
Tâm
Đàn,
PhD. Sơ lược nội
dung:
Triết học Đông
phương nói chung và triết học Phật Giáo nói riêng quan niệm rằng biến
động là đặc trưng của sự vật, và lực gây nên sự biến động đó
không phải là ngoại lực như triết học cổ điển Hy Lạp quan niệm, trái
lại, là nội lực thuộc vào bản chất của sự vật. Khoa học ngày
nay đã chứng minh rằng vạn vật luôn luôn năng động. Hơn thế nữa, vạn
vật có tính tự tổ chức, sáng tạo và tự sinh sản. Sự sống nhờ đó
mà hình thành. Trong quá trình
sự sống, sinh vật luôn luôn có tác động hổ tương với môi trường
chung quanh, nhận thức được sự thay đổi của môi trường sống. Những
nhận thức đó biến đổi theo sự biến đổi của môi trường sống. Do
nhận thức khác nhau, mỗi sinh vật có một thế giới quan khác nhau. Theo lý
thuyết Nếu
lý thuyết
Những
nét cơ bản của các nền triết học Đông và Tây Nền
cổ triết học Hy Lạp thế kỷ thứ sáu trước công nguyên bao gồm hai trường
phái chính: Trường phái Milesian và trường phái Eleatic. Những nhà triết học
thuộc trường phái Milesian quan niệm rằng vạn vật có sự sống. Thales
cho rằng mọi vật thể đều có linh khí. Anaximander thấy vũ trụ như là một
cơ thể được nuôi dưỡng bởi vũ trụ khí, giống như sự sống trên địa
cầu được nuôi dưỡng bằng không khí vậy. Heraclitus tin rằng vạn vật
trong vũ trụ luôn luôn biến đổi. Ông cho rằng tính năng động và tuần
hoàn của những cặp gồm những siêu lực đối nghịch là nguyên nhân của
sự biến đổi này. Như vậy triết học của trường phái Milesian gần giống
như nền cổ học đông phương. Trái lại, triết
học của Xenophanes thuộc trường phái Eleatic cho rằng đứng trên tất cả
là Thượng Đế (Being) tuyệt đối và vĩnh cửu. Thượng Đế là chân lý
tối hậu duy nhất. Những sự sống có cảm xúc như chúng ta chỉ là tạm
bợ và có thể bị hủy diệt. Ban đầu khái niệm Thượng Đế được xem
như là một thể thống nhất của vũ trụ, nhưng sau đó Thượng Đế được
xem như có nhân tính với đầy đủ những đặc điểm chân thiện mỹ, đứng
trên tất cả và dìu dắt vũ trụ. Parmenides, môn đồ của Xenophanes, cho rằng
vũ trụ không hề biến đổi. Những biến đổi chúng ta quan sát thấy thực
ra chỉ là những ảo ảnh của những giác quan của chúng ta. Với quan niệm
này về Thượng Đế, sự phân chia giữa linh hồn và thể xác bắt đầu hình
thành, và đã trở thành đặc trưng của nền triết học phương tây. Để dung hòa
hai quan niệm đối nghịch giữa một Thượng Đế bất biến của Parmenides
và một vũ trụ luôn luôn biến đổi của Heraclitus, những nhà triết học
Hy Lạp của thế kỷ sau đó (thế kỷ thứ năm trước công nguyên) cho rằng
Thượng Đế biểu hiện trong những thể bất biến nhất định nào đó,
và sự phối hợp cũng như phân chia của những thể bất biến này là
nguyên nhân của những biến đổi trong vũ trụ. Quan điểm
dung hòa trên đã đưa đến khái niệm về atom trong triết học của
Leucippus và Democritus. Atom là đơn vị nhỏ nhất của vật chất không thể
bị hủy diệt. Atom được xem như những đơn vị cơ bản của vật chất,
không có linh khí, di chuyển trong chân không dưới tác động của những
ngoại lực có linh khí. Chủ thuyết atom như vậy đã phân chia một ranh giới
rõ ràng giữa thể xác và linh hồn. Thế giới
linh hồn được xem là trọng yếu của sự sống, và do đó vấn đề đạo
đức được đặt ra. Aristotle tin rằng linh hồn con người và sự chiêm ngưỡng
Thượng Đế quan trọng hơn nhiều so với thế giới vật chất vô tri. Chủ
thuyết này của Aristotle được giáo hội Ky Tô giáo thời trung cổ hưởng
ứng nồng nhiệt. Nhưng chính chủ thuyết này đã trì trệ sự phát triển
của khoa học suốt 2000 năm, vì không có ai quan tâm nghiên cứu cái thế giới
vật chất bị xem là thứ yếu này. Mãi đến thời
phục hưng khi ảnh hưởng của Aristotle và Giáo hội đã phai mờ, khoa học
phương tây bắt đầu quan tâm đến thế giới vật chất. Sự nghiên cứu
và thực nghiệm khoa học đã bắt đầu vào cuối thế kỷ 15. Song song với
nghiên cứu khoa học, người ta bắt đầu quan tâm đến toán học. Từ đó
những lý thuyết khoa học được biểu hiện bằng ngôn ngữ toán học.
Galileo là người đầu tiên đã kết hợp kiến thức thực nghiệm với
toán học, và do đó được xem như là cha đẻ của khoa học hiện đại. Vào thế kỷ
17, triết gia Descartes đã phát triển lý thuyết nhị nguyên (linh hồn và vật
chất) thêm một bước. Linh hồn và vật chất thuộc vào hai cảnh giới độc
lập. Với sự phân chia đó, các nhà khoa học đã xem vật chất như những
vật chết, hoàn toàn khác hẳn với sự sống. Họ nhìn vũ trụ như một
chiếc máy khổng lồ trong đó mỗi vật thể được xem như một bộ phận.
Triết học
Descartes không những quan trọng trong việc phát triển ngành vật lý cổ điển
mà con ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức suy nghĩ của phương tây cho đến
ngày nay. “Tôi suy nghĩ, do đó tôi tồn tại.” (I think, therefore I exist.)
Câu nói này của Descartes đã làm người phương tây xem tri thức là chính
yếu và độc lập với thể xác. Thể xác chỉ là thứ yếu. Tri thức mới
chính là bản ngã của con người. Tri thức điều khiển thể xác. Điều này
dẫn đến mâu thuẫn giữa ý chí và bản năng. Thiên nhiên được xem như
riêng rẻ đối với con người nên con người tha hồ khai thác thiên nhiên,
không hề nghĩ đến hậu quả. Vì tự cho mình có một bản ngã nên sự so
sánh không thể tránh khỏi. Điều này dẫn đến tranh chấp xung đột kỳ
thị. Kỳ thị giai cấp. Kỳ thị chủng tộc. Kỳ thị tôn giáo. Kỳ thị
chính trị, văn hóa … Ngược với
những quan điểm trên đây, triết học đông phương quan niệm vũ trụ là
một vũ trụ hữu cơ. Mọi sự vật và biến cố chúng ta cảm nhận được
liên quan mật thiết lẫn nhau. Tất cả những sự vật và biến cố đó thật
ra là những biến hóa khác nhau của cùng một thực tại. Theo quan điểm đông
phương, khuynh hướng xem vạn vật như những vật thể riêng rẻ và xem mỗi
chúng ta như có một bản ngã chỉ là một ảo tưởng của tâm thức. Theo
triết học Phật Giáo, ảo tưởng đó là do sự mê muội của chúng ta, tượng
trưng cho một trạng thái rối loạn của tâm thức. Khi trạng thái tâm thức
trở nên thanh tịnh, ảo tưởng đó sẽ tự nhiên tan biến. Mặc dù nhiều
trường phái triết học đông phương khác nhau về nhiều chi tiết, tất cả
các trường phái đó, dù là triết học Phật Giáo, Ấn Độ Giáo hay Lão
Giáo, đều nhấn mạnh một trọng điểm rằng vũ trụ là một thể thống
nhất, là hữu cơ, có sinh khí, luôn biến động, trong đó mọi sự vật tương
quan phụ thuộc lẫn nhau. Vì biến động là đặc trưng của sự vật, lực
gây nên sự biến động đó không phải là ngoại lực như triết học cổ
điển Hy Lạp quan niệm, trái lại, là nội lực thuộc vào bản chất
của sự vật. Cái tinh khiết nhất theo triết học đông phương, do đó,
không phải là một thượng đế tối cao cai trị thế giới, trái lại,
cái tinh khiết nhất là nguyên tắc đạo đức, là phương châm xử thế,
xuất phát từ ngay bên trong sự vật. Chúng
ta hãy phân tích xem phải chăng tồn tại một nội lực thuộc vào bản chất
của sự vật như những triết học đông phương đã khẳng định. Và phải
chăng tồn tại một linh hồn độc lập với thể xác như triết học
phương tây quan niệm. Bản chất năng
động của vạn vật Vật chất, dù
ở thể rắn, thể lỏng hay thể khí, đều được hình thành do sự kết hợp
của những phân tử. Trong quá khứ, có chủ thuyết cho rằng vật chất,
dù ở thể rắn, thể lỏng hay thể khí, đều có tính liên tục, nghĩa là,
một khối vật chất có thể phân chia thành những phần vô cùng bé theo ý
muốn, và mỗi phần bé nhỏ đó vẫn không thay đổi bản chất. Ngày nay,
thực nghiệm cho thấy vật chất hình thành là do sự kết hợp của những
phân tử. Hãy hình dung một muỗng nước. Chia thành hai, rồi thành bốn, rồi
thành tám, v.v., chúng ta vẫn nhận được nước. Tuy nhiên sự phân chia
không thể kéo dài vô hạn. Sẽ đến một lúc, sự phân chia sẽ cho chúng
ta những phần nhỏ, tất nhiên rất nhỏ, không còn là nước nữa. Đơn vị
phân chia nhỏ nhất vẫn còn mang tính chất nước được gọi là một
phân tử nước. Phân chia một phân tử nước sẽ không còn là nước nữa.
