
NHỮNG NGỘ
NHẬN VỀ HỌC THUYẾT MARX Nguyễn Hoài Vân Người
ta đã nhân danh Marx sát hại trên dưới 100 triệu người. Thừa đủ để
học thuyết Marx bị đưa vào thùng rác của lịch sử. Nhưng, hãy nghĩ lại :
người ta đã nhân danh Thiên Chúa để giết hại không dưới 80 triệu thổ
dân Mỹ Châu, chưa kể bao người vô tội tại các lục địa khác. Có cần
đưa Thiên Chúa và Ky Tô Giáo vào thùng rác của lịch sử hay không ? Học thuyết
Marx đã được tôn sùng thái quá bởi những guồng máy tuyên truyền tại
các quốc gia toàn trị, và bởi đội ngũ trí thức ngự trị trên trường
tư tưởng tại các nước tự do. Người ta còn nhớ câu nói của
Sartre : « những kẻ chống Cộng là đồ chó !» Ngày nay, đội
ngũ trí thức quay lưng lại Marx, mặc dù chưa nhất quyết phải chạy theo
cái gì. Trong sự trống vắng đó, dân chủ nghị trường cùng với kinh tế
tự do mặc nhiên trở thành « điểm đến của Lịch Sử ». Như
thể tất cả sẽ dừng lại ở đó : ở một hình thái dân chủ, và
ở thị trường tự do. Điều quan trọng phải tự hỏi là : những vấn
đề trọng đại của nhân loại có hy vọng được giải quyết bởi các
phương thuốc này hay không ? Vấn đề môi sinh ô nhiễm, vấn đề chênh
lệch giàu nghèo, vấn đề tài nguyên khánh kiệt … Địa cầu chỉ còn
khoảng hơn 40 năm dự trữ dầu hoả, 70 năm khí đốt, 55 năm Uranium. Thêm
vào đó, số lượng xe hơi và mức tiêu thụ năng lượng sẽ nhân đôi
trong hai thập niên tới (1). Giả
sử người ta thành công trong việc nâng cao mức sống của đại đa số dân
trên thế giới hiện đang nghèo đói, đến mức ngang hàng với người dân
Hoa Kỳ, thì tài nguyên của trái đất sẽ khánh kiệt trong vòng 10 năm,
chưa kể đến vấn đề ô nhiễm. Thử tưởng tượng mọi người Trung Hoa
đều có xe hơi, khói xe của họ sẽ làm ngộp thở toàn địa cầu !
Dân chủ đại nghị, kinh tế duy lợi, có ngăn cản được người Trung Hoa
mua xe hơi hay không ? Có bắt nổi người Hoa Kỳ, vô địch trong lãnh vực
lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm, phải bớt tiêu thụ, bớt hao phí tài
nguyên, bớt gây ô nhiễm, hay không ? Có bắt nổi người dân các nước
giàu mạnh, phải giảm mức sống của mình để chia sẻ với nhân dân các
nước nghèo đói hay không ? Marx cũng
đã từng đứng trước một « điểm đến của Lịch Sử » ở thời
ông. Xã hội thời Marx mang dấu ấn của cuộc cách mạng Pháp 1789. Với cuộc
cách mạng ấy, người tư sản đã đoạt quyền kiểm soát xã hội, đã
xây dựng một xã hội tư sản, rồi ngừng lại ở đó. Xã hội tư sản
không có mục tiêu nào khác hơn là sự trường tồn của nó. Triết học của
giai đoạn đó, triết học Hegel, đồng hóa Thiên Chúa với toàn thể sự
Hiện Hữu. Sự vật là Thiên Chúa trong không gian, và Lịch Sử là Thiên
Chúa trong thời gian. Người ta có thể phối trí và xây dựng sự vật một
cách thuần lý, để đạt đến một Lý Tưởng, đến Thiên Chúa, và con
đường đưa đến trạng thái Lý Tưởng ấy, là Lịch Sử. Ở cuối cuộc
hành trình của Ý Niệm, là điểm đến của Lịch Sử. Ở đó, Lịch Sử
sẽ vĩnh viễn ngừng lại. Theo Hegel, xã hội tư sản vào thế kỷ 19 chính
là cái kết cuộc này của Lịch Sử. Marx đã trưởng thành trong bối cảnh
tư tưởng ấy. Ông đã từng quan sát « điểm đến của Lịch Sử »
thời ông, như chúng ta đang nhìn « điểm đến của Lịch Sử »
ở thời chúng ta. Tất cả tư tưởng của ông không ngoài mục đích làm
xoay chuyển trở lại cái bánh xe Lịch Sử đã bị coi như dừng lại ấy.
