
QUAN NIỆM VỀ ÔNG TRỜI CỦA NGƯỜI
VIỆT Charlie
Nguyễn (Bùi văn Chấn) Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Có lẽ chỉ có người Việt nam “dám”
gọi Trời bằng Ông mà thôi vì chúng ta không hề thấy một cách gọi tương
đương trong các ngôn ngữ khác. Chúng ta không hề thấy người Tàu gọi
“Ngọc hoàng Thượng đế” là Ngọc hoàng tiên sinh, Thượng đế tiên
sinh hoặc Hoàng thiên tiên sinh.... Chúng ta cũng không hề thấy người Anh
hoặc người Pháp gọi Thiên Chúa là Mr. God! Monsieur Dieu!.... Hơn thế nữa,
người Việt Nam còn tỏ thái độ xem thường ông Trời qua cách gọi Trời
là “Con Tạo” hoặc “Trẻ Tạo Hóa”, thậm chí còn gọi con cóc là cậu
ông trời! - “Con
cóc là cậu ông trời Hễ
ai đánh nó thì trời đánh cho” (Ca
dao) - “Trẻ
tạo hóa đành hanh quá ngán” (Nhị Độ Mai) - “Đố
kỵ sá chi con tạo Nợ
tang bồng quyết trả cho xong” (Nguyễn Công Trứ) Đối với người Việt Nam bình
dân, “Ông Trời” cũng tương tự như “Ông Trăng” “Ông Sao” mà
thôi, tuyệt nhiên không hề có ý nghĩa là Đấng Tối Cao hoặc Đấng Toàn
Năng theo quan điểm của Kitô giáo. Một sĩ phu nổi tiếng trong Phong trào
Cần Vương là Trần cao Vân đã lột tả quan niệm của ông về “Ba Ngôi”
trong vũ trụ là: Trời, Đất, Người (Thiên - Địa –Nhân) có mối tương
quan đồng cảm và đồng dẳng qua bài thơ sau đây: Trời
đất sinh ta có ý không? Chưa
sinh trời đất, có Ta trong Ta
cùng Trời Đất, ba Ngôi sánh Trời
đất sinh ta một chữ Đồng Đất
nứt ta ra, Trời chuyển động Ta
thay trời mở đất mênh mông Trời
che đất chở, ta thong thả Trời,
Đất, ta đây đủ hóa công. Đối với Hồi giáo, Do thái giáo
và Ki tô giáo, các tín đồ đều được gọi là “những kẻ kính sợ
Chúa” (God-fearers). Trái lại, người Việt -
Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều! hoặc cứ liều làm theo ý mình và mặc
cho trời muốn làm gì thì làm: -
Cũng liều nhắm mắt đưa chân Thử
xem Con tạo xoay vần đến đâu. (Nguyễn
Du) Ý niệm thông thường nhất của
người Việt Cao
cao muôn trượng ấy là Tao Dẫu
pháo thăng thiên chẳng tới nào Nhắn
bảo dưới trần cho chúng biết Tháng
ba, tháng tám tớ mưa rào. Khi người Việt nam nói “trời mưa”,
“trời nắng” thì chỉ có nghĩa là thời tiết mưa hay nắng chứ không hề
có nghĩa là “Đức Chúa Trời mưa” hay “Đức Chúa Trời nắng”! Nguyễn Bính có hai câu thơ rất hay: Nắng
mưa là bệnh của trời Tương
tư là bệnh của tôi yêu nàng Trời của Nguyễn Bính trong câu thơ
trên cũng chỉ là thời tiết mà thôi. Trong những trường hợp khác, Trời
được hiểu là Luật thiên nhiên trong vũ trụ như: -
Cha mẹ sinh con, trời sinh tính -
Trời sinh, trời dưỡng -
Trời sinh voi, trời sinh cỏ Người Việt nam bình dân cũng quan
niệm “Ông Trời” như số mệnh của con người hoặc số phận được
quyết định bởi những yếu tố vuợt quá tầm kiểm soát của con người,
chẳng hạn như: Ngẫm
hay muôn sự tại trời (số mệnh !) Trời
kia đã bắt làm người có thân Bắt
phong trần phải phong tràn Cho
thanh cao mới được phần thanh cao Nguyễn Du hay: Trời
sao ăn ở chẳng cân Kẻ
ăn không hết, người lần chẳng ra Ông Trời cũng có thể được hiểu
là luật Nhân Quả, nếu ta cố gắng tu thân và có lòng nhân ái, chắc chắn
sẽ gặt kết quả tốt: Trời
sinh, trời ắt đã dành phần Tu
hãy cho bền, dạ có nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm -
Có trời mà cũng có ta Tu
là cõi phúc, tình là dây oan (Nguyễn
Du) Trên đây là những ý niệm của người
Việt nam về ông Trời đã được thể hiện qua ca dao, tục ngữ và văn
chương bác học, tuyệt nhiên không có ý nghĩa là Đấng Tòan Năng hoặc
Thiên Chúa của đạo Kitô. Ông Trời trong tâm thức của người Việt
nam luôn luôn chân chất hồn nhiên và rất hiền hòa, hòan tòan trái ngược
với Thiên Chúa trong Kinh thánh Cựu ước là một ác thần hay đúng hơn là
một ác quỷ. Vả lại, nước ta vốn là một nước
nông nghiệp, truyền thống dân giả Việt nam vốn tin vào Trời như sự tuần
hoàn tự nhiên của vũ trụ thiên nhiên. Người nông dân luôn luôn phải
quan sát thiên nhiên để đoán trước các biến chuyển về thời tiết hầu
ứng dụng vào công cuộc trồng cấy: Trông
trời, trông đất, trông mây Trông
mưa, trông gió, trông ngày trông đêm Trông
cho chân cứng đá mềm Trời
êm bể lặng mới yên tấm lòng Khi thấy người dân Việt nam hay
nói đến Trời, các mục sư Tin lành và các tu sĩ Công giáo mừng khấp khởi
như bắt được vàng. Các vị này đã hết sức trổ tài hùng biện để
chứng minh rằng: Mỗi khi người Việt nam kêu “Trời ơi!” chính là lúc
họ kêu cứu một đấng Thiên Chúa đang làm chủ trên vòm trời xanh! Họ trí trá ca ngợi cái kho tàng bốn
ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt nam có một giá trị cao quí nhất
là niềm tin vào ông Trời. Các mục sư Tin lành và các linh mục Công giáo
truyền đạo ra sức gò ép ý niệm Ông Trời Việt nam vào ý niệm Thiên
Chúa của đạo Kitô. Đây là một thủ đoạn gian trá nhằm vào mục đích
xiềng xích trì trệ chất phác của người dân quê Việt nam vào những
cái khung cứng ngắc của niềm tin giả tạo vào Thiên Chúa của họ. Những hành động này hoàn toàn tương
phản với tâm hồn chất phác của người dân Việt vốn chỉ tin tưởng vào
Thiên Nhiên và Định Mệnh con người mà thôi. Có nhiều trí thức và tu sĩ Công
giáo khai thác ý niệm Ông Trời Việt nam để truyền đạo. Chúng ta có thể
nêu lên một số trường hợp điển hình sau đây: 1. Linh mục (Lm) Trần cao Tường:
Trên báo “Thế kỷ 21” số 125 tháng 9/99 có đăng bài “Đạo kính tổ
tiên, điểm gặp gỡ chung cho các tín ngưỡng Việt” của Lm Trần cao Tường.
