
Quốc
Học Trong Tinh Thần Hòa Giải Dân Tộc
Nguyễn Đăng Thục (thuyết trình tại Đại Hội Văn Hóa
PG toàn quốc ngày 21 đến 24-12-74)
Một dân tộc không phải là mớ người
ô hợp khi tụ khi tan bất thường bất định. Một dân tộc là một cộng
đồng bền vững thống nhất do lịch sử cấu tạo nên về ý chí sống
chung, về ngôn ngữ mẹ đẻ, về lãnh thổ địa lý kinh tế chính trị, nhất
là về một tâm lý chung nó tạo thành một tính tình chung, một cá tính
dân tộc phản chiếu ở văn hóa chung của một dân tộc. Cái cộng đồng thống nhất ấy không
hẳn là cộng đồng về chủng tộc huyết thống mặc dầu trong nhân loại
sinh tồn trên mặt đất có nhiều chủng tộc khác nhau không thể lẫn lộn.
Nhưng sự thực các chủng tộc đã lai màu nhau kể từ lâu, 15 hay 20 ngàn năm
trước đây rồi để có thể truy nguyên nguồn gốc cái gọi là “Homo
Sapiens” – “Nhân linh”. Bởi thế cho nên chủ nghĩa chủng tộc quá
khích (Racisme) của Hitler gần đây chỉ là một cuồng tín mù quáng mơ hồ
nhằm khích động tinh thần hiếu chiến giả danh là dân tộc, kỳ thực
trên thế giới ngày nay không làm gì có một dân tộc thuần túy huyết
tính. Dân tộc Pháp ngày nay là gồm giòng máu Gaulois, Romains, Breton,
Germains, Celtes… Dân tộc Trung Hoa ngày nay gồm các giòng máu pha trộn Mông
Cổ, Hán Tộc, Mãn Thanh, Hồi Tộc, Tạng Tộc, Thái Tộc, Việt Tộc… Dân
tộc Mỹ hiện nay là cả một Hiệp Chủng Quốc, đủ chứng minh một yếu
tố huyết thống chủng tộc không tạo thành một dân tộc. Huyết thống không đủ tạo thành một
dân tộc, nó còn cần thiết có một cộng đồng thống nhất về ngôn ngữ.
Ngôn ngữ chung quả là một lợi khí để cho người nọ trao đổi với
người kia về tình cảm cũng như về ý nghĩ. Có hiểu nhau mới có thể hợp
tác với nhau, mới đi đến chỗ đồng tính nhất trí trong hành động của
một đoàn thể người. Các nhà xã hội học thuộc về khuynh hướng duy tâm
hay duy vật hết thảy đều công nhận ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ là điều
kiện thiết yếu cho sự sinh hoạt và tiến bộ của xã hội nhân loại. Đối
với dân tộc thì tiếng nói mẹ đẻ lại càng thiết yếu để thống nhất
ý chí, thống nhất nhân tâm. Ở nước Đức cận đại, nhà triết gia có
tinh thần dân tộc đã cổ võ dân tộc tính Đức rằng : “Những kẻ nói cùng một thứ tiếng
là một đoàn thể mà Tạo hóa đã cấu kết với nhau bằng sợi dâu phức
tạp và vô hình.” Và chủ thuyết dân tộc Đức ở miệng
một lý thuyết gia Đức trong Hàn Lâm Viện còn quyết liệt hơn nữa khi họ
định nghĩa cho một dân tộc. “Chúng tôi gọi dân tộc là cái bản
ngã chung mà cá tính thì căn cứ vào tiếng nói, vào chính cái phương tiện
tinh thần nó đã tạo nên quan niệm của chúng ta về thế giới và về
nhân loại. Những biên giới dân tộc ngày nay trước hết đi theo biên giới
của ngôn ngữ. kẻ nào cho con cái mình sinh trưởng trong một tiếng nói
ngoại quốc, ấy là kể ấy đã đem con cháu mỉnh làm qua cho một dân tộc
khác. Vận mệnh của ngôn ngữ chính là vận mệnh của dân tộc.” Mặc dầu tiếng mẹ đẻ là một điều
kiện tối quan trọng cho cộng đồng dân tộc, vì ngôn ngữ có thể vừa
đại biểu cho hoàn cảnh địa lý ảnh hưởng vào sinh hoạt của dân tộc,
vừa đại biểu cho yếu tố chủng tộc về phương diện sinh lý di truyền,
nó lại còn đại biểu cho tâm lý chung, nói lên cái tính tình chung của một
