giaodiem copyright
          posted: 07.3.2006

   Những Ngộ Nhận Về Văn Hóa Phật Giáo

Gs. Lê Văn Siêu

(thuyết trình tại Đại Hội PG toàn quốc ngày 24.12.1974)

Phật Giáo vào nước ta đã gần hai ngàn năm. Suốt thời gian dài dặc ấy, nó đã cùng lịch sử dân tộc chịu chung những giờ thảm khổ buồn thương cũng như vui chung những đoạn vinh quang rực rỡ. Như chịu chung hay vui chung như vậy, đời sống của nó đã không hề giống đời sống của một cây phong lan, chỉ bám sơ vào thân cây mà chẳng thọc chút rễ nào vào vỏ cây cả, như lời hiểu sai của một giáo sĩ ngoại quốc.

Sự nhào nặn tinh thần của cả một dân tộc qua nếp sống, nếp suy tư, cả thị hiếu, tính tình, của từng cá nhân cũng như tòan cả tập thể, gần trót hai ngàn năm, bằng tinh thần văn hóa của nó, đã là sự rèn luyện nên phần hồn của dân tộc. Và trải gần trót hai ngàn năm ấy, nó đã không còn gì là một đạo giáo ngoại lai nữa. Nó đã là Phật Giáo Việt Nam với những sắc thái riêng, không hề tự đóng khung theo những gì của một giáo hội nào, tại thánh địa nào ở Ấn Độ hay Trung Hoa cả. Khả năng đồng hóa và tổng hợp của dân tộc ở chính giữa giao điểm của các luồng văn hóa Đông Tây, đã là một đặc tính không phủ nhận được. Cho nên nhìn qua sắc thái của nó, ta có quyền nói Phật Giáo là dân tộc, và dân tộc là Phật Giáo. Nếu lại quy nghĩ kỹ về những sự kiện lịch sử thì ta càng thấy rõ sứ mệnh của nó :

1. Xoa dịu đau thương cho nhân dân trong những thế kỷ bị đày đọa, dưới quyền đô hộ của nhà Hán, nhà Ngô, nhà Ngụy, nhà Tùy, nhà Đường;

2. Giành lấy một đãi ngộ (không đặc biệt thì cũng bớt khinh khi) đối với kẻ sĩ và tăng sĩ bản xứ từng được vời qua ngồi bên giường ngự của Vua Đường mà thuyết pháp, và

3. Sửa soạn cho nhân dân một tinh thần hết tự ti mặc cảm đối với thiên triều, để dám cầm võ khí cùng Ngô Vương Quyền đanh tan quân Nam Hán mà bứt xiềng đô hộ và dựng nên độc lập.

Rồi lại đến khi xây dựng nên móng cho một quốc gia văn hiến lấy đức trị dân ở đời Lý cả lấy đức và uy võ trừng phạt nhà Tống để cứu trăm họ nước Tàu bị khốn vì chính trị hà khắc của Vương An Thạch. Phật Giáo Việt Nam không phân biệt đời với đạo, quả đã tùy thời cơ mà có những vai trò lịch sử đáng kính, không tiêu cực, không trốn tránh bao giờ.

Do đó, đại số nhân dân đã theo đạo Phật. Cả những người theo Đạo giáo, Nho giáo, tín ngưỡng dù có phần nào khác, sự un đúc cũng vẫn trong một lò, để thực chất khi giáo hóa quần chúng vẫn là một, khiến nảy sinh tư tưởng Tam Giáo đồng nguyên. Nhà xã hội học mới có muốn tách biệt để tính người theo Nho giáo, Đạo giáo riêng, thì chính những người ấy ở quá khứ đã chỉ tự kể mình là dân Tam giáo thôi, nghĩa là cùng Phật Giáo cả.

Bởi đại đa số nhân dân theo Phật Giáo như thế, vì cảm tình và vì truyền thống, đã không một ai cần đặt vấn dề phân biệt giáo lý để kỳ thị nhau. Và cũng bởi nhân dân kính Phật, trọng Tăng và vì quá tin yêu tôn giáo, mà nhiều khi có người tỏ ra nóng nảy đối với tư cách tăng sĩ này, đạo gia nọ, hay nho sĩ kia, cũng là để có một tổ chức tôn giáo lý tưởng hợp với lòng mong ước của mình. Lịch sử thật đã không có một phong trào bài Phật nào để lấy lối ngoi lên cho một tôn giáo nào khác, mà chỉ có một hai cá nhân nêu ý riêng của mình mà thôi. Gia dĩ các tăng sĩ vốn có tinh thần rộng dung, trước mọi lời chê bai, giễu cợt, họ chỉ mô Phật, rồi để mặc thời gian sẽ nói lên sự thực, mà không cần ganh đua biện bác chỉ dầy thêm vỏ tiểu ngã, không có lợi gì cho việc tu hành. Do đó đến thời đại gần đây nhất, là thời đại tôn trọng hình thức chủ nghĩa, mới có nhiều người ngoại đạo có lẽ cả người trong đạo nữa –đã vô tình hay cố ý có nhiều ngộ nhận về văn hóa Phật Giáo.

Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo Tòan Quốc kỳ này giao cho chúng tôi một trách nhiệm quá lớn lao, cũng là một vinh dự trên mức xứng đáng của mình để nói về những điều ngộ nhận ấy. Chúng tôi đã hết lời khước từ mà không được, nên đành liều làm việc khoe dốt ở đây. Mong quý vị thấy điều gì sai lầm sẽ vui lòng chỉ giáo cho.

Những ngộ nhân này có thể gồm có mấy loại:

1. Loại thuộc về lịch sử.
2. Loại thuộc về nghi lễ.
3. Loại thuộc về nhân sinh.
4. Loại thuộc về giáo lý.
Chúng tôi xin trình bày sơ lược như sau:

1. Những ngộ nhận thuộc về lịch sử.

Nhiều người nhìn việc đạo Phật ở Ấn Độ được truyền ra ngoại quốc ở triều đại A-Dục-Đế, như một chính sách bành trướng thế lực của Đại đế, để gồm thâu một cõi dưới quyền lãnh đạo của mình. Nhiều người còn coi đó là cách tê liệt hóa ý đồ đề kháng của mọi quốc gia đối với ngôi vị của Đại đế. Nhiều người còn cho đó là cách sai tăng nhân len lỏi vào các chính quyền địa phương, trước còn lũng đoạn, sau có thể sẽ nắm giữa lấy chính quyền ấy mà Ấn Độ hóa quốc gia ấy đi, rồi tha hồ khai thác các mối lợi, nhất là mua vàng đem về tổ quốc.

Ấy chỉ vì người ta dùng con mắt của hiện đại, với những kinh nghiệm gần đây nhất của các cuộc truyền giáo, để tìm hiểu những sự việc xảy ra ở xã hội từ trên hai ngàn năm cũ, trong những điều kiện tinh thần tâm lý cũ.

Mọi điều hiểu lầm như vậy đã được cải chính bởi sự thành tâm hối lỗi của Đại đế sau trận đánh chiếm Kalinga, bởi sự tự chế, tự thắng những tham vọng của mình với những tấm bia còn lại để làm chứng và cả với suốt cuộc đời còn lại của mình, không đem quân đi chinh phạt nơi nào nữa. Mục đích cuộc truyền đạo cũng lại là tôn kính những tín ngưỡng cũ của địa phương, tôn kính tất cả những nhà tu của mọi tôn giáo khác, và cũng không cần phải báo cáo về trung ương những kết quả gì của cuộc truyền đạo, cũng như không cần phải mang lợi lộc gì về cho triều đình cả. Điều ấy đã được thực chứng bởi đạo Phật đến bất cứ nước nào cũng không gây xích mích tôn giáo, và các tăng sĩ ra đi bốn phương tám hướng đã tùy duyên may mà gặp nơi nào thuận tiện thì ở lại sống và tu, không cần nhờ tiếp tiền bạc, lương thực từ chính quốc, và không phải để công truyền bá đạo với bất cứ một tổ chức nào.

Do đó, cuộc truyền đạo đã chỉ có tính cách thuần tôn giáo. Đạo ấy đến nước ta khoảng đầu thế kỷ thứ II Tây lịch, thì đất nước đã bị đặt vào vòng nội thuộc của nhà Hán từ năm III trước Tây lịch, nghĩa là trên hai trăm năm rồi, không thể hiểu lầm rằng người Tàu đã đem đạo Phật vào đây để dọ đường xâm chiếm. Một vài nhà bác học Tây phương với khiếu tưởng tượng dồi dào còn cho rằng những nhà tu Ấn Độ và những thương nhân đã cặp kè với nhau dùng nhiều mánh khóe như tặng quà, chữa bệnh, cho bùa cầu tài, cả lấy vợ bản xứ, để dùng cô vợ ấy làm môi giới mà truyền đạo. Thực đúng, thì người ta đã không cần phải dùng đến nhiều mánh khóe như tặng quá công phu như thế, bởi một lẽ rất dễ hiểu là không có ai, không có tổ chức nào trả lương cho các tăng sĩ rồi kiểm soát công việc của học xem mỗi ngày tiến triển được tới đâu. Nguời ta đã tùy nhân dân ở các phương, ai nghe thì nghe, không thì thôi, người ta lại đi nơi khác, đi mà không có một thời biểu nào, một kế hoạch và chương trình hành động nào để thành công cả.