Trong bài này, Lm Tường cố ý xuyên tạc đạo hiếu và Ông Trời để phục
vụ cho mục tiêu truyền đạo. Lm Tường viết: “Có thể nói, niềm tin
vào ông Trời đã có sẵng trong tâm thức người Việt trước cả khi các
tôn giáo du nhập...” Cuối cùng, Lm Tường cố ý gán ghép ý niệm Ông Trời
(tức Thiên Nhiên) của dân tộc Việt với ý niệm Thiên Chúa của đạo
Kitô (The Christian God). Khi gán ghép như vậy, Lm Tường đã tự tố cáo sự
hiểu biết nông cạn của mình vì thực sự ông ta không hiểu gì về sự
khác biệt như nước với lửa giữa Ông Trời Việt nam và Thiên Chúa ba
ngôi của đạo Kitô. Tôi sẽ phân tích rõ về sự khác biệt ở phần cuối
bài này. 2. Trí thức Công giáo Nguyễn huy
Lai: Ông lai là một trí thức Công giáo sinh trưởng tại Hà nội. Cuối
thập niên 1920 ông du học tại Báo Đất mẹ (số 103, tháng 2/2003,
trang 23) trích dịch một phần sách của ông Lai, trong đó có đoạn viết:
“Ông Trời được người Việt nam tôn kính không phải là một ông thần
hộ mệnh mà là một Thiên Chúa Ngôi vị (Dieu personnel / Thiên Chúa Ba ngôi)
ngự trị trên các tầng trời”. Trường hợp của trí thức Công giáo
Nguyễn huy Lai cũng như Linh mục Trần cao Tường nói trên, cả hai đều không
nhận ra sự khác biệt sâu xa giữa Ông Trời Việt nam và Thiên Chúa của
đạo Kitô (tức Thiên Chúa Ba ngôi). Đây là sự khác biệt như hai thái cực
tương phản khiến cho không một ai có thể đồng hóa được. 3. Linh mục Giuse Trương đức Kỷ
tức Cao phương Kỷ, giáo sư môn thần học tại nhiều chủng viện Việt
nam và Hoa kỳ, tác giả sách “Thiên Chúa giáo và Tam giáo”, 536 trang, xuất
bản tại Mỹ năm 2000. Đây là một cuốn sách triệt để khai thác và
xuyên tạc ý niệm Ông Trời để phục vụ cho nhu cầu truyền đạo Kitô. Trong Lời giới thiệu, Lm Trần công
Nghị (thuộc Hội đồng Chỉ đạo Liên tôn) đã viết về tác giả của
cuốn sách như sau: “Sọan giả nêu ra những chân lý chung làm nền tảng
mà bất cứ giáo phái nào cũng công nhận... mẫu số chung cho các tín ngưỡng
của người Việt nam là niềm tin ở Ông Trời, tức Đấng Siêu Việt”. Rõ ràng một điều là cả Lm Trần
công Nghị lẫn Lm Cao phương Kỷ đã cương ẩu vì trong ca dao tục ngữ cũng
như trong thi phú Việt nam chẳng có câu nào ca ngợi Ông Trời là “Đấng
Siêu Việt” cả. Ngay danh xưng “Ông Trời” cũng đã hàm ý - phủ nhận
cái ý nghĩa “Đấng Siêu Việt” rồi, vì liệu Lm Cao phương Kỷ có thể
gọi Đấng Siêu Việt là “Ông Siêu Việt” được không? Nếu coi Trời
là Đấng Siêu Việt thì tại sao người Việt nam lại gọi Trời là Con Tạo,
Trẻ Tạo Hóa, con cóc là cậu ông Trời? Chẳng lẽ con cóc là cậu của Đấng
Siêu Việt? Nơi trang 4 sách dẫn chiếu, Lm Cao phương
Kỷ ca ngợi cố đạo Alexandre de Rhodes là người am trường tín ngưỡng đặc
biệt của Việt nam: “Cha Đắc Lộ đề cao niếm tin cổ truyền ở một Vị
Thần Siêu Việt mà dân chúng thường kêu xin là Ông Trời.” Quả thật, Đắc Lộ đã sáng tác
ra danh từ “Đức Chúa Trời” và y là người đầu tiên xử dụng danh từ
này trong nhiều trường hợp: - Đắc Lộ lập ra hội “Nhà Đức
Chúa Trời” có mục tiêu đào tạo các thầy giảng cho giáo hội Việt
nam. - Đắc Lộ dịch sách giáo lý bằng
tiếng La-tinh “Cathéhismes” ra tiếng Việt, đó là sách “Phép giảng tám
ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời.” - Đắc Lộ thay thế tiếng “Chúa
Dêu” phiên âm từ tiếng La-tinh “DEUS” bằng danh từ “Đức Chúa Trời”
trong các bài kinh nguyện của Việt nam. Thí dụ như kinh Kính Mừng trước
kia được phiên âm từ tiếng La-tinh như sau: “Ave Maria, đầy ga-ra-xi-a, Đức
Chúa Dều ở cùng bà...”. Đắc Lộ là người đầu tiên đưa
đạo Công giáo hội nhập vào văn hóa Việt nam bằng cách mô phỏng danh từ
“Ông Trời” để sáng chế ra danh từ “Đức Chúa Trời” đã trở
thành rất thông dụng trong quần chúng Công giáo Việt. Nhưng Đắc Lộ đã
thất bại khi gò ép chứng minh Ông Trời là “Vị Thần Siêu Việt” mà
Linh mục Cao phương Kỷ muốn chúng ta hiểu là Thiên Chúa của đạo Kitô
(Christian God). Trong thực tế, Matteo Ricci ở
Trung-Quốc và cố đạo Đắc Lộ tại Việt nam
đều không dám đề cập đến Thiên Chúa của đạo Kitô là
Thiên Chúa Ba ngôi (Christian Gos is Trinity God) trong các sách giáo lý của họ.