Ngày nay chúng ta biết một phân tử nước là một kết hợp giữa hai
nguyên tử hydrogen (H) và một nguyên tử oxygen (O). Do đó công thức của một
phân tử nước là H2O. Tính chất của một phân tử nước hoàn
toàn khác với tính chất của một nguyên tử hydrogen hay oxygen. Tương tự,
một phân tử dưỡng khí, O2, gồm hai nguyên tử oxygen, và tính chất
của dưỡng khí – rất cần cho sự hô hấp – hoàn toàn khác với tính
chất của nguyên tử oxygen. Ozone, O3, cũng thế, có tính chất
hoàn toàn khác với các nguyên tử oxygen. Chúng ta có thể hình dung kích thước
cực kỳ bé nhỏ của những nguyên tử và phân tử. Một muỗng nước gồm
khoảng hai trăm ngàn tỷ tỷ phân tử nước. Nếu tất cả mọi người trên
địa cầu cùng nhau đếm số phân tử trong một muỗng nước, giả sử với
tốc độ đếm mỗi phân tử một giây đồng hồ, sẽ mất một thời gian
khoảng hơn một triệu năm! Sự sống của
chúng ta nhờ vào bầu khí quyển trong đó khoảng hơn 20% là dưỡng khí.
Chúng ta cần những loại khí khác nhau vào những công việc khác nhau như hàn
thép, ánh sáng neon, thuốc tê mê cho việc giải phẫu, nấu nướng, bơm bánh
xe, và kể cả việc dùng để giết người. Những cây cối chết chôn vùi
dưới lòng đất dần dần sẽ bị phân hóa bởi áp suất và nhiệt, biến
thành than đá và khí đốt thiên nhiên, rất cần thiết cho sự sống của
chúng ta. Ngày nay nền kỹ nghệ phát triển đã sản xuất nhiều loại khí
độc hại, ô nhiễm môi trường sống và có thể làm cho nhiệt độ địa
cầu tăng lên, đe dọa sự sống. Có những loại khí, ví dụ khí helium, hầu
như không có tác dụng với những vật chất khác, nhưng cũng có loại
khí, ví dụ khí chlorine, có tác dụng nhạy bén. Khí chlorine, có màu rêu nhạt,
có thể dùng để giết người, chết một cách đau đớn. Tuy mỗi loại
khí khác nhau có những tính chất khác nhau, nhưng đặc tính chung cho mọi
loại khí là sự chuyển động không ngừng của các phân tử khí. Tùy theo
khối lượng và nhiệt độ, các phân tử khí có những tốc độ khác
nhau. Nặng hơn thì tốc độ chậm hơn. Nhiệt độ cao hơn thì tốc độ
nhanh hơn. Hãy hình dung một loại khí nào đó đựng trong một bình đậy kín,
để bình đứng yên trong một căn phòng ở nhiệt độ bình thường (khoảng
25oC). Những phân tử khí sẽ có những chuyển động ngẫu nhiên,
liên tục va chạm lẫn nhau và đổi hướng chuyển động. Người ta có thể
tính toán hoặc đo những vận tốc trung bình của những phân tử của mỗi
loại khí ở một nhiệt độ nào đó. Sau đây là vài vận tốc trung bình
của những phân tử của vài loại khí đựng trong một chiếc bình để
trong một căn phòng ở nhiệt độ bình thường: Khí hydrogen
3800 dặm/giờ Khí helium
2800
dặm/giờ Khí oxygen
1030
dặm/giờ Khí carbon
dioxide
830 dặm/giờ. Các loại khí
trên đây được sắp theo thứ tự khối lượng các phân tử tăng dần. Do
đó vận tốc trung bình của chúng giảm dần. Ở một nhiệt độ cao hơn
nhiệt độ bình thường trong phòng, vận tốc trung bình của các loại khí
sẽ cao hơn. Vận tốc trung bình của những phân tử khí oxygen chẳng hạn
sẽ tăng lên khoảng 7% khi nhiệt độ tăng từ 0oC đến 40oC. Chúng ta có thể
ngửi được mùi các loại rượu nhờ sự bốc hơi. Bốc hơi là hiện tượng
trong đó những phân tử trên bề mặt của một chất lỏng rời khỏi chất
lỏng và bay vào không khí. Ở nhiệt độ bình thường trong phòng, vận tốc
trung bình của những phân tử rượu khoảng 800 dặm/giờ. Tuy nhiên nếu
chúng ta để một ly rượu trong phòng, cách chúng ta chỉ khoảng một thước,
chúng ta cũng khó có thể ngửi thấy mùi rượu. Tại sao? Hơi rượu khi bay
vào không khí thì liên tục va chạm với những phân tử của không khí,
khoảng 6 tỷ lần trong mỗi giây đồng hồ, và do đó liên tục đổi hướng
chuyển động. Một phân tử rượu trong không khí yên tĩnh phải di chuyển
một đoạn đường khoảng 30 triệu dặm trước khi có thể đến lỗ mũi
chúng ta. Như vậy mặc dù những phân tử rượu có vận tốc trung bình 800
dặm/giờ, xác suất để hơi rượu bay đến chúng ta vẫn rất thấp, trừ
phi có một cơn gió thổi hơi rượu thẳng đến chúng ta. Đối với những
chất lỏng cũng tương tự: Nếu cho một giọt mực vào một thau nước, mực
sẽ lan ra một cách chậm chạp trừ phi chúng ta khuấy thau nước. Những phân
tử mực phải va chạm vô số lần với những phân tử nước, và do đó
liên tục đổi hướng chuyển động. Nếu chúng ta
thả những hạt phấn hoa tí hon vào một thau nước, chúng ta sẽ quan sát
thấy chúng chuyển động không ngừng theo những hướng khác nhau. Robert
Brown là người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này một cách nghiêm
túc nên loại chuyển động này được gọi là chuyển động Brown (Brownian
motion). Ban đầu ông cho rằng chỉ những tế bào đực mới có loại chuyển
động như thế (bởi vì đực thường nghịch ngợm hơn cái). Nhưng sau đó
khi ông dùng những phấn hoa của những cây đã chết lâu năm, ông vẫn
quan sát cùng một hiện tượng. Như vậy, không riêng gì những phấn hoa, bất
cứ loại bụi nào cũng có chuyển động Brown. Tuy nhiên ông không có lời
giải thích thỏa đáng về chuyển động Brown cho đến 50 năm sau. Ngày nay
chúng ta biết chuyển động của những hạt phấn hoa là do sự va chạm ngẫu
nhiên với những phân tử nước luôn luôn di động. Các phân tử nước,
hay của bất cứ một chất lỏng nào, luôn luôn chuyển động không ngừng.
Hoạt động của các tế bào sẽ bị ngưng trệ nếu những phân tử của
các chất lỏng trong cơ thể ngưng chuyển động. Sự sống sẽ không tồn
tại nếu không có loại chuyển động bất diệt này của những phân tử
trong các chất lỏng. Chuyển động
từ nơi này đến nơi khác (gọi là chuyển động tịnh tiến) của những
phân tử trong các chất khí hoặn chất lỏng luôn xảy ra. Ở thể khí,
các phân tử tự do di chuyển. Một mẩu khí đựng trong bình sẽ tức khắc
lan tràn khắp bình. Ở thể lỏng, khoảng cách giữa các phân tử rất nhỏ.
