
Trần Chung Ngọc
Gần đây Nhà Nước
Việt Theo sự nhận xét của
tôi thì những bài góp ý hoặc ý kiến của các tác giả như Nguyễn Trung,
Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Ngọc Lanh, Kim Văn Chính,
Bùi Kiến Thành, Nguyễn Đức Bình v..v.. là những đóng góp có
tính cách xây dựng bắt nguồn từ lòng yêu nước yêu dân tộc, tuy tôi
không mấy đồng ý với những nhận định về một vài vấn đề nào đó.
Tôi sẽ không đi vào những vấn đề này vì mất rất nhiều thì giờ và
choáng chỗ, phải viện dẫn nhiều tài liệu.
Nhưng tôi phải thú thực là tôi rất thất vọng khi đọc
những bài góp ý của phe thứ hai, điển hình là của Đặng Văn Việt, Hoàng
Tiến, và nhất là của Trần Mạnh Hảo. Sau
đây là đôi điều nhận xét của tôi về mấy bài này để chứng minh nhận
xét trên của tôi, tuy hơi dài dòng, nhưng tôi nghĩ cũng cần thiết để làm
sáng tỏ một số vấn đề. Trước đây tôi đã
khổ vì phải đọc bài “Những Điều Lạ Trên Đất Mỹ” của Cụ Đặng Văn Việt và đã
phải lên tiếng phê bình trên trang nhà Giao Điểm [Tháng 4, 2005]. Nay tôi lại
phải đọc bài “Góp Ý Vào Bản Báo Cáo Chính Trị Đại Hội X” của
Cụ, chẳng phải là tôi muốn đọc, mà chỉ vì “Góp Ý Vào Bản Dự Thảo…”
là một vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng đến tương lai đất nước.. Trong bài này tôi phục nhất
là hai câu cuối: “Việt này không bao giờ chống
lại Đảng, đi ngược lại quyền lợi của nhân dân.” và “Việt này không sợ bất cứ một cường
quyền nào, chỉ sợ mình làm sai.” mà
tôi cho là khá mâu thuẫn. Đọc câu thứ nhất, chúng ta có thể hiểu theo
hai cách. Một là Cụ Việt không bao giờ
chống lại Đảng và không bao giờ đi ngược lại quyền lợi của nhân
dân. Hai là, chống lại đảng là đi
ngược lại quyền lợi của nhân dân. Nhưng
đọc nội dung bài góp ý của Cụ thì ai cũng hiểu là Cụ chống Đảng, vì
vậy giới truyền thông hải ngoại nổi tiếng chống Cộng nhất đua nhau
đăng bài góp ý của Cụ (Đàn Chim Việt, Thông Luận, Cánh Én v..v..). Cũng như những bài của Hoàng Tiến, Trần
Mạnh Hảo, họ đăng chỉ vì Cụ cũng như các vị kia chống Đảng cho họ
chứ chẳng phải là có giá trị gì trong những bài đó. Cụ Đặng Văn Việt
tự khoe gia phả và lý lịch mà tôi cho là ít người quan tâm đến: “là
dân xứ Nghệ, là hậu duệ các vua nhà Trần, là chắt cố Đông các Đại
Học sĩ Cao Xuân Dục, là cháu nội cụ Hoàng giáp Đặng Văn Thuỵ nguyên Tế
tửu Giám đốc trường Quốc Tử Giám, là con trai cụ Đặng Văn Hướng
nguyên bộ trưởng trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa”, có lẽ để cho độc
giả biết mình thuộc lớp “Sĩ Phu xứ Nghệ”, uy vũ bất năng khuất, bần
tiện bất năng di, để đi đến kết luận: “Việt này không bao giờ
chống lại Đảng…, Việt
này không sợ bất cứ một cường quyền nào, chỉ sợ mình làm sai.”. Chỉ có điều, nếu mình sai mà không biết
là mình sai thì sao? Trong bài phê bình
bài “Những Điều Lạ Trên Đất Mỹ” của Cụ, tôi đã vạch ra một
đống sai lầm của Cụ khi Cụ nhận xét hời hợt về nước Mỹ qua 2 tháng
Cụ “cưỡi ngựa sắt xem hoa” trên 1/1000 nước Mỹ [như chính Cụ tự
nhận], mà vô tình hay cố ý, Cụ đã gây ra tâm cảnh vọng Mỹ vô lối
cho những người dân trong nước chưa biết Mỹ là gì, nên không thể nhận
ra những điều “đi xa về nói phét” trong bài của Cụ. Lạ một điều, trong bài mới “Góp
Ý” này mà Cụ vẫn giữ y nguyên một sai lầm trong bài cũ. Vì thế tôi mới đặt câu hỏi: “Nếu mình
sai mà không biết là mình sai thì sao?” Có vẻ như không ai
nói cho Cụ Việt biết là Cụ đã có những nhận xét rất hời hợt về nước
Mỹ trong chuyến đi Mỹ của Cụ trước đây cho nên Cụ lại nhắc lại
điều sau đây trong bài cũ của Cụ: Ở nước Mỹ thì 3 không: Như vậy chúng ta cần
phải hiểu rằng, tham nhũng là căn bệnh bất trị của những cá nhân
trong mọi xã hội, những người trong giới có chức, có quyền thế, càng
có nhiều tiền càng tham, lòng tham không đáy, và tất nhiên chưa ngộ được
tính vô thường của vạn pháp. Nhưng
sự thiếu hiểu biết của Cụ Việt về nước Mỹ chỉ là chuyện nhỏ
vì không ai có thể trách một người chưa bao giờ biết gì về Mỹ bị
choáng ngộp trước cảnh văn minh tiến bộ của Mỹ và không hề có cơ hội
để tìm hiểu sâu thêm về nước Mỹ. Sự
sai lầm căn bản của Cụ Việt là trong một bản góp ý vào bản dự thảo
chính trị Đại Hội X của Đảng lại
mang những điều mình không biết rõ về nước Mỹ ra làm tiêu chuẩn để
so sánh và đối chiếu phê bình Việt Nam. Lẽ
dĩ nhiên, Việt Chúng ta hãy đọc một
đoạn khác của Cụ Việt: Chủ nghĩa Mác
nêu tiêu chí đấu tranh giai cấp là một yếu tố để chống sự bất công
của xã hội, đem lại công bằng văn minh, đưa đến một xã hội lý tưởng
tốt đẹp, nhưng một số lãnh tụ, một số nhà lý luận quá khích,
giáo điều, nêu lên thành "sợi chỉ đỏ xuyên suốt" thúc đẩy xã
hội tiến lên, làm cho giữa cái Thiện và các ác, người theo chủ nghĩa cộng
sản luôn được khuyến khích đến cái ác [sic], trái với các đạo giáo khác trên
thế giới luôn giáo dục con người lòng Từ bi, Bác ái, tương thân, tương
ái, hạn chế sự độc ác của loài người với nhau. Vì vậy mà: - Đạo Phật (thế kỷ V TCN) tồn tại
đến nay là 2.500 năm Tôi chưa thấy ai viết
lẩm cẩm như trên, vừa sai sự thật về chủ nghĩa Cộng Sản, vừa vô
nghĩa vì so sánh táo với cam. Chủ nghĩa
Mác không phải là một “đạo”. Cho
nên coi chủ nghĩa Mác là một đạo như đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo
Hồi và so sánh tuổi thọ của chủ nghĩa Mác với tuổi thọ của các tôn
giáo là chuyện ngớ ngẩn. Hơn nữa,
viết về các tôn giáo như trên chứng tỏ rằng Cụ Việt chưa bao giờ sờ
đến cuốn Kinh Thánh của Ki Tô Giáo, chưa bao giờ đọc đến lịch sử của
Ki Tô Giáo hay Hồi Giáo. Những chiến
tranh tôn giáo giữa những giáo phái cùng thờ một Thiên Chúa [Ki-tô Giáo
và Hồi Giáo cùng thờ một Thiên Chúa, Thiên Chúa của Do Thái], những cuộc
Thánh chiến, những tòa án xử dị giáo với những dụng cụ khủng khiếp
để tra tấn những người “lạc đạo”, những cuộc thiêu sống phù thủy
v..v.. phải chăng bắt nguồn từ sự “giáo dục con người lòng Từ bi,
Bác ái, tương thân, tương ái, hạn chế sự độc ác của loài người với
nhau” của các đạo giáo như đạo Thiên Chúa và đạo Hồi?? Nhưng thực
ra thì chỉ có những người hoặc chế độ thi hành sai lầm chủ nghĩa Mác
sụp đổ chứ chủ nghĩa Mác đâu có sụp đổ.