Vì thế, tìm hiểu Marx, một cách chân thành, ngoài mọi thiên kiến, có thể
là một nhu cầu tự nhiên ở vào thời đại của chúng ta. Mặt
khác, cũng có thể nói tìm hiểu Marx, ở thời chúng ta, bắt đầu bằng việc
nhìn ra những ngộ nhận về Marx. Các guồng máy tuyên truyền, Cộng Sản cũng
như chống Cộng, đã đưa vào đầu óc chúng ta quá nhiều xác quyết về
Marx. Những xác quyết sai lầm. Xin nêu lên ở đây vài ngộ nhận nền tảng,
để cùng bạn đọc suy xét. MARX VÀ THUYẾT ĐỊNH MỆNH
(Déterminisme) Quan
điểm của Marx cho rằng ý thức của con người bị điều kiện hóa bởi
môi trường sống, thường bị hiểu như « định mệnh chủ nghĩa ».
Ngộ nhận này đưa đến những tuyên bố dao to búa lớn vạch ra cái gọi
là « đường đi tất yếu của Lịch Sử », trong đó con người
chỉ hiện diện như một bộ phận trong guồng máy. Theo lý thuyết này, ý
thức của con người bị điều kiện hóa bởi cuộc sống, mà cuộc sống
chuyển hóa trong thời gian, lại chính là Lịch Sử, nên, trong dòng Lịch Sử,
con người bị nắm cổ lôi đi, mất hẳn tính cách tác nhân, chủ động.
Thuyết định mệnh chính là quan niệm tương lai chẳng là gì khác hơn là
hiện tại được nối dài, được « suy diễn » từ những quy luật,
từ sự vận hành một cách máy móc, của những « dữ kiện »,
bao gồm không những các dữ kiện vật chất,
mà cả ý thức, suy tư và hành động của con người. Với quan
điểm này, cách mạng không còn chỗ đứng. Cách mạng đòi hỏi đoạn tuyệt
với một hiện trạng, không thể là sự nối dài của hiện trạng cho dù
với bất cứ « quy luật tất yếu » nào. Khi
Marx trình luận án tiến sĩ, vào năm 1841, lúc ông vừa 23 tuổi, với đề
tài « Khác biệt giữa triết học thiên nhiên của Démocrite và của
Epicure », Marx đã đứng về phía Epicure, chống lại quan điểm « định
mệnh » của Démocrite. Thêm vào đó, ông vạch ra tương quan biện chứng
giữa tự do sáng tạo và sự quy định của những điều kiện thực tế. Nhiều năm sau, người ta đọc ông trong Tư
Bản Luận : « Lịch Sử loài người khác với Lịch Sử thiên
nhiên ở chỗ con người làm nên Lịch Sử của mình, chứ không phải
thiên nhiên ». Đó
là khía cạnh « Tự Do » trong sáng tạo. Nhưng ông cũng nói trong
“Le 18 Brumaire de Louis Bonaparte” : « Con
người làm nên lịch sử của mình, nhưng con người không thể làm lịch sử
một cách độc đoán, theo những điều kiện mà mình chọn lựa, mà ngược lại, phải chiều theo những điều kiện
trực tiếp kế thừa từ quá khứ ». Đó là khía cạnh « bị
quy định » bởi thực tại. Chỉ nói đến khía cạnh « quy định »
trong học thuyết Marx là phản bội Marx. Tinh hoa của tư tưởng của Marx là
tổng hợp và vạch ra tương quan giữa hai yếu tố « tự do » và
« quy định », trong tiến trình « sáng tạo Lịch Sử » của
con người. Marx cho rằng sự khác biệt giữa nhà kiến trúc sư kém cỏi nhất
và con ong tài ba nhất, là người kiến trúc sư xây dựng công trình của
mình trong trí óc, trước khi thực hiện nó trong thực tế. Kết quả việc
làm của nhà kiến trúc đã hiện hữu trong trí tưởng tượng của ông trước
khi ông bắt tay vào việc (2). Hành
động của con người thể hiện mục tiêu mà người ấy đã định trước
trong ý thức của mình. Lịch Sử con người phát sinh từ ý thức ấy, ý
thức dự phóng, ý thức mục đích. Tia sáng cùa cái « trí tuệ biết
dự phóng » nơi con người chiếu rọi vào thời gian trước mặt, để
cho thấy, không phải là một tương lai khả hữu duy nhất, mà nhiều tương
lai khả hữu. Con người có khả năng chọn lựa giữa những tương lai khả
hữu ấy. Không thấy đâu là « con đường tất yếu của Lịch Sử »
cả ! Xã Hội Chủ Nghĩa hoàn toàn không có tính tất yếu ! Xã Hội
Chủ Nghĩa chỉ là một tương lai khả hữu. Tư Bản Chủ Nghĩa, sau khi đã
cho hết những ưu điểm của nó, có thể đưa đến Xã Hội Chủ Nghĩa hay
một cái gì khác. Lồng
trong thuyết định mệnh, quan điểm « kinh tế quy định tất cả »,
cũng thường được gán cho Marx. Engels
nói : « Chính Marx và tôi, phần nào phải lãnh trách nhiệm
trong việc một số người trẻ nhiều khi gán cho khía cạnh kinh tế một tầm
quan trọng quá đáng. Trước sự phủ nhận vai trò của kinh tế nơi những
đối thủ của chúng tôi, chúng tôi đã phải nhấn mạnh đến khía cạnh