Tuy nhiên chúng vẫn có thể di chuyển, na ná giống người ta di chuyển
trong một đám động chật ních người. Trong chất rắn, các phân tử cũng
có thể có chuyển động tịnh tiến trong một vài trường hợp. Những
nguyên tử và phân tử trong một chất rắn thường chiếm những vị trí
nhất định. Tuy nhiên chúng không bất động! Chúng luôn luôn tháy máy như
những ca sỹ đang hòa ca một bản nhạc. Chúng nhích qua nhích về, nhích
lên nhích xuống quanh vị trí thường trực của chúng. Nói khác đi, chúng
luôn luôn có chuyển động rung hay dao động (vibrational motion). Chúng ta khó
có thể quan sát thấy chuyển động rung bởi vì độ dao động thì rất
bé. Tất nhiên các phân tử của nhiều chất ở thể khí hoặc thể lỏng
cũng có chuyển động rung. Ngoài chuyển động tịnh tiến và rung, các
phân tử còn có thể có chuyển động quay (rotational motion). Chuyển động
của những vật thể chúng ta có thể quan sát được, theo trực giác thông
thường của chúng ta, cuối cùng sẽ dừng lại. Nếu không, chúng ta có thể
làm cho những chuyển động đó ngừng lại. Mỗi chúng ta cuối cùng cũng
phải yên nghỉ. Nuớc sông Hương vẫn trôi hiền hòa. Múc một thau nước
sông Hương để yên trên mặt đất, nước trong thau sẽ ngừng trôi. Nhưng
nắm xương khô còn lại của chúng ta có thật sự yên nghỉ không? Nước
sông Hương đựng trong thau có thật sự đứng yên không? Hẳn là không. Những
phân tử trong nắm xương khô vẫn không ngừng dao động. Những phân tử nước
trong thau vẫn chuyển động không ngừng. Khi chúng ta làm đông lạnh thau nước,
chuyển động tịnh tiến và chuyển động quay của những phân tử nước
có thể ngừng lại, nhưng những phân tử nước đông lạnh đó vẫn có những
dao động phức tạp. Biên độ dao động có thể trở nên nhỏ hơn khi nhiệt
độ giảm xuống. Nhưng biên độ dao động không bao giờ triệt tiêu, cho
dù nhiệt độ hạ xuống mức thấp nhất, tức zero độ Kelvin, hoặc 273.15
độ âm Celsius, còn được gọi là zero tuyệt đối (absolute zero). Như vậy
không có cách gì có thể làm ngưng chuyển động rung của các phân tử và
các nguyên tử. Có chuyển động tức có năng lượng. Và năng lượng này
của mỗi nguyên tử hoặc phân tử ở nhiệt độ zero tuyệt đối được
gọi là năng lượng zero tuyệt đối (zero point energy). Vì luôn luôn
có năng lượng, vật chất luôn luôn năng động. Và tính năng động này của
vạn vật là vĩnh cửu, là bản chất của vạn vật. Cho dù Thượng Đế là
đấng sáng tạo muôn loài, ít ai tin rằng Ngài có thể hũy diệt tính năng
động của vạn vật. Và có lẽ tính năng động này là cái mà triết học
đông phương gọi là nội lực. Khi chúng ta
ép một chất khí trong bình, thể tích khí thu nhỏ lại, khoảng cách giữa
các phân tử khí ngắn lại. Sự va chạm giữa những phân tử khí và va chạm
với thành bình bây giờ trở nên mạnh hơn. Vận tốc trung bình của những
phân tử khí trở nên lớn hơn. Năng lượng dồi dào hơn, và nhiệt độ
khí tăng lên. Áp suất khí tác động lên thành bình cao hơn. Ở một nhiệt
độ nhất định, áp suất khí tỉ lệ nghịch với thể tích khí trong
bình (Định luật Boyle). Khí biết chan hòa với môi trường chung quanh, biết
phản ứng một cách thích hợp với môi trường chung quanh. Khí có thể là
một cơn gió nhẹ thoáng qua, cũng có thể là một cơn bão tố tàn phá khủng
khiếp. Tính tự tổ chức, tính sáng tạo
và tính tự sinh sản của vạn vật
Tính năng động
của các nguyên tử và phân tử đóng vai trò then chốt trong những phản
ứng hóa học. Khi những phân tử và nguyên tử chuyển động va chạm nhau
với những tốc độ thích hợp, nghĩa là ở những nhiệt độ thích hợp,
chúng có thể kết hợp với nhau tạo thành những phân tử lớn hơn và phức
tạp hơn. Chẳng hạn, một phân tử hydrogen (H2) có thể tác dụng
với một nguyên tử oxygen (O) để tạo thành một phân tử nước (H2O).
Thông thường, ở nhiệt độ cao hơn, những phản ứng hóa học dễ xảy
ra hơn. Ví dụ, ở nhiệt độ bình thường, hỗn hợp khí oxygen và hydrogen
không tác dụng lẫn nhau. Tuy nhiên nếu chúng ta châm một que diêm vào hỗn
hợp đó, ta sẽ nghe tiếng nổ (phản ứng hóa học xảy ra) và những phân
tử nước sẽ hình thành. Một ví dụ khác: Những thức ăn hằng ngày
chúng ta thường chứa trong tủ lạnh để tránh những phản ứng hóa học
có thể xảy ra làm hư thối. Những phản
ứng hóa học thường xuyên xảy ra trong những tế bào. Sự sống chỉ có
thể duy trì nếu những phản ứng hóa học này xảy ra không chậm quá, cũng
không nhanh quá. Có nhiều loại phản ứng trong tế bào, khi cho tác dụng
ở ngoài tế bào sẽ xảy ra rất chậm chạp. Lý do không phải vì ở trong
tế bào có “linh khí” hoặc có phép lạ làm cho tốc độ phản ứng
nhanh hơn. Phản ứng xảy ra nhanh hơn ở trong tế bào vì tế bào có chứa
những chất xúc tác gọi là enzymes, có nhiệm vụ tăng tốc độ của một
số phản ứng hóa học. Mỗi tế bào chứa đựng khoảng 1000 enzymes. Chuyển
động của những phân tử và nguyên tử còn có thể tạo ra một loại phản
ứng khác nữa: Phản ứng hạt nhân, xảy ra ở nhiệt độ rất cao. Mặt
trời chúng ta có nhiệt độ khoảng 15 triệu độ Celsius ở trung tâm, và
giảm dần xuống khoảng 6 ngàn độ Celsius ở bề mặt. Chúng ta biết những
dương điện tử thì có sức đẩy lẫn nhau. Càng gần nhau sức đẩy càng
mạnh hơn. Chỉ khi nào vận tốc trung bình của hai dương điện tử đủ lớn
mới có thể chiến thắng được sức đẩy đó, và có thể kết hợp với
nhau. Nhờ nhiệt độ cao ở bên trong mặt trời đã tạo cho những dương
điện tử có được vận tốc trung bình đủ lớn đó, khoảng hơn nửa
triệu cây số giờ, gấp một ngàn lần vận tốc trung bình của một phân
tử dưỡng khí ở nhiệt độ phòng thí nghiệm trên địa cầu. Và do đó
hai dương điện tử bên trong mặt trời đã có thể tổng hợp thành một
hạt nhân deuterium cọng với hai hạt tiềm nguyên tử neutrino và positron. Đây
chính là bước đầu trong quá trình sản xuất năng lượng mặt trời. Chúng
ta thừa biết nếu không có năng lượng mặt trời, không thể có sự sống
trên địa cầu. Hẳn chúng ta phải chúc thọ mặt trời hầu cứu vãn sự
sống trần gian. Trung bình, một dương điện tử bên trong mặt trời tiếp
tục di chuyển va chạm khoảng một tỷ năm trước khi tổng hợp với một
dương điện tử khác. Do đó mặt trời cháy khá chậm chạp, vừa làm cho
mình có thể sống lâu, vừa tỏa năng lượng đủ ấm cho địa cầu. Mặt
trời đã được khoảng bốn tỷ rưởi tuổi, và còn thọ thêm ít ra là năm
tỷ năm nữa. Các bạn biết cùng một khoảng thời gian như nhau, mỗi kilô
cơ thể chúng ta sản xuất một năng lượng gấp mười ngàn lần năng lượng
sản xuất bởi một kilô vật chất trên mặt trời. Chỉ vì khối lượng
mặt trời quá khổng lồ, khoảng gấp mười triệu triệu triệu lần khối
lượng của dân số trên địa cầu, nên cứ mỗi khoảng thời gian như
nhau, mặt trời sản xuất một năng lượng gấp khoảng một ngàn tỷ lần
năng lượng do toàn bộ dân số trên địa cầu sàn xuất. Khoảng
một tỷ năm sau khi địa cầu hình thành, carbon – hóa chất thiết yếu nhất
của sự sống – phối hợp với những hóa chất cần thiết khác của sự
sống là hydrogen, oxygen, nitrogen, sulfur và phosphorus để tạo thành những
phân tử hóa học phức tạp khác nhau. Với điều kiện thuận lợi của địa
cầu thời bấy giờ, một số những phân tử nói trên đã trở thành những
chất xúc tác làm gia tăng tốc độ của những phản ứng hóa học. Dần dần,
những phản ứng hóa học khác nhau này móc nối chặt chẽ với nhau, tạo
thành những mạng lưới gồm những chu trình kín có khả năng tự tổ chức