Đúng vậy, như Cụ Việt viết ở trên: Chủ nghĩa Mác nêu
tiêu chí đấu tranh giai cấp là một yếu tố để chống sự bất công của
xã hội, đem lại công bằng văn minh, đưa đến một xã hội lý tưởng tốt
đẹp, vậy thì chủ nghĩa đó quá tốt đẹp rồi so với những chủ
nghĩa tư bản hay thần quyền tôn giáo mà trong lịch sử chứa đầy những
chiến tranh và những bất công xã hội. Có lẽ Cụ Việt không thể ngờ được là
trong các nước ở Âu Châu cũng như trong những nước như Pháp, Gia Nã Đại
và Mỹ, khoan nói đến các nước trong thế giới thứ ba, đảng Cộng Sản
(Communist Parties), đảng hay tổ chức Mác-Lênin (Marxist-Leninist Parties or
Organizations) vẫn là những tổ chức hợp pháp.
Và như tôi đã viết trong bài phê bình Nghị Quyết 1481 của một
nhóm chính khách trong Quốc Hội Âu Châu: “Ở
Âu Châu ngày nay, cũng như ở trong nhiều nước khác trên thế giới, có một
khuynh hướng mà giới truyền thông gọi là “hoài niệm chủ nghĩa Cộng Sản”
(What the media call "nostalgia for communism," is spreading in these
countries.) Thật vậy, trước sự kiện
Hiến Pháp Âu Châu bác bỏ không chấp nhận để vào trong đó từ “Thượng
đế” và trước sự tiến bộ của những đảng lao động và Cộng sản
ở Tiệp, Đức và trong nhiều nước khác ở Đông Âu, những đảng được
coi là đại diện của hệ thống xã hội chủ nghĩa (Witness the Nos to
the European constitution, the progress of Communist and workers' parties in the Czech
republic, in Germany and in other countries of East Europe, parties that are, rightly or
wrongly, considered to be representative of the socialist system), tình trạng này
làm cho giới tư sản bảo thủ Âu Châu lo sợ là lịch sử lại tái diễn
(But in the eyes of the most rightwing fringe of the European bourgeoisie it is high time
to prevent the unthinkable becoming reality once again.)” Vào trong Bách Khoa Tự Điển Wikipedia, chúng
ta có thể đọc được câu sau: “Ngày nay, những đảng chính trị
Mác-xít lớn nhỏ khác nhau đều hiện hữu trong hầu hết các quốc gia
trên thế giới” [Today, Marxist
political parties of widely different sizes exist in most countries around the world.] Xin
đừng cho là tôi viết như trên là vì “thiên Cộng”. Trong lãnh vực học thuật, viết về lịch
sử chúng ta phải cho rõ ràng, không thể vì cảm tính riêng mà không đếm
xỉa gì đến sự thật. Chủ nghĩa Cộng
Sản là một chủ nghĩa chính trị xã hội, không phải là một tôn giáo. Vì là một chủ nghĩa chính trị xã
hội nên nó cũng phải thay đổi theo sự biến chuyển của chính trị quốc
tế và xã hội dân tộc, từ hình thức cho đến nội dung. Không nhìn thấy sự thay đổi trong các chế
độ còn mang tên Marx và tiếp tục chống đối cái tên thì chẳng qua chỉ
là dựng lên một người rơm để tự tay mình quật nó xuống. Thật vậy, chúng ta hãy đọc một đoạn
trong Wikipedia dưới đầu đề “Chủ nghĩa Marx và Thế Giới” (Marxism
and the world):
“Tuy
rằng vẫn còn nhiều phong trào cách mạng xã hội và đảng chính trị mang
tên Marx trên thế giới, từ khi khối Nga Sô Viết và các nước chư hầu sụp
đổ, ít còn những quốc gia mà trong đó chính quyền tự nhận là
Mác-xít. Tuy các đảng dân chủ xã hội
đang nắm quyền trong một số nước ở Tây phương, họ đã từ lâu tách
ra khỏi những liên hệ lịch sử với những tư tưởng của Marx. Cho tới 2005, chính quyền trong các nước
như Lào, Việt Nam, Cuba, và Trung Quốc tự cho là xã hội chủ nghĩa theo
nghĩa Mác-xít. Tuy nhiên, khu vực tư nhân
chiếm hơn 50% nền kinh tế của Trung Quốc, và Việt (Although there are
still many Marxist revolutionary social
movements and political parties
around the world, since the collapse of the Soviet Union
and its satellite states, relatively few countries have governments which describe
themselves as Marxist. Although social democratic parties are in power in a number of
Western nations, they long ago distanced themselves from their historical connections to
Marx and his ideas. As of 2005, Laos, Vietnam, Cuba, and the People's Republic of China
had governments in power which describe themselves as socialist in the
Marxist sense. However, the private
sector comprised more than 50% of the Chinese economy by this time and the
Vietnamese government had also partially liberalized its economy.) Nhìn những sự
thay đổi về mọi mặt ở trong nước, chúng ta cần phải hiểu rằng, tuy
Nhà Nước luôn luôn tuyên bố là giữ vững chủ thuyết Marxist-Leninist, nhưng
trong thực tế đã từ bỏ chủ thuyết đó từ lâu rồi. Đó chỉ còn là một danh xưng trang trí của
một quá khứ chống ngoại xâm. Nhà Nước
chẳng lẽ lại không biết là tượng Lenin đã bị kéo đổ ở Nga? Nhà Nước chẳng lẽ lại không biết là
Marx đã tiên đoán sai là chủ nghĩa tư bản sẽ cáo chung và giai cấp công
nhân sẽ nắm quyền trên khắp thế giới? Nhưng
những người “chống Cộng” không muốn chấp nhận sự thực này, cho
nên họ vẫn tiếp tục chống những thứ mà thực sự không còn hiện hữu. Thật đáng tiếc, với
một số ý kiến trong bài góp ý, Cụ Việt có thể viết một bài có tính
cách xây dựng hay hơn nhiều, nhưng thay vào đó Cụ lại viết loạc choạc,
chứa nhiều mâu thuẫn, chỉ trích và chống đối nhiều hơn là xây dựng,
và có những điều đọc rất lẩm cẩm và buồn cười, thí dụ như: Dân tộc ta hiện có hơn 82 triệu dân
trong nước và 3 triệu Việt Kiều, trong ấy có hơn 2,6 triệu là đảng viên
cộng sản, 2 triệu 6 đảng viên ấy theo đạo Mác là tất nhiên, còn lại
hơn 80 triệu người Việt Nam khác và 3 triệu người Việt Nam ở nước
ngoài tại sao Đảng cộng sản Việt Nam lại bắt họ phải theo học thuyết
Mác? Tại sao lại vơ cái
đám Việt kiều vào đây? Cụ tin rằng
kéo Việt kiều vào là họ đương nhiên sẽ theo Cụ? Ai bắt Việt kiều phải theo học thuyết
Mác? Mà theo học thuyết Mác thì sao? Trong giới trí thức, tìm hiểu học thuyết
Mác là điều mà các học giả trong các trường đại học và cả trong
các giáo hội Ki-Tô Giáo đã từng làm và vẫn tiếp tục làm. Chính Cụ đã chẳng
viết là: Chủ nghĩa Mác như ngọn đèn pha sáng chói ở cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20 đã thức tỉnh nhân dân lao động, phong trào công nhân
đứng lên chống áp bức bóc lột của chế độ tư bản... Chủ nghĩa Mác
đã thức tỉnh các dân tộc thuộc địa đứng lên chống chủ nghĩa đế
quốc. Nhờ có chủ nghĩa Mác đã xuất hiện Cách mạng tháng Mười Nga, sự
chiến thắng của Hồng quân Liên Xô chống chủ nghĩa phát xít. Từ phong
trào chống đế quốc, Cách mạng Việt Nam đã thành công, Việt Nam đã chiến
thắng đế quốc Pháp, Mỹ, kéo theo là sự sụp đổ của chủ nghĩa thực
dân trên toàn thế giới.?? Vậy
thì có gì phải phàn nàn với học thuyết Mác?