ấy, và không phải lúc nào chúng tôi
cũng tìm ra được thời giờ, nơi chốn, và dịp thuận tiện để nêu lên
chỗ đứng của những yếu tố khác (ngoài kinh tế), cùng tham gia vào tác
động hỗ tương » (3). Vấn
đề « thượng tầng cấu trúc » cũng là một ngộ nhận thông thường
đối với học thuyết Marx. Trong « Idéologie Allemande », Marx cho rằng :
« … vì thế, luân lý, tôn giáo, siêu hình học (…) và những hình
thái ý thức liên hệ, mất đi bề ngoài độc lập, tự hữu ». Người
ta hiểu rằng chúng hoàn toàn bị quy định, như « đời sống quy định
ý thức, không phải ý thức quy định đời sống » (4). Tuy
nhiên Marx cũng nói : « Điều khó hiểu, không phải là nhận biết rằng nghệ thuật (Cổ) Hy Lạp (…)
gắn liền với những hình thái phát triển của xã hội thời ấy. Khó khăn
nằm ở chỗ nghệ thuật Hy Lạp vẫn đem lại cho chúng ta, ngày nay, những cảm hứng mỹ thuật và vẫn còn (…)
giá trị tiêu chuẩn, mô thức, không gì sánh được » (Contribution à
la critique de l’économie politique). Nghệ thuật cũng thuộc « thượng tầng
cấu trúc », và ở đây đã được Marx khảng định tính độc lập,
trái với những gì người ta thường hiểu. Engels cũng đã điều chỉnh câu
nói của Marx, rằng : « (thượng tầng cấu trúc) mất bề ngoài độc
lập » (4), khi
ông khẳng định tính « độc lập tương đối » của thượng tầng
cấu trúc (3).
MARX VÀ CHỦ NGHĨA GIÁO ĐIỀU
(DOGMATISME) Không
gì xa lìa học thuyết Marx hơn là chủ nghĩa giáo điều. Từ thiếu thời,
Marx đã phá bỏ hai hình thái giáo điều chủ nghĩa, đó là : giáo điều
chủ nghĩa duy tâm của Hegel, và giáo điều chủ nghĩa duy vật của
Feuerbach. Feuerbach đảo ngược triết lý giáo điều duy tâm của Hegel, cho rằng
trong triết học Hegel, con người đã phóng
cái Lý Tưởng trong tâm thức mình ra bên ngoài mình, để làm nên Thiên
Chúa, rồi tôn thờ, chạy theo cái lý tưởng gọi là Thiên Chúa ấy. Đó
là một hiện tượng « vong thân ». Ông cho rằng thay vì đi tìm
Thiên Chúa, phải tìm lại con người, để chữa lành căn bệnh vong thân
kia. Ông đảo ngược triết lý của Hegel, nhưng vẫn giữ cái khung giáo điều
của triết lý ấy, thay thế Thần
Hoc bằng một « thần học » khác, một « thần học »
duy vật. « Con người » mà Feuerbach muốn tìm lại, là một con người
trừu tượng, không thật, lơ lửng trên cái không trung của một hệ thống
triết học. Marx đem con người ấy vào xã hội, và gắn nó vào hiện thực
bằng hành động. Vì con người hành động, nên con người tham dự vào cuộc
sống, và với xã hội tính, con người có khả năng hành động tập thể.
Con người hiện hữu bằng hành động, tác động trên hiện thực, nhưng
cũng bị quy định bởi hiện thực. Gắn liền với hiện thực, bởi
tương quan biện chứng, là chối bỏ « giáo điều chủ nghĩa ».
Thật
vậy, khi đề ra một lý thuyết, Marx luôn xác định phạm vi áp dụng của
lý thuyết ấy, tức cái « hiện thực » trong đó lý thuyết này
đúng, và những biến đổi cho ra cái « hiện thực » khác sẽ phủ
định nó. Thí dụ khi nói về « quy luật giá trị » (loi de la
valeur), cho rằng lao động là yếu tố duy nhất tạo ra giá trị của hàng
hóa, Marx giả định một môi trường trong
đó cung và cầu đều vô hạn, và yếu tố máy móc chỉ truyền lại chứ
không can thiệp vào việc tạo ra giá trị. Trong
bối cảnh máy móc chạy bằng hơi nước ở thời ông, Marx đã ý thức rằng
quy luật giá trị sẽ trở thành sai, khi khoa học tiến bộ hơn và can thiệp
trực tiếp vào khả năng sản xuất. Ông viết : « Cùng lúc với sự
phát triển của đại kỹ nghệ, việc làm ra của cải càng ngày càng bớt
lệ thuộc vào số lượng thời gian làm việc, và càng ngày càng lệ thuộc
nhiều hơn vào hiệu năng của yếu tố cơ khí (…). Sản xuất sẽ lệ thuộc
vào trình độ tiến triển của khoa học và kỹ thuật (…). Khi mà lao động,
dưới dạng trực tiếp, không còn là nguồc gốc chính của phú hữu, thì
thời gian làm việc cũng không còn là thước đo của sự phú hữu ấy … »
(Fondements de la critique de l’économie politique, t. II). Ở một đoạn sau, Marx
thêm vào yếu tố « tổ chức sản xuất » khi viết : « mặc
dù không thể thiếu được, (lao động trực tiếp) bị thâu hẹp vào một
vai trò khiêm nhượng đối với tác động của
khoa học (…) và năng lực sản xuất đến từ mô hình tổ chức