Bởi lẽ Thiên Chúa Ba ngôi là một thứ “toán học kỳ quặc”: Ba là Một,
Một là Ba. Jesus là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, đồng thời
cũng là Đức Chúa Cha tạo thành vũ trụ vạn vật và cũng là Đức Chúa
Thánh thần, chồng của mẹ ông. Nói đúng hơn, Thiên Chúa Ba ngôi là một
quái thai tư tưởng mà bản thân Matteo Rici và Alexandre de Rhodes cũng không
hiểu nổi và cũng không thể giảng giải cho người khác hiểu được. Vì
thế họ đành phải câm miệng. tuy nhiên, Alexandre de Rhodes nhận thấy người
Việt có phong tục ăn mừng suốt ba ngày trong dịp tết Nguyên đán nên y
thực hiện quỉ kế là khuyên giáo dân dành ba ngày tết để tôn thờ
Thiên Chúa Ba ngôi: Ngày mồng một tết tôn thờ Đức Chúa Cha, ngày mồng
hai tôn thờ Đức Chúa Con (tức Jeus) và ngày mồng ba tôn thờ Đức Chúa
Thánh thần. Trải qua trên ba thế kỷ, nhiều giáo xứ Công giáo Việt nam
hiện vẫn còn giữ tập tục tôn thờ Thiên Chúa Ba ngôi trong ba ngày tết.
Hành động này đã khiến cho giáo dân Việt nam mặc nhiên chấp nhập tín
điều Thiên Chúa Ba ngôi mà không cần phải dùng lý trí để phân biệt đúng
sai. Tiếp tục tán láo trong chiều hướng
gò ép nhằm cưỡng chế người đọc phải hiểu Ông Trời là Thiên Chúa,
Linh mục Cao phương Kỷ viết: “Theo truyền thống cố hữu của dân tộc
Việt nam thì niềm tin vào một Đấng Bề Trên đã được biểu lộ trong
nghi lễ tế tự, ca dao tục ngữ, văn thơ và đặc biệt trong lời kêu cứu
cầu xin chân thành đặt hết ước vọng của cuộc đời vào sự quan
phòng của Ông Trời (sđd, Thiên Chúa giáo và Tam giáo, trang 387); “con người
hướng tâm linh lên một Quyền lực Thiêng liêng làm chủ tể muôn loài....
đầy tình thương xót, có thể lắng nghe những lời cầu kinh: Lạy
Trời mưa xuống Lấy
nước tôi uống Lấy
ruộng tôi cầy Lấy
dầy bát cơm, Lấy
rơm đun bếp.” (sđd, trang 392) Linh mục Cao phương Kỷ đã trắng
trợn cưỡng đoạt bài ca dao Việt nam “Lạy Trời mưa xuống” và biến
nó thành một bài kinh nguyện (prayer) của đạo Công giáo! Linh mục Kỷ nên nhớ rằng: tuyệt
đại đa số dân Việt là những nhà nông, chuyện nắng mưa là vấn đề
sinh tử đối với họ. Bài ca dao nói trên chỉ mô tả ước vọng của nông
dân Việt nam mong sao cho mưa thuận gió hòa để họ được mùa và có gạo
mà ăn. Đơn giản chỉ có vậy thôi! Khi người nông dân Việt nam nói:
“Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày...” họ
không hề quì gối chấp tay với nét mặt thẩn thờ mất trí như khi người
Công giáo đọc kinh cầu Chúa. Vậy không thể nói người nông dân Việt
nam “cầu kinh” với ông Trời! Trong suốt cuốn sách dầy trên 500
trang, Linh mục Cao phương Kỷ luôn luôn bẻ cong ngòi bút để viết những
lời cường điệu thô bỉ khiến người đọc phải “lợm giọng”. Tôi
thật sự phải “lợm giọng” khi đọc những dòng sau đây: “Lịch sử của vũ trụ, của nhân
loại cũng là lịch sử Cứu Độ, vì tất cả mọi sự hiện hữu đều do
Đấng Cứu Thế (Jesus) mà có. Không có Đấng Cứu Thế thì không có vũ trụ,
không có lịch sử, không có nhân loại, nhân sinh.” (Sách
đã dẫn, trang 113) Tôi không biết trình độ trí thức
của Linh mục Cao phương Kỷ tới mức nào mà viết lời ca ngợi Jesus như
lời của một kẻ mê sảng: “Tất cả mọi sự hiện hữu đều do Jesus mà
có”. nếu quả thật như vậy thì chuyện Jesus chết trên thập giá chỉ
là một trò hề vì cây thập giá và đoàn quân La mã đóng đinh y trên núi
Sọ đều là những sản phẩm do y tạo ra, tất cả đều do Jesus sinh ra và
do y hoàn toàn làm chủ. Vậy làm sao y có thể là một nạn nhân phải chịu
cực hình để chuộc tội thiên hạ? Ngay
cả mẹ của Jesus cũng do Jesus đẻ ra hay sao? Tôi mong Linh mục Cao phương Kỷ và
Linh mục Trần công Nghị (cả hai đều là tiến sĩ thần học) hãy bình
tâm coi lại Thánh kinh Tân ước, chỉ cần tìm ra vài câu nói điển hình của Jesus cũng đủ thấy Jesus là một kẻ
khùng: Nếu không phải là kẻ khùng thì tại
sao Jesus lại dạy tín đồ: “Phúc cho ai không thấy mà tin”? Cái giá trị cao nhất khiến con người “linh
ư vạn vật” là trí tuệ, vậy muốn xứng đáng làm người thì phải biết
xử dụng trí tuệ suy xét mọi việc trước khi tin vào bất cứ điều gì.