Như vậy, cuộc truyền đạo vẫn thành công là vì đâu? Vì nhân dân ta dưới quyền cai trị hà khắc của các Thái thú Trung Hoa đã khổ cực quá. Nhất là sau vụ Hai bà Trưng khởi nghĩa rồi bị dẹp tan, họ cần được an ủi về tinh thần, cần nhẫn nhịn chờ thời, cần chịu đựng để giữ lấy giòng giống. Bất cứ một hành động nào kém khôn ngoan trong hoàn cảnh ấy cũng chỉ rước lấy họa diệt chủng. Đạo Nho của Trung Hoa đã không giải thích được nguyên lý khổ cực của kiếp sống. Chỉ có đạo Phật với chủ trương luân hồi, hóa kiếp đầu thai mới giải thích nổi và an ủi nổi những tâm hồn người quá đau thương, cả siêu độ cho những oan hồn khỏi tức tưởi ở cõi âm. Đó chính là sứ mạng lịch sử đầu tiên của Phật Giáo khi tới đất nươc ta. Đạo đã được nhân dân tiếp đón với tất cả cảm tình nồng hậu.

Nhưng lại có thể hiểu được chăng, rằng các Thái thú nhà Hán đã lợi dụng đạo để ru ngủ nhân dân cho vững quyền cai trị của họ ?  --Không, vì chính các Thái thú cũng sẵn sàng tin những giáo lý ấy, để bớt hà khắc phần nào, bớt những hành vi gây nghiệp quả xấu. Chứng cớ là có Thái Thú Sĩ Nhiếp được dân mến và tôn là Sĩ Vương,và Nam Giao Học Tổ. Vậy sứ mạng lịch sử thứ hai của Phật Giáo chính là làm dịu bớt những hà khắc của quan lại nhà Hán đối với dân.

Điểm ngộ nhận khác nữa cũng cần được đính chính lại. Ấy là điểm cho rằng đạo Phật đã được truyền từ Trung Hoa qua. Hồi sau này thì có. Nhưng hồi đầu thì đọa đã thẳng đường đến Giao Châu của ta trước. Kinh Tứ Thập Nhị Chương được lưu hành tạo Giao Châu từ thế kỷ thứ hai, rồi truyện Chữ Đồng Tử và công chúa Tiên Dung theo đạo Phật, rồi Khương Tăng Hội, Chi Lương Cương Tiếp, Ma Ha Kỳ Vực cũng vậy, đã là những bằng chứng được Nguyễn Lang dẫn trong sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận. Và cho đến đệ nhất tổ thiền tông của Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma Đề Bá tới Giao Châu của ta trước, và giảng dạy các phương pháp thực hành thiền học cho sư Huệ Thắng người Giao Chỉ, theo sách tục Cao Tăng Truyện.

Việc người mình gọi là Bụt (không gọi Phật theo Tàu) trong truyện cổ tích cũng như việc Sĩ Nhiếp cùng các nhà nho bản xứ sáng tạo chữ Nôm để phiên âm những tên xứ, tên đồ vật, cả những danh từ tôn giáo nữa, đã chứng tỏ Phật Giáo có cơ sở vững ở ta từ trước khi truyền vào Trung Hoa.

Nhưng nói rõ lại điểm ấy đã không có nghĩa là tranh giành với người Tàu cái việc ưu tiên đã nhập cảng một cách nô lệ gì những giáo lý Phật Giáo từ Ấn Độ qua. Nói rõ lại là để cho thấy trong đời sống dài lâu của Phật Giáo ở xứ ta, đã có một cuộc Việt hóa đạo Phật, kể là quan trọng nhất là giá trị nhất. Những dòng Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông sau này từ Tàu qua, đã được người Việt hóa hợp với tín ngưỡng bản xứ cho thành Phật Giáo Việt Nam. Đời Lý đã nảy ra dòng Nam Hải Thiền Tông, do vua Lý Thánh Tông sáng lập và mời nhà sư Thảo Đường làm pháp chủ. Đời Trần, vua Trần Nhân Tông đã sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mà nhà vua là đệ nhất tổ, là Điều Ngự Giác Hoàng và còn được đời coi là hậu thân của Phật Thích Ca nữa.