đoàn thể. Nhưng một mình cộng đồng về ngôn ngữ cho mỗi dân tộc là
điều kiện tất yếu nhưng chưa phải đầy đủ. Trên thế giới ngày nay
có dân tộc nói hai ba ngôn ngữ như Thụy Sĩ, Bỉ… Cũng lại hai dân tộc
nói củng một ngôn ngữ như Mỹ Quốc và Anh Quốc. Nhà sử học Pháp là Michelet chú trọng
vào điều kiện địa lý lãnh thổ trong sự tạo thành dân tộc. Ông viết
: “Không có một cơ sở địa lý thì
dân tộc là chủ động của lịch sử khác gì đi trên không trung, lơ lửng
như trong bức tranh Tầu không đất đứng. và chúng ta nên nhận thức rằng
địa lý lãnh thổ không phải chỉ là sân khấu cho sự hoạt động của
đoàn thê vì những thức ăn, vì khí hậu thủy thổ mà thôi, nó còn ảnh
hưởng vào người ta trăm đường ngăn cách khác nhau. Tổ nào chim ấy!.” Thực vậy, có một khu vực địa lý
để định cư thì dân tộc mới an cư lạc nghiệp để xây dựng nên một
cộng đồng thống nhất vững bền mà chấm dứt đời sống lang thang du mục
của chế độ bộ lạc. Có lãnh thổ rồi mới có cộng đồng sinh hoạt,
có tổ chức về kinh tế, chính trị, văn hóa và văn minh tiến bộ. Tuy nhiên, điều kiện địa lý kinh tế
chính trị dú có đại biệu cho cộng đồng sinh hoạt thực tế của dân tộc
nhưng dân tộc không phải đồng nhất với biên giới thương chính quốc
gia, với lãnh thổ đất đai từng làm mục tiêu cho các cuộc chiến tranh
dân tộc. Một dân tộc còn được biểu hiện ra sắc thái văn hóa dân tộc,
một quốc hồn quốc túy, không cụ thể như lãnh thổ nhưng hết sức linh
động, khác nào như một sinh linh không phải chỉ là tất cả cái hình thể
vật chất, như nhà ái quốc Phi Luật Tân Dr. José Rixal đã kêu gọi trước
khi bị hành hình : “Một một sinh linh đều có khích động
riêng, động cơ riêng của nó. Lấy mất của nó cái sức ấy đi, thì chỉ
còn là cái xác sẽ chỉ thấy có ròi bọ”, (Dẫn trong “Southeat Asia and the World
Today” Van Nostrand ed. D Claud, A Buss trích) Bởi vậy nên thi hào Tagore, trong phong
trào giải phóng bất bạo động cho dân tộc Ấn Độ hiện đại, đã cảnh
cáo các quan niệm duy vật Âu Tây rằng : “Khi nào cái tổ chức chính trị và
thương mại mà gọi bằng một tên khác là Dân tộc trở nên toàn thể
toàn quyền làm mất hòa điệu trong đời sống tối cao của xã hội thì bấy
giờ là ngày đen tối cho nhân loại”. (trong 'Nationalism') Trong tâm lý các dân tộc theo xã hội
học đã nghiên cứu, người ta nhận thấy có một cơ bản truyền thống nó
luôn luôn biểu hiện. Như André
Siegfried viết trong “L’Âme des peuples” = “Linh hồn các dân tộc” : “Chúng ta ngày nay về nhiều tính nết
còn tương tự với dân Gaulois là tổ tiên của ta, và những tính cách đặc
thù mà Sử gia La tinh Tacite đã ghi nhận ở dân Dã man thời La Mã hay là
dân Do thái thời bấy giờ đến ngày nay hãy còn nhận thấy ở dân Đức,
dân Do thái ngày nay”. Vậy dân tộc xưa nay ở Việt “Sự sinh hoạt của một dân tộc
cùng những biểu hiện của văn minh dân tộc ấy, chẳng qua là phản chiếu
cái hồn của dân tộc, cái dấu hiệu hiển nhiên của một vật không
trông thấy mà có thực. Những việc xảy ra bên ngoài chẳng qua là ngoại
biểu của đường lối u uẩn nó làm nguyên nhân ở bên trong. Thể cách
tâm lý của một dân tộc, không những gồm những nguời hiện còn sống của
nó, lại nhất là gồm cả những tổ tiên đã đề tạo ra dân tộc ấy.