Jesus dạy tín đồ vứt bỏ cái giá trị quí báu nơi con người là trí tuệ
để nhắm mắt tin bừa vào những điều y nói. Vậy y chẳng phải là một
kẻ khùng hay sao? Phải chăng hai tiến sĩ thần học
Cao phương Kỷ và Trần công Nghị đã vâng theo “Lời u mê” mà vất bỏ
trí tuệ của mình để viết nên cuốn sách “Thiên Chúa giáo và Tam giáo”
và viết lời giới thiệu cho cuốn sách “cỏ rác” này? Truyền thống cao quí của dân tộc
Việt nam từ xưa đến nay là Đạo Hiếu. Nói đúng hơn, đó là truyền thống
biết ơn các đấng sinh thành, các bậc tổ tiên và còn nới rộng ra tới
các vị anh hùng dân tộc nữa. Vì thế mới có bàn thờ gia tiên trong mỗi
gia đình, có đền thờ tổ, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Đức Thánh
Trần v.v... Nhưng Jesus hoàn toàn không
biết đến đạo hiếu là gì. Jesus đã công khai dạy các tín đồ của y
như sau: “Bất cứ kẻ nào đến với ta mà không thù ghét cha mẹ vợ con
và anh chị em, thậm chí không ghét bỏ cuộc sống của chính nó, thì
không thể là môn đệ ta” (If any man comes to
me and hate not his father, and mother, and wife, and children, and brother, and sisters,
yea, even his own life, he can not be my discipline – Luke 14:26). Vậy những kẻ tự xưng là tín đồ
đạo Kitô (Christians) phải là những kẻ đại bất hiếu vì nếu không
thù ghét cha mẹ thì không thể là môn đệ của Jesus! Chẳng những thế, họ còn phải thù
ghét vợ con (bất nghĩa) và ghét cả anh chị em họ hàng (bất nhân) nữa! Thiên Chúa của đạo Kitô dạy các
tín đồ những điều vô giáo dục như vậy sao? Vậy chính Jesus là tác giả
của lời dạy đó là người như thế nào, nếu không phải là một người
vô giáo dục? Theo tôi, nếu Jesus quả
thực đã thốt ra những lời như vậy thì ông là một kẻ khốn nạn. Ngoài ra, Jesus còn tuyên bố: “Ta
không đem hòa bình cho thế gian nhưng chỉ mang gươm giáo mà thôi” (I came not
to send peace to the world, but a sword – Revelation 22:11). Riêng về điều này
thì Jesus nói đúng vì từ ngày có đạo Kitô đến nay, trên 200 triệu người
đã bị giết chết bởi những dàn hỏa, các cuộc thập tự chinh và các
cuộc chiến tranh do Kitô giáo trực
tiếp hoặc gián tiếp gây ra (Deceptions
and Myth of the Bible – Lloyd M. Graham, p.