xã hội của toàn thể lực lượng sản xuất ». Quy luật giá trị trở
thành sai, dự đoán « lợi nhuận (của tư bản) luôn có khuynh hướng
giảm sút » cũng sai. Tư Bản sẽ không nhất thiết kẹt vào mâu thuẫn
« càng tăng sản xuất càng kém lợi nhuận, và càng kém lợi nhuận
càng tăng sản xuất ». Thêm vào đó, Tư Bản còn có thể tạo ra những
thị trường mới tùy khả năng sản xuất của mình, hay có thể nhận được
từ chính quyền những giúp đỡ, trực tiếp hay gián tiếp, v.v… Những
tuyên bố cường điệu kiểu như « Tư Bản Chủ Nghĩa đang dãy chết »
trở thành vô nghĩa. Sang
một vấn đề khác. Người ta thường nói đến năm giai đoạn Lịch Sử
được Marx nêu ra : cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản,
và cộng sản văn minh. Trong thư trả lời Michailovski năm 1877, Marx chống lại
những người đã « biến hóa sơ đồ mà tôi (Marx) đã vẽ lên để mô
tả sự hình thành của Tư Bản Chủ Nghĩa tại Tây Âu, và biến sơ đồ
ấy thành một lý thuyết lịch sử và triết học có tính phổ quát , áp dụng
một cách tất yếu cho toàn thể mọi dân tộc, bất chấp những điều kiện
lịch sử của các dân tộc ấy … ». Trong Lời Cuối của Tư Bản Luận
ấn bản thứ hai, năm 1873, Marx trích dẫn một tạp chí Nga (Le Messager
Européen), như sau : « … người ta nói rằng các quy luật của đời
sống kinh tế luôn nhất quán, luôn bất biến : chúng áp dụng cho hiện
tại cũng như cho quá khứ. Đây chính là điểm mà Marx chống lại :
theo ông, các quy luật trừu tượng không có thật … Ngược lại, mỗi
giai đoạn lịch sử có những quy luật riêng của giai đoạn ấy ». LÝ THUYẾT NHÀ NƯỚC CỦA
MARX Trong
« Critique de la Philosophie de l’Etat de Hegel » (1843) Marx đã vạch ra
thực chất của cái Nhà Nước Đức Phổ mà Hegel coi như cao điểm của Lý
Trí. Hegel cho rằng Nhà Nước là nguồn gốc của xã hội công dân
(hay dân sự), do ở tính tiêu chuẩn, nền tảng, tượng trưng cho Lý
Trí, của nó. Marx, ngược lại, khẳng định xã hội công dân cho ra Nhà Nước.
Xã hội công dân (hay dận sự), là sự tập hợp của những quyền lợi
kinh tế và xã hội. Nó cho
ra Nhà Nước. Vậy Nhà Nước đến từ những quyền lợi kinh tế xã hội.
Nhà Nước không đại diện cho một Lý Tưởng trừu tượng, mà đại diện
cho quyền lợi kinh tế xã hội của thành phần ưu thắng. Theo phương pháp
luận của Feuerbach, thì việc người dân cho ra xã hội công dân, cho ra Nhà
Nước, đặt nó lên đầu mình, rồi phục vụ nó, bị nó cai trị, chỉ
huy, là một hiện tượng vong thân (một lý luận tương tự như với khái
niệm Thiên Chúa). Giải pháp được Marx đề ra là một nền dân chủ thực
thụ (tức “tìm lại người dân”, như “tìm lại con người” nói ở
trên), phá bỏ tư tưởng mù quáng cho rằng Nhà Nước là hiện thân của một
Lý Tưởng, là “đỉnh cao của Trí Tuệ” … Một
Nhà Nước toàn trị, tập trung, càng ngày càng can thiệp vào mọi lãnh vực
của đời sống, là một quan điểm hoàn toàn trái ngược với học thuyết
Marx. Mặc dù vậy, người ta vẫn thường hay đồng hóa mô hình Nhà Nước
cồng kềnh, chỉ huy kinh tế, với Cộng Sản, với học thuyết Marx. Trong
“Chỉ trích các chương trình Thay
thế bằng cái gì ? Ở thời ông, Marx chỉ có một thí dụ bộc phát trước
mắt, đó là Công Xã Paris. Marx và Engels rút tỉa ra từ thí dụ ấy, những
ưu điểm mà người ta có thể tóm lược như sau : một chế độ tự quản,
một hình thái Dân Chủ trực tiếp, và một sự tản quyền rộng rãi có
thể đưa đến chế độ liên bang nếu Công Xã Paris thành công trong việc
lan ra trên toàn nước Pháp. VAI
TRÒ CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG “Đảng
lãnh đạo” là một khẳng định phản lại học thuyết Marx. Đối với
Marx, Đảng là môi trường của ý thức chứ không phải là nơi tập trung
quyền lãnh đạo. Nếu không thì Đảng cũng sẽ rơi vào một trường hợp
vong thân. Người lao động phóng ước vọng của mình ra ngoài mình, thành
ra Đảng lao động , rồi cắm cúi phục vụ nó, chính là vong thân, là để
cho một thành phần của tâm trí mình, mà mình đã đánh mất, quay lại chỉ
huy, đàn áp mình, như đã nói ở trên với Thiên Chúa và Nhà Nước. Marx
viết : “Chúng ta không thể (…) đi cùng đường với những kẻ tuyên bố