và tự sinh sản. Sau đó những chu trình kín này biến hóa thành những cấu
trúc mới, có thể trao đổi năng lượng với môi trường chung quanh. Nhờ
sự trao đổi năng lượng này, những cấu trúc nói trên có thể vượt qua
những quá trình xáo trộn để trở thành những hệ thống tinh vi phức tạp
và đa dạng hơn. Bây giờ mỗi hệ thống bắt đầu hình thành một màn ngăn,
tạo sự tự lập cho chính mình, tuy vẫn tiếp tục trao đổi năng lượng
với môi trường chung quanh. Nhà sinh vật học Margulis cho rằng những hệ
thống này có thể đã biến hóa thăng trầm nhiều lần trước khi những
phân tử di truyền DNA hình thành. Những tế bào vi trùng đầu tiên đã
hình thành khoảng ba tỷ rưởi năm trước đây, bắt đầu sự sống trên
địa cầu. Tâm thức,
quá trình của sự sống và vấn đề tâm-thân Trong
quá trình sự sống, sinh vật luôn luôn có tác động hổ tương với môi
trường chung quanh. Do tính tự lập của mình, sinh vật có thể nhận thức
được sự thay đổi đó của môi trường sống. Xáo trộn của môi trường
sống có thể tạo điều kiện làm thay đổi cấu trúc của sinh vật. Tuy
nhiên vì mỗi sinh vật đều mang tính tự lập, sự thay đổi cấu trúc
không phải do môi trường chung quanh, trái lại do chính sinh vật ấn định
và điều khiển chi phối. Và sự thay đổi cấu trúc dẫn theo sự thay đổi
nhận thức của sinh vật đối với môi trường chung quanh. Vì sự thay đổi
cấu trúc của mỗi sinh vật không nhất thiết giống nhau, mỗi sinh vật
nhìn thế giới bên ngoài mỗi khác. Hai sinh vật khác nhau có thể nhìn môi
trường chung quanh bằng hai thế giới khác nhau. Với
những quan sát và phân tích trên đây, hai nhà sinh vật học Maturana và
Varela đã phát triển một lý thuyết gọi là lý thuyết Santiago, cho rằng
tri thức chính là quá trình của sự sống. Tri thức không phải là một vật
thể mà là một quá trình. Và chính vì tri thức đồng nghĩa với quá
trình của sự sống, tri thức bao gồm nhận thức, cảm xúc và hành vi. Hơn
thế nữa, những sinh vật không có não bộ và thần kinh hệ vẫn có thể
có tri thức. Ngay cả những loài vi trùng cũng có thể nhận thức được một
số đặc tính của môi trường chung quanh. Chúng có thể cảm giác được
sự khác nhau của những hóa chất, và nhờ vậy, chúng di chuyển đến những
chất đường và tránh xa những chất acid. Chúng có thể phân biệt được
nóng lạnh. Cũng có những loại vi trùng có thể cảm giác được những từ
trường chung quanh chúng. Cùng một môi trường sống như nhau, các loài vi
trùng và chúng ta nhìn thành hai thế giới hoàn khác nhau. Thế giới của vi
trùng là thế giới gồm sự nóng lạnh, những từ trường, những hóa chất
khác nhau. Có lẽ chỉ đơn giản thế. Nhưng thế giới của chúng ta thì
đa dạng, muôn mầu muôn vẻ. Mỗi
sinh vật là một phần tử của những thế giới của những sinh vật
khác. Nhờ vậy các sinh vật có thể thông tin lẫn nhau và do đó có thể
có những hành vi phối hợp. Mức độ tinh vi của sinh vật càng cao, phạm
vi tác động với môi trường chung quanh càng rộng lớn hơn. Khi đạt đến
một mức độ tinh vi nhất định nào đó, sinh vật không những tác động
với môi trường chung quanh mà còn tác động với chính bản thân, và như
vậy, sinh vật không những tạo ra một ngoại cảnh mà còn tạo ra một nội
giới nữa. Sáng tạo một nội giới thì dính líu mật thiết đến ngôn ngữ,
tư tưởng và tâm thức. Đó là trường hợp của loài người chúng ta. Mỗi
sinh vật sáng tạo ra một ngoại giới cho riêng mình không có nghĩa rằng
không có một thế giới vật chất bên ngoài. Lý thuyết Theo
lý thuyết Thật
ra kể từ khi khoa học kỹ thuật phát triển, khái niệm về sự tồn tại
một linh hồn độc lập với thể xác đã làm khó khăn không ít trong việc
nghiên cứu khoa học. Sự phân chia đã làm cho việc tìm hiểu quan hệ giữa
tri thức và não bộ trở nên mơ hồ và bế tắc. Sự tồn tại của linh hồn
độc lập với thế giới vật chất dẫn đến khái niệm cho rằng con người
có thể quan sát và mô tả sự vật một cách khách quan. Điều này đã
hoàn toàn tương phản với lý thuyết cơ học nguyên lượng, là một lý
thuyết đã và đang đứng vững trước tất cả những thử thách kiểm chứng
thực nghiệm và đã áp dụng vào các ngành kỹ thuật thành công rực rỡ. Sự
phân chia giữa thể xác và linh hồn cũng đã dẫn đến một sai sót khác:
Xem thế giới vật chất là thứ yếu, chỉ giống như một bộ máy cơ khí.
Do đó phương pháp phân tích được xem như tối hậu trong việc nghiên cứu
thế giới vật chất. Điều này đã làm khó khăn trong việc nghiên cứu về
sự sống. Đối với các bệnh tâm lý và tâm thần chẳng hạn: Phương pháp
phân tích chỉ chú trọng đến việc chữa trị não bộ hay một vài cơ
quan liên hệ khác. Đây là một thiếu sót bởi vì, tâm lý và tâm thần
là một hệ quả không những chỉ đơn thuần sinh lý mà còn tùy thuộc
vào tâm tư tình cảm, đời sống tâm linh, những ảnh hưởng của gia đình,
xã hội và môi trường sống của cả một quá trình sinh trưởng. Phương
pháp phân tích cũng dường như đang bó tay trước những cơn bệnh hiểm
nghèo của thời đại như bệnh AIDS và bệnh ung thư. Chúng
ta không ngạc nhiên rằng các nhà khoa học không cần phải đề cập đến
những khái niệm về linh hồn và thượng đế trong việc nghiên cứu của
họ. Vấn đề nhân
quả, luân hồi và dòng tâm thức. Người
ta thường bảo gieo gió gặt bão, hoặc ở hiền gặp lành. Nhưng phải
chăng đã gieo gió thì 100% sẽ gặt bão? Phải chăng ở hiền thì 100% sẽ gặp
lành? Phải chăng nhân quả là chăc nịch như thế, nhân nào phải quả ấy?
Thật ra đây là thuyết khẳng định, đã có một thời vang bóng. Vốn xuất
phát từ lý thuyết chuyển động của Người
ta hay nói cờ bạc là bác thằng bần. Và nhiều người đều cho rằng cờ
bạc thì tất yếu phải bần cùng. Qủa thật đa số người nghiện cờ bạc
đều tan cửa nát nhà. Nhưng không phải tất cả! Lý thuyết xác suất khẳng
định rằng vẫn có một may mắn (dù nhỏ bé) để người ghiền cờ bạc
trở nên giàu có. Khi
thả một con súc sắc, không ai biết chắc mặt số mấy sẽ xuất hiện.
Có kẻ khuất mặt khuất mày điều khiển con súc sắc? Đừng nghĩ vậy.
Phật sẽ chê chúng ta mê tín dị đoan. Hành động “thả con súc sắc”
có thể có đến 6 hậu quả khác nhau mà không ai có thể biết chắc chắn
hậu quả nào sẽ xẩy ra. Kỳ
quái hơn nữa là đối với những hạt tiềm nguyên tử, đôi khi “quả”
xuất hiện mà chẳng thấy “nhân” nào hết! Một hạt âm điện tử
trong một nguyên tử có thể nhảy vọt một cách ma quái từ mức năng lượng
này xuống mức năng lượng kia, chẳng cần một nguyên nhân nào hết. Ngày
nay thuyết nguyên lượng đã chứng minh sự sai lầm của thuyết khẳng định.
Chỉ cần áp dụng thuyết ấy vào những sự vật cũng đã là một sai lầm,
đừng nói đến áp dụng vào sự sống. Cần nhấn mạnh rằng thuyết
nguyên lượng hiện đang đứng vững qua bao nhiêu thử thách thực nghiệm,
và đang cung cấp cho nhân loại không biết bao nhiêu ứng dụng (hữu ích
có, tai hại có). Lý
thuyết nhân quả còn đi xa thêm một bước: Nếu quả không xảy ra trong kiếp
này thì chắc chắn sẽ xảy ra trong kiếp sau hay kiếp sau nữa. Điều này
dẫn đến thuyết luân hồi. Phải chăng có luân hồi chuyển thế? Những
người tin vào thuyết luân hồi thường cho rằng một bào thai chỉ có thể
hình thành, ngoài tinh cha huyết mẹ làm cơ sở vật chất ra, cần có cái gọi
là Thức (chữ Thức thường được viết hoa) sẵn sàng tham dự vào sự sống
tương lai. Như vậy thai nhi chỉ thông qua cha mẹ để đến với thế gian.