Thực ra là Cụ muốn suy tôn hay là đả phá học thuyết Mác
ở đây? Cụ còn viết: Ai muốn theo ông Thích Ca, ông Giê Su,
ông Mahômet, ông Mác thì cứ đi theo ông nào mà mình thích; không thể bắt
người đi theo ông Thích Ca, ông Giê Su, ông Mahômet lại phải chạy theo
ông Mác. Theo ông Thích Ca,
ông Giê Su, ông Mahômet là thuộc về vấn đề tín ngưỡng. Còn theo ông Mác là theo một chủ thuyết
chính trị xã hội. Hai bình diện hoàn
toàn khác nhau. Người theo ông Thích
Ca, ông Giê-su, ông Mahômet rất có thể theo cả ông Mác, và người theo
ông Mác rất có thể cũng theo cả ông Thích Ca, ông Giê-su, hay ông Mahômet. Cụ Việt lẫn lộn giữa dân tộc và tôn
giáo, không hiểu rằng tôn giáo nằm trong dân tộc và phải có bổn phận
với dân tộc hay sao. Bài góp ý của Cụ
Việt không phải là không có vài ý kiến đáng để cho Nhà Nước cứu xét,
nhưng những câu viết lẩm cẩm, những thông tin sai lạc và tinh thần vọng
Mỹ trong đó đã làm giảm đi giá trị của bài góp ý rất nhiều. So sánh GDP bằng những con số mà không biết
đến sự khác biệt trong mức sinh hoạt của mỗi quốc gia là điều đáng
tiếc. Thí dụ, một bát phở ở Việt
Nam giá trung bình khoảng 50-60 xu Mỹ, trong khi ở Mỹ là từ 4.5 đến 5 đô
la, và ở Pháp là 7-8 đô la. Chỉ dựa
trên những con số và không kể đến sự khác biệt về giá sinh hoạt thì
tính theo Per Capita Income, Việt Đọc bài góp ý của
Cụ Đặng Văn Việt tôi đã cảm thấy ngán ngẩm, nhưng đọc bài góp ý của
Trần Mạnh Hảo tôi còn thấy ngán ngẩm hơn nữa. Ngán ngẩm vì thấy Trần Mạnh Hảo làm
công việc của anh thợ giầy mà lại cứ muốn đi lên trên nơi giầy dép,
vì Trần Mạnh Hảo, với kiến thức chính trị, lịch sử, khoa học có thể
nói là con số không, mà cũng lên tiếng phê bình nọ kia. Chứng minh? 1. Phê bình một câu trong bản dự thảo
chính trị đại hội X, ông Trần Mạnh Hảo viết: “Câu văn : “Nắm
vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta” là một câu văn viết sai tiếng Việt hoàn toàn, sai logic, chứng
tỏ các tác giả bản dự thảo có tư duy thiếu khoa học, lộn xộn, đã
viết ra một câu văn hoàn toàn vô nghĩa vì nó rất ngô nghê, buồn cười.
Cũng giống như khi thí dụ ông Nguyễn Phú Trọng viết một câu văn tương
đương : “Kiên trì trộn nước vào lửa để Đảng ta vừa có thể pha
trà, mà không cần đun sôi nước, vừa có thể mở rô-bi-nê cho chảy ra một
hợp chất lỏng có tên “đỉnh cao trí tuệ”, có thể dùng mồi thuốc
thay diêm quẹt”. Kinh tế thị trường tức là kinh tế tư bản, một nền
kinh tế tự do; còn kinh tế Xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế độc quyền,
phi tự do. Hai nền kinh tế trái ngược nhau như nước với lửa, có tao
thì không mày, có mày thì không có tao. Như vậy có phải
là phê bình đứng đắn hay không? Trần
Mạnh Hảo, dựa trên thiên kiến và trình độ hiểu biết của mình, đã
cho rằng câu trên vô nghĩa, ngô nghê buồn cười, và chứng minh luận cứ
của mình bằng một thí dụ của ông ta mà có đọc mới thấy thật đúng
là vô nghĩa, ngô nghê, buồn cười, mà chỉ có một nhà thơ tứ tuyệt con
cóc đậm mùi con thuyền Nghệ An [đối với tôi] như Trần Mạnh Hảo mới
có thể phịa ra được. Thật vậy, thứ
nhất, Trần Mạnh Hảo [TMH] đã cố ý bỏ đi phần giải thích tiếp theo của
câu “Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị
trường ở nước ta”
trong bản Dự Thảo là “Thực hiện mục tiêu "dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Giải phóng
mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, huy động và sử dụng
có hiệu quả mọi nguồn nội lực và ngoại lực, nâng cao đời sống nhân
dân. Ðẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người dân vươn lên
làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá
giả hơn. Phát triển nền kinh tế nhiều
hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể
ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.” Thứ nhì, “xã
hội chủ nghĩa” không phải là “kinh tế xã hội chủ nghĩa” mà TMH tự
định nghĩa là nền kinh tế độc quyền, phi tự do. Hoàng Tiến cũng vấp phải sự sai lầm
nghiêm trọng này, khi phê bình câu trên và cũng cho rằng “định hướng xã
hội chủ nghĩa” chính là “kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Không ai cấm ai áp dụng nền kinh tế thị
trường để phục vụ cho một đường hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp
với mỗi quốc gia. Một khi chưa định
nghĩa rõ ràng định hướng xã hội chủ nghĩa là như thế nào thì không
thể gán ép xã hội chủ nghĩa chính là kinh tế xã hội chủ nghĩa theo định
nghĩa của ông Hảo. Vào Internet, đánh
chữ “Socialism” tức “Xã hội chủ nghĩa” trong mục Search, chúng ta sẽ
thấy có khá nhiều loại xã hội chủ nghĩa trong đó. Có “liberal socialism” [xã hội chủ nghĩa
tự do], “national socialism” [xã hội chủ nghĩa quốc gia], “christian
socialism” [xã hội chủ nghĩa của Ki Tô Giáo], “market socialism” [xã hội
chủ nghĩa kinh tế thị trường], “democratic socialism” [xã hội chủ nghĩa
dân chủ] v..v… Cho nên, khi phê bình
như trên, ông Hảo đã để lộ trình độ hiểu biết của mình khi đọc một
câu mà ông cho là “viết sai tiếng Việt hoàn toàn, sai logic, hoàn toàn vô
nghĩa, ngô nghê, buồn cười.” Câu văn
đó chỉ “sai tiếng Việt hoàn toàn, sai
logic, hoàn toàn vô nghĩa, ngô nghê, buồn cười.” đối với
người “đọc không hiểu tiếng Việt, không hiểu thế nào là logic, và
là người ngô nghê, đáng buồn cười” chứ còn đọc hết phần tiếp theo câu văn đó trong bản dự
thảo thì chẳng có gì là sai tiếng Việt hay vô nghĩa, ngô nghê và buồn cười
cả. Nhà thơ TMH có thể phân biệt
được thế nào là “định hướng” và thế nào là “kinh tế” hay
không? Hay “định hướng” phải là
“kinh tế” ? TMH cho rằng câu văn trên
hàm ý Đảng chủ trương quay ngược kim đồng hồ, trở về nền kinh tế
trong thập niên 1975-85 hay sao mà phê bình như vậy? Góp ý như vậy thì đúng là một trò đùa,
vô ích (ý của TMH), chẳng phải là đảng giữ độc quyền chân lý, mà
là người góp ý không đủ trình độ để góp ý. 2. Trần Mạnh Hảo tự phong là nhà nghiên cứu,
nhà khoa học (sic) nhưng chúng ta hãy đọc một đoạn phê bình chủ thuyết
Mác của Trần Mạnh Hảo để xem trình độ nghiên cứu và khoa học của