Trong cuộc sinh tồn của một dân tộc, không phải là nguời sống mà
chính là người chết chiếm một địa vị lớn hơn vậy. Tạo ra luân lý
làm chủ động cho hành vi của người sống chính là người chết đó. Vậy
thì trong lịch sử của một dân tộc, không phải sự ngẫu nhiên, không phải
các chế độ chính trị kinh tế chiếm địa vị cốt yếu. Chính là tính
cách của dân tộc đấy”. (Gustave le Bon –trích dịch Nam Phong 3.1932) Chính cái sức mạnh truyền thống hiển
nhiên ấy trong dân tộc tính là quốc hồn quốc túy của một nước, mà
nhà chủ nghĩa duy vật ngày nay là Mã Khắc Tư (Karx) cũng phải gián tiếp
công nhận khi nói : “Les traditions des morts pesent d’un
poids lourd sur le cerveau des vivants”. “Truyền thống của người chết đè
một gánh nặng trên đầu người sống”. Bởi thế nên Chúa Lam Sơn, sau khi khôi
phục đuợc giang sơn đã tuyên cáo toàn dân cái quan niệm điển hình về
quốc gia dân tộc Việt “Vật gốc tự Trời, Người gốc tự
Tổ. Kìa như cây cỏ và dòng nuớc đều có gốc có nguồn. Gốc thịnh
thì tốt, nguồn sâu thì dòng dài. Nếu chẳng phải nhớ vào nhân dân bồi
đắp, phúc đức chung đúc vĩ đại của đời truớc thì đâu có được
ngày nay. Trẫm gặp buổi gian truân, mở mang khốn
khó, may Trời và Người đồng lòng giúp sức dựng nên cơ đồ, thực do Tổ
Tiên đã tích đức lũy nhân mới có thể tới được. Trẫm tâm niệm mãi
mãi không quên.” (Tựa Lam Sơn Thực Lục) Quốc
Học Việt Cái tinh thần dân tộc trên đây là
truyền thống văn hóa Việt Nam đã phản chiếu vào tinh thần Quốc học trải
qua các triều đại thịnh vượng và thống nhất nhân tâm cũng như lãnh thổ.
Vì một dân tộc ắt phải có sự lãnh đạo, thành phần trí thức lãnh đạo
ấy là do cái lò Quốc học đào tạo nên. Cho nên Quốc học phải phản
chiếu trung thực cái ý thức quốc quốc gia dân tộc, nhưng nguyện vọng
ngấm ngầm cũng như bộc lộ, nguyện vọng của tất cả tầng lớp nhân
dân, nguyện vọng hiện tại cũng như quá khứ và tương lai. Trong thời
gian hơn một ngàn năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ ngoại lai chỉ lo
giáo dục lấy người để sai khiến trung thành với mục tiêu đồng hóa
phản dân tộc, nhưng ý thức dân tộc tiềm tàng vẫn hàm dưỡng truyền
thống của Hai Bà để thời Hồ bộc phát ở cái ý thức cách mệnh giải
phóng dân tộc của Triệu Ẩu (248), Lý Nam Đế (544-48), Lý Phật Tử
(571-602) Bố Cái Đại Vương (791), Ngô Vương Quyển (939-65), Đinh Tiên
Hoàng (968-980), Lê Đại Hành (980-1009), cho đến Lý Thái Tổ (1010-1225) mới
thực sự giải thoát hẳn cái ách đô hộ Bắc thuộc để trở nên một
quốc gia dân tộc tự do độc lập. Bắt đầu từ đấy dân tộc mới thực
sự có chủ quyền để tổ chức quốc gia của mình trong đó có tổ chức
giáo dục và đường lối quốc học để huấn luyện và tuyển cử nhân
tài lãnh đạo. Trước đấy thì phần tử trí thức cách mệnh dân tộc
đương nhiên là không do chính quyền đô hộ ngoại lai đào tạo, thì do
ở cái lò quốc học nào sản xuất ?. Không có lẽ chính quyền đô hộ lại
đào tạo những phần tử trí thức có ý thức dân tộc để chống lại mình
! Điều ấy đã làm cho Sử gia Việt Nam Ngô Thời Sĩ hết sức thắc mắc.
