùng đất-nước.[16]
Họ chỉ được quyền kêu cầu, mời gọi một vị mà thôi, và không phải
lúc nào, ở đâu cũng được làm thế? Giả định như vậy
phù hợp, nếu không nói tương hợp, với đồng thuận của sử gia Việt
nam về một hình thức nhà nước tồn tại trong Văn hóa Đông Sơn, với các
lãnh tụ tối cao được hình tượng hóa với 18 đời vua Hùng. Khác, nhưng không nhất
thiết loại trừ hay trái chống khả năng hấp dẫn này, có thể nghĩ, biết
đâu niềm tin về chim vật tổ như thấy trên mặt trống Ngọc Lũ ít nhiều
không được thừa nhận hay biết tới bởi các lãnh tụ hay bộ lạc khác.
Họ chỉ công nhận một vật tổ chung thôi, vật tổ cha, chứ không cặp
đôi cha-mẹ. Cả hai khả năng này
đều ít nhiều chứa trong chúng sự phân cách hoặc ngay cả rạn nứt, xung
đột, tranh chấp giữa các bộ phận người Đông Sơn. Phát hiện khảo cổ
về vũ khí Đông Sơn có thể tạo ấn tượng như vậy do sự phong phú về
loại hình và số lượng. Giải thích quen thuộc là sự đối phó với ‘giặc
ngoài’. Nhưng không có lí do gì để không nghĩ đến cả ‘giặc trong’.
Và tại sao không có bất hòa, xung đột khi mà không gian sinh hoạt và tài
nguyên giới hạn luôn luôn dẫn đến tranh chấp? Ở đây, không thể
không nhớ lại rằng, Ngu Kơ và Lương Wong chia con và kẻ lên rừng người
xuôi ra sông biển vì con cái đông đảo, không đủ đồ ăn thức uống. Thêm
vào đó, cái nhìn trong/ngoài, cao/thấp … của người Đông Sơn cũng đã
đi đến mức mang lấy ý nghĩa ‘nhân văn’: Cao/thấp trong tự nhiên cũng
đã bị liên hệ với cao quí/thấp hèn, thắng/bại … dễ thấy nơi các
hoạ cảnh những hình người trên thuyền, ở thân trống Ngọc Lũ. Điều lí thú là một
xung đột, bất hòa, hay ít nhất chia cách, giữa hai khối người chung gốc
nhưng từ hai miền trên & dưới có thể có một vai trò trong việc tạo
nên truyện 23 trong LĐTK, truyện có lưu giữ niềm tin cổ truyền sinh thành
từ trứng. 7.- Đọc lại truyện 23, chúng ta thấy người
mẹ (vợ vua), sau khi sinh ra trăm trứng thì bị mọi người ghét bỏ, còn
trăm trứng thì bị kẻ gian bỏ vào bình đóng nắp thả trôi sông. Nhưng
nhở Đế Thích (một hình thức Thần Giavê của Ấn độ!) ghi dấu và cho
thiên thần bảo hộ mà được “vua nước
hạ lưu sông” vớt lên, cho ấp để nở thành người. Được nuôi dưỡng
trở thành những tướng tài giỏi, trăm người con này đi hàng phục bốn
phương theo lệnh cha nuôi và đánh tới nước của cha ruột, dĩ nhiên ở phía nguồn sông ở trên. Nhưng nhờ bà mẹ
giảng giải lời chân thật (khiến bằng chứng phải hiện ra!), mà mẹ con
vv. nhận ra nhau, và chiến tranh ngọn-đánh-nguồn chấm dứt. Như Lê Mạnh Thát
quan sát, truyện 23 đã “cải biên hầu như hoàn toàn truyện … của Avadānasataka.”
Việc cải biên chính yếu là để nói, trong lời kết truyện, việc một
người con làm vua lo cho dân cho nước thay vì đi tu, tìm cầu giải thoát
cho riêng mình, như 99 người khác, là hành vi tôn giáo cao cả nhất, là lấy
thân mạng bố thí vì lòng thương vô bờ: “Hạnh thương cho vô bờ của Bồ tát, bố
thí như vậy.”
[17] Chủ đích
này đã biến cặp vợ chồng trưởng giả của nguồn văn gốc trở nên
vua và vợ vua, theo đó ‘lí do thực tế’, có vẻ hiển nhiên, đã đề cập
ở phần đầu, phải bị loại bỏ. Diễn biến của câu chuyện như nó đã
có, theo đó, là điều hiểu được. Mặt khác, có thể vẽ ra những khả
năng khác để nói, diễn biến như thế không có tính thiết yếu ở các
tình tiết trăm người con đánh nước của cha ruột. Nhóm tình tiết này
được tạo ra nhằm mục đích chuyển tải một thông điệp, qua lời người
mẹ: “Tội
lớn phản nghịch có ba. Không xa bọn tà, đời sau chịu tội, đó là một.