463). Jesus đã hiển nhiên là một kẻ
khùng, và là một kẻ gieo tai họa cho nhân loại như lời tự thú của
chính hắn. Vậy Jesus có đáng được chúng ta tôn thờ hay chỉ đáng cho
chúng ta “phỉ nhổ”? Tôi yêu cầu Linh mục Cao phương Kỷ
hãy lên tiếng trả lời câu hỏi này. Nếu linh mục khẳng định “Jesus
đáng cho chúng ta tôn thờ” thì ông là một người đã mất hết lý trí
và niềm tin của ông chỉ là một đức tin mù (a blind faith) ! Thật sự ông chỉ là một kẻ
đáng thương hại mà thôi. Dầu sao chăng nữa tôi cũng nhận thấy Lm Cao
phương Kỷ là một “trí thức” rất thông thạo Anh ngữ vì ông đã từng
là giáo sư thần học tại nhiều chủng viện Công giáo Hoa kỳ nên tôi
khuyên ông hãy tìm đọc cuốn sách best-seller của sử gia nổi tiếng Lloyd
M. Graham, đó là cuốn Deceptions and Myths of the Bible. Mong ông hãy bình tâm
suy nghĩ về những lời khuyên chí lý và chí tình của tác giả: - “Hiểu đúng là do biết đúng chứ
không do lòng tin” (Right understanding comes
from knowing, not just believing. Page 419). - “Cái gọi là Đức Tin chỉ là niềm
tin vào cái không biết. Cái không biết cũng là cái không có thật. Đức
tin vào cái không biết và không thật là sự điên rồ. Đó chỉ là niềm
tin vào những sự phỏng đoán ngu ngốc của kẻ khác” (Faith is
belief in the unknown. But since the unknown is likely the unreal also. Faith in the
unknown is foolishness, only belief in other believers’ ignorant asumptions – page
413). Nếu ông còn chút lương tri, chắc
chắn ông sẽ nhận ra Lloyd M. Graham là vị thầy dạy về Đức Tin Thông
Minh (Intelligent Faith) còn Jesus là một “kẻ khốn nạn” đã dậy các tín
đồ và tông đồ của nó một thứ Đức Tin Mù (Blind Faith): “Phúc
cho ai không thấy mà tin”! (Web
GĐ lược bỏ hai trang viết tay, độc giả có thể tìm đọc trong bài viết
Công giáo là Đạo Thờ Bò Cải Biến trong
cuốn “ Thực Chất Đạo Công giáo và các Đạo Chúa” do GĐ xuất bản,
Xuân 2003 - từ các trang 89-111; hoặc trên websites GĐ trong tháng 6/2003 -Giao
Điểm). Lịch sử đã chứng minh: Thiên Chúa
Ba Ngôi là sản phẩm của công đồng Nicea nhằm tôn Jesus lên làm Ngôi Hai
Thiên Chúa. Chính cái tín điều quái gở này đã phát sinh ra hai hệ quả
sau đây: 1. Về ngoại hình, Thiên Chúa là một
“quái vật ba đầu” gồm có đầu bò El (Chúa Cha) đều Jesus (Chúa Con)
và đầu con chim bồ câu (Chúa Thánh Thần). 2. Về đức hạnh, tín điều Thiên
Chúa Ba ngôi đã biến Jesus thành một đứa con loạn luân với mẹ ruột y.
Chẳng cần phải tìm bằng cớ ở đâu xa: Trong sách Chứng nhân Hy Vọng
(trang 293) tác giả là Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã viết về mối tương
quan giữa bà Maria với ba ngôi Thiên Chúa như sau: “Là nữ tử của Thiên Chúa Cha, Đức
Mẹ đã trở thành mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể (Jesus / Chúa Con) và là hiền
thê của Chúa Thánh Thần”. Vì cả ba ngôi chỉ là một Thiên Chúa Duy Nhất
(Tam Vị Nhất Thể) nên cùng một lúc bà Maria là con gái, mẹ, và vợ của
Jesus. Ngược lại Jesus cùng một lúc vừa là Cha, là Con và là chồng của
bà Maria. Nếu đã tin vào tín điều Thiên Chúa Ba ngôi thì đương nhiên phải
tin Jesus là một thằng con mất dạy vì y đã loạn luân với mẹ ruột của
y. Tôi thách đố toàn giáo hội Công giáo Việt nam phản bác lại điều này. Ngoài ra, theo đúng tinh thần của Cựu
ước thì Chúa Cứu Thế phải là người thuộc dòng dõi của vua David. Nếu
Jesus là Chúa Cứu Thế thuộc dòng dõi David thì không thể là Con của Chúa
Thánh Thần. Nếu thuộc dòng dõi vua David thì Jesus phải là con ruột của
Giuse và như vậy thì bà Maria đã bị mất “chữ trinh đáng giá ngàn vàng”
! Ngược lại, nếu Jesus là con của
Chúa Thánh Thần thì y không thể là Chúa Cứu Thế vì y không thuộc dòng
David. Và như vậy Jesus cũng chẳng phải là Thiên Chúa mà chỉ là người
thường như chúng ta. Vậy tại sao phải tôn thờ Jesus? Tục ngữ Việt nam có câu “dấu đầu
hở đuôi” để lột tả cái hậu quả đương nhiên của những kẻ
chuyên môn dối trá bịp bợm. Dù sớm hay muộn, những điều dối trá cuối
cùng cũng bị lật tẩy mà thôi. Công cuộc lật tẩy mọi dối trá bịp
bợm của Kitô giáo - gồm cả Công giáo lẫn Tin lành – là nhiệm vụ
hàng đầu của mọi chiến sĩ văn hóa chân chính của dân tộc Việt nam
trong giai đoạn hiện tại. Phơi bày bộ mặt thật, bỉ ối của Kitô giáo
trước công luận rộng rãi trong và ngoài nước là một phương cách hữu
hiệu để cứu nguy dân tộc và bảo vệ tiền đồ văn hóa của Tổ quốc. Một trong những thái độ cần thiết
của người chiến sĩ văn hóa là phải tự coi mình như một người lính
gác giặc, luôn luôn đề cao cảnh giác để kịp thời phát hiện mọi tên