Ông viết : “Xét sử một đời Vua Đại Hành
không thấy có nhắc đến học hiệu và khoa cử. Những thư từ đi lại thời
bấy giờ như là thư xin tập vị, lời nói uyển chuyển và đắc thể. Đến
bài nối vần thơ Thiên Nhai, ca khúc tiễn Sứ Thần tình ý lanh lợi đầy
đủ ý tứ văn nhân cũng không có thể hơn được. Không biết học hành từ
đâu ? Người anh hùng hơn đời thì đời nào cũng không thiếu, cho nên tuy
không thấy có những vị Nho thần khởi thảo và nhuận sắc, nhưng mà như
Hồng Du làm quân sư, học thức uyên bác làm đến chức Thái Sư, Chân Lưu
cao tăng mà sung việc ứng đối với Sứ Tàu, cũng làm nổi trách nhiệm
thù phụng.” (Việt Sử Tiêu Án) Không có chi đáng nghi ngờ. Từ
Khuông Việt đến Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Cửu Chỉ, Nguyễn Thường.. cả
một lớp Thiền sư là thành phần trí thức lãnh đạo tinh thần cuộc cách
mệnh dân tộc để xây dựng nên một quốc gia độc lập tự do thoát ly hẳn
với chế độ thuộc địa Trung Hoa. Họ đã được đào tạo trong các
chùa Phật ở Giao Châu thời kỳ đô hộ như Pháp Hiền (626) ở Chùa Pháp
vân từng có hàng 300 đệ tử theo học, hay là Vạn Hạnh tu học và huấn
luyện Lý Công Uẩn ở Chùa Lục Tổ… Ở đấy các Thiền sư đã xây dựng
nên tinh thần Quốc học Việt “Khổng, Mạc chấp Hữu, Trang, Lão
nhược Vô, thế tục chi điểm phi giải thoát pháp. Duy hữu Phật giáo bất
hử Hữu Vô, khả liễu sinh tử. Nhiên tu trì giới tinh tiến, cầu thiện
trí thức ấn chứng thủy khả.” (Thuyền Uyển Truyền Đăng) Nghĩa là : “Cái học Khổng Nho và Mặc Tử đều
cố chấp vào xã hội, cái học của Trang Tử và Lão Tử lại cố chấp
vào thiên nhiên không có xã hội. Cả hai đàng đều là kinh điển của cái
học thế tục, chẳng phải cái phép giải thoát cho con người. Chỉ có Phật
giáo không chấp vào Có hay Không mới có thể giải quyết vần đề Sống
Chết. Tuy nhiên đường tu hành phải giữ giới luật, cố tiến tới, cầu
tìm bậc thiện trí thức chứng nghiệm cho mới được”. Từ chối cái học thế tục của lục
địa Trung Hoa, các Thiền sư đã khai phóng văn hóa bế quan độc tôn bằng
ngọn gió tâm linh siêu nhiên Nam Hải, mà hóa giải cuộc tương tranh giữa
các chủ nghĩa Bách gia Chư tử, đồng thời đặt nền móng cho tinh thần
Quốc học Việt Nam của hai triều đại Lý Trần thịnh vượng hùng mạnh
nhất trên lịch sử quốc gia dân tộc. Cái triết lý Quốc học ấy, Thiền
sư Cửu Chỉ đã toát yếu khúc chiết như sau : “Phù ! nhất thiết pháp môn bản
tòng nhữ tính, nhất thiết pháp tính bản tòng nhữ tâm. Tâm, Pháp nhất
như, bản vô nhị pháp. Khiên triền phiền não, nhất thiết giai không. Tội
phúc thị phi nhất thiết giai ảo. Vô sở phi quả, phi nhân, bất ư. Nghiệp
trung phân biệt nghiệp. Nhược hữu phân biệt bất đắc tự tại. Tuy kiến
nhất thiết pháp nhi vô sở kiến. Tuy tri nhất thiết pháp nhi vô sở trí.
Tri nhất thiết pháp, nhân duyên vi bản, kiến nhất thiết pháp, chính chân
vi tông. Tuy nhiễm, thực tế giải liễu. Thế gian giai như biến hóa. Minh
đạt chúng sinh duy thi Nhất pháp, vô hữu nhị pháp. Bất sả nghiệp cảnh,
thiện xảo phương tiện. Ư hữu vi giới thị hữu vi pháp, nhi vô phân biệt
vô vi chi tướng, cái dục tuyệt ngã vọng niêm kế hiệu cố dã.