Sống không biết cha mẹ, làm ngược hiếu hạnh, đó là hai. Ỷ thế giết
cha mẹ, độc ác với ba ngôi báu, đó là ba. Ôm giữ ba nghịch, ác ấy
không gì che nổi, …” Đặt vào đúng bối
cảnh truyện 23 hình thành –thời đất-nước bị thống trị sau khi hai Bà
thua trận—, thông điệp này, cũng như những lời kết thúc truyện, đã
nêu, rõ rệt là sự kêu gọi bất hợp tác với quân xâm lược và phê
phán những kẻ theo giặc, quay lưng với và ngược đãi nguồn cội văn hóa
và tâm linh (: “tam bảo”) của mình. Người tạo ra chuyện
này rõ là một đệ tử Bụt đầy lòng thương người thương nước Việt! Nhưng đáng lưu ý
ở đây là ông không dựng chuyện. Các chi tiết ông dùng trong mô tả của
ông đã có sẵn, nơi khác. Như Lê Mạnh Thát cũng đã chỉ ra, một số
trong đó có nguồn gốc ấn giáo dù điều này có thể ông không biết;
chúng nằm rải rác hai ba nơi trong tác phẩm khổng lồ Mahābhārata. Điểm này dẫn đến
một lí luận về ‘cơ chế ứng nghiệm’: Như một qui luật,
người có niềm tin tôn giáo sâu xa và hiểu biết rộng rãi không tùy tiện
sửa đổi lời kinh hay đặt điều vô căn cứ hoặc cố ý vay mượn từ
nguồn khác để phục vụ cho ý muốn của mình. Các chi tiết được tác
giả vận dụng, có hay không được ông ý thức rõ, thì chúng vẫn phải ‘ứng nghiệm’, hiểu theo nghĩa phù hợp
với những gì ông thấy như xác thực và đối tượng ông sẵn tin như sự
thật hiển nhiên, điều thấy trước mắt hay còn trong kí ức tập thể,
‘ai cũng biết’. Ít nhất phải như
thế chúng mới hiện bày ra trong ý thức của ông, trong một trật tự, ‘ngữ
cảnh’ mới, và phải như thế ông mới có thể chuyển tải được thông
điệp của mình. ‘Lí luận ứng nghiệm’
này vững chắc cho trường hợp đạo bụt. Người có theo dõi những
nghiên cứu về sự hình thành văn học đại thừa sẽ chấp nhận như vậy.
(Hệ thống này có sự xây dựng trên những câu và ý tứ quan trọng, sẵn
có từ kinh sách sơ thời nhưng mặc lấy ý nghĩa khác lạ do những dàn dựng
mới lạ.) Thế nên, bên cạnh
niềm tin các dân tộc Việt cổ là những đứa con nở ra từ trứng, ‘điều
ai cũng biết’ kia rất có thể là sự chia cách hay xung đột mà, do và
trong cái nhìn cao (sang)/thấp (kém) vv., là vấn đề miệt dưới-vùng trên
được tin tưởng như có liên quan đến việc các cộng đồng dân tộc vv.
không còn ý thức về nguồn cội chung. 8.- LĐTK là một thu tập thực hiện tại đất-nước Việt, không phải cho “… những đối tượng truyền giáo chung chung ở bất cứ địa phương nào cũng được, mà là những đối tượng cụ thể với những hạn chế dân tộc và truyền thống văn hóa và văn minh riêng. Nói thẳng ra, Lục Độ Tập Kinh hiện nay mang những đặc thù riêng, vì nó được hình thành từ truyền thống Phật giáo dân tộc Việt, và đối tượng nó nhắc tới trước tiên là dân tộc Việt này.”[18]Thế nên không chỉ
truyện 23, mà một số truyện minh hoạ giáo lí khác cũng được cải biên
ít nhiều, thậm chí hư cấu hoàn toàn hoặc/và có kết luận quá đáng, chỉ
có thể hiểu như được đưa ra do một người thiết tha với vận mệnh
đất-nước, không muốn thấy viễn ảnh dân Việt chấp nhận bị thống
trị về văn hóa và chính trị sau thời hai Bà thua trận. Một ví dụ nữa
là những lời kết truyện 68: “Bồ-tát thấy
dân kêu khóc, bèn gạt nước mắt, xông mình vào chính trị hà khắc để cứu dân mắc nạn, chống lầm than".[19] Nhìn như thế, có thể
nghĩ một truyện như truyện 23 trong dạng chưa biên tập thì đã không ‘hiền’
như về sau, tức là nó đã có thể có nhiều hơn nữa sắc thái địa
phương đặc thù—sắc thái chính trị, tín ngưỡng “Việt nam khg. thế kỉ
1 tl.”—, điều đã bị lược bỏ sau đó, khi truyện được đưa vào LĐTK
để minh họa giáo lí vốn có tính phổ quát. Cũng có thể nghĩ
truyện này chỉ như thế thôi, nhưng song song với nó tác giả cũng tạo ra
một truyện truyền khẩu, khác truyện 23 ở chỗ nói lên tín ngưỡng, tập
tục văn hóa Việt cổ và hoài bão ‘phục Việt’ của người dựng chuyện. Dù muốn nghĩ thế nào
thì truyện 23 và LĐTK nói chung cũng có quan hệ với sự hình thành truyện
Hồng Bàng và Ngu Cơ. Có thể bắt đầu với truyện Ngu Cơ, mà như đã
nói các nhà nghiên cứu có xu hướng xem như đã có do ảnh hưởng của
truyền thuyết của người kinh. “Nai” và “cá”
trong truyện này vẫn còn trong truyền thống của người Mường nhưng ý
nghĩa, gốc tích ra sao thì không ai biết. Vào một vài dịp lễ quan trọng,
nghi trượng có hình nai và cá được kính cẩn mang ra (x. hình 3), và ở một
đôi nơi người Mường gọi nai và cá là cha mẹ, nhưng đó cũng là tất cả.[20]
Hình 3.