gián điệp văn hóa của địch. Trong số các chiến sĩ văn hóa hàng đầu
trong lãnh vực này, chúng ta phải kể đến nhà nghiên cứu văn hóa chính
trị Lê trọng Văn qua nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là cuốn “Lột
Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị”, 455 trang, do tác giả xuất bản tại
hải ngoại năm 1991. Tác giả đã dành ra 100 trang sách để lột mặt nạ tên
gián điệp đội lốt thầy tu là Linh mục Lương kim Định trong nhiệm vụ
thực hiện y khuôn sách lược lừa bịp của 1. Linh mục Cao phương Kỷ thuộc Dòng
Đồng Công ở Carthage, bang Missouri, Mỹ, tác giả cuốn “Thiên Chúa giáo
và Tam Giáo” mà tôi đã trình bày sơ lược ở phần trên của bài viết
này. Nhân tiện tôi cũng xin nói thêm vài điều về Dòng Đồng Công. Dòng
tu này được thành lập tại Bùi Chu vào đầu thập niên 1940 do lệnh của
Giáo hoàng Pio XII. Chúng ta đã biết Pio XII đã nối tiếng là tên tội phạm
chiến tranh đứng hàng thứ hai sau Hitler. Tên giáo hoàng phát xít này rất
muốn công bố tín điều: “Đức Mẹ Đồng Công cứu cuộc” (the dogma of
Co-Redemtrix) nhưng y đã không thực hiện được vì gặp phải những phản
ứng mãnh liệt của Anh giáo, Chính thống giáo và các giáo phái Tin lành. Họ
lý luận rằng: Chỉ một mình Jesus Christ có tư cách Thiên Chúa cứu chuộc
loài người và Chúa không cần tới sự cộng tác của bất cứ ai, kể cả
bà Maria, để hoàn thành công cuộc Cứu độ. Tín điều “Đức Mẹ Đồng
Công cứu chuộc” đã làm hạ giá Chúa Jesus và là “chiếc đinh cuối cùng
đậy nắp hòm của sự hòa giải giữa các giáo phái Kitô” (Newsweek số
ra ngày 25-8-1997). Do đó, Tập đoàn phe cực đoan của Pio XII
đã bị Gioan XXIII loại trừ khỏi giai cấp lãnh đạo chóp bu ở 2. Linh mục Trần công Nghị là người
viết Lời giới thiệu cho cuốn sách của Cao phương Kỷ nói trên. Nghị
sinh tại Phát Diệm, được gửi đi du học tại Rome năm 1967, thụ phong
linh mục năm 1971 cũng tại Rome và được gửi đi du học tiếp tại Mỹ,
sau đó trở lại Rome để lấy bằng Tiến sĩ Thần học. Trong thập niên
1990, Lm Nghị được cử làm đại diện cộng đồng Công giáo Việt nam tại
địa phận Để kết thúc bài viết này, tôi
xin minh xác với quí vị độc giả về ba điều sau đây: Điều thứ nhất: Xác định vấn đề
ngôn từ và sự thật Như đã nói ở đoạn trên, chiến sĩ
văn hóa Lê trọng Văn đã chỉ cho chúng ta thấy thủ đoạn quen thuộc của
bọn gián điệp văn hóa của Vatican là “Tìm Cách Hòa Đồng Để Rồi Đồng
Hóa”. Linh mục Cao phương Kỷ đã áp dụng đúng thủ đoạn này trong cuốn
sách “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo” của y:
Trước hết, y vận dụng và xuyên tạc ca dao tục ngữ Việt
nam để ngụy biện cho rằng Ông Trời Việt nam là Đấng Siêu Việt. Bước
kế tiếp, y xử dụng môn thần học nhảm nhí của - “Tất cả vạn sự vạn vật đều
vận chuyển theo một chiều hướng là quy tụ lại nơi Chúa Cứu Thế (tức
Jesus) như tâm điểm và tuyệt đỉnh của vũ trụ”, trang 168. - “Chỉ nhờ vào đời sống và sự
chết của Chúa Jesus mà nhân loại được tha tội và hy vọng được hưởng
phúc trường sinh”, trang 171. - “Nhân loại và vũ trụ đang biến
hóa theo chiều bản vị hóa và đang đồng qui vào ngôi Vị Tối Cao, chính
là Chúa Cứu thế (tức Jesus)”, trang
351. - “Lịch sử của vũ trụ, của nhân
loại cũng là lịch sử cứu độ vì tất cả mọi sự hiện hữu đều do
Đấng Cứu Thế (Jesus) mà có. Không có Đấng Cứu Thế (tức không có
Jesus) thì không có vũ trụ, không có lịch sử, không có nhân loại”,
trang 113. Tất cả những lý luận thần học
ngu xuẩn nói trên chỉ là những lời nói vu vơ và hoàn toàn rỗng tuếch
vì không có một cơ sở lý luận nào cả và tuyệt nhiên không có bằng cớ
nào để chứng minh. Có gì chứng minh là “vạn sự vạn
vật đều qui tụ vào Chúa Cứu Thế
Jesus như tuyệt đỉnh của vũ trụ”? Liệu có gì chứng minh là Jesus hiện
đang còn sống để cho “vạn vật qui tụ” vào y như tâm điểm? Lịch sử
khách quan chứng minh rằng: Tất cả các tử tội do La mã xử tử bằng
cách đóng đinh trên thập giá đều bị vứt xác cho kên kên, ác thú và
chó rừng ăn thịt. Tuyệt đối không có một xác tử tội nào được trao
cho người nhà đem về chôn. Việc chôn xác Jesus trong hang đá rồi sau đó
vài ngày Jesus sống lại lên trời để rồi sẽ xuống thế gian lần thứ
hai trong ngày tận thế ... là chuyện hoang đường tồi tệ và khốn nạn
nhất trong lịch sử văn hóa của nhân loại. Cái tư tưởng ngu xuẩn cho rằng “vạn
vật đều qui tụ vào Jesus như tâm điểm vũ trụ” hoặc “nhân loại và
vũ trụ đang biến hóa theo chiều bản-vị-hóa và đang đồng qui vào Ngội
Vị Tối Cao, chính là Chúa Cứu Thế Jesu”.... chỉ có thể có trong những
đầu óc thần học như Cao phương Kỷ, Trần công Nghị. Đầu của bọn