Quan hệ giữa cha mẹ và thai nhi chỉ là một quan hệ duyên nghiệp mà chỉ
những vị đắc đạo như Đức Phật mới thấy rõ được. Tôi
vẫn băn khoăn cái gọi là “Thức” phải sẵn sàng gia nhập mới có thể
có thai nhi. Tôi vẫn nhớ lời nhạo báng của triết học gia Gilbert Ryle,
phê phán thuyết nhị nguyên của Descartes, rằng linh hồn ngự trị trong
thân xác giống như “con ma trong chiếc máy”. Nếu hỏi Descartes – giả sử
ông ta còn sống – “Thức” là gì. Hẳn ông ta trả lời không ngần ngại
rằng đó là linh hồn. Nếu không phải linh hồn thì “Thức” là gì? Nếu
chúng ta tin có kiếp sau một cách hoàn toàn xác định, ví dụ, kiếp này
ông A quá độc ác nên kiếp sau chính ông A đó phải xuống địa ngục.
Như vậy khi ông A chết đi, tuy thân xác biến thành tro bụi, vẫn còn “cái
gì đó” của ông A để xuống địa ngục chịu tội. Phải chăng “cái
gì đó” chính là cái “Thức” chúng ta đề cập trên đây? Và nếu những
người đã đắc đạo như Đức Phật biết ông A ở địa ngục bây giờ
chính là ông A của kiếp trước, thì “cái gì đó” nơi ông A tuy có thay
đổi, tuy kiếp này làm người ở thế gian kiếp sau bị đày đọa ở địa
ngục, nhưng vẫn tồn tại vĩnh viễn, đặc trưng cho ông A. Như vậy phải
chăng “cái gì đó” vĩnh viễn đặc trưng cho ông A na ná giống cái gọi
là “linh hồn” do Descartes chủ xướng? Nếu
“Thức” không phải là linh hồn thì chỉ còn cách xem nó như là quá
trình của bản năng linh động biết tự tổ chức và có tính sáng tạo của
vạn vật. Khi tinh của cha và huyết của mẹ hòa hợp, tinh huyết này sẽ
trải qua quá trình nói trên để hình thành thai nhi. Nếu hiểu “Thức”
theo cách này thì “Thức” vốn chưa hình thành trước khi tinh cha và huyết
mẹ hòa hợp với nhau. Thai nhi ngay từ khi còn trong lòng mẹ đã bắt đầu
tương tác với môi trường chung quanh để tồn tại và phát triển. Vì vậy
“Thức” chính là tâm thức được hình thành trong quá trình học tập
này. Tất nhiên quá trình phát triển của thai nhi không chỉ tùy thuộc vào
môi trường sống mà còn tùy thuộc vào tinh huyết của cha mẹ mà có lẽ
chính yếu là những genes của cha mẹ đã hòa hợp trong thai nhi. Nếu
lý thuyết Phật
Thích Ca không dạy chúng ta rằng luân hồi chuyển thế là một thực tại.
Đạo Bà La Môn đang cực thịnh trong xã hội đương thời của Ngài. Niềm
tin vào luân hồi do đó rất phổ biến thời bấy giờ. Và rất nhiều đệ
tử của Ngài vốn xuất thân từ Bà La Môn giáo. Mục đích của Ngài
không phải để dẫn chúng sanh đi vào những thế giới siêu hình. Tây Phương
Phật không phải là một thế giới huyền bí. Ngài muốn biến địa cầu
thành một Tây Phương Phật. Sự sống đầy phiền muộn khổ đau. Ngài muốn
chúng sanh được giải thoát khổ đau. Giải thoát không phải là trốn
tránh cũng không phải hũy diệt. Giải thoát khổ đau là biến khổ đau thành
hữu dụng để giúp người giúp đời, để cứu nhân độ thế, ngay trên
vùng trời này, ngay cho sự sống khổ đau đang sờ sờ trước mắt. Giải
thoát được khổ đau là niết bàn. Niết bàn không phải là một vùng trời
xa xôi huyền bí. Tuy nhiên nếu có luân hồi, nếu có một vùng trời huyền
bí gọi là Tây Phương Phật hay Niết Bàn thì những lời dạy của Ngài vẫn
hữu dụng, vẫn có thể giúp chúng sanh đến những nơi đó sau cõi đời này.
Hẳn Ngài đã dẫn giải bằng những câu nói tương tự như thế khi Ngài
đối diện với những đệ tử vốn có niềm tin sâu nặng vào luân hồi. Sự
sống luôn luôn có những tác động ảnh hưởng lẫn nhau. Suốt cả quá
trình sự sống, mỗi chúng ta để lại không biết bao nhiêu vết hằn. Có
những vết hằn thì đầy bầm tím. Có vết hằn thì đầy lòng hy sinh cao
cả. Làm thiện, làm ác, cướp của giết người, v.v., đều là những vết
hằn. Chopin đã ra
đi nhưng bản nhạc Tristesse vẫn còn đó. Schubert đã mất nhưng Serenade vẫn
còn đây. Cụ Tố Như Nguyễn Du không còn nữa nhưng chuyện Kiều vẫn trên
môi. Công trình triết học toán học và khoa học mấy trăm năm qua của
Descartes, Phải chăng đó chính là
dòng tâm thức, tiếp tục tồn tại cho dù sau khi thân xác đã rã rời?
Dòng tâm thức này không phải như những vật chết, trái lại rất linh động.
Phật Thích Ca của hơn 25 thế kỷ trước đã trở thành vị Phật lịch sử.
Nhưng Phật Pháp của Ngài (thuộc vào dòng tâm thức) chúng ta vẫn xem như
Phật sống, không phải sao? Chúng ta có thể chọn văn thơ ca nhạc kịch
nghệ khoa học. Tin Chúa thì chọn Kinh Thánh. Tin Phật thì chọn Phật Pháp.
Nếu muốn gây tội ác thì chọn những hành động của Hitler. Muốn hướng
thiện thì cũng có thể nhìn vào những hành động hung bạo đó để tránh
né. Có lẽ cần phải học những bài học đạo đức cơ bản trước khi
bước vào cửa hàng tạp hóa rất đa dạng đó. Khi một
nhạc sĩ đàn bản nhạc Tristesse, bản nhạc đó đã được tái sinh trong
người nhạc sĩ. Khi một nhà thơ ngâm lại chuyện Kiều, những vần thơ
đó đã được tái sinh trong lòng người thi sĩ. Khi một giáo sư giảng dạy
lý thuyết chuyển động của Phật Giáo và
vấn đề siêu hình Tôi
thích đọc những quyển sách về thiền thực hành để có thể tập thiền
ngay cả những lúc bận rộn nhất. Nấu ăn cũng có thể thiền, nghe nhạc
hay xem TV hay đi ngoài đường phố cũng có thể thiền. Tôi đi dạo phố một
chiều đẹp trời hôm nọ, nhớ đến những chương mục nói về thiền đi
bộ. Tôi để ý đến hơi thở của mình theo từng bước đi. Khi khác, tôi
để ý đến nhịp tim. Một lúc khác nữa, tôi lại lắng nghe tiếng cát vụn
xào xạc dưới gót giày. Thật ra bất cứ lần đi bộ nào tôi cũng cố gắng
thực hành hết. Có lúc thành công, theo nghĩa rằng tôi đến chỗ tôi muốn
đến hồi nào không hay, không hấp tấp vội vàng, cũng chẳng thấy mệt mỏi.
Tuy nhiên rất nhiều lần thất bại, nhất là những lúc tôi phải đến đích
đúng giờ hoặc càng sớm càng tốt. Vào những lúc như thế tôi thường mất
sự chú tâm. Chỉ đếm được vài nhịp thở thì quên mất. Dự định
quan sát hoạt động của đèn xanh đèn đỏ, chỉ chú tâm được một lúc
thì xao lãng ngay. Hôm
nay thật đẹp trời. Hiển nhiên tôi tự nhủ lòng “phải tập thiền đi
bộ.” Xác suất để thất bại rất cao nên lần này cũng thất bại. Không
phải vì phố đông người. Tôi thất
bại lần này vì bị thời gian bắt cóc! Tôi thả hồn vui buồn nơi chốn
cũ:
Rồi lúc khác
tôi lại thả hồn lãng mạn như đang nhớ thương ai:
Lúc tỉnh táo
trở lại, tôi lẩm bẩm: Ông già dịch! Nhưng thay vì trở lại tập thiền,
tôi len lén nhìn quanh xem có ai đang cho tôi một cái nhìn chế nhạo nào
không. Tôi chất vấn, nhưng chỉ nói trong bụng thôi:
Bỗng
tôi được cứu, saved by the bell! Bên vệ đường thấy người ta đứng bu
quanh mấy chiếc bàn đầy sách, CDs và DVDs. Tôi tiến lại gần xem. Toàn
sách và đĩa nói về Phật Giáo. Hơn nữa, tất cả đều tặng miễn phí.