Dịch nghĩa : “Ôi ! hết thảy các giáo lý đều bắt
nguồn từ trong bản tính của mình mà ra. Hết thẩy bản tính của sự vật
hiện tượng đều do ở nguồn gốc tâm mình xuất ra. Tâm nội giới tinh
thần với pháp hiện tượng ngoại giới đồng nhất thể, vốn không có
hai vật, tinh thần và vật chất. Tất cả phiền não hệ lụy đều hư không,
tội và phúc, phải và trái thẩy đều huyền ảo tương đối. Không có
chi trong thế giới chẳng phải vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả. Ở
trong cõi đời nghiệp báo, không nên phân biệt suy bì nghiệp này nghiệp
kia; nếu còn phân biệt thì không được mãn nguyện tự tại. Tuy thấy hết thảy hiện tượng sự
vật mà không thấy riêng chỗ nào, tuy biết hết thẩy sự vật mà không
có chỗ biết riêng. Biết hết thảy sự vật biểu hiện đều do cái gốc
nhân duyên mà ra. Thấy hết thẩy hiện tượng đều lấy chính nhân làm đầu
mối xuất hiện; được như thế thì tuy có nhiểm ố mà thực tế là đã
thấu triệt liễu giải rồi. Thế giới này hết thảy đều biến
hóa vô thường. Sáng tỏ được chúng sinh chỉ có một lý không có hai
nguyên lý. Không nên bỏ cảnh giới nghiệp báo để khôn ngoan tìm phương
tiện trốn tránh. Ở trong thế giới hữu vi tương đối nên tỏ thái độ
hữu vi tương đối, mà đừng có phân biệt hình tướng vô vi tuyệt đối,
bởi vì “muốn để diệt trừ cái ta vọng niệm tính toán so bì vậy.
Cái triết lý biện chứng toàn diện
: “Bất nhị pháp” ấy của thiền học Việt Nam đây đã ứng dụng vào
ý thức hệ khai phóng của dân tộc ngay từ buổi đầu nhà Lý với Vạn hạnh
và Lý Thái Tổ con tinh thần của Vạn Hạnh, Quốc sư Viên Thông với Lý
Thần Tông. Cái ý thức hệ ấy sở dĩ khai phóng vởi mở và hợp sáng vì
Quốc Học lấy Tam Giáo làm giáo khoa. Đấy là lời giải đáp của vị thiền
sư cho câu hỏi của nhà Vua “Lý thiên hạ sở dĩ trị loạn hưng vong?”
Quốc Sư là Viên Thông tâu : “Thiên hạ ví như một thứ đồ dùng,
đặt vào nơi yên thì yên, đặt phải chỗ nguy thì đổ, tùy ở nhà Vua
lãnh đạo nhân dân hành động thế nào đó thôi. Đức hiếu sinh hợp với
lòng dân cho nên dân yêu Vua như con yêu cha mẹ. Ngẩng trông lên nhà Vua như
trông lên mặt trăng mặt trời, như thế là đặt thiên hạ vào nơi yên
ổn. “Phép trị loạn đối với các quan
chức, hễ biết dùng người thì trị, không biết dùng người thì loạn.
Tôi từng xem các Đế Vương đời trước, chưa từng thấy dùng được
người quân tử mà nước không thịnh, dùng phải kẻ tiểu nhân mà nước
không mất. Nguyên lai không phải một một tối đâu, nó ngấm ngầm từ
lâu vậy. “Trời đất không phải thình lình
làm ra nóng lạnh, ắt phải dần dần từ xuân sang thu. Nhà Vua không phải
thình lình làm cho nuớc hưng hay vong, thịnh hay suy, ắt cũng dần dần từ
chỗ thiện hay ác. “Các Thánh Vương đời xưa biết
như thế nên bắt chước Trời thì chăm tu sử cái đức của mình không
thôi, phỏng theo Đất thì không ngừng tu đức để yên dân. Tu sửa mình
là thận trọng trong tinh thần, run sợ như đi trên băng mỏng. Yên nhân
dân là kính cẩn đối với mọi người trong quần chúng, nơm nớp như cầm
cương mục cưỡi ngựa. Được như thế thì không nước nào không hưng
vượng. Trái lại thì không nước nào không suy vong. Đấy là cái mầm trị
loạn thịnh suy ngấm ngầm ở tại đấy.” Luận điệu trên đây của một Tăng