ông ta như thế nào: SAI THỨ NHẤT CỦA MÁC : Ấy là việc
ông giải thích sự phát triển của lịch sử loài người chính là do cuộc
đấu tranh giai cấp bằng vũ lực ( bạo động cách mạng). Cái sai lớn
nhất của Mác này bắt đầu từ cái sai lớn nhất của nhà tự nhiên học
Tôi bắt buộc phải
xin lỗi quý độc giả để viết rằng: Tôi
không thấy ai viết ngu và đích thực là ngô nghê như Trần Mạnh Hảo. Viết như trên, Trần Mạnh Hảo vừa không
hiểu gì về Mác vừa không hiểu gì về thuyết Tiến Hóa của Thứ nhất, thuyết
Tiến Hóa của Thứ nhì, bản Tuyên
Ngôn của đảng Cộng Sản được xuất bản năm 1848, và 11 năm sau, 1859,
Darwin mới cho xuất bản cuốn Về Nguồn Gốc các Chủng Loại, vậy
chẳng làm gì có chuyện hoang đường như Trần Mạnh Hảo tưởng tượng: “Đọc đến điều này [“đấu
tranh sinh tồn : cá lớn muốt cá bé” mà Trần Mạnh Hảo cho là của
Darwin], Mác bốc đồng, hét lớn : “Ơ rê ca ! Ơ rê ca !” Chẳng biết gì về lịch sử, chẳng biết
Mác chủ trương ra sao, khi nào, chẳng biết thuyết Tiến Hóa của Darwin là
gì, có từ bao giờ, thế mà cũng đòi góp ý bằng những luận điệu mà
thực chất chỉ chứng tỏ trình độ hiểu biết không thể xếp hạng được
của mình. Thế mà cũng thành người nổi danh, tự nhận là nhà nghiên cứu,
nhà khoa học, được đăng bài vung vít trên vài diễn đàn truyền thông
lá cải hải ngoại đấy. Vì không biết
gì về Mác, Trần Mạnh Hảo cũng không hề biết rằng, chủ trương đấu
tranh giai cấp của Mác không phải là luôn luôn phải dùng đến bạo lực
mà có thể thực hiện một cách hòa bình. Ngày
8 tháng 9, năm 1872, trong một diễn văn dưới đầu đề “Có Thể Làm
Cách Mạng Mà không Cần Đến Bạo Lực” (The Possibility of Non-Violent
Revolution), đọc tại “Các bạn biết
rằng chúng ta phải xét đến những định
chế, và hơn nữa, những truyền thống
của các quốc gia khác nhau, và chúng ta không phủ nhận là có những quốc
gia như Mỹ, Anh, và Hòa Lan, trong đó giới công nhân có thể đạt được
mục đích qua những phương tiện hòa bình”. (The Marx-Engels
Reader, Edited by Robert C. Tucker, p. 523: You
know that the institutions, mores, and the traditions of various countries must be taken
into consideration, and we do not deny that there are countries – such as America,
England, and Holland – where the workers can attain their goal by peaceful means). Ngay trong bản “Tuyên Ngôn”, sau khi đưa
ra một số biện pháp đấu tranh, Marx đã cho rằng “Những biện
pháp này tất nhiên phải khác nhau trong những quốc gia khác nhau”
(These measures will of course be different in different countries). Hơn nữa, khi đọc những tài liệu về
Marx, chúng ta còn thấy Marx chống sự sùng bái cá nhân (against personality
cults) Cụ Nguyễn Trung
có viết về học thuyết Mác như sau: “Còn
nói về học tập học thuyết Marx (nói theo ngôn ngữ chính thống của trường
Đảng thì phải nói là học tập chủ nghĩa Marx – Lénine) thì xin Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hãy so sánh các sách, các giáo trình của Học
viện viết ra với những công trình nghiên cứu trên thế giới từ hơn một
nửa thế kỷ nay, để biết học thuyết Marx được khai thác, được phát
triển thêm như thế nào – tôi xin miễn bàn đến những công trình nghiên
cứu chỉ nhằm chằm chằm vào mục đích duy nhất là phản bác và chống
lại học thuyết Marx.” [Các luận
điệu phản bác và chống Mác của Trần Mạnh Hảo chẳng phải là công
trình nghiên cứu gì mà chỉ là những định kiến sai lầm do bị nhồi sọ
hoặc vì thiếu hiểu biết.] Cụ cũng còn viết về Bàn về chủ nghĩa Mác-Lênin,
Trần Mạnh Hảo viết: “Đây là thứ chủ nghĩa chẳng có dây mơ rễ má
gì với dân tộc Việt Với cái lối
viết trong toàn bài của Trần Mạnh Hảo, và với một loại kiến thức của
ông ta như vậy, tôi chợt nghĩ đến vài cụm từ của giáo sư sử học
Nguyễn Mạnh Quang: “đao phủ văn chương” và “côn đồ văn hóa”. Tôi cho rằng Nhà Nước chẳng cần
quan tâm đế cái loại góp ý rác rưởi này, và nếu muốn giáo dục ông
ta thì nên nhốt ông ta lại một thời gian, để ông ấy có thì giờ trở
lại nghề của ông ấy, làm thơ tứ tuyệt con cóc [đối với tôi] cho muỗi
và rệp nghe. Nhốt ông ấy lại không
phải vì ông ấy chống đảng hay chỉ trích đảng, mà vì cái tội ông ấy
viết bậy, nhảm nhí một cách rất du côn và như điên trong một vấn đề
quan trọng của đất nước. Hay là cho
ông ấy xuất ngoại để cho những người chống Cộng ở Mỹ trải thảm
đỏ ra đón tiếp một “vô thượng thiên tài” của họ, hay là cho ông
ấy sang Vatican để học tập thêm lối viết của Alexandre de Rhodes khi xưa
trong “Phép Giảng Tám Ngày”.. Trước khi sang phần
II, tôi muốn nói lên một điều mà tôi cho rằng những người chống Mác
hay ủng hộ Mác ít biết đến. Đó
là, vào cuối cuộc đời của mình, chính Mác đã phủ nhận mình là người
Mác-xít theo nghĩa những người khác
hiểu về Mác. Thật vậy,
Giáo sư lý thuyết chính trị tại đại học Oxford, Isaiah Berlin, đã viết
trong cuốn sách nghiên cứu về “Karl Marx” như sau, trang 221: “Marx, vào cuối cuộc đời, tuyên bố
rằng bất kể ông ta có thể là nhân vật nào khác, ông ta chắc chắn
không phải là một người Mác-xít” (Marx, towards the end of his life,
declare that whatever else he might be, he was certainly
not a Marxist). Giáo sư Robert L.
Heilbroner, tác giả cuốn “Những Triết Gia Thế Gian: Đời Sống, Thời Đại, và Tư Tưởng Của Những Tư Tưởng Gia Kinh Tế
Vĩ Đại” (The Worldly Philosophers: The
Lives, Times, and Ideas of the Great Economic Thinhkers), một trong những tư tưởng
gia vĩ đại mà tác giả viết trong cuốn sách trên chính là Marx, đã viết
Lời Mở Đầu trong cuốn sách nghiên cứu về Karl Marx của Isaiah Berlin như
sau, trang xix: “Mác đã tự tách
mình ra khỏi những sự ngu xuẩn mà người ta diễn đạt nhân danh ông ta”
(“I am not a Marxist”, Marx remarked toward the end of his life – dissociate
himself, Berlin suggests, from the idiocies which were already beginning to be perpetrated
in his name”). Do đó, Marx không nằm
trong sự diễn đạt ngu xuẩn về ông ta của Trần Mạnh Hảo hay của một
số “nhà chính trị” hay “nhà dân chủ” ở Việt Nam. Nhà Nước mời gọi
góp ý để xây dựng tương lai cho đất nước.