rõ ràng rằng người lao động không đủ kiến thức để có thể tự giải
phóng mình và cần được giải phóng từ bên trên” (thư gửi Brake, 17 tháng
9 năm 1879). Marx
cũng chống lại sự độc tôn của Xã Hội Chủ Nghĩa trong giai cấp cần
lao. Ông viết : “Vai trò của (đệ nhất) Quốc Tế (Cộng Sản) là tổ chức,
phổ biến, điều hành, những cao trào
tự phát của giai cấp thợ thuyền, chứ không phải là chỉ huy hay áp đặt
bất cứ hệ thống tư tưởng nào”. MARX VÀ
THUYẾT “KHÔNG TƯỞNG” (UTOPIE) Người
ta thường nói học thuyết Marx là Xã Hội Chủ Nghĩa “khoa học”, đối
nghịch lại với những Fourier, Saint Simon v.v… là Xã Hội Chủ Nghĩa “hoang
tưởng”. Như đối với nhiều triết gia đi trước ông : Hegel, Feuerbach,
Fitche, Moses v.v… và cả Epicure, Marx không dấu diếm ảnh hưởng của các
nhà xã hội tiền phong trên tư tưởng của ông, mặc dù trên một số
khía cạnh, ông chỉ trích họ. Engels nói : “Chúng ta, những người Xã Hội
Đức, hãnh diện vì nguồn gốc của chúng ta không những đến từ Saint
Simon, Fourier và Owen, mà từ cả Kant, Fichte, và Hegel”. Thật
ra “hoang tưởng" không hoàn toàn đối nghịch lại với học thuyết
Marx. Như đã nói ở trên, Lịch Sử không dẫn đến một tương lai tất yếu.
Tức là có nhiều tương lai khả hữu. Con người với ý thức mục tiêu
trong hành động của mình, có thể hình dung một trong những tương lai khả
hữu ấy như mục tiêu của hành động của mình. Tương lai được hình
dung và được chọn làm mục đích ấy, có thể sẽ không xảy ra. Sự
hình dung nọ trở thành hoang tưởng. Mặc dù vậy, nó không nhất thiết đối nghịch lại với học thuyết Marx. Sự
hoang tưởng chỉ đối nghịch lại với học thuyết Marx khi nào nó hoàn
toàn bị bứng rễ khỏi thực tại, khi nó phủ nhận tương quan biện chứng
giữa tự do sáng tạo và ảnh hưởng của thực tại, khi nó trở thành
hoàn toàn trừu tượng, sản phẩm của Lý Tưởng, của Ý Niệm thuần
túy. MARX VÀ
CÁC TRIẾT HỌC DUY TÂM, DUY VẬT Bị
gọi là “duy tâm duy ý chí” là một sỉ nhục đối với người Cộng Sản.
Thật ra, duy tâm và duy vật liên hệ với nhau bằng một tương quan biện chứng. Như đã nói ở
trên, giữa những tương lai khả hữu, con người hướng đến một tương
lai được coi như “tốt”, như “lý tưởng". Đó là một quan điểm duy tâm.
Marx không chống lại thái độ ấy, mà đem nó vào thực tại, qua trung gian
của hành động. Hành động là ảnh hưởng trên những yếu tố cụ thể
của thực tại. Qua hành động con người bắt buộc phải chịu « quy
luật » của thực tại. Sáng tạo của « con người hành động »
không thể không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện cụ thể. Điểm
then chốt của học thuyết Marx là Hành Động. Một thái độ Lý Tưởng
duy tâm có thể là một khởi điểm cho Hành Động, và như thế, nó trở về
với thực tại, để thể hiện tương quan nền tảng của học thuyết Marx giữa
một bên là sáng tạo tự do, bên kia là thực tế quy định. Cần nhớ là
Marx không chỉ đơn thuần định nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa qua những phương
tiện của nó, kiểu như những hình thái sản xuất này nọ (tức những
điều chỉ có giá trị ở một thời và một chỗ), mà ông cũng định
nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa qua cứu cánh của nó, qua mục đích đem lại cho
con người sự nảy nở toàn diện, để « một em bé mang tài năng của
Mozart hoặc của Raphael, có thể thực sự trở thành Raphael hoặc
Mozart » (4). Đó
là một lý tưởng, là duy tâm, và lý tưởng ấy là khởi điểm của triết
học Hành Động của Marx … Hegel là
hiện thân của triết học Duy Tâm. Thế mà Marx nói về Hegel như sau :
« Liện hệ giữa tôi và Hegel rất đơn giản. Tôi là một đệ tử của
Hegel, và những điều bá láp của những tên hậu sinh nghĩ rằng đã đến
lúc có thể đem chôn nhà tư tưởng vĩ đại này, đối với tôi, hoàn
toàn khôi hài » (2). Engels
nói, trong lời mở đầu ấn bản 1874 của sách « la Guerre des
Paysans », rằng : « nếu trước đó không có trết học (duy
tâm) Đức Quốc, nhất là triết học Hegel, thì Xã Hội Chủ Nghĩa khoa học
đã không thể nào hiện hữu được ». Mặt
khác, Marx không phải là một nhà Duy Vật giáo điều, mặc dù ông đã tiếp
nhận di sản của các nhà Duy Vật trước ông, đặc biệt là Feuerbach.