Tinh thần tự lập, tự chủ, cả về phương diện tôn giáo ấy đã là những bài học lịch sử quý giá, không những không bao giờ người Việt quên, mà còn là những gì để cảnh giác nhiều nhà văn hóa cố ý hay vô tình hiểu tính chất của Phật Giáo là ngoại lai.

Những tượng Phật, La Hán, hiện còn tại nhiều chùa ở miền Bắc, đã là những tác phẩm điêu khắc ngoài giá trị nghệ thuật, còn biểu lộ đặc tính dân tộc ở nét mặt, dáng ngồi, quần áo, mà không ai có thể nghi ngờ được rằng đó là những đồ nhập cảng.

Đến cuộc dung hóa thứ nhất và Tam giáo đồng nguyên đời Lý, Trần, cuộc kêu gọi đồng qui nhi thù đồ của Lê Quí Đôn, thế kỷ XVIII, cả cái việc tượng trưng của Hải Lượng Thiền sư trong sách Tam Tổ Hành Trạng, sau khi thuyết giảng cho môn đệ nghe, đã chống ngược cây gậy trúc lên làm lễ đức Thế Tôn để kêu gọi người ta trở về nguồn, -cái nguồn Trúc Lâm Tam Tổ, -quả là những sản phẩm tinh thần văn hóa Việt Nam quý vô giá. Và đến sau này nữa, qua thế kỷ XIX, Phật Thầy Tây An trong dòng tu Bửu Sơn Kỳ Hương chủ trương giản dị hóa triệt để đạo Phật, đến không còn chuông mõ, kinh lệ, không còn tượng ảnh thờ, chỉ một bức trần dà cho người ta tưởng niệm ra Phật, và chỉ nhớ lấy tứ đại trọng ân : ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào xã hội, là đủ để khuôn nắn con người vào vòng đạo lý, cái điều chủ trương ấy của Phật Thầy Tây An thật đã hết sức Việt Nam cho đạo Phật phổ cập mọi tầng lớp người sơ cơ thiển học vậy.

2. Những ngộ nhận thuộc về nghi lễ tôn giáo.

Nhiều người tỏ ý không vui khi nhìn thấy trong toàn quốc không có thống nhất về nghi lễ tôn giáo. Cũng là nhà tu Phật xuất gia mà có người đồng bóng lẫm liệt, có người phù chú bùa bèn, có người xem tử vi hà lạc, có người làm thuốc, địa lý, lung tung lẫn lộn cả mê tín dị đoan, đàn chay phá ngục và mọi thuật không đẹp mắt của đạo gia với chủ trương triết lý thật cao siêu của Phật.

Sắc thái tinh thần tam giáo đồng nguyên của một xã hội không đúng hình thức nghi lễ cứng rắn qui định tín ngưỡng, thì nó tất nhiên như thế. Sự việc đã diễn ra như thế từ nghìn xưa. Từ nghìn xưa người mình đã chỉ chú trọng đến phần tinh thần và phần thực chất của sự tôn thờ trong lòng mỗi người, còn cách tôn thờ nào ở hình thức, vẫn để tự do theo ý mỗi người quan niệm, cùng theo sở thích và sự cần dùng từng lúc của mỗi người. Tại sao chúng ta nghĩ rằng có muôn ngàn lối để đi đến đạo Phật và Phật Giáo là một tôn giáo rộng dung, mà chúng ta lại định khe khắt đem một khuôn mẫu nghi lễ nhất định nào để ép mọi người theo, như muôn ngàn hộp sửa phải cùng đúng ý như nhau cả? Tại sao chúng ta không còn có thể hiểu như người xưa rằng ông Hoàng Ba, Hoàng Mười và Đức Mẫu Thải, mẫu Sòng Sơn v.v… đã đi rồi, nên từ bi không giận dữ kẻ nào lỡ xúc phạm tới ? Phải chăng ta đã bị lây cái manh ý độc tài về tôn giáo ? Phải chăng chúng ta đã bị hình thức chủ nghĩa xâm lấn đầu óc để lẫn hình thức nghi lễ với nội dung tín ngưỡng và lẫn lễ vật, cung cách dân tặng lễ vật, với lòng chân thành tôn trọng và biết ơn ? Liệu có thêm giá trị nào chăng cho triết lý Phật Giáo khi tổ chức được cho muôn triệu chúng sinh khắp ta bà thế giới theo đúng một lễ nghi, như những người lính trong quân ngũ hay như những sản phảm kỹ nghệ từ một nhà máy đưa ra ? Chúng tôi còn sợ rằng ngược lại là khác nữa.