Nhưng một số như Trần Mạnh Hảo và các “nhà dân chủ”
ở trong nước cũng như một số chuyên gia chống Cộng ở hải ngoại lại
mượn cơ hội này để tố Cộng một chiều, phê bình lăng nhăng về chủ
thuyết Marx trong khi họ chỉ có một trình độ hiểu biết rất hời hợt
về Marx. Đông La đã vạch ra sự hiểu
biết hời hợt về chủ thuyết Marx của Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ
Phu v..v.. trong bài “Các Mác - Một tình yêu bao la”. Những người này chống Marx qua cái lăng kính
nhỏ hẹp của mình, không hề biết vị thế của Marx trong giới trí thức
là như thế nào. Vài sự kiện sau đây
sẽ cho chúng ta thấy rõ vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia vĩ
đại của thế giới. 1. “Theo kết
quả thăm dò ý kiến thính giả đài
BBC Radio 4 trong tháng 7, 2005 thì, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến,
kính trọng, và có ảnh hưởng nhiều nhất, Marx lại được coi như là một
triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại” ??. [BBC Press Release: 13-7-2005: Out of a shortlist
of twenty of the best known, most respected and influential philosophical thinkers,
nominated by the In Our Time audience, Karl Marx has been voted the
Greatest Philosopher of all time by BBC Radio 4 listeners.] Theo bảng kết quả thì David Hume, một nhà
nhân bản, xếp hạng 2, Nietzshe hạng 4, Kant hạng 6, và Aquinas của Ki-tô
Giáo hạng 7. Vậy phải chăng những thính
giả của đài BBC đều là “thiên Cộng” hay là “cánh tay nối dài của
Cộng sản Việt Nam”? 2. “Kết quả
chọn vĩ nhân của Đức Quốc, với con số tham dự trên 5 triệu người,
Karl Marx đứng hàng thứ 3 trong 100 ứng viên, Albert Einstein đứng hàng thứ
10 ( www.unserebesten.zdf.de). Như vậy, thế giới mù cả hay sao mà
không nhìn Marx như Trần Mạnh Hảo hay như một số chính trị gia Mít tự
phong, nửa mùa, dỏm, kiến thức ăn đong? Muốn tìm hiểu thêm
về chủ nghĩa Marx, tôi xin giới thiệu một bài rất có giá trị nghiên cứu
về chủ nghĩa Marx của Nguyễn Hoài Vân: Bài
“NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ HỌC THUYẾT MARX “ do một Dân Việt Ở Đức
Quốc đưa lên diễn đàn Đàn Chim Việt. Ngoài
ra có bài “Các Mác - Một tình yêu bao la” của Đông La cũng
rất nên đọc. Nhìn Marx chúng ta phải
nhìn trên nhiều khía cạnh khác nhau chứ không thể nhìn một cách sai lầm
hẹp hòi như của Trần Mạnh Hảo hay của một số người chống Marx. Nguyễn Hoài Vân có viết một câu khá chí
lý đáng để cho chúng ta suy nghĩ: Người ta đã nhân
danh Marx sát hại trên dưới 100 triệu người. Thừa đủ để học thuyết
Marx bị đưa vào thùng rác của lịch sử. Nhưng, hãy nghĩ lại : người ta
đã nhân danh Thiên Chúa để giết hại không dưới 80 triệu thổ dân
Mỹ Châu, chưa kể bao người vô tội tại các lục địa khác . Có cần
đưa Thiên Chúa và Ky Tô Giáo vào thùng rác của lịch sử hay không? Nguyễn Hoài Vân đã
đưa ra một thách đố rất trí thức, nhưng chưa đầy đủ về dữ kiện. Vì đọc lịch sử Ki Tô Giáo nói chung,
Công Giáo nói riêng, ngoài 80 triệu thổ dân Mỹ Châu [có lẽ không tới
con số này], con số nạn nhân bị giết nhân danh Thiên Chúa, qua sự bạo
ngược và áp bức của Ki-tô Giáo, là trên 200 triệu trong các cuộc thánh
chiến, tòa hình án xử dị giáo, săn lùng thiêu sống phù thủy, chiến
tranh tôn giáo v..v.. Các Tòa Án xử dị
giáo của Công Giáo đã săn lùng, tra tấn, và thiêu sống 10 triệu người [Lloyd M. Graham, Deceptions and Myths of the Bible, The Citadel Press Book, New
York, 1995, p. 463: Wars, tyranny and oppression of Christian nations since the days of
Constantine have caused the death of more than 200,000,000 people. 10 million were slain
during the Inquisition.] Tại sao những
tòa hình án lại có thể giết nhiều người vô tội như vậy? Chúng ta cần phải đọc Tổng Giám Mục
Công Giáo Peter de Rosa trong cuốn “Những Đại Diện Của Chúa Ki-tô: Mặt Đen Tối
Của Triều Chính Giáo Hoàng”, trang 163: “Tòa hình án có
thể làm bất cứ điều gì. Những linh mục phán quan của tòa hình
án thuộc dòng Đa Minh, được giáo hoàng bổ nhiệm, họ không ở dưới
quyền bất cứ một ai ngoài Thượng đế và giáo hoàng. Họ đứng ngoài vòng xét xử của các
giám mục và luật dân sự. Trong những
quốc gia thuộc quyền giáo hoàng họ chính là luật lệ, vừa đóng vai
công tố viên vừa đóng vai quan tòa xử án.
Nguyên lý chỉ đạo của họ là: "Thà giết oan 100 người
vô tội còn hơn là để cho một kẻ dị giáo được tự do." [Lenin đâu có
phát minh ra điều này?] (Peter
de Rosa, Vicars of Christ: The
Dark Side of the Papacy, Crown Publishers,
New York, 1988, p. 163: To
the medieval Inquisition, everything was permitted. The
Dominican Inquisitors, being the pope's appointees, were subject to no one but God and his
Holiness. They were outside the juridiction of
bishops and of civil law. In the Papal States
they were a law unto themselves, acting as prosecutors and judges. Their guiding principle was: "Better for a
hundred innocent people to die than for one heretic to go free.") Tổng
Giám Mục Peter de Rosa còn đưa ra một so sánh như sau, trang 164: “Giống như bọn
Quốc Xã SS, họ [các
linh mục dòng Đa Minh] có thể tra tấn
và giết bỏ với một đầu óc bình thản vì thượng cấp của họ - trong
trường hợp này là Giáo Hoàng – bảo đảm với họ là những kẻ lạc
đạo là kẻ thù nhơ bẩn, bệnh hoạn và truyền nhiễm cần phải thanh trừng
bằng mọi giá và bằng mọi cách “(Like
the Nazi SS in the 20th century, they were able to torture and destroy with a
quiet mind because their superior officer – in this case, the pope – assured them that
heretics were dirty, diseased and contagious foe that must be purged at all costs and by
all means) Đưa một vài sự kiện
về lịch sử Ki-tô Giáo ra ở đây chỉ là để chứng tỏ một điều: chúng
ta cần biết cái gì của Marx và cái gì không phải của Marx, cũng như cái
gì của Thiên Chúa và cái gì không phải của Thiên Chúa, và những người
theo Thiên Chúa Giáo, trước khi chống Marx hãy để tâm suy nghĩ về Thiên
Chúa của mình, về giáo hội của mình. Giáo
Hoàng Benedict XVI, gần đây, khi mạnh mẽ lên án chủ thuyết Cộng Sản là
chỉ nhìn thấy cái kim trong mắt Cộng Sản mà cố tình quên đi cái đà
trong mắt của Công Giáo. Có lẽ không
có mấy người phân biệt được sự khác nhau giữa chủ thuyết Marx, chủ
thuyết Marx-Lenin, và chủ thuyết Cộng Sản.
Chủ thuyết Marx là chủ thuyết nguyên thủy sáng tạo bởi Marx
và Engels mà ngày nay nhiều chế độ phi Cộng Sản áp dụng song song với
các chủ thuyết khác. Chủ thuyết
Marx-Lenin là chủ thuyết chính thức của các đảng phái dưới sự lãnh đạo
của Nga Sô trước đây, và chủ thuyết Cộng sản là phong trào có ảnh hưởng
của Lenin nhưng gồm cả những biến điệu của Tito và Trotsky. Nhưng đây không phải là chỗ để đi sâu
vào vấn đề này. II. Đôi Điều Nhận Xét Về Đất Nước Việt Nam.- Góp ý để xây dựng
đất nước không phải là chuyện đùa, muốn viết gì thì viết, viết bừa
viết bãi mà không chịu nghiên cứu kỹ càng.
Nhưng đây chính là cái bệnh của những người muốn nổi danh
với thiên hạ, kiến thức thì không
có mấy cho nên viết mà không hiểu là mình đã viết những gì. Họ chỉ nhìn thấy những sai lầm cũ kỹ
và những tệ đoan xã hội hiện tại. Họ
không thấy những sự thay đổi trong xã hội từ 1975 đến nay. Được bài của mình đăng trên vài trang
nhà lá cải ở hải ngoại, tưởng rằng mình đã là một bậc vô thượng
thiên tài, không biết rằng mình đã bị giới chống Cộng hải ngoại lợi
dụng, và do đó bị đại đa số người Việt di cư khinh rẻ. Việt Nam là một nước
nông nghiệp, không phải bây giờ mới nghèo, mà từ xưa vẫn nghèo, nhưng
không phải là một trong những nước nghèo nhất.