Trong thư gửi Feuerbach ngày 11 tháng 8 năm 1844, Marx viết :
« ông đã đem lại cho Xã Hội Chủ Nghĩa (…) nền tảng triết học ».
Engels thì nói : « Tất cả chúng tôi, một thời, đều đã từng
theo Feuerbach » (3). Duy vật
giáo điều cho rằng cái thực tại mà ta cảm nhận thấy có một sự hiện
hữu tự thân. Thực tại trở thành « sự thật tuyệt đối »,
thành tiêu chuẩn, thay thế cái Lý tưởng, hay Ý Niệm của trường phái
Duy Tâm. Thực ra, thực tại mà ta nhận biết chỉ là một sự thật tương
đối, được tâm trí chúng ta tạo thành qua sự hiểu biết, qua kinh nghiệm,
qua tâm lý, qua những phương tiện quan sát và thực nghiệm mà khoa học kỹ
thuật ở thời đại chúng ta cho phép. Con người tìm biết thực tại bằng
giả thuyết và thực nghiệm. Bước đường tìm biết thực tại như thế,
là vô cùng tận. Ở mỗi chặng đường, con người vẽ lên một bức tranh
tạm thời hình dung thực tại, và đề ra những giả thuyết, những dự phóng
về thực tại, cần được kiểm chứng qua hành động, qua thực nghiệm.
Duy vật giáo điều quan niệm sự vận động của sự vật hiện hữu một
cách tự thân, « tuyệt đối », quy định Lịch Sử và cho ra một
tương lai tất yếu. Lịch Sử đã được viết sẵn. Học thuyết Marx, ngược lại, quan niệm nhiều giả thuyết về thực
tại, và nhiều tương lai khả hữu. Sang trường phái Duy Tâm thì chính sự
vận động của Ý Niệm trên con đường vạch ra bởi biện chứng pháp,
mang vai trò quy định Lịch Sử. Tuy nhiên, con người không tiếp cận với
sự vật tự nhiên cũng như với những phạm trù ý niệm một cách trực
tiếp, mà phải qua trung gian của đời sống, đời sống cá nhân, gia đình,
và xã hội. Vì thế, với Marx, sự vận động của vật chất cũng như sự
vận động của ý niệm đều phải hội nhập vào đời sống, qua triết lý
Hành Động, để trở thành sự vận động của Lịch Sử. Vài
tháng trước khi ông qua đời, tôi có viết cho Trần Đức Thảo một
bức thư trong đó có đoạn như sau : « Bác
đã trích dẫn Lénine để cho rằng : « không có trình độ thấp
nhất của vậy chất », tức vật chất không có cái gì được nhìn
nhận là đầu tiên để mà quy định mọi bước tiến hóa khác. Bác cũng
cho rằng thế giới là « vật chất vô hạn đương vận động ».
Tựu trung, ta có thể hiểu, như Lénine, rằng : « Thiên Nhiên
trong tất cả các bộ phận của nó không có gì đầu tiên và cũng không
có gì kết thúc ». Cái « vật chất » không có hạn chế
và cũng không biết từ đâu ra như thế có còn là vật chất hay
không ? Chấp nhận sự hiện hữu của vật chất như vậy có còn thực
sự là « duy vật biện chứng » nữa hay không ? Vì đến một
lúc nào đó, ở chỗ vô hạn , hay ở chỗ khởi thủy không hiện
hữu, sẽ không còn cái điểm tựa vật chất để mà biện chứng nữa,
và sẽ chỉ còn là vận động khái niệm thuần túy, tức là duy
tâm ».