Nghi trượng với hình nai và cá – từ link dẫn ở ct. 20. Nhưng Ngu Cơ ‘”tiền
kiếp nai” đã có dấu tích trong chính truyện 23 (x. link dẫn ở ct. 10).
Truyện này có tình tiết một “Con nai liếm
tiểu tiện [của một người phạm chí], liền cảm thụ thai. Mãn ngày,
sinh một bé gái. Phạm chí nuôi nấng, lúc hơn mười tuổi, mặt mày sáng
rỡ, dáng vẻ yêu kiều, ở nhà giữ lửa. Cô chơi với nai, không ngờ lửa
tắt. Cha về giận dữ, sai đi xin lửa. Cô đến xóm người, mỗi bước mọc
một hoa sen.” Không phải tự
nhiên mà về sau cô được vua cưới và sinh ra trăm đứa con phi thường!
(Cũng như không phải tự nhiên hay từ đâu khác mà về sau các cô gái yêu
kiều đẹp đẽ Việt, Tàu vv. có ‘gót sen’, nhưng đây là chuyện sử
gia Lê Mạnh Thát đã nói rồi!) Thế còn cá? Trong văn học bản
sinh phật giáo và truyện 50 LĐTK có chi tiết rồng lấy người. Lê Mạnh Thát từng tự
hỏi, “Tình tiết rồng lấy người này, phải chăng là nguồn gốc của
truyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ của truyền thuyết khởi nguyên dân tộc
ta?”[21] Đọc và so sánh truyện
50 với truyện Hồng Bàng, thấy ngay tính cách nghiêm trọng của câu hỏi
này. Và khi dùng lại ‘lí luận ứng nghiệm’ ở trên, có thể nói tác
giả của truyền thuyết không làm gì khác hơn là dùng chi tiết này để tạo
nên hình tượng Long Quân/Lương Wong khi mà nó ‘ứng nghiệm’, theo rất
nhiều nghĩa. Rồng là ‘rắn thần’
nhưng biết bay vv. và như thế không khó mấy để liên hệ với niềm tin
chim vật tổ bản địa. Rồng rõ là “vua loài thủy tộc” trong truyện
tích Ấn độ, nhưng vua loài thủy tộc thì trừu tượng đối với người
Mường, một phần do đó nó biến thành vua loài cá. Cũng như nai, cá, đặc
biệt cá sấu, thấy có trên các di vật của tín ngưỡng bản địa. Thêm
một ‘ứng nghiệm’ nữa! Rồi ngay sự kiện cá ít thấy hơn hay không có trên các di vật thiêng liêng
này -người thời này, cho dù các linh vật của mình bị Mã Viện gom thu
và hủy hoại nhưng ít nhất họ vẫn còn truyền tụng về một trống như
trống Ngọc Lũ—, sự kiện này cũng cho thấy sự ‘ứng nghiệm’: Truyện
50 có rồng lấy người mà cũng có rồng ở cùng người nhưng rồi cũng phải
chia tay trở về thủy cung. Nhưng tại sao không
giữ nguyên hình tượng chim vật tổ cổ truyền? Như đã thấy, tác
giả của câu chuyện là một người tài hoa và mơ ước đem các thành phần
dân tộc kinh thượng trở về với nhau, với nguồn cội chung. Các thành phần
này từ lâu đã ít nhiều xa lạ nhau, chia cách thành những khối dưới đồng
bằng và trên rừng núi, điều một người hữu tâm, tài trí như ông đã
phải ý thức rõ trong bối cảnh của một đất-nước bị thống trị.