Tôi tham lam chọn hầu hết, mỗi thứ một bản. Tôi vui mừng thầm nghĩ: Về
nhà tha hồ xem. Tất nhiên có nhiều bổ ích, chẳng hạn những bài giảng
về đạo đức ngũ giới thập giới hay những chuyện về Phật Thích Ca trước
khi xuất gia. Tuy nhiên khi xem một số khác, tôi không khỏi trầm ngâm suy
nghĩ: Phải
chăng Phật Giáo quá chú trọng về thế giới siêu hình? Động cơ thúc đẩy
Phật Thích Ca xuất gia là để cứu khổ trần gian. Trần gian đầy khổ
đau. Sanh lão bệnh tử là khổ đau. Tham sân si là khổ đau. Kỳ thị giai cấp,
kỳ thị chủng tộc, thủ cựu, mê tín dị đoan, áp bức bóc lột, cường
hào ác bá là khổ đau. Chiến tranh là khổ đau. Xã hội đương thời của
Ngài là như thế. Và bây giờ dường như cũng chẳng khác bao nhiêu. Nhưng
phải chăng lời dạy của Ngài là lời hứa hẹn sẽ đưa chúng sanh đến
một thế giới siêu hình vĩnh cửu đầy cực lạc? Chẳng
hạn, khái niệm “bồ tát” nguyên thủy là một khái niệm rất hiện thực,
không mang một sắc thái siêu hình nào. Người ta thường gọi thái tử Tất
Đạt Đa sau khi xuất gia và trước khi đắc đạo thành Phật là một vị
Bồ Tát. Sau khi Ngài đã thành Phật, danh xưng bồ tát được dành cho những
vị sắp đắc đạo, sắp vượt qua dòng sông, là người sắp trở thành một
vị la hán hay một vị phật. Nói chung, bồ tác là người, không phải thần
thánh. Họ cùng chung sống với chúng ta. Họ nhìn thế giới chung quanh họ
như một Tây Phương Phật trong lúc tầm nhìn của chúng ta có thể hoàn
toàn khác hẳn, khi lên khi xuống khi vui khi buồn khi thương khi giận. Một
ví dụ về những thế giới chủ quan có thể có của đa số chúng ta:
Tuy
những vị bồ tát và chúng ta có thể bắt tay nhau, nhưng mỗi người lại
nhìn vạn vật bằng những khung trời khác nhau. Dù vậy họ không bao giờ
tự xem mình cao quý hơn, thuộc giai cấp thượng tầng, để rồi kỳ thị
người khác. Trái lại họ hòa mình hợp tác và giúp đở kẻ khác mà họ
luôn luôn xem như đồng loại, vì họ hiểu rất sâu sắc rằng giữa họ
và những người khác, tuy hai mà một. Họ tạo cho mọi người một niềm
tin yêu ngay trong cõi đời này, mắt thấy tai nghe. Thế giới của những người
khác như đang xích lại gần với thế giới của những vị bồ tát đó. Nhưng
rồi, theo thăng trầm của thời gian, những vị bồ tát cứu khổ cứu nạn,
có hình hài, có xương có thịt đó dần dần “bị” siêu hình hóa, biến
mất khỏi trần gian. Thế giới của họ là một Tây Phương Phật xa xôi
huyền bí. Niết Bàn cũng vậy, vô cùng huyền bí. Dòng tâm thức biến
thành những thứ thiêng liêng có linh hồn. Chúng sanh muốn tìm hiểu, nhưng
câu trả lời rất gọn nhẹ: Không thể mô tả những huyền bí đó những
thiêng liêng đó bằng ngôn ngữ hay lời nói. Chúng sanh được giáo hóa rằng
muốn đến được những nơi đó cần phải tu hành vô số kiếp, phải khấn
vái cầu xin những đấng linh thiêng ra tay phò hộ. Nếu vụng tu hay sống một
đời sống vô đạo thì bị hăm dọa rằng kiếp sau sẽ bị đày xuống Địa
Ngục, một nơi huyền bí khác, vô cùng ghê rợn. Chúng
sanh vốn si mê lầm lạc, nói sao nghe vậy. Cố gắng làm theo lời giáo
hóa. Nhưng đường xa vời vợi, đến hàng ngàn hàng vạn kiếp, đầy gian
nan, lại không có những bàn tay thiết thực giúp đở như thời vàng son xa
xưa của tiền nhân. Họ ngao ngán. Họ chán nản. Và đa số bỏ cuộc. Thật
khó tin rằng Phật Thích Ca chú trọng đến những thế giới siêu hình
trong lúc Ngài bác bỏ chủ thuyết về một linh hồn bất diệt. Khi người
ta hỏi Ngài sau cõi đời này Ngài sẽ đi về đâu, Ngài trả lời đây là
vấn đề không có giá trị thảo luận. Ngài thường khẳng định lập đi
lập lại rằng quan tâm duy nhất của Ngài là sự đau khổ của chúng sanh.
Ngài đi tìm con đường giải thoát cho chúng sanh hoàn toàn không nghĩ đến
một phần thưởng nào cho cá nhân mình, dù phần thưởng đó thuộc vào thế
gian này hay thuộc vào một thế giới siêu hình (nếu có) nào đó. Ngài chỉ
biết mình làm những việc cần phải làm hầu giải thoát sự khổ đau của
chúng sanh. Ngài muốn xây dựng một Tây Phương Phật ngay trên đia cầu này. Nhưng
tại sao Phật Giáo bị siêu hình hóa? Thật ra Phật Giáo không hề bị
siêu hình hóa trong lòng rất nhiều Phật tử, nhất là Phật tử ngày nay.
Nhưng qua nhiều kinh sách (được viết từ mấy thế kỷ sau khi Phật quy tiên
và vẫn được lưu truyền cho đến nay) chúng ta có thể thấy Phật Pháp
đã nhấn mạnh khá nhiều về những cảnh giới siêu hình. Có thể chăng
do khoa học còn phôi thai? Có thể chăng khi Phật Giáo lan truyền sang các nước
khác, vì thường phải tìm cách ăn khớp với những tín ngưỡng địa
phương, Phật Pháp đã dần dần biến hóa? Phải chăng có những nhóm muốn
siêu hình hóa Phật Giáo với ý đồ thống trị: Xem Phật chẳng khác nào
thượng đế, để rồi muốn chúng sanh nghe theo mệnh lệnh của mình, chỉ
cần “hù” rằng mệnh lệnh đó là ý của Phật? Tôi nghĩ đây là một
vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Có
kiếp sau tức phải có linh hồn, hơn nữa linh hồn đó là bất diệt. Cho
dù kiếp sau có biến đổi so với kiếp trước, chẳng hạn trở thành dốt
hơn hay thông minh hơn, trở thành hung bạo hơn hay đạo đức hơn, trở thành
khác phái, v.v., linh hồn đó vẫn tồn tại, tồn tại vĩnh viễn. Rõ ràng
Phật không dạy chúng sanh có một linh hồn như vậy. Phật đã từng dùng
những ví dụ về hậu kiếp trong nhiều bài giảng của Ngài. Nhưng tôi tin
Ngài chỉ xem những ví dụ đó như những huyền thoại, cần phải dùng đến
khi những người nghe là những người quá mê tín về luân hồi chuyển thế.