Mỗi chúng sinh vẫn đuợc an ăn và phải được an một ăn vật chất và tinh thần khác nhau, tùy phủ tạng của chúng sinh ấy. Con kiến chỉ một hột cám đủ no, không thể tiêu thụ được cả thúng cỏ mà con bò ăn trong một bữa. Một triết gia, một nhà trí thức, một chính khách tân tiến đã không đến với đạo Phật bằng cùng một cửa với những chúng sinh sơ cơ thiển học, có thể còn đầy đủ những mê tín dị đoan, về thiên đường, địa ngục, quỷ sứ, Diêm Vương.

Cho nên, chúng tôi cảm thấy cuộc canh tân lễ nghi và nghi thiết thờ tự trong nhiều ngôi chùa, có vẻ như đã khiến đạo Phật xa quần chúng và mất dần tính cách cũ về trẻ vui nhà, già vui chùa rồi. Điều cảm nhận ấy không rõ có đúng chăng ?.

Tuy nhiên, đây quả là một vấn đề tế nhị. Một đàng không thể để ngộ nhận những sự cúng cấp lăng nhăng là Phật Giáo được, dù bông sen vẫn mọc từ giữa những vũng bùn lên và có bùn mới có sen, nhưng một đàng khác thì lại không thể để mất đặc tính dân tộc về dung hòa và cộng đồng đồng tiến, đồng qui nhi thù đồ, mà lúc này hơn lúc nào hết, lại càng cần cho sống dậy tinh thần bao dung tam giáo đồng nguyên thời Lý, Trần . Nhưng không những sự giằng co, có thể nó còn ở mức chính cả nền tôn giáo, cả lý do tồn tại của tôn giáo, (của các tôn giáo nữa) trong thời mới, đương bị tấn kích bởi những tư tưởng duy vật vô thần, mà những nghi lễ thờ cúng vẫn bị kể là tiêu đích để nhắm mọi mũi tên phê phán tới. Sự cần dùng đã không còn chỉ hoàn chỉnh nghi lễ để luẩn quẩn ganh đua gì giữa một vài tôn giáo khác, mà nó đã tới mức phải đem phần tinh hoa tư tưởng của Phật Giáo ra thử lửa, thì nếu còn để những hình thái lễ nghi cũ kỹ, đeo theo cả mớ những điều dị đoan huyền hoặc, há chẳng phải là lựa lấy con đường tiền trầm sao ?.

Trách nhiệm nhà lãnh đạo văn hóa Phật Giáo quả đã quá lớn lao vậy.

3. Những ngộ nhận thuộc về nhân sinh.

Ở ngay nguyên tắc, sự xuất gia đầu Phật của tăng sĩ, vẫn đã bị chỉ trích từ lâu bởi nhiều nho sĩ, căn cứ theo lời dạy của đạo Nho rằng ly gia cắt ái, để không con nối dõi là tội đại bất hiếu. Khi lập luận như vậy, các nho sĩ của ta như Trương Hán Siêu đời Trần, Nguyễn Cư Trinh đời Lê, đã tỏ ra cố chấp lời dạy của thánh hiền để độc đoán và bắt ép người phải có cùng một quan niệm sống như mình mới là sống. Tuồng như nếu họ lấy một người vợ chột mắt thì thiên hạ cũng phải lựa người đàn bà chột mắt mà lấy thì mới kể được là vợ.

Nhưng có con văn hay chữ tốt thật đấy, mà con nô lệ cho những miếng trần gian, đến nịnh bợ cả vợ lão thầy thuốc, hay cả vợ anh lính khi họ có món ăn ngon đem cho, cả đến chỉ nhắm   nhía nơi quyền thế mà dựa dẫm và gả con, cũng như khoe khoang được vua tin dùng hơn người khác, để bị phạt bổng theo kiểu anh nhà quê đá cầu là tác phẩm từ người đời Trần tặng cho chính Trương Hán Siêu, thì liệu ông nho sĩ này đã chắc gì là người con có hiếu trong dòng họ Trương Hán ? Có con như chính Nguyễn Cư Trinh mà trung thành lắm, để cắm đầu phụng thờ một ông chúa vượt quyền.