Chim vật tổ chung, dù là một hay một cặp, thì thế giới của chim vẫn
là rừng núi, trên đất và trên không, không thật sự thích hợp cho cả
đất lẫn nước, cho cả khối người vốn ‘từ sông biển lên’ lẫn khối
vốn ‘từ rừng núi xuống’. Phải có một hình tượng
khác, có chung nhiều điều với chim vật tổ cha (cũng như vật tổ mẹ)
nhưng đồng thời cũng cao vượt hơn. Như thế đã đủ để
nghĩ, bản gốc của truyền thuyết Hồng bàng có thể không xa lắm với một
ý như sau: Ngày xửa ngày xưa, công chúa xứ
Âu, tiền kiếp chim thần (= tiên), vốn do nai sinh ra, lấy Lạc Long Quân vua
rồng xứ Lạc. Âu và Lạc theo đồng
thuận là những gì quen thuộc với người Việt chung quanh thế kỉ 1. Công
chúa xứ Âu, Âu Cơ, thì trở thành Ngu Kơ trong phiên bản Mường vì, như có
người đã nói, có sự đọc lẫn lộn giữa hai âm Ngu và Âu trong tiếng Mường.
Và Âu Cơ phải là người, có tiền kiếp
là chim thần chứ không phải chính chim thần. Lí do không chỉ vì người
Kinh nói con rồng cháu tiên hay người Mường nói công chúa Ngu Kơ, mà vì một
lí do ‘thần học’: Sự khác biệt rồng & người đối với tác giả
rất quan trọng, như sẽ thấy khi chúng ta nói tiếp về rồng như ẩn dụ.
Còn ‘ngày xửa ngày xưa’ dĩ nhiên phải hiểu là rất lâu trước thời
chia cách như trống đồng Ngọc Lũ gợi ra. Về Lạc, tác giả
có thể đã cười cười mà nói: Lạc Việt chúng ta có nghĩa là Việt thờ rồng – Lạc là nāga, rồng trong tiếng của đức Thế Tôn,
phải không? Điều gần như chắc chắn là, tên Lạc Long đã do ông đặt
ra. Trong truyền thống dịch thuật phật giáo, có vô số từ ngữ mới được
tạo ra do việc dịch-âm-kèm-dịch-nghĩa một từ Ân độ. Lạc là ‘dịch
âm’ nāga, rồng, với sự lẫn lộn l và
n. Còn Long là dịch nghĩa![22] Một vài câu kế tiếp
có thể có từ sự so sánh giữa truyền thuyết Hồng Bàng trong Lĩnh Nam Chích
Quái (LNCQ) và ‘bản gốc’ của truyện 23 trong LDTK. LNCQ viết:[23]
“Long Quân lấy Âu Cơ một năm thì nàng đẻ
ra một bọc, cho là điềm chẳng lành, vất
ra cánh đồng. Qua sáu bảy ngày, bọc vỡ
ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở một con trai, mới đem về nhà
nuôi. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên trông đẹp đẽ kỳ dị,
người nào cũng trí dõng song toàn, …” ‘Bản gốc’ của
truyện 23 LĐTK thì, như tóm lược của Lê Mạnh Thát (ct. 10), “… kể chuyện vợ một trưởng giả giàu
có mang thai. Đủ tháng sinh một bọc thịt
(nhục đoàn). Vị trưởng giả buồn rầu, đến chỗ Phật hỏi tốt xấu.
Đức Phật bảo phải "dưỡng dục" bọc thịt đó bảy ngày sau sẽ thấy. Đúng 7 ngày sau, bọc
thịt vở ra thành 100 đứa con trai mặt mày đẹp đẻ ở đời ít có.
…“ Cứ như Lê Mạnh
Thát ‘ăn cắp’ những dòng trên của LNCQ! Nhưng dĩ nhiên không phải thế.