Nếu có ai hỏi Ngài có tin luân hồi không, Ngài sẽ trả lời – một
cách Trung Đạo – rằng nếu có thì bài giảng của Ngài vẫn có giá trị
hữu dụng. Nếu có người khư khư muốn Ngài chỉ trả lời một cách khẳng
định “có” hay “không”, Ngài sẽ nói “những vấn đề siêu hình
không có giá trị thảo luận”. Khoa học bây giờ cũng chỉ có thể trả
lời như thế. Trả lời “chắc chắn có” hoặc “chắc chắn không”
trong lúc chưa thể chứng minh được một cách khoa học là những câu trả
lời cực đoan. Tôi
xem đĩa DVD vừa mới mang về nhà, giảng về Kinh Địa Tạng. Từ đầu đến
cuối, tôi chỉ nghe thấy toàn những hình ảnh ghê rợn ở những vùng núi
non âm u ma quái, nơi đó gồm những người bị đày sau khi lìa trần. Và
khỏi phải nói, cực hình tra tấn thì triền miên. Sống mà có tội thì
sau khi chết sẽ bị đày xuống đó. Chỉ câu nói này cũng đủ hàm ý mỗi
người có một linh hồn và linh hồn đó tồn tại vĩnh viễn. Điều này
hoàn toàn trái ngược với lời dạy của Phật. Hơn nữa cuốn phim không
nói lên một lời khuyên bảo nào hết, chỉ nói đến toàn những tra tấn
cực hình như là những lời răng đe khủng bố hăm dọa. Tôi nghĩ những
cuốn phim như thế này chỉ làm cho giới trẻ ngày nay xem Phật Giáo như là
một tôn giáo mê tín dị đoan không hơn không kém. Ngày
nay đa số đều có cơ hội cắp sách đến trường. Đa số đều có những
kiến thức khoa học cơ bản. Mê tín dị đoan vẫn còn đó, nhưng đang trên
đà xuống dốc. Bất cứ một lý thuyết nào khẳng định sự tồn tại những
thế giới siêu hình đều có thể bị họ cho là một lý thuyết mê tín dị
đoan. Và tôi tin rằng nhiều người suy nghĩ như vậy. Tuy đó là cực đoan
nhưng tôi thiển nghĩ đa số không còn thích nghe những hứa hẹn hão huyền
về những miền cực lạc hay thiên đàng nữa. Họ chỉ muốn phiền não lo
âu đau khổ giảm xuống và bình yên hạnh phúc vui tươi tăng lên, không phải
cho kiếp sau, mà cho ngay sự sống hiện tại của họ. Rót vào tai họ những
thế giới siêu hình mỹ miều chỉ làm họ xa dần với Phật Giáo. Linh
thiêng hoá và thần thánh hóa Phật và các vị bồ tát càng làm họ xem Phật
Giáo như một đạo thần quyền, điều mà Phật Thích Ca luôn luôn bác bỏ. Einstein
từng nói “Một tôn giáo thiếu khoa học là một tôn giáo què quặt.” Một
tôn giáo chỉ đáng tin cậy khi tôn giáo đó không những bao trùm toàn bộ
khoa học hiện tại mà còn bao trùm cả những phát triển khoa học trong tương
lai. Tương lai thì chưa đến. Chúng ta chưa thấy được những phát triển
khoa học sẽ đến. Làm sao để có thể chọn một tôn giáo đáng tin cậy?
Phật Giáo quả thật là một tôn giáo đáng tin cậy. Phật có bảo chúng
ta rằng những lời dạy của Ngài không phải là những giáo điều bất di
bất dịch. Phải biết áp dụng đúng từng hoàn cảnh thời gian và không
gian chính là lời dạy của Ngài. Những niềm tin hoàn toàn trái ngược với
khoa học cần phải hũy bỏ. Những niềm tin mà khoa học đang dè dặt cần
được nghiên cứu kỹ lưỡng ăn khớp với những bước tiến của khoa học.
Chỉ cần Phật Giáo đi những bước đường như thế thì Phật Giáo sẽ
luôn luôn là một tôn giáo đáng tin cậy nhất. Niềm hy vọng Bị
ám ảnh bởi những cái thế giới siêu hình huyền bí, con người luôn
luôn cố gắng tìm hiểu. Bây giờ họ có máy truyền thanh truyền hình,
máy vi tính, internet, v.v. Hẳn người thời xưa xem những thứ đó như huyền
bí. Thế giới bây giờ là huyền bí của thế giới ngày xưa. Muốn dùng
ngôn ngữ để diễn tả thế giới ngày nay hẳn không khó. Họ bắt đầu
quen dần với hai chữ huyền bí, nhưng họ tin rằng huyền bí vẫn là những
thứ có thể dùng ngôn ngữ để diễn tả. Nhưng họ vẫn không thể hình
dung ra những cái thế giới siêu hình mà người ta đã giáo huấn họ. Phải
chăng thế giới siêu hình đó chẳng qua là tương lai của thế giới chúng
ta ngày nay? Họ nghĩ đến vũ trụ với hàng tỷ thiên hà, và mỗi thiên
hà có hàng tỷ những vì sao. Hẳn phải có rất nhiều thái dương hệ na ná
thái dương hệ của chúng ta. Và có thể có nhiều thái dương hệ như thế
có chấp chứa sự sống. Những sự sống đó có giống sự sống trên địa
cầu không? Văn minh hơn? Lạc hậu hơn? Phải chăng những thế giới siêu
hình nói trên có thể là những thế giới xa xôi trên các thái dương hệ
đó? Tất nhiên họ không trả lời được. Nhưng
chính những bế tắc này đã phấn chấn họ. Họ nhớ đến hình ảnh Phật
Thích Ca ngày xưa vì theo con đường tu khổ hạnh mà đã kiệt sức suýt bỏ
mạng. Nhờ đó Ngài đã khám phá ra Trung Đạo và đã tu thành Phật. Đối
với chúng sanh bây giờ, chính sự ngờ vực về cái thế giới siêu hình
huyền bí kia đã thúc dục họ đổi hướng đi trở lại: Xây dựng một
Tây Phương Phật ngay trên địa cầu này trước đã. Chúng
ta không ngạc nhiên thấy Phật Giáo đã biến đổi những bước nhảy vọt
trong nhiều thập niên vừa qua. Nhiều hội nghị Phật Giáo đã được tổ
chức tại nhiều nơi trên thế giới, thảo luận về hướng đi của Phật
Giáo ngày nay. Những phong trào Phật Giáo nhập thế, Tân Phật Giáo được
xem là những bước tiến của Phật Giáo mà trọng tâm là sự sống hiện
tại trên địa cầu. Tất nhiên, mù quáng chấp nhận những phong trào này
hoặc nhắm mắt bác bỏ chúng một cách thiếu suy xét là những cực đoan.
Chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng để hội nhập những điểm tốt đẹp và
để tránh những điểm không có lợi cho Phật Giáo. Hội nghị quốc tế sắp
được tổ chức tại viện nghiên cứu Phật học, thành phố Hồ Chí Minh,
Việt Nam, sẽ là một cơ hội để Phật Giáo thế giới tham gia đóng góp
ý kiến về đường lối đối phó và đóng góp của Phật Giáo trước những
thách thức nóng bỏng của thời đại như nạn gia tăng dân số thế giới,
nạn khủng bố, quan hệ giữa các tôn giáo, các bệnh dịch thời đại
như dịch cúm gà, hiệu ứng nhà xanh, vấn đề dân chủ và nhân quyền, vấn
đề truyền thông trong thời đại mới, vấn đề toàn cầu hóa, v.v. Đối
với Phật Giáo Việt Nam, cần tìm những hướng đi và phương pháp giáo dục
hữu hiệu để đóng góp cho thế giới, cho văn hóa dân tộc, cho thế hệ
trẻ rường cột của nước nhà, v.v. Hy vọng
trong một tương lai gần, thế giới chúng ta sẽ tràn đầy những vị bồ
tát đúng với ý nghĩa nguyên thủy của nó. Phật sẽ mỉm cười thấy công
lao của Ngài không bị hoang phí. Phật
muốn biến sự sống trên thế gian này không còn tham sân si, không còn gia
cấp, không còn hận thù chém giết. Thế giới này phải là một thế giới
vị tha, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái. Thế giới này phải là
chân thiện mỹ, phải là niết bàn. Những câu hỏi, chẳng hạn, anh thuộc
giai cấp nào, anh thuộc tôn giáo nào, anh là người nước nào, v.v., sẽ trở
nên không còn ý nghĩa trong khung trời niết bàn đó. Nhưng
từ đây tới đó đường còn dài thật dài. Thế giới hiện tại của
chúng ta là một thế giới đa hình đa dạng, tốt xấu có đủ. Liệu Phật
Giáo có thể giúp chúng sanh thu ngắn thời gian để biến chốn hồng trần
này thành một niết bàn không? Quả đây là điều không tưởng. Tham lam vẫn
còn đó. Hận thù vẫn còn đó. Hiếp bức vẫn còn đó. Ranh giới tôn
giáo và ranh giới quốc gia vẫn còn đó. Phải cần thời gian. Và vào mỗi
giây phút trong khoảng thời gian đó, Phật Giáo càng có những nhạy bén để
có thể bước vững vàng trên Trung Đạo. Thế
giới hiện tại là một thế giới đa dạng. Chúng ta không thể không chấp
nhận những ranh giới tôn giáo cũng như những ranh giới quốc gia. Và Phật