Trả
lời vấn nạn này rất đơn giản. Lénine, cũng như Marx, không lý luận như
những nhà duy vật giáo điều, tức không bàn đến giới hạn hay khởi điểm
của vật chất tự thân, mà của vật chất được nhận biết được bởi
con người. Sự tìm hiểu vật chất, Thiên Nhiên, cũng như Thế Giới, Vũ
Trụ, là vô cùng tận, khám phá ra cái này nó lại lòi ra cái khác, mỗi giả
thuyết khi áp dụng vào thực nghiệm lại đặt ra một số vấn đề, một
số trục trặc, thúc đẩy người ta tìm ra những giả thuyết, những phát
minh mới … « Vật chất được nhận biết bởi con người » được
coi là vô hạn, vì con đường tìm biết môi trường vật chất là một con
đường vô hạn. MARX VÀ TÔN GIÁO Người
ta thường thu tóm quan điểm của Marx về tôn giáo trong
câu : « tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng ». Marx
viết câu ấy vào năm 1843, lúc ông 25 tuổi, trong tác phẩm « Critique
de la Philosophie du Droit de Hegel ». Trong cùng một đoạn văn, ông cũng nói :
« Tôn giáo một mặt phản ảnh sự
cùng khổ của con người, mặt khác là sự đối kháng chống lại sự
cùng khổ ấy ». Tức là tôn giáo cũng có thể là mầm mống của
cách mạng… Như
đã bàn đến nhiều lần ở trên, mọi quan điểm của Marx đều phải được
đăt trong bối cảnh Lịch Sử trong đó quan điểm ấy có thể áp dụng
được. Marx chống lại tôn giáo ở thời ông, vì tôn giáo, vào lúc đó,
đóng vai trò thành trì của các lực lượng bảo thủ, chống lại mọi sự
thay đổi trong một xã hội đầy dẫy áp bức, bất công. Trên mặt triết
lý, tôn giáo, theo mô hình mà Marx chứng kiến, là một hiện tượng vong thân.
Con người phóng ra ngoài mình những ước vọng, sợ sệt, lý tưởng, rồi
hệ thống hóa thành Thiên Chúa, để chạy theo thờ phượng (vong thân là
đánh mất những gì của mình và bị những thứ ấy thống trị ngược lại).
Không những thế, với Hegel, người ta còn quan niệm Lịch Sử như một con
đường dẫn đến Thiên Chúa, thông qua nhà nước Đức Phổ và xã hội tư
sản. Tôn giáo trở thành « nút chặn » đối với sự vận hành của
Lịch Sử. Nếu chúng ta là những người
Ky Tô Hữu sống ở thời Marx, rất có thể chúng ta cũng chia sẻ một số
nhận định của Marx về tôn giáo ? Ở
một giai đoạn Lịch Sử khác, Marx và Engels không ngần ngại đề cao vai
trò của tôn giáo trong công cuộc đấu tranh chống bất công xã hội. Trong
« Contribution à l’Histoire du Christianisme Primitif », Engels gọi các
cộng đồng Ky Tô Giáo nguyên thủy là là những tổ chức Xã Hội Chủ Nghĩa
đầu tiên. Ông cũng nhấn mạnh đến vai trò khai phóng của của Ky Tô
Giáo trong xã hội Cổ La Mã đang trên đà rữa nát, mặc dù ước vọng về
một sự đổi mới, trên nguyên tắc, sẽ chỉ thành sự thật sau sự sụp
đổ của cái thế giới cùng khổ này, ở một « đời sau » tốt
đẹp và hạnh phúc. Đến thế kỷ 16, nhà thần học Thomas Munzer quan niệm
lời Chúa, Ý Chúa, không phải tìm ở bên ngoài, mà ở trong chính nội tâm
con người. Vấn đề « vong thân” trong điều kiện đó không đặt ra
nũa, và Engels gọi Munzer là « đấng Tiên Tri của Cách Mạng ».
Vì Ánh Sáng của Thiên Chúa soi chiếu nội tâm của mỗi người, giàu cũng
như nghèo, quý phái cũng như cùng đinh, nên Thần Học của Munzer đưa đến
bình đẳng, chống áp bức, bất công. Khi tham gia một cuộc nổi dậy của
nông dân, ông viết trên lá cờ hiệu hàng chữ sau : « Lạy Chúa,
xin hãy ủng hộ Công Lý của Ngài ». Engels cho rằng « Nước Chúa,
đối với Munzer, là một xã hội không có giai cấp, không có tư hữu, và
không có Nhà Nước ». Thử hỏi có bao nhiêu người Công Giáo thành thực
nghĩ rằng Nước Chúa là một xã hội giai cấp, tư hữu, cai trị bởi một
guồng máy Nhà Nước ? Marx
và Engels cũng thừa nhận ảnh hưởng của Joachim de Flore, một tu sĩ sống
ở thế kỷ 12, trên Xã Hội Chủ Nghĩa. Lý thuyết của ông này dựa trên
sách « Apocalypse», tức quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh Tân Ước.