Một ngộ nhận khác cũng thuộc phạm vi này, mà phong trào tư tưởng duy vật vô thần vẫn lấy làm hữu lý lắm để chê bai người tu hành (cả ở mọi tôn giáo khác nữa) là không dự phần sản xuất, không có ích cho tiến hóa xã hội. Chúng tôi đã nhiều dịp minh xác về điểm này, xã hội có những sinh hoạt về văn chương nghệ thuật thuộc thượng tầng kiến thiết và nhưng sinh hoạt về kinh tế thuộc hạ tầng cơ sở. Nhưng xã hội còn có những sinh hoạt về tôn giáo thuộc vô hình cơ sở nữa, nó khiến con người tin được nhau để sinh hoạt được về kinh tế. Người đời chỉ nhìn thấy cái mặt cầu cho xe qua lại để bảo mặt cầu có ích cho sự lưu thông. Còn chân móng cầu chìm sâu dưới đất, khong ai chịu trông ra rằng không có nó thì mặt cầu làm sao có nổi để có ích ?.

Vai trò của nhà tu cũng vậy. Quả đúng rằng nhà tu không nhúng tay sản xuất ra hàng hóa gì hết. Nhưng nhà tu bằng cuộc sống của mình đã đem tình yêu thương đến cho mọi người, đã khiêu gợi tình người ở mọi con người cho có sự sống thành xã hội sản xuất hàng hóa, thì vai trò ấy kể là quan trọng thế nào ?.

Một ngộ nhận khác nữa cho rằng người tu hành quá tiêu cực chỉ thụ động chịu đựng cả mọi bất công, để lây ra xã hội, khiến sa sút tinh thần chiến đấu và chỉ ru ngủ nhân dân vai trò của thuốc phiện làm tê liệt sức tranh đấu mà mỗi xã hội với tâm trạng người riêng và quan niệm về sự sống riêng, đã không thể coi là món hàng nhập cảng phù hợp cho mọi xã hội ở mọi thời được. Những cách đào sâu thêm hố mâu thuẫn, vu khống thêm để khêu gợi oán thù, thúc bách thêm để nung nấu căm hờn, và lợi dụng căm hờn ấy mà đẩy người vào vòng chém giết, tuy tích cực thật, có vẻ anh hùng thật, nhưng vua tự xưng vương, lại loạn dâm với cả em gái mình, cùng băng mũi bịt tai trước những hành động tham ô của ngoại tả Trương Phúc Loan khiến sinh loạn khắp nước, sửa soạn cho vai trò lịch sử Tây Sơn, thì con ấy liệu có hiếu chăng với dòng họ Nguyễn Cư ?.

Thánh dạy không con là tội đại bất hiếu. Nhưng thà không có những đứa con như thế, thì lại đỡ đại bất hiếu hơn.

Quan niệm của nho sĩ về đạo hiếu thu hẹp vào bản thân của mình và gia đình mình, cùng hạ xuống mức cụ thể của hiện kiếp, đã không có gì đủ sánh nổi với quan niệm về đạo hiếu của tăng sĩ, tu để độ cho vong hồn cha mẹ ở cõi âm thoát vòng luân hồi nghiệp báo, tu để kích động lòng hiếu tháo cho mọi con dân khác trong xã hội thấm thía lẽ quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử. Quan niệm của nho sĩ đã hình thức, cứng rắn và độc tài quá, không linh động, tùy duyên và tùy cảnh ngộ trong đời sống của từng người như quan niệm của tăng sĩ, nên không thể coi là chân lý tuyệt đối về nhân sinh để bức hiếp mọi người. Cho nên ta chỉ có một hình ảnh để liên tưởng thôi: đó là hình ảnh con chuột rúc rỉa cái xác chết trong đống rác mà lo chê con chím hồng mộc bay trên chín từng mây là ngu dại không biết món vinh hoa phú quí nầy. Chính nho sĩ Nguyễn Cư Trinh trong sách Sãi Vãi đã khoe khoang cái lối tu ngôn tu hạnh, tu tánh tu tâm, tu thờ vua thờ cha, để đắc lộc đắc thọ, đắc danh, đắc phú quí, hiển vinh ấy của ông. Còn tu mà ước siêu tam muội ngõ thoát cửu huyền, làm đến mộc bổn thủy nguyên báo dốc càn khôn phú tải… là tu dại.  Ta chỉ nên có nụ cười đối với người nho sĩ thiển cận này. Nhưng nếu còn phải dài lời thêm, là vì sách có đủ giọng đùa cợt thô bỉ và thiếu tế nhị, đủ điệu bộ và cử chỉ lố lăng, cả thiếu giáo dục nữa, không xứng đáng với cái danh nho sĩ, vậy mà chẳng hiểu sao người ta đem chương trình dạy học để kẻ tung người hứng, thật là tội nghiệp ! Người đã hết còn là người trước mắt nhau. Trên đời không phải chỉ có những cách ấy mới khiến được xã hội tiến hóa. Chao ôi! Đã có biết bao kẻ vì tham vọng cá nhân, đã xô đẩy người đời nhẹ dạ vào chỗ chết để nuôi lớn thêm tham vọng ấy, lại còn lo lên án là phản động phản bội, những người tự chế tham vọng và tự thắng để tôn trọng sinh mạng mọi người! Đã có bao kẻ cố dìm xã hội này trong vòng máu lửa để hưởng lợi trên núi xương sông máu của đồng loại mà vẫn huênh hoang là xây dựng thiên đường trên trái đất ! Hỏi chớ thiên đường gì mà không đợi người đời ăn chay nằm mộng để ước nguyện được độ về, lại phải dùng đến xe tăng đại bác để lùa người về? Và phải dùng đến sự giết chóc ghê gớm những kẻ nào muốn trốn ra khỏi thiên đường?