ngu xuẩn này chẳng khác gì đầu tôm vì không có óc mà chỉ có phân mà
thôi. Bọn gián điệp ngu xuẩn này chẳng
có một mục tiêu nào khác hơn là xử dụng các ngôn từ thần học hoang tưởng
nhằm lường gạt những đồng bào ngờ nghệch dại khờ để xiềng xích
trí tuệ của họ vào niềm tin Jesus là Đấng Siêu Việt và cũng là Ông Trời
Việt nam. Để đập tan luận điệu thần học
vu vơ hoang tưởng của tên gián điệp Cao phương Kỷ, tôi đã chứng
minh ca dao tục ngữ Việt nam không có một câu nào nói Ông Trời là “Đấng
Siêu Việt”. Đồng thời tôi cũng chứng minh rằng: Jesus chẳng bao
giờ là Đấng Siêu Việt, trái lại Jesus chỉ là một kẻ khùng, một kẻ
khốn nạn, một kẻ mất dạy loạn luân với mẹ của y, một kẻ ngu như
bò và y cũng là một kẻ gieo tai họa lớn nhất cho nhân loại. Bọn linh mục ngu xuẩn làm gián điệp
văn hóa cho - Phúc âm Tân ước Mattew 1:18-24 nói
về thiên thần Gabriel đến báo tin về việc giáng sinh của Jesus: “Này, một
trinh nữ sẽ mang thai và sẽ sinh ra một con trai và sẽ được đặt tên
là Emmanu-El” (Behold, a vurgin shall be with child and shall bring forth a son and
they shall call his name Emmanuel). Theo ngôn ngữ tiếng Hebrew thì
Emmanuel có nghĩa là “Con bò El ở cùng chúng ta”
(El with us – xin đọc thêm “Công giáo là đạo thờ bò cải
biến” trên trang nhà GĐ tháng 6/2003). Chính Kinh thánh của đạo Kitô đã
xác nhận Jesus là một con bò . Dù là bò đực, bò cái, bò mộng hay bò thần
thì cũng là bò. Vậy tôi nói “Jesus là một thằng ngu ‘như bò’ vẫn
còn nhẹ hơn là ‘một con bò ở cùng chúng ta : Emmanu-El)! - Khi trình bày về mối tương quan
giữa bà Maria và Thiên Chúa Ba ngôi ở đoạn trên, chúng ta đã thấy Jesus
cùng một lúc vừa là cha, vừa là con và cũng là chồng của bà Maria! Vậy, theo đúng giáo lý Kitô giáo, Jesus đích
thị là một đứa mất dạy loạn luân với mẹ. Nếu tín đồ Kitô giáo
nào muốn phủ nhận cái sự thật đáng xấu hổ này thì họ chỉ có một
con đường duy nhất là phủ nhận Thiên Chúa giáo ba ngôi và phủ nhận
tính cách Thiên Chúa của Jesus, ngoài ra họ không còn con đường nào khác! - Tôi đã căn cứ vào những lời của
Jesus ghi trong Tân ước như: “Phúc cho ai không thấy mà tin”, “Ai không
thù ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em mình thì không xứng đáng là môn đệ
ta....” Tôi khẳng định những lời
trên đây đã thốt ra từ một thằng khốn nạn, một đứa vô giáo dục
hoặc nhẹ nhất là thằng khùng! Tôi thách thức bất cứ ai không đồng ý
với những ngôn từ tôi xử dụng để phản ảnh những thuộc tính của
Jesus theo “Thánh kinh” hoặc giáo lý của đạo Kitô... thì xin hãy lên tiếng.
Tôi thật sự cầu mong có một cuộc tranh luận rộng rãi về vấn đề này
để mọi sự thật về Kitô giáo, cũng như về cá nhân Jesus, sẽ được sáng
tỏ hơn nữa trong dư luận quần chúng trong và ngoài nước. Điều
thứ hai: Xác định giới hạn cho công việc truyền đạo của các người
truyền giáo Kitô. Khi nói “các người truyền giáo
Kitô” là tôi muốn nói đến tất cả các tu sĩ Công giáo, các mục sư và
các người làm công tác truyền giáo của đạo Tin lành (missionaries). Chúng
ta cần nói cho họ biết: mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng
nghĩa là muốn tôn thờ ai thì thờ, nhưng tự do tín ngưỡng không có nghĩa
là tự do truyền đạo. Rất nhiều nước đã ban hành những đạo luật
nhằm hạn chế việc truyền đạo, nhất là đối với Công giáo và Tin
lành. Chẳng hạn như ở Nga thời Yelsin đã có đạo luật cấm truyền đạo
Công giáo và Tin lành. Do thái cấm truyền đạo Kitô với hình phạt dành
cho người vi phạm là 5 năm tù và 4200 đôla tiền phạt. Mới đây nhất, tại
Ấn độ là nước có đa số dân theo Ấn giáo, mới ban hành đạo luật cấm
cải đạo sang Kitô giáo (New anti-conversion laws in Hindu – majority India
– Houston Chronicle, Saturday April 19, 2003, page 6E). Các người Công giáo hay Tin lành muốn
đưa Jesus lên Ngôi Hai Thiên Chúa hoặc đấng Siêu Việt, đấng Toàn Năng
v.v... là quyền của họ. Nhưng những người truyền đạo Ktiô không có
quyền bóp méo, xuyên tạc ý niệm Ông Trời của người Việt nam để cuối
cùng gán ghép Ông Trời với Thiên Chúa Siệu Việt của đạo Kitô. Các người
không được phép xử dụng những ngôn từ thần học mập mờ, huênh
hoang, lươn lẹo để lừa gạt đồng bào và lôi kéo họ vào bóng tối
tâm linh để cuối cùng biến họ thành tay sai mù quáng cho ngoại bang. Tất
cả các âm mưu đen tối của các người đều sẽ bị các chiến văn hóa
yêu nước theo dõi, phát hiện và sẽ giáng trả bằng những đòn đích đáng. Điếu
thứ ba: Xác định thái độ kiên quyết, không khoan nhượng đối với bọn
gián điệp văn hóa lưu manh và ngoan cố. Luôn luôn đề cao cảnh giác để sớm