Sự giống nhau chỉ chứng tỏ là tác giả của truyền thuyết Hồng Bàng,
bản gốc, cũng đã có trong đầu ‘bản gốc’
của truyện 23 LĐTK khi ông tạo ra truyền thuyết này! Nhưng so sánh này chỉ
là bước đầu. Câu chuyện tái dựng truyền thuyết gốc phải được điều
chỉnh theo hướng ở thế giới rồng một thời gian rồi trở về đất liền,
như sự so sánh truyện 50 LĐTK và truyện Hồng Bàng có thể giúp vẽ ra, rồi
phải có chiến tranh kiểu Sơn tinh – Thủy tinh để thông điệp chính trị
của truyện 23 về sự hợp nhất, trở về với cội nguồn, … có thể
được nói lên. Sau đó 50 con mới lại theo cha rồng “xuôi về miền sông
biển” thành những “vì vua mặc áo vàng”. Rồng phải đi vì
không thuộc về thế gian, ở cùng người được nhưng rồi cũng phải về
nơi chốn thật. Con đi theo là đi tu, và tu thành chánh quả. Vua rồng thường
được dùng như biểu tượng cho Bụt, trong đại thừa giáo rồng thường
tượng trưng cho cao tăng, và long cung thường là ẩn dụ cho niềm tin Phật
ngôn hay Kinh được cất giữ cho đến khi có đủ thuận duyên để xuất
hiện trở lại ở cõi người vv. và vv. Phải như thế thì người ở lại, Âu Cơ và các con, mới chỉ
cần “kêu chín tiếng” khi gặp nguy nan. Kêu như thế thì mọi khổ ách
đều được độ thoát. Chín tiếng này phật tử xưa nay đều biết. Cái
chia lìa vì cơm áo và chỗ ở của quá khứ đã thay hình đổi dạng, mang
lấy những ý nghĩa cao đẹp. Trước hết, theo nghĩa đen, chia tay là để mình
cao rộng, siêu việt hơn và, khi cần, làm tốt đẹp hơn cho người ở lại
chứ không đoạn lìa với họ, với cuộc đời. Nhưng không chỉ có nghĩa
này thôi. Trong nguồn văn gốc,
tất cả 100 đều đi tu. Truyện 23 LĐTK thì giãm xuống một, như đã nói.
Nhưng cho riêng người Việt 2.000 năm trước, 50 mới hợp tình. 50 con cũng
hợp lí vì truyện Hồng Bàng, bản gốc, không phải truyện khuyến tu. 50,
nhìn từ cách dùng số 100 của người Ấn xưa, mang nghĩa phân nửa của một thực tại. Trong liên
hệ với ẩn dụ rồng vừa nêu, đây là một mặt của thực tại hai mặt đạo-đời. Do đó, 50
còn lại phải là những “vua mặc áo đen”, như truyện Ngu Cơ khẳng định.
‘Áo đen’ là biến đổi cần thiết của ‘áo trắng’, trong đạo bụt
dùng để chỉ người tu tại gia hay cư sĩ! Khi truyện Hồng Bàng
còn trong dạng truyền khẩu, những gì dễ hiểu dễ thấy như liên quan đến
đạo bụt phải còn nhưng rồi bị loại bỏ, do lí do này hay lí do khác,
nhất là bởi những người biên tập, hiệu đính LNCQ.[24]
Chắc chắn như thế vì tác phẩm này và Việt Điện U Linh cũng loại bỏ
tình tiết phật giáo ra khỏi truyện về Tì Sa Môn Thiên Vương mà chúng đồng
nhất với Phù Đổng Thiên Vương, như Gs Như Hạnh chỉ rõ.[25] Và loại bỏ cái
này thì có thể phải đưa cái khác vào hoặc và điều chỉnh, cải biên
để có được một câu chuyện mạch lạc và, theo hiểu biết của họ, đúng
hơn. Những người san định, hiệu đính đã khai rõ trong lời tựa là họ
dựa vào sách vở để làm như thế. Có thể hiểu được một số các ‘chi
tiết Trung hoa’ của truyện này theo cách này, qua sự so sánh với truyện
50 LĐTK. Cũng không khó thấy
là một số khác đã có như kết quả của sự đóng khung ý tứ phật
giáo trong khung khái niệm nho giáo, chẳng hạn Lạc Long Quân và Âu Cơ do khí
âm dương mà sinh con nhưng “thủy hỏa tương khắc”. Nói chung, nhiều điều
có vẻ dễ được giải thích thoả đáng. Kể cả việc LNCQ tránh né việc
nói đến con số 18 liên quan đến các vua Hùng, thay vào đó dùng “đời
đời”. 9 .- Như chúng ta biết, số 18 là con số được ưa chuộng ở hầu như khắp thế giới. “18 vị vua” thì thấy có trong rất nhiều nền văn hóa hay tín ngưỡng cổ sơ –ít được biết là Tây tạng trước thời đạo bụt du nhập, thế kỉ 7 tl., cũng có môtip này. Ngay ở cổ Ai cập và Do thái cũng có (2 Chronicles 11:1-4).Nói cách khác, môtip
này không chỉ có để nói về nhà Hạ Trung hoa mà thôi, và sự xa cách địa
lí và văn hóa của nhiều nơi có con số 18 và 18 đời vua, như nêu trên,
cho thấy là khó mà nói ai ‘ăn cắp’ ai cho đến khi có chứng minh cụ thể.