Tích cực, hữu vi, cho lắm vào, để đến tình trạng ấy thì thật là tột cùng sa đọa vậy.

Xét lại trong lịch sử thời Lê Mạt, đàng trong có Nguyễn Cư Trinh đàng ngoài có Ngô Thời Sĩ, rồi thêm có cả nhiều giáo sĩ Tây phương bài xích Phật Giáo kịch liệt lắm, mà Phật Giáo vẫn sống đến ngày nay. Cứu cánh của các tăng sĩ ở thời ấy chỉ là trùng san những kinh sách cổ đời Lý Trần, và chỉ nói việc đại để như chống ngược cây gậy trúc để lên làm lễ Đức Thế Tôn, chớ không thấy một lời tranh chấp nào về giáo lý cả. Ngoài câu nói rất nhẹ nhàng phải chăng là nho cũng có quân tử nho tiểu nhân nho, và Thích cũng có quân tử Thích, tiểu nhân Thích. Bảo rằng thái độ tăng sĩ tránh tranh chấp như vậy là tiêu cực vô vi không đúng đâu. Phật Giáo đã bắt rễ sâu vào lòng quần chúng rồi, những gì chỉ nói vào phần trí của họ đã chỉ là bèo nổi giữa xã hội. Nhà tu đã không cần vun thêm cho đầy đủ cái vỏ tiểu ngã của mình làm gì, mà chỉ cần khơi lại dòng truyền thống rồi mặc cho thời gian làm nòng cốt công việc của nó, vô vi đấy mà thực đã hết sức hữu vi đấy. Đó là bài học quí giá của quá khứ mà chắc hiện tại cũng vẫn còn hữu ích lắm.

Tuy nhiên, thuộc phạm vi nầy, chúng ta không thể né tránh mà không nói tới những hoạt động chính trị trong kỷ nguyên quần chúng. Đó là cái kỷ nguyên dù muốn dù không, vẫn có sự lây nhau giữa dân chúng các nước về tổ chức, chủ trương đảng phái, chiến thuật, chiến lược hành động, cả mánh khóe để lợi dụng tất cả, cho cái đích thành công về chính trị đảng phái ấy. Đó là đầu mối phân hóa lòng người, cũng là đầu mối chia rẽ chính giữa các tăng sĩ bị quần chúng lôi kéo, ép buộc phải có những thái độ chính trị hợp với điều họ nghĩ, ép buộc khéo theo lối chỉ cung cấp những tin tức (khó bảo đảm về chính xác) để tùy lảnh tụ tự quyền định đoạt theo hướng của họ đã hoạch định. Thật là điều khổ tâm cho người tăng sĩ muốn khách quan nhận định thế cờ để hướng dẫn quần chúng khi chân thành thấy cần phải có mặt trong cuộc tranh đấu cho sự sống còn của quốc gia dân tộc, nhưng lại phải hài lòng quần chúng vì cần có quần chúng mới làm nổi được việc gì. Càng khổ tâm hơn nữa là giữa sự lẫn lộn của chính trị dân tộc và chính trị đảng phái đã hết sức khó phân biệt đâu là quyền lợi ching, đâu là quyền lợi riêng, và hết sức khó nhìn ra chủ trương thực hay giả vì quốc gia dân tộc. Cho nên những điều người đời nhận rằng vị nầy bị quần chúng lợi dụng, vị nọ là tay sai của chính quyền, vị kia bị thực dân ngụy hòa mua chuộc, vị kia nữa là cộng sản nằm vùng v.v… tất cả đều là ngộ nhận. Ước sao chúng ta sớm nhận ra lòng chân thành vì lợi ích chung của tất cả để thông cảm và thương nhau trong cùng cảnh khổ này, hơn là chỉ nhìn thấy những khuyết điểm, những nghịch ý, để bất mãn về nhau. Bởi thời giờ gấp rút lắm, còn những ngộ nhận khác thuộc về giáo lý cần đả thông để Phật Giáo có thể trọn vẹn hay không cái vai trò lịch sử sắp tới của nó.