Sự phát triển quốc gia để làm cho dân giàu nước mạnh tùy
thuộc rất nhiều yếu tố, chứ không thể nói là “phải thế này”, “phải
thế nọ” là có thể thành hình ngay được. Việt Nam không có cây đũa
thần. Có một số tác giả
nhắc lại thời kỳ 10 năm đầu sau khi đất nước thống nhất, và cho rằng
vì nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nên “đã đưa đất nước đi vào một
giai đoạn suy sụp nghiêm trọng” (Đặng Văn Việt), hoặc “đưa đất
nước đến suy sụp, kinh tế khủng hoảng, chế độ đứng bên bờ vực
thẳm” (Hoàng Tiến). Viết như vậy tôi thấy có vẻ khá phiến
diện và có ý định quy trách. Nhưng
thử hỏi, những người lên tiếng chỉ trích này thời đó ở đâu, có cất
lên một tiếng nói xây dựng nào không, hay đều là trí thức ngủ mà
ngày nay mới thức? Nhưng vấn đề chính
là sự quy trách bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về tình trạng đất
nước sau chiến tranh, không xét đến những yếu tố nào đã đưa đất
nước vào tình trạng có thể gọi là thê thảm trong thời đó. Nếu biết thì họ cần phải thấy rằng,
đất nước được như ngày nay là một phép lạ, và Nhà Nước Việt Nam,
tuy có những sai lầm, nhưng đã có những thành quả đáng kể trong vấn đề
xây dựng và phát triển đất nước. Thứ nhất, có ai
xét đến kinh nghiệm cai trị và mở mang đất nước của cấp lãnh đạo
sau một thời gian dài chỉ biết đánh giặc. Kinh nghiệm trong thời chiến
thì nhiều, nhưng kinh nghiệm trong thời bình có được bao nhiêu. Nhà Nước không phải là không có những
sai lầm, mà sai lầm chính là không học được bài học tha thứ của tiền
nhân, cho nên đã đối xử tàn tệ với người dân miền Nam thay vì vận dụng
khả năng và sự đóng góp của người dân miền Nam trong việc tái thiết
đất nước sau chiến tranh. Nhưng xét
cho cùng, nếu chúng ta xét đến những sự thù hận giữa hai miền, những
tổn thất nặng nề mà miền Bắc phải gánh chịu, những sự tàn hại
trên đất nước, cộng với hào quang chiến thắng thì chúng ta có thể hiểu
và thông cảm. Con người không phải
là thánh. Nhưng đây chỉ là chuyện nhỏ. Vấn đề chính là Nhà Nước đã đưa đất
nước qua một giai đoạn khó khăn đen tối nhất sau khi chiến tranh chấm dứt,
trong khi trong tay Nhà Nước không có cây đũa thần, và nước lã không thể
quấy thành hồ.. Thứ nhì, có ai xét
đến tình trạng kiệt quệ của đất nước vì chiến tranh hay không. Miền Nam trước là một vựa lúa, trong thời
chiến có gạo ăn là nhờ viện trợ Mỹ nhập cảng gạo của Mỹ hay Thái
Lan . Miền Bắc thì có gì? Nền kinh tế ra sao trong thời chiến? Lấy cái gì để mà tái thiết đất nước
và cần bao nhiêu thời gian. Chính quyền
hậu chiến có bao nhiêu chuyên gia được đào tạo đúng đắn trong ngành
quản trị, kinh tế vĩ mô, và tất cả những chuyên môn cần thiết để
điều hành guồng máy quốc gia. Và có
ai nghĩ đến chính sách trả thù Việt Nam của Mỹ không? Vài tài liệu sau đây hi vọng có thể
chúng ta thấy rõ phần nào những khó khăn cực kỳ mà Việt Nam phải đối
phó sau cuộc chiến. Chúng ta đừng quên
là Mỹ đã ép Việt Nam, cấm vận trong 19 năm, từ sau 1975 cho tới 1994. Trong cuốn “The Political Economy of Human
Rights. Volume II”, Black Rose Books, Montreal, 1979, Noam Chomsky và Edward S
Herman đã viết một mục dưới chủ đề: “Hoa Kỳ Ở Việt Nam: Thắng
Một Phần” (The United States In Vietnam: A Partial Victory). Sau đây tôi xin trích dẫn vài đoạn trong
đó: “Mỹ thua (ở
Việt Nam) chỉ là thua có một phần. Để
hiểu những biến cố hậu chiến ở Việt Nam điều quan trọng là phải nhận
ra rằng thực ra Mỹ đã thắng ở Việt Nam.
Mỹ không hoàn toàn thành công trong việc thực hiện điều tiên
đoán khủng khiếp của Bernard Fall rằng: “Việt Nam, như là một thực thể
văn hóa và lịch sử.. bị mối đe dọa diệt chủng.” vì “Miền rừng
rú nông thôn không còn sinh khí dưới những đòn của guồng máy quân sự
lớn nhất chưa từng giáng xuống một diện tích cỡ này.” Nhưng cũng gần như vậy. Một mặt thắng
thứ hai của Mỹ ở Việt Nam là hầu hết đất nước (Việt Nam), cùng với Lào và
Cambod, ở trong tình trạng đổ nát, do
đó những người sống sót phải đối diện với một nhiệm vụ tái thiết
cực kỳ to lớn. John Pilger, ký giả từ
Việt Nam trong 10 năm, trong cuộc viếng thăm mới đây, viết rằng “phần
lớn Bắc Việt trông lỗ chỗ như mặt trăng (vì những hố bom) từ
đó những dấu hiệu về sự sống – nhà cửa, xưởng chế tạo, trường
học, nhà thương, đình chùa, nhà thờ - đã bị phá hủy hoàn toàn. Trong một số rừng rú không còn chim hay
thú vật; và có những tài xế xe chở hàng không có phản ứng trước những
tiếng còi (của những xe khác) vì họ đã bị điếc bởi tiếng bom
rơi không ngừng.” Pilger mô tả
napalm, đặc biệt chế tạo cho Việt Nam, “vẫn tiếp tục cháy âm ỉ dưới
những làn da của những nạn nhân suốt đời”; nhiều vùng bị bỏ bom nặng
hơn là ở Dresden; những thị trấn, như Vinh, bị bỏ bom nhiều đến độ
không còn một nền nhà nào còn nguyên vẹn, nơi đây người dân sống gần
như chết đói, với khẩu phần gạo ít hơn là ở Bangladesh. Những hậu quả của cuộc chiến của Mỹ
này cũng thường được khai thác bởi những bình luận gia Tây phương nêu
ra những sự cực kỳ khó khăn xây dựng lại một vài khía cạnh của cuộc
sống từ đống đổ nát như là chứng cớ về những hành động độc ác
và bất công của Cộng sản. (The US defeat was only
partial. To understand events in postwar
Vietnam it is important to recognize that the US did in effect win the war in Vietnam. It did not quite succeed in realizing the grim
prediction of Bernard Fall that “VIETNAM AS A CULTURAL AND HISTORIC ENTITY.. IS
THREATENED WITH EXTINCTION” as “The countryside literally dies under the blows of the
largest military machine ever unleashed on an area of this size.” But it came close… A second aspect of the partial
US victory in Vietnam is that MOST OF THE COUNTRY, ALONG WITH LAOS AND CAMBODIA, LIES IN
RUINS, SO THAT THE COLOSSAL TASK OF RECONSTRUCTION FACES THE SURVIVORS. John Pilger, who reported ten years from Vietnam,
writes after a recent visit that “much of North Vietnam is a moonscape from which
visible signs of life – houses, factories, schools, hospital, pagodas, churches – have
been oblitarated. In some forests there are no
longer birds or animals; and there are lorry drivers who will not respond to the hooting
of a horn because they are deaf from the incessant sound of bombs.” Pilger describes napalm, especially created for
Vietnam, that “continues to smoulder under the skin’s tissues through the lifetime of
the victims”; areas bombed more heavily than Dresden; cities, such as Vinh, bombed so
heavily that not even the foundations of buildings
remain, and where now people live on the edge of famine, with rice rations lower than
Bangladesh.. These consequences of the US war are also regularly exploited by Western
commentators who point to the extraordinary difficulties in reconstructing some kind of
existence from the wreckage as proof of Communist iniquity…) Để thấy rõ sự