Người Việt ngày nay, và có lẽ cả người Việt ngay sau thời Minh thuộc,
do không biết như vậy nên đã tưởng chừng tổ tiên mình vay mượn môtip
18 đời vua từ Tàu, do đó chỉ lăm le bỏ đi, hoặc giải thích thoát đi. Không biết chừng cũng
vì thế mà tác giả Đại Việt Sử Lược đời Trần đã đặt 18 vua Hùng
vào một khung cảnh lịch sử ‘xác thực’ –nếu đúng như thế thì đó
cũng là một cách lấp liếm, chứng tỏ người xưa sợ tổ tiên mình đã
đánh cắp truyền thuyết Tàu. Riêng ở trường hợp
Ấn độ cổ, mới thấy rõ nhất về số này như con số của chân lí
thiêng thánh. Một trong rất nhiều minh họa là tác phẩm có vai trò quyết
định trong sự hình thành ấn giáo, Mahābhārata, được chia làm 18 parvans (chương, quyển) về cuộc chiến
18 ngày giữa 18 đạo quân. Trong một chỗ có dụng ý bài bác, tác phẩm
này nói đến ‘sự kiện’ 18 vị vua ngăn cấm việc ăn thịt – đây là
nói, ăn chay là chân lí thiêng liêng ngàn đời thế nhưng các sa-môn theo
Thích-ca vv. đã chà đạp khi họ chủ trương ăn sao cũng được tùy người
cho, và Aśoka, vị vua phật tử (vua Hùng bằng xương bằng thịt của đất
Ấn!) cũng không khá gì khi không cấm mà chỉ khuyên tiết giãm sự sát
sinh và ăn thịt![26] Chưa ai giải thích
được vì sao con số này được xem là thiêng liêng, mầu nhiệm. Nhưng trống
đồng Ngọc Lũ chứa đựng thông tin cần thiết để nói: Con số 18 ở đây
được trình bày theo một cách khiến không thể có giải thích khác hơn! Và
thông tin này đơn giản, đơn sơ đến độ không ngờ! Trước hết, về hệ
số đếm cữu phân mà lịch sử toán chưa biết là có. Những gì biết
được chỉ cho phép nói, khi người cổ sơ bắt đầu hệ thống hóa số
đếm, thì có hệ thập phân từ người Ai cập và Ấn (khg. 2.500 tr.cn),[27]
‘lục thập phân’ từ người Babylon (khg. 2.000 tr.cn), và ‘nhị thập
phân’ của người Maya. Nhưng một khi từ sự đếm ngón tay chân mà có một
hệ số đếm như hệ 20, sẽ không có gì lạ nếu người Đông Sơn (hay người Văn hóa
Hòa Bình trước đó) có hệ cữu phân. Sự ưa thích những
con số 9 và bội số của nó (18, 27 vv.) và nhất là cách người Mường đọc,
ví dụ, 27 như 3|9, là những gợi ý tốt. Nhưng dùng như ‘bằng chứng’
thì dễ dàng bị bác bỏ. Trừ phi người Mường đếm 10 như 9|1, 14 như
9|5 vv., không thể nói được gì vững chắc về họ hay bất kì ai khác ưa
dùng số 9. Họ chỉ cần, ví dụ, gắn liền số 3 hoặc số 9 với một
giá trị đặc biệt nào đó (ví dụ một anh hùng văn hóa chết ngày 9
tháng 3), thì 9 (=3x3), 9x2 vv. dần dần biến thành những con số đẹp, được
ưa chuộng. Và cho dù người ta
dùng hệ cữu phân, thì số 18 vẫn chưa có gì đặt biệt; nó chỉ đơn giản
là một trong nhiều bội số của con số lớn nhất trong hệ thống đếm này.
Vấn đề trở nên khác hẳn trong cái nhìn đối đãi hay lưỡng hợp. Dùng hệ thống đếm cữu phân và có cái
nhìn đối đãi, người cổ sơ (chưa biết
đến phép nhân) sẽ đi đến việc xem số 18 là số thiêng theo nghĩa biểu
trưng cho sự hợp nhất, thành tựu thiêng liêng của hai yếu tố cao cả,
nhiệm màu nhất, là tổng hợp của một bên 9 + một bên 9! Nếu đúng như thế,
dĩ nhiên con số 18 trên trống Ngọc Lũ hay bất kì hiện vật nào khác phải
thấy là được trình bày như vậy để nói nó đã được xem là thiêng
liêng. Việc ‘đọc’ trống
Ngọc Lũ, theo lăng kính đôi/đối vv., quả cho thấy mô thức này: Trống được tạo
ra như cặp đôi của hai phần đều
nhau, với mặt của mỗi nửa bên, tức là mỗi nửa mặt trống, bắt đầu
với trọn 1 cặp chim đôi/đối (mạnh-yếu/bay-đứng
…) chứ không thể phân đôi chúng ra (x.
hình 1). Cho một nửa mặt, con số chim
là 18, với bên {bay/mạnh/…} và bên {đứng/yếu/…}. Đó là ‘một bên 9
một bên 9’ con. Nhưng thế cũng chưa đủ. Khi đếm trên toàn
thể băng họa cảnh, con số chim hiển nhiên là 36. Thế thì không phải ‘một bên 9
một bên 9’?