4. Những ngộ nhận thuộc về giáo lý.

Giáo lý vốn là những tư tưởng nằm trong thiên kinh vạn quyển, thường được dạy theo nguyên tắc, với những lời những ý, những hình ảnh tượng trưng, hoặc được dạy theo cách nói ẩn dụ, hoán dụ, tùy tâm trạng và trình độ tu học của người đối thoại, cũng như tùy cảnh ngộ mà có khác và lắm khi có vẻ mâu thuẫn.

Người trong thời mới dụng ý xuyên tạc cũng dễ có những viện dẫn để ngộ nhận giá trị của giáo lý. Mà người cố ý khiến giáo lý là chân lý tuyệt đối và bất dịch cũng để đem những kiến văn thời đại mà gắn ghép cho giáo lý đã nói trước hết rồi. Đó là hai thái độ đối nghịch, cùng cực đoan cả, cùng hình thức cả, và cùng là ngộ nhận cả.

Giáo lý có những giá trị lịch sử của nó. Sau khi sắm trọn vai trò lịch sử trong những giai đoạn lịch sử nhất định, thì nó về viện bảo tàng, trở thành nguồn tiếp viện ý liệu cho văn hóa, để văn hóa thích ứng mọi thời đại khiến nó hóa kiếp đầu thai và sống cuộc sống mới khác. Văn hóa chấp vào mặt chữ của giáo lý và của kinh điển là văn hóa chết. Không những nó không thích ứng được mọi thời đại mà còn không khiến được giáo lý hóa kiếp đầu thai. Ngọn đuốc tuy nó có cầm và giơ lên thật cao, nhưng là đuốc không có lửa sáng. Văn hóa hút lấy tinh túy của giáo lý ở giữa các dòng chữ và ngoài mặt chữ mới là văn hóa sống.

Hiểu cho tôn giáo bao trùm văn hóa hay ngược lại cho văn hóa chi phối tôn giáo đâu cũng là quá khích cả. Từ nghìn xưa, sắm vai trò truyền đạt, phổ cập bằng nhiều hình thức nghệ thuật và nhiều phương tiện tổ chức xã hội đã giáo hóa quần chúng theo thời. Văn hóa đả hút tinh túy của giáo lý mà hòa hợp với mọi giáo lý tư tưởng khác tạo thành phần hồn nhiên của dân tộc. Sự thực hữu của tư tưởng Tam Giáo đồng nguyên đã là một bằng chứng cụ thể. Thì từ nay đến nghìn năm sau sự thể cũng không khác được. Chủ trương hiện đại hóa giáo lý Phật Giáo theo lối cố gắng khiến nó không lỗi thời, đã không khác bao nhiêu với việc muốn nặn lại tượng Phật Bà Quan Âm mà có uốn tóc và đi giầy cao gót.

Phải Phật Giáo hóa hiện đại mới là việc cần làm.

Việc ấy là việc của văn hóa, không phải của tôn giáo. Chúng tôi ước mong có sự nhận định dứt khoát như thế.

Bởi giáo lý là châm ngôn của chư Phật, không thể mỗi lúc chúng sinh đem cảm nhận của mình vào và sửa gọt canh cải cho nó hợp thời thế. Văn hóa mới là ngôn từ giả định của chúng sinh để nói cho chúng sinh nghe biết. Sự luận giải biện bác, tham kiến với tất cả những thuật dụng ngữ có tiến hóa theo thời của văn hóa đã là những hóa thân của giáo lý vậy.

Chúng tôi ước mong Đại Hội kỳ này sẽ tìm ra những phương châm đúng và đáng để văn hóa uyển chuyển thích thời và đón nhận những tư tưởng mới mà hoàn thành nhiệm vụ lịch sử mới của nó.

Thưa quý vị,

Đó là điều tâm nguyện của chúng tôi. Nếu có những lời kém trau chuốt khiến chướng tai, xin quý vị thể lòng chân thành muốn phụng sự của chúng tôi mà tha thứ cho những lỗi vụng dại ấy. Chúng tôi xin đa tạ.

Lê Văn Siêu

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com