tàn phá Mỹ giáng lên đất nước, chúng ta hãy đọc một đoạn của
Howard Zinn: “Cho đến khi cuộc chiến kết thúc,
Mỹ đã trút lên đầu dân tộc Việt
Nam 7 triệu tấn bom, hơn gấp đôi tổng số bom thả xuống Âu Châu và Á
Châu trong đệ nhị thế chiến, tính trung bình một quả bom nặng khoảng
230 ki-lô (500 lbs) cho mỗi đầu người Việt Nam, trên đất nước Việt Nam
có khoảng 20 triệu hố bom, thuốc độc khai quang Agent Orange trải để phá
hại cây cỏ, mùa màng trên một diện tích bằng bang Massachusetts và ảnh hưởng
độc địa của loại thuốc này còn di hại đến ngày nay. CIA ở Việt
Nam, trong chiến dịch Phụng Hoàng đã bí mật giết không xét xử ít nhất
là 20000 dân ở nam Việt Nam nghi là Cộng Sản nằm vùng…” (Howard Zinn, A People’s History of the US, 1492-Present,
HarperCollins Publishers, New York, 1999, p. 478: By
the end of the Vietnam war, 7 million tons of bombs had been dropped on Vietnam, more than
twice the total bombs dropped on Europe and Asia in World War II – almost one 500-pound
bomb for every human being in Vietnam. It was
estimated that there were 20 million bomb craters in the country. In addition, poisonous sprays were dropped by
planes to destroy trees and any kind of growth – an area the size of the state of
Massachusetts was covered with such poison... The CIA in Vietnam, in a program called “Operation
Phoenix”, secretly, without trial, executed at least 20000 civilians in South Vietnam
who were suspectected of being members of the Communist underground.) Chúng ta hãy đọc tiếp
Noam Chomsky và Edward S. Herman: “Mục đích chính của Mỹ trong thế
giới thứ ba là phải mở cửa cho sự xâm nhập kinh tế và kiểm soát
chính trị của Mỹ. Nếu không Mỹ sẽ
sử dụng mọi nỗ lực để chắc rằng những xã hội muốn đi theo đường
hướng độc lập - đặc biệt là những
nước gọi là “Cộng sản” trong biệt ngữ chính trị thời đại – sẽ
phải gánh chịu những điều kiện khắt khe nhất mà quyền lực Mỹ có thể
áp đặt để giữ cho “sự mục nát (Cộng sản) khỏi lan tràn” bằng những “thành công về ý thức hệ”,
những từ ngữ dùng bởi những nhà kế hoạch về hoàn cầu của Mỹ. Tuy Mỹ không thể dẹp được những phong
trào quốc gia ở Đông Dương, Mỹ đã đạt được mục đích thứ hai. Cùng với những vấn nạn rộng lớn về
kém phát triển đè nặng trên những quốc gia thuộc địa trước của Tây
phương, những quốc gia ở Đông Dương phải làm sao đối diện với nhiệm
vụ vượt thắng được những sự tàn phá của cuộc chiến tranh của Mỹ
- mà không có sự bồi thường hay viện trợ của Mỹ, và còn phải đối
diện với sự chống đối liên tục của Mỹ về các nguồn viện trợ từ
nơi khác”. The primary US goal
in the Third World is to ensure that it remains open to US economic
penetration and political control. Failing
this the US exerts every effort to ensure that societies that try to strike an independent
course – specifically, those that are called “communist” in contemporary political
jargon – will suffer the harshest conditions that US power can impose so as to “keep
the rot from spreading” by “ideological successes” in the terminology employed by US
global planners. Though the US was unable to
subdue the nationalist movements in Indochina, it has attained its secondary goal. In addition to the immense problems of
underdevelopment that burden the former Western colonies, the countries in Indochina must
somehow confront the task of overcoming the ravages of the US war – without reparations
or aid from the US, and indeed in the face of the continued US opposition even to aid from
elsewhere.) Sau đây là vài
đoạn khác của Giáo sư Noam Chomsky trong bài viết năm 1982, dưới đầu đề
“Trừng Phạt Việt Nam” (Punishing
Vietnam) [The Chomsky Reader, Edited by James Peck, Pantheon Books, New York, 1987]: “Từ khi chiến
tranh chấm dứt, Mỹ đã làm tất cả những gì làm được để bảo đảm
cho sự thắng một phần của mình. Martin
Woollacoot viết: “Có nhiều bằng chứng
là chính sách trì hoãn tiếp tế thực phẩm trong giao hệ ngoại giao và viện
trợ, dù là có dưới danh hiệu bồi thường hay không, đã làm cho Việt
Nam không được hưởng như là Yugoslavia.” Điều
này rất đúng. Một viên chức của
Ngân Hàng Thế Giới nhận định rằng, “từ 1977, Mỹ luôn luôn từ chối
không thỏa hiệp với Việt Nam, càng ngày càng đẩy Việt Nam về phía Nga
Sô.” Cho đến nay, Mỹ đã cố sức gây
khó khăn và đau khổ tối đa cho Việt Nam. Mỹ
đã gây áp lực hữu hiệu trên Ngân Hàng Thế Giới để giữ lại viện
trợ cho mục đích phát triển, và chính quyền Reagan “đã tích cực vận
động sau hậu trường ở Liên Hiệp Quốc để cắt viện trợ phát triển
và nhân đạo cho Việt Nam”. Thời
gian này đặc biệt quan trọng vì tình trạng đói ở Việt Nam và sự kiện
là “những người tị nạn gần đây đã khai rằng họ rời Việt Nam
vì lý do kinh tế nhiều hơn là bất cứ yếu tố áp bức nào khác từ Việt
Nam”. Vậy cắt nguồn thực phẩm
có hai điều lợi: tăng sự đói khổ ở trong nước, và tăng số dân tị
nạn, để cho những nhà nhân đạo Tây phương có thể lên án sự man rợ
và tàn bạo của nhà cầm quyền Việt Nam như được minh họa qua số phận
của các thuyền nhân. Cộng đồng KInh Tế
Âu Châu và Mỹ đã từ chối lời kêu gọi của UNICEF tiếp tế khẩn cấp
sữa và thực phẩm cho Việt Nam.. Cùng
lúc, “viễn tượng vay mượn từ Ngân Hàng Phát triển Á Châu và Ngân
Hàng Thế Giới cũng mờ mịt, vì nhiều quốc gia bảo trợ, đặc biệt là
Mỹ và Nhật Bản [Nhật
Bản là một căn cứ ở ngoại quốc của Mỹ, thu nhiều lợi từ cuộc chiến
ở Việt Nam của Mỹ] , đều chống đối mọi giúp đỡ Việt Nam. Thật ra,
mục đích của Mỹ khá rõ ràng.
Không bằng lòng với sự thắng một phần mô tả ở trên, Mỹ
muốn bảo đảm sự đau khổ tối đa mà Mỹ có thể gây ra trong những quốc
gia nào dám chống lại sự xâm lăng của Mỹ, với hi vọng là trước sau gì
rồi “Việt Nam sẽ sụp đổ”, và cuộc thắng một phần sẽ trở nên
toàn phần… Một lần nữa,
Tây phương lại dạy chúng ta bài học mà nền văn minh Tây phương đã cống
hiến cho thế giới qua nhiều thế kỷ: những quốc gia nào chống lại những
xã hội Tây phương tân tiến về kỹ thuật nhưng sơ khai về đạo đức
sẽ phải trả một giá cay đắng.” (Since the war’s end,
the United States has done what it could to ensure that its partial victory would endure. “There is a great deal of evidence”, Martin
Woollacott writes, “that the food-dragging policy of the US on diplomatic relations and
on aid, whether or not it was tagged with the humiliating label of reparations, helped to
close off the Yugoslavia option for Vietnam”. That
is quite correct. A World Bank official
observes that “since 1977, the US has constantly refused to make any accomodation with
Vietnam, forcing it further and further into the Soviet camp.”.. For the time being, the
US is committed to maximizing hardship and suffering in Vietnam. It has exerted effective pressure on the World Bank
to withhold development aid, and the Reagan administration “has launched a vigorous.