Giáo có trách nhiệm biến đổi những hận thù cạnh tranh giành giựt chém
giết chiến tranh giữa tôn giáo và tôn giáo, giữa quốc gia và quốc gia
thành những hợp tác tương thân tương trợ thương yêu và tôn trọng lẫn
nhau. Nhiệm vụ của Phật Giáo là thuyết phục những nước văn minh giàu
có giúp đở tương trợ những nước nghèo khó chậm tiến trong những lĩnh
vực kinh tế tài chánh, khoa học kỹ thuật và y tế. Phật Giáo phải tạo
điều kiện tốt trao đổi học tập văn hoá phong tục tập quán lẫn nhau
để hiểu nhau hơn và từ đó tôn trọng lẫn nhau hơn. Đó chỉ là một
vài ví dụ trong rất nhiều nhiệm vụ quốc tế khác mà Phật Giáo phải
đương đầu. Phải đối phó như thế nào trước sự kỳ thị chủng tộc,
kỳ thị tôn giáo, trước chiến tranh cá lớn nuốt cá bé, chiến tranh khủng
bố, … Tất
nhiên con đường Phật Giáo đi là Trung Đạo. Mọi vấn đề Phật Giáo phải
đương đầu đều phải phù hợp với Trung Đạo. Phật Giáo chủ hòa bất
bạo động. Phật Giáo không bao giờ là một đe dọa của bất cứ một quốc
gia nào. Đây là một điều thuận lợi để Phật Giáo có thể tiếp xúc với
tất cả những phe đối nghịch trong mọi cuộc xung đột. Phật Giáo không
tin vào thần quyền, cuồng tín, mê tín dị đoan:
Trong
mỗi quốc gia, Phật Giáo và chính quyền không thể không có quan hệ lẫn
nhau. Bảo rằng Phật Giáo có thể tồn tại độc lập với chính quyền
là một điều thiếu thực tế. Nếu được sự ủng hộ của chính quyền,
việc hoằng pháp sẽ thuận tiện gấp bội lần. Tôi có xem cuốn phim tài
liệu về việc trùng tu chùa Thánh Duyên ở Huế. Mối quan hệ hài hòa giữa
chính quyền địa phương và Giáo Hội Phật Giáo Thừa Thiên Huế đã tạo
thuận lợi cho việc trùng tu được thành công mỹ mãn. Có thể nói đây
là một dấu hiệu tốt cho Phật Giáo Việt Nam. Tuy
nhiên nếu Phật Giáo trở thành một con cờ bù nhìn của chính quyền thì
chính Phật Giáo sẽ khó có thể bước vững trên Trung Đạo, đừng nói
chi việc dìu dắt chúng sanh giải thoát khổ đau. Để tránh điều này, Phật
Giáo cần có một đội ngũ gồm những vị bồ tát “sống” với đầy
đủ từ bi trí huệ để có thể góp ý chính quyền trong việc trị quốc
an dân, ngăn cản chính quyền thi hành những chính sách có thể nguy hại
cho tổ quốc, cho dân tộc. Đồng thời cần bày tỏ thái độ cứng rắn
trước những tệ nạn như tham ô bạo quyền bất công. Được như vậy Phật
Giáo mới có thể đưa dân tộc Việt Nam xích gần với Trung Đạo hơn. Đối
với những chính sách của chính quyền có liên hệ đến chết chóc như
án tử hình, và quan trọng nhất là khi đất nước bị đe dọa chiến
tranh xâm lăng, thái độ của Phật Giáo phải như thế nào? Buôn lậu á
phiện thì có thể tử hình. Phật Giáo nghĩ sao khi biết rằng á phiện đã
làm biết bao nhiêu người trở nên nghiện ngập tan cửa nát nhà và chết
chóc? Tuy Phật Giáo chủ trương không sát sanh, nhưng phải chăng tội tử hình
luôn luôn là sai trái? Việt Nam đã có rất nhiều kinh nghiệm với giặc
ngoại xâm. Nhìn lại những kinh nghiệm đó, Phật Giáo Việt Nam hẳn đã
rút tỉa được những bài học quý giá. Nếu có một đe dọa tương tự
trong tương lại, Phật Giáo sẽ có kế gì hay để hiến nhà nước? Nên
hòa? Nên chiến? Án tử
hình hay chiến tranh chống ngoại xâm, tất cả đều tùy thuộc vào nhiều
yếu tố, kể cả không gian và thời gian. Không thể có những sách kế bất
di bất dịch như những giáo điều không bao giờ thay đổi. Nếu phải giết
một người để cứu hàng trăm hàng ngàn người, Phật Giáo nghĩ sao? Nếu
bị ngoại xâm, Phật Giáo phải làm sao để có thể duy trì hòa bình đất
nước? Phải chăng Phật Giáo sẽ không bao giờ sát sanh dù trong bất cứ
tình huống nào? Nếu vậy phải chăng chủ thuyết “không sát sanh” đã
trở thành một giáo điều bất di bất dịch? Tôi cho rằng những vấn đề
này cần được thảo luận kỹ lưỡng. Có
được quan hệ tốt với chính quyền quả thật không dễ. Hoằng pháp để
cứu vớt chúng sanh lại là một nhiệm vụ còn khó khăn hơn. Trong việc
truyền Pháp, Phật Giáo phải đương đầu với vấn đề đạo đức. Xã hội
hiện tại quả thật có quá nhiều tệ nạn. Trong một xã hội tiêu thụ
như hiện nay, dường như mọi thứ tình cảm đều được đánh giá trên
tiền bạc. Hành hung cướp giật xảy ra gần như cơm bữa. Rồi nạn nghiện
ngập ma túy. Phật Giáo cần tìm những phương thức hữu hiệu để đối
phó với những tệ nạn đó. Cuối
cùng, để kết thúc bài này, tôi xin vắn tắt đóng góp hai điểm về việc
dịch kinh sách và việc trang trí chùa chiền tại Việt Nam, hầu giúp người
Việt hiểu nhiều hơn và tự hào hơn về Phật Giáo Việt Nam. Trong
mấy quyển sách biếu không hôm tôi đi dạo phố, có một vài quyển Kinh.
Đọc những quyển Kinh đó quả thật rất khó khăn đối với tôi. Dường
như hầu hết những từ ngữ đều được phiên âm thay vì dịch
từ chữ Hán. Tôi không có vốn liếng chữ Hán. Và tôi tin rằng ngày nay
đa số người Việt cũng đều như tôi. Tôi đã đọc nhiều kinh kệ dịch
từ ngôn ngữ Pali hay Sanskrit sang tiếng Anh. Rất nhiều dịch giả vẫn than
phiền rằng thật không dễ dàng tí nào trong việc dịch Kinh. Có nhiều từ
của ngôn ngữ này không dễ gì tìm được từ hoàn toàn tương đương
trong ngôn ngữ kia. Hẳn các dịch giả Việt Nam cũng đã từng thấm thía
những khó khăn này, nhất là khi phải dịch Kinh. Nhưng theo tôi, cuối cùng
các dịch giả phải làm điều đó. Phải dịch, không thể chỉ phiên
âm. Nói chung, cần phải phổ thông hóa kinh sách. Được như thế, người
đọc sẽ dễ hiểu hơn, do đó hứng thú hơn, và Kinh Phật sẽ được phổ
biến rộng rãi và nhanh chóng hơn. Đối
với các chùa, dường như chỉ có tên chùa là được viết bằng tiếng Việt,
còn hầu hết các thứ khác, như các bức hoành, các câu đối câu liễn,
viết toàn chữ Tàu. Bình dân bá tánh đi ngang chùa nhìn vào, họ chỉ thấy
nhưng không hiểu. Họ đành tiếp tục bước đi. Cửa chùa thì mở rộng
mà họ thấy như đang đóng kín. Việt Nam thoát ách đô hộ của Tàu đã
lâu. Tiếng Việt cũng đã được phổ thông hóa từ lâu. Nhưng những ngôi
chùa vẫn như thời xa xưa, vẫn giống như chùa Tàu trên đất Việt. Theo tôi,
phải Việt Nam hóa những ngôi chùa Việt Nam! Những ngôi chùa xây trong tương lai phải 100% Việt Nam. Nếu
phải dùng những ngôn ngữ khác thì đó chỉ là phụ, chỉ để giúp du
khách nước ngoài tìm hiểu mà thôi. Chùa Việt phải dùng tiếng Việt cho
dân Việt. Tất nhiên có những ngôi chùa xây dựng từ xa xưa, nổi tiếng
và đã trở thành lịch sử, cần được giữ nguyên vẹn những di tích lịch
sử quý giá đó. Phật
Giáo đã đến với Việt Nam 2000 năm nay. Chắc chắn ai cũng mong muốn kho tàng
văn hóa Phật Giáo Việt Nam được phổ biến rộng rãi trong lòng mỗi người
dân Việt. Sách tham khảo: ·
Majjhima
Nikaya, translated by
bhikkhus Nanamoli & Bodhi, The Middle Length Discourses of The Buddha, Wisdom
Publications, USA, 1995 ·
Digha
Nikaya, translated by
Maurice Walshe, The Long Discourses of The Buddha, Wisdom Publications, USA, 1995 ·
Brazier, D., The
New Buddhism, Constable & Robinson, London, 2001 ·
Brazier, D., The
Feeling Buddha, Constable & Robinson, London, 2001 ·
Maturana, H. R.
& Varela, F. J., The Tree of Knowledge, Shambhala, Boston & London, 1998 ·
Silver, B. L., The
Ascent of Science, Oxford University Press, New York, 1998 ·
Capra,
F., The Turning Point, Simon & Schuster, New York, 1982 ·
Capra, F., The
Web of Life, Flamingo, London, 1997.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com