Nhưng đọc như thế là không nhất quán. Phải đọc theo lăng kính người
của người Đông Sơn từ đầu đến cuối. Với lăng kính này, mặt trống
như một toàn thể, là cặp đôi/đối
của 2 nửa mặt, do đó chim cũng phải tính theo cặp chứ không còn từng con một nữa, và cặp đôi & đối {to-nhỏ/trống-mái…}
chứ không phải đôi giống nhau. Tức là bây giờ mỗi bên là 9 cặp trống-mái.
Cũng là một bên 9 một
bên 9! Sự sử dụng hệ số
đếm 9, niềm tin về sự thiêng liêng của con số 18 và ẩn nghĩa của nó,
như thế, đã được thấy là có trên mặt trống Ngọc Lũ! Và cặp chim gắn liền
với một con số thiêng liêng như thế dĩ nhiên phải có vị thể trỗi vượt
so với những loài thú vật (vật tổ riêng
của từng bộ lạc?) trên chiếc trống thiêng liêng đó! 9.1.- Truyền thuyết Hồng Bàng, bản gốc, ở vài nét chính nhận diện lại được từ LĐTK, cũng chỉ nói về Cha rồng Mẹ tiên (tạm gọi như thế) sinh một bọc trăm trứng, mỗi trứng nở ra thành một người con, để sau đó chia tay, mỗi người với 50 người con. Nhưng khác với phiên bản sẽ xuất hiện về sau, trăm con ở đây có đến hai nghĩa.Trong ‘nghĩa đen’,
đúng bối cảnh, đây là các cộng đồng người Đông Sơn từng tôn thờ
hai Bà Trưng như lãnh tụ cuối cùng trước khi đất-nước họ rơi vào
ách thống trị. Biên cương văn hóa của các cộng đồng này lấn vào một
khu vực lớn ở Nam Trung hoa, một sự kiện mà trí thức về sau muốn nói
khi họ ghi thêm rằng truyền thuyết Hồng Bàng nói lên nguồn gốc của
Bách Việt. Nhưng khái niệm
Bách Việt hàm chứa ý niệm Trung hoa là trung tâm thế giới, do đó Cha rồng
Mẹ tiên phải có ‘gốc tàu’, một điều không có đòi hỏi luận lí,
chính trị hay tín ngưỡng gì để bản gốc phải nói đến. Nhưng trăm con trong bản
gốc không chỉ là ‘rất nhiều’ bộ lạc hay cộng đồng người có
cùng nguồn cội mà thôi. Như đã nói, cách dùng số 100 của người Ấn cổ
còn mang ẩn nghĩa một toàn thể. Trăm
con là một toàn thể, bất kể là cá nhân hay cộng đồng hay quốc gia –toàn
thể với một nửa là ‘phần đời’ và một nửa là ‘phần đạo’,
đạo & đời phân biệt nhưng bổ sung nhau, là hai mặt của một đồng
tiền. Truyện Hồng Bàng
LNCQ đã đánh mất nghĩa lí thâm sâu này, một phần vì vua rồng của nó
hiển nhiên bị tước mất chiều kích tôn giáo, không còn là một ẩn dụ
về đời sống tâm linh nữa. Phần khác, vì định mệnh nho giáo tàn khốc
muốn như vậy –cha con chồng vợ phải chia lìa, cách biệt nhau vì Cha rồng
Mẹ tiên vốn “thủy hoả tương khắc”! Không có chiều kích
tôn giáo, vua rồng của LNCQ dĩ nhiên không còn có thể được giảng giải
như biểu tượng của Chánh Pháp. Những cháu chắt của vua rồng LNCQ, 18
vua Hùng, do đó cũng không như 18 vua Hùng bản gốc. 18 vua Hùng ‘thứ
thiệt’ này là phiên bản lí tưởng cho hình tượng của những nhân vật
tín ngưỡng-chính trị lãnh đạo các tộc người từ một thời điểm nào
đó của Văn hóa Hòa Bình đến Văn hóa Đông Sơn. Cũng như Cha rồng Mẹ
tiên bản gốc là phiên bản lí tưởng cần có của cặp đôi Mẹ chim Cha
chim. Các nhà lãnh đạo này được tượng trưng, trên mặt trống Ngọc Lũ,
với 18 vùng đất-nước có cặp chim vật tổ hiện diện. Nói chung, truyện Hồng
Bàng bản gốc, khác với bản LNCQ, đã trung thành với truyền thuyết cổ
sơ về các cộng đồng người Đông Sơn như con cái của một cặp chim vật
tổ, với các lãnh tụ tín ngưỡng-chính trị đời đời (18 đời) nối
truyền nhau. Trừ phi vướng phải
một sai lầm nghiêm trọng trong chứng minh liên quan đến số 18 đưa ra ở