Joachim de Flore cho rằng giai đoạn một ngàn năm được nói đến trong
Apocalypse, trong đó Đức Ky Tô sẽ trở lại ngự trị trên thế giới,
chính là một sứ điệp hy vọng, một Tin Mừng theo nghĩa gốc của chữ
Evangile (evagellion tiếng Hy Lạp là tin mừng). Đó cũng là một thôi thúc đấu
tranh, liền trong hiện tại, cho sự hình thành của Nước Chúa, với Tình
Yêu ngự trị trên mọi tương quan xã hội. Tư tưởng này đem tương lai vào
hiện tại, và, như học thuyết Marx, nó có khả năng làm quay lại bánh xe
Lịch Sử bị bế tắc. Thần học của người tu sĩ Joachim de Flore đã ảnh
hưởng trên những nhà cách mạng sau đó, từ Jan Hus, qua Thomas Munzer, đến
Marx và Engels. Trước
tính áp bức bất công của Nhà Nước Đức Phổ, gắn liền với Ky Tô
Giáo ở thời ông, Marx nói trong «la Question Juive » : « Nhà Nước
tự nhận là Ky Tô Giáo thật ra chỉ là sự phủ nhận Ky Tô Giáo của Nhà
Nước ấy, và hoàn toàn không phải là sự thể hiện của Ky Tô Giáo trong
chính trị ». Ông chủ trương đạt đến một xã hội trong đó
« nền móng không phải là Ky Tô
Giáo, mà là nền tảng nhân bản của Ky Tô Giáo » (5). Ngày
nay, tôn giáo, đặc biệt là Ky Tô Giáo, trong đại đa số trường hợp, không
còn là công cụ của áp bức nữa, mà ngược lại, thường đứng về phía
kẻ bị áp bức. Những chính quyền đàn áp tôn giáo đều là những chính
quyền bảo thủ và ở nhiều nơi trên thế giới, tôn giáo chính là niềm
hy vọng chủ yếu, nếu không phải là duy nhất, trong việc chuyển đổi những
thể chế tệ hại, tham nhũng, bất công, bóc lột … Đức
Gioan Phao Lồ đệ nhị nói, năm 1995 : « Tư Bản phải phục vụ
cho lao động, không phải lao động phục vụ cho Tư Bản », tóm lược
những ý tưởng đã được Ngài đề ra trong Sứ Điệp Centesimus Annus
(1991), đưa đến nhận xét khôi hài của Benoit Duquesne : « Đức Gioan
Phao Lồ đệ nhị là người Marxiste cuối cùng !» (6). CHỜ ĐỢI GÌ NƠI HỌC THUYẾT
MARX ? Vào
tháng 10 năm 2002, trang nhà của tự điển bách khoa danh tiếng Encyclopedia Britanica đăng một tài liệu của Peter
Hudis về Marx (Marx trong toàn cầu hóa - Marx in the mirror of globalisation), gọi
Marx là « vị tiên tri của Toàn Cầu Hóa ». Hudis trích dẫn John
Micklethwait và Adrian Wooldridge, hai nhà biên tập của tạp chí « The
Economist », phát biểu trong tác phẩm « A future perfect : the
challenge and hidden promise of globalisation », cho rằng quan điểm của Marx
về « liên hệ toàn cầu giữa các quốc gia » đã mô tả những vấn
đề đặt ra bởi toàn cầu hóa, từ cách đây 150 năm ! John Cassidy trong một bài báo năm 1977 “The Return of
Karl Marx” (New Yorker) gọi Marx là « Nhà tư tưởng vĩ đại của tương lai »
(the next big thinker), và trích dẫn một nhà tài phiệt cao cấp của Wall
Street, như sau : « Càng kinh doanh lâu năm ở Wall Street, tôi
càng vững tin rằng Marx có lý ». Francis Wheen, trong “Karl Marx, a life”,
phát biểu rằng : « Càng nghiên cứu Marx, tôi càng nhận ra tính chất hợp
thời một cách không thể tưởng tượng được của ông. Những chuyên gia
hay nhà chính trị thời nay thường tự hào là những nhà tư tưởng tiền
phong khi không bỏ lỡ cơ hội nào để bàn đến vấn đề thời trang «
toàn cầu hóa », mà không biết rằng Marx đã phân tích đề tài này từ
năm 1848 ». Thật ra,
có lẽ không nên nhìn những phân tích của Marx từ năm 1848, mà nên nhìn
phương pháp phân tích của ông. Áp dụng học thuyết Marx, ờ thế kỷ 21,
không thể là sao chép những gì Marx đã đề ra vào cuối thế kỷ 19. Áp dụng
học thuyết Marx, ở thế kỷ 21, là nối tiếp công trình nghiên cứu của
Marx, là ứng dụng linh động phương pháp phân tích thực tại của ông,
và từ đó đề ra những dự kiến vượt lên thực tại, để, qua Hành Động,
làm chuyển vận trở lại bánh xe biện chứng bị ngưng trệ, ngõ hầu tham
gia một cách ý thức và sáng tạo vào Lịch Sử. Bạn có
thể tự hỏi : « Tai sao tôi lại bỏ công phu tìm tòi biện hộ cho Marx ? » Tôi cũng tự hỏi như vậy.
Và, một buổi sáng nọ, tôi đã tìm ra câu trả lời, đó là : ở một
trình độ rất khiêm nhượng, tôi có một cái gì chung với ông. Thật vậy,
cũng như Marx, tôi không phải là người Marxiste ! (7)
(2)
Tu Bản Luận (3)
Marx et Engels – Etudes Philosiophiques –Ed Sociales (4)
Idéologie Allemande – Ed Sociales (6)
Benoit Duquesne - La (7)
Marx nói với Lafargue : « Tôi, Karl Marx, không phải
là người Marxiste » – Thư Engels gửi Berstein
- 3/11/1882
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com