phát hiện những âm mưu phá hoại của bọn gián điệp là điều cần thiết
tiên quyết nhưng sau đó chúng ta lại ngập ngừng hay e dè chẳng làm gì cả
hoặc chỉ hành động hời hợt thì kết quả cũng chỉ là con số không. Chúng
ta cần phải khẳng định rằng: bọn gián điệp văn hóa của Vatican hay của
đế quốc Tin lành đều là bọn Việt gian cuồng tín, vọng ngoại, chuyên
dùng các thủ đoạn lưu manh lừa gạt đồng bào để mở rộng nước Chúa,
thực chất là mở rộng lãnh thổ của đế quốc. Bọn chúng đều là
những kẻ thù nguy hiểm của dân tộc Việt nam. Do đó, thái độ thích hợp
nhất đối với kẻ thù là chúng ta phải đấu tranh với chúng một cách kiên
quyết không khoan nhượng nhằm mục đích cuối cùng là loại trừ hết mọi
thứ “độc tố văn hóa” mà bọn chúng đã gieo rắc trên đất nước ta
từ trước tới nay. Chúng ta không nên nhẹ tay đối với
bọn gián điệp văn hóa, bởi lẽ chúng tuy rất lưu manh trong hành động
nhưng lại là những kẻ ngủ mê trên phương diện tâm linh. Nếu chúng ta
đối xử với chúng bằng thái độ lịch sự nhẹ nhàng thì chẳng khác
nào gãi ngứa cho chúng và chúng sẽ ngủ mê hơn nữa. Muốn đánh thức
chúng dậy trong cơn ngủ mê chúng ta phải xối một thùng nước lạnh vào
mặt chúng hoặc đập vào người chúng một cú thật mạnh như trời giáng
thì may ra chúng mới tỉnh ngủ để nhìn thấy sự thật dưới ánh sáng mặt
trời. Câu hỏi trước nhất được đặt
ra là: Làm thế nào để nhận diện một tên gián điệp văn hóa lưu manh và
nguy hiểm? Đó là những tên đã được
bọn đại lưu manh quốc tế ở Trong sách “Thiên Chúa giáo và Tam
Giáo”, Cao phương Kỷ lươn lẹo ca ngợi Ông Trời là Đấng Siêu Việt,
và dùng lý luận thần học nhảm nhí chứng minh Đấng Siêu Việt đó là
Thiên Chúa Ba ngôi của đạo Kitô. Mục tiêu cuối cùng của họ là tạo
cho đồng bào nhẹ dạ có ảo tưởng rằng: Thiên Chúa của đạo Kitô chẳng
phải là ai xa lạ mà chính là “Ông Trời Siêu Việt” của mình và Đạo
Kitô cũng không phải là một món hàng ngoại nhập mà là một niềm tin đã
tiềm ẩn từ lâu đời trong lòng dân tộc Việt nam. Đây là một thủ đoạn vô cùng
thâm độc của Ngoài việc khai thác ý niệm Ông Trời
phục vụ cho nhu cầu truyền đạo, Cao phương Kỷ còn xuyên tạc Tam giáo
(Phật, Khổng, Lão) là các đạo đều có niềm tin vào Đấng Tối Cao như
Kitô giáo. Việc đánh lận con đen Tam giáo với Kitô giáo là một chuyện
hàm hồ đáng bị vạch mặt: Trước hết,
cả ba đạo Phật, Khổng, Lão đều là những đạo của lý trí, nói đúng
hơn thì đó là ba triết lý sống hoặc ba cách sống (ways of life). Cả ba
không hẳn là ba tôn giáo vì không có giáo hội, không có giáo đồ và nhất
là không có giáo điều (tín điều). Cả ba đạo Phật, Khổng, Lão đều
coi trọng lý trí và khuyên mọi người phải vận dụng lý trí để suy xét
mọi điều trước khi tin vào điều đó. Sở dĩ có “tam giáo đồng lưu”
tại nước ta vì người dân Việt nam đã vận dụng lý trí để phân biệt
những giá trị chung của cả ba tôn giáo để dung nạp vào văn hóa dân tộc
và để cuối cùng làm thăng hoa đời sống của dân tộc. Khác hẳn với đặc tính căn bản của
Kitô giáo là loại bỏ lý trí (Phúc cho ai không thấy mà tin - lời của
Jesus). Toàn bộ hệ thống giáo lý của
Kitô giáo là hàng loạt các tín điều được đưa ra để buộc các tín đồ
phải chấp nhận vô điều kiện. Do đó, cái gọi là Đức Tin Kitô hoàn
toàn chỉ là Đức Tin Mù. Trái hẳn với đức tin Tam giáo là đức tin sáng
suốt vì là sản phẩm của lý trí. Hậu quả của đức tin mù là các
tín đồ Kitô luôn luôn phải sống trong mặc cảm tội lỗi, luôn luôn tự
xưng là kẻ có tội nên cần có Chúa và bọn tu sĩ lưu manh cứu giúp! Bọn lãnh đạo Kitô giáo trở thành
những kẻ ngạo mạn kiêu căng, lúc nào cũng nghĩ rằng tôn giáo của mình
là độc tôn và là duy nhất đúng. Điều này hàm ý rằng các tôn giáo
khác với mình đều phải chết. Trong thực tế của lịch sử dân tộc,
Tam giáo đã góp phần củng cố nền
độc lập của nước nhà, trong khi đó Kitô giáo đã đưa dân tộc vào
vòng nô lệ thực dân Pháp hơn 80 năm và hiện nay một bộ phận của dân
tộc (Công giáo) vẫn là những kẻ nô lệ tinh thần của đế quốc
Vatican. Các vụ nổi loạn của những người thiểu số Tin lành ở miền
cao nguyên chứng tỏ những tín đồ Kitô giáo luôn luôn làm nội tuyến cho
ngoại bang và đi ngược lại quyền lợi thiêng liêng của tổ quốc. Tất cả những tai họa đó đều do bọn gián điệp văn hóa gây ra. Cho nên
thái độ cần thiết và cấp bách của các chiến sĩ văn hóa yêu nước là
phải cương quyết chiếm lãnh thế chủ động trên diễn đàn văn hóa để
giáng trả bọn kẻ thù của dân tộc những đòn đích đáng, buộc chúng
phải câm miệng, cúi mặt gục đầu và không dám ngóc đầu dậy.
Charlie Nguyễn
Tháng 6.2003
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com