trên, không thể không kết luận rằng người Đông Sơn, hay ít nhất một
bộ phận người Đông Sơn chấp nhận trống Ngọc Lũ như linh vật, đúng
là đã thờ một cặp chim vật tổ. Thoạt nhìn, sai lầm
có-thể-có trong chứng minh này nằm trong giả định về nguồn gốc bản
địa của trống Ngọc Lũ. Nhưng không phải: Di vật quí báu này
có thể được mang đến từ một nền văn hóa hay phần đất khác, như các
học giả Trung hoa muốn. Nhưng nếu như thế, nền văn hóa/vùng đất này
phải (1) sử dụng hệ số đếm cữu phân, (2) có quan niệm đối đãi hay
lưỡng hợp, và (3) có ý thức rõ rệt về ý nghĩa của con số 18, theo
nghĩa biết trình bày con số này như bên 9
bên 9. Một vùng văn hóa
khác không nhất thiết phải có chúng mà vẫn có một khái niệm về sự
thiêng liêng của con số 18. Nhưng có vẻ như chưa một nền văn hóa cổ sơ
nào có để lại các di vật cho thấy nó có một quan niệm rõ rệt về thế
nào là sự thiêng liêng gán cho con số này. Điều này thật ra cũng không
có ý nghĩa gì trong tương quan này: Cả ba
điều trên là những cái thấy được trên mặt trống Ngọc Lũ, do đó
vùng đất tạo ra nó, nếu không phải ở đất-nước Lạc Việt, thì phải
sản xuất được các hiện vật khác cho thấy là nó có tất cả những
điều đó. Không thể khác. Trung hoa hiển nhiên
có nhiều lợi thế. Các điều kiện cần, sự gần gũi địa lí, quan niệm
âm dương và mê tín về số 18, vv. tất cả đều có. Nhưng điều kiện đủ
là các chứng liệu quyết định, cho thấy một hiểu biết về bí mật của
con số này: Một trống đồng giống trống Ngọc Lũ, điều chưa được biết
là có, sẽ không đủ sức thuyết phục! Vì biết đâu nó được mang đến
từ Việt nam, chính nơi trống Ngọc Lũ được đào lên từ lòng đất
(1893-4, ở Hà Và trừ đất-nước
Việt ra, vùng đất/văn hóa nào còn giữ được những dấu chỉ cụ thể
của cả ba điều trên, chưa kể trống Ngọc Lũ? Dấu chỉ nổi bật là Đẻ
Đất Đẻ Nước. Sau hàng ngàn năm người Việt nói chung không biết đến
sự có mặt trông Ngọc Lũ, cặp Trống chim Tùng-Mái chim Tót và đôi chim vật
tổ trên trống đã gặp lại nhau. Cặp chim của cả hai bên đều gắn liền
với ‘con số’ 1919. Đó là nói con số
1919 của Đẻ Đất Đẻ Nước thật ra phải hiểu là ‘một bên 9 một
bên 9’ giống hệt số 18 của trống Ngọc Lũ! Điều này thật dễ thấy
có trong mo này một khi bí mật của con số 18 trên trống Ngọc Lũ được
nhận diện. Để chấm dứt, hãy
nói qua về cái tên Hồng Bàng. Theo biến đổi ngữ âm Việt cổ, ‘Hồng
Bàng’ và ‘Hùng Vương’ có thể là như nhau (b <-> v
và ang <-> ương). Có những suy đoán, từ căn bản
của suy đoán rằng Lạc Việt là từ Bách Việt bên Tàu
mà ra, rằng ‘các vua Hùng’ chỉ là hình ảnh vay mượn từ các vua
nước Sở. Các sử gia như Trần Quốc Vượng thì nói ‘Hùng’ có lẽ bắt
nguồn từ ‘Khun’ hay ‘Khún’, những họ có nơi các tộc người Thái.
Nhưng Khun/Khún và nhất là ‘Hùng nước Sở’ vẫn còn xa, theo hơn một
nghĩa, với Hùng/Hồng của truyền thuyết Con rồng cháu Tiên. Xa so với ‘Khuk’. ‘Khuk’ hẳn là
phát âm giản lược của người Việt cổ cho từ Ấn độ Aśoka.
Aśoka là vị vua phật tử lừng danh. Cái tên của ông đã nhanh chóng được
người đạo bụt Ấn độ sử dụng để chỉ hàng quân vương lí tưởng,
những vị vua vẹn toàn cả hai mặt đạo lẫn đời, giống hệt các vua
Hùng trong truyền thuyết con Rồng cháu Tiên. Thế nên phải nói ‘vua
Hùng’ là dịch-âm-kèm-dịch-nghĩa của Aśoka. Truyện Hồng Bàng
là truyện các vua Hùng, tức các Aśoka ở đất-nước Việt cổ.
Không phải tự nhiên mà Vua bà được gọi là Hùng Trưng!● Nguyễn K. http://onthehorizon.homepage.dk |