behind-the-scenes campaign at UN headquarters to cut UN humanitarian and development aid
to Vietnam”. The present moment is
particularly opportune because of the starvation conditions in Vietnam and the fact that
“refugees recently leaving Vietnam are reported to be citing economic reasons far more
than any other for their flight from the hard-pressed Southeast Asian nation.” Thus cutting food aid has a double benefit:
increasing misery, and increasing the refugee flow, so that Western humanitarians can then
deplore the barbarian savagery of the Vietnamese leadership as illustrated by the tragic
fate of the boat people. The US and the
European Economic Community have refused to respond to a UNICEF appeal for milk and food
for the Vietnam emergency… At the same time, “prospects for loans from the Asian
Development Bank and the World Bank are very bleak, since many donor countries, especially
the US and Japan [which benefited substantially from the US war as an offshore procurement
base], are opposed to any assistance to Vietnam.”.. In fact, the goal of US
policy is clear enough. Not content with a
partial victory of the sort described, the US wants to ensure the maximum possible
suffering in countries that have been so ignoble as to resist American aggression, in the
hope that sooner or later “Vietnam will crack”, and the partial victory can be
extended to a total one… The West has once again
taught the lesson that European civilization has offered the world for centuries: those
who try to resist the technologically advanced but morally primitive Western societies
will pay a bitter price.) Với tình trạng
kiệt quệ của đất nước vì chiến tranh, với sức ép về kinh tế của
Mỹ và Âu Châu như vậy, tôi không hiểu bằng cách nào mà Nhà Nước đã
vượt qua được giai đoạn cực kỳ khó khăn trên, để có thể đưa đất
nước đến tình trạng ngày nay. Người
ta trách trong giai đoạn đầu, Nhà Nước đã áp dụng nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa cho nên đã đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm, nhưng thử
hỏi, trong giai đoạn đó, có cách nào khác?
Mỹ trả thù vì thất trận, cấm vận trong 19 năm, có nước muốn
viện trợ cho Việt Nam trâu bò để cầy cấy cũng bị ngăn chận, đầu
tư nước ngoài không có, nền kinh tế không do Nhà Nước quản lý thì do
ai đây? Lạ một điều, tất cả những
người chống Đảng, phê bình giai đoạn khốn khổ 1975-1985 của Việt Nam,
chẳng có ai nghĩ đến hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh, chẳng có ai
nghĩ đến chuyện nếu mình ở trong guồng máy cầm quyền thì mình sẽ
làm được gì. Đứng ngoài phê bình
thì bao giờ cũng dễ, khi bắt tay vào việc mới thấy vấn đề xây dựng
đất nước không đơn giản như mình tưởng, nhất là khi sự hiểu biết
của mình lại rất giới hạn. Đến đây tôi muốn
nhắc lại vài điều tôi đã viết trước đây trong bài về Nghị Quyết
1481 của Quốc Hội Âu Châu. “Chủ nghĩa Marx, hay biến thể thành
Marx-Lenin, chẳng qua chỉ là một toa thuốc chữa vài căn bệnh thời đại:
bệnh nghiện thuốc phiện Thiên Chúa của Âu Châu, bệnh tư bản bóc lột
giai cấp vô sản, và bệnh thực dân bóc lột trà đạp những nước nhược
tiểu. Nhờ có Cộng sản nên căn bệnh
nghiện thuốc phiện tôn giáo đã đỡ đi nhiều, cứ nhìn vào tình trạng
tôn giáo ở Âu Châu ngày nay thì biết; bệnh tư bản bóc lột đã làm cho
các nước tư bản Âu Mỹ kịp thời thay đổi, thành lập các nghiệp đoàn
để tranh đấu cho quyền lợi của giai cấp công nhân, do đó tránh được
những cuộc cách mạng nội bộ; và bệnh thực dân đã cáo chung. Riêng ở Việt Nam, Cộng Sản cũng đã vĩnh
viễn chôn vùi chế độ thực dân .” Nhưng khi đã khỏi bệnh rồi mà cứ
tiếp tục dùng thuốc để mà chết à? Vì
thế Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam đã thay đổi kịp thời rất nhiều,
ngưng tiếp tục dùng toa thuốc Cộng Sản, hay Mao, hay Marx-Lenin, TrungQuốc từ
1979, Việt Nam từ 1986, và ngày nay các
chủ thuyết này, trên thực tế, chỉ còn trên mặt văn tự. Thử hỏi, nếu các chủ thuyết trên vẫn
còn được thi hành thì những người như Hoàng Tiến, Trần Mạnh Hảo
v..v.. có cơ hội để nói lên những điều đã nói, kể cả nói bậy, hay
không? III. Vài Ý Kiến Đóng Góp Xây Dựng. Trước hết, tôi phải
thú nhận là hơn 30 năm qua sống ở nước ngoài, tôi không có cách nào và
không thể nắm vững tình hình chính trị, xã hội ở trong nước. Báo chí hải ngoại, phần lớn thuộc thế
lực đen không những chống Cộng mà còn chống cả quốc gia, chỉ thông
tin một chiều, và thường nhìn Việt Nam qua một cặp kính màu đen: bất cứ cái gì chính phủ Việt Nam làm cũng
là xấu, hoặc là cố ý xuyên tạc, hoặc là diễn giải sai lạc. Hơn nữa,
bất cứ đề tài nào ngoài lãnh vực chính trị, thí dụ như về văn
chương, nghệ thuật v..v.. thể nào cũng có những ý kiến chống Cộng lạc
lõng trong đó. Họ phải làm như vậy
để che đậy chính cái xấu của họ hoặc cái dĩ vãng không có gì đáng
ca ngợi của họ. Còn đa số người
Việt di cư, vật lộn với cuộc sống mới, chẳng mấy quan tâm đến chuyện
chính trị chính em một chiều, đã bỏ phiếu bằng hành động qua mấy
trăm ngàn người mỗi năm về thăm quê hương, và qua số tiền hàng tỷ đô
la mang về Việt Nam. Những thông tin về
Việt Nam của tôi thường là qua tin tức báo chí ngoại quốc, qua hai lần
về thăm Việt Nam, qua tin tức về Việt Nam của bạn bè thân thuộc về thăm
quê hương, có người về nhiều lần và mỗi lần về ở lại cả vài
tháng, và qua những phim truyện trên đài VTV4 phản ánh phần nào tình trạng
xã hội, và lẽ dĩ nhiên qua một số bà con thân thuộc còn ở lại Việt
Nam. Như vậy, những ý kiến sau đây của
tôi chỉ là những ý kiến cá nhân, dựa trên cảm tính nhiều hơn là dựa
trên dữ kiện. Hiện nay, Nhà Nước
phải đối diện với hai đòi hỏi mà những người tự phong là “nhà
dân chủ” thường to tiếng rêu rao: dân chủ và đa nguyên đa đảng, và
được giới chống Cộng ở hải ngoại tích cực ủng hộ. Nhưng nếu hỏi họ là dân chủ như thế nào
và đa nguyên đa đảng như thế nào, theo những mô hình như thế nào, để
thích hợp với Việt Nam, thì họ ú ớ không thể trả lời được rõ
ràng. Phạm Hồng Sơn thì lấy tài liệu
về dân chủ của tòa đại sứ Mỹ phổ biến, coi đó như là khuôn vàng
thước ngọc mà Việt Nam phải theo, không hề nghĩ đến sách lược xuất
cảng dân chủ của Mỹ bằng xâm lược và bom đạn. Nói về
dân chủ? Hay lắm! Nhưng thử hỏi đã có những ai nghiên cứu
về một thể thức dân chủ thích hợp với hoàn cảnh xã hội và trình độ
dân trí Việt Nam ngày nay. Thử hỏi nhữngViệt
kiều chống Cộng ở Mỹ, ở Úc, những người sống trong các chế độ dân
chủ, qua những hành động cực đoan phi lý chống đủ mọi thứ từ Việt
Nam, đã hiểu thế nào là dân chủ chưa? Thử
hỏi trong cấu trúc định chế tôn giáo của Công Giáo đã có dân chủ chưa? Đa nguyên, đa đảng? Cũng hay đấy? Nhưng chưa đủ trình độ thì chỉ thành lắm thầy thối ma, thành đại loạn, chỉ đục nước béo cò. Vì vậy mà tôi đồng ý với |