Thống nói với nhà Vua, không phải Phật giáo xuất thế mà là tư tưởng
Phật giáo hòa hợp với các tư tưởng nhập thế thực tiễn trong hòa điệu
Tam giáo đồng nguyên là nền tảng Quốc học Việt Nam thời nhà Lý. Vì thời
Lý là thời thống nhất nhân tâm, thống nhất lãnh thổ, để xây dựng quốc
gia lâu bền như tên ngôi Chùa độc đáo dân tộc đã ngụ cái lý tưởng
của triều đại là Chùa Diên Hựu, phổ thông là Chùa Một Cột. Hoa
Sen Tượng Trưng Quốc Hồn Quốc túy “Bất Nhị Pháp”. Chùa Một Cột ở Hà Nội ngày nay
chính là biểu dương cho tinh thần Quốc học không những của triều đại
nhà Lý mà còn cả triều đại nhà Trần, hai triều đại oanh liệt nhất của
lịch sử dân tộc, để trở nên tinh thần truyền thống Việt Nam. Giáo sư Pháp Henri Gourdon, tuyên bố
ở “Ở Sự thực hình ảnh bông Sen đã âm thầm
chi phối tâm hồn dân tộc, ngụ ý cái triết lý “Bất Nhị Pháp” của
Phật Giáo Đại Thừa từ thời Phật Giáo mới du nhập vào đất Giao Chỉ,
cho nên Khang Tăng Hội thế kỷ thứ II C.N. đã viết trong “Lục Tổ Tập
Kinh” về Thiền : “Tâm như Hoa Sen, rễ hoa trong bùn,
khi hoa chưa mọc thì còn bị lấp dưới nước . Người thực hành tâm thiền
thanh tịnh như hoa, lìa xa ác niệm, cả thân và tâm đều an ổn, để hướng
về Tứ thiền.” (theo bản dịch của Nguyễn Lang trong
“Việt Nam Phật Giáo Sử Luận”, Lá Bối, tr. 82-1974) Cái ý nghĩa ngụ trong hình ảnh Hoa
Sen ấy đã âm thầm hành động trong tiềm thức nông dân suốt thời Bắc
thuộc để dần dần hợp với hình ảnh “Nhất trụ Phật đính tôn thắng
Đa la ni” thời nhà Đinh dành độc lấp cho dân tộc. Đinh Bộ Lĩnh cũng
ở cạnh đền Sơn Thần, trước cửa có hồ Sen núi có dấu Thiên tử. Mẹ
Lê Hòan có mang nằm thấy trong bụng sinh Hoa Sen, kịp đến năm 1038 thời Lý
Thánh Tông, niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ V, theo Việt Sử Lược : “Tháng sáu xây điện Linh Quang, bên
trái dựng điện Kiến Lễ, bên phải dựng điện Sùng Nghi. Phía trước
điện dựng lầu chuông “Một Cột sáu cạnh hoa Sen” Độc trụ lục giác
liên hoa chung lâu”. Và theo Tòan Thư : “Năm Kỷ Sửu thứ VI, mùa Xuân
tháng 2 đổi niên hiệu là Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ nhất. Mùa đông
tháng 10 xây Chùa Diên Hựu (1049). Trước đấy Vua nằm mộng thấy đức Phật
Quan Âm ngồi trên đài Hoa Sen, vẫy Vua lên đài. Đến khi tỉnh mộng, nói
lại với triều thần. Có người cho là điềm gở chết yểu. Nhà Sư Thiền Tuệ khuyên Vua cất Chùa, dựng
cột đá ở giữa hồ, xây đài Hoa Sen có tượng Phật Quan Âm bên trên, đúng
như hình ảnh đã thấy trong mộng. Các nhà Sư chạy đàn chung quanh tụng
kinh cầu sống lâu, cho nên có tên Chùa là Diên Hựu”. Nhưng giấc mộng Quan Âm Phật với đài
Sen không phải ngẫu nhiên mà có. Theo chính sử còn chép : “Nhà Vua Lý Thánh Tông 40 tuổi chưa
có Hoàng nam để nối nghiệp, thường đi các Đền Chùa để cầu tự, ngự
giá đến đâu người xem chật đường. Khi đến làng Thổ Lỗi, có người
con gái quê cắt cỏ lau, nhà Vua lấy làm lạ, cho vào cung lập làm Ỷ Lan
cung phi. Đến khi có mang sinh Hoàng Tử Kiến Đức lập làm Thái tử, đổi
niên hiệu, đại xá trong nước, phong Ỷ Lan làm Thần Phi, gọi là Nguyên
Phi, đổi làng Thổ Lỗi làm làng Siêu Loại vì sinh quán của Nguyên Phi”. (Cương Mục Chính Ỷ Lan Thần Phi, về sau trong khi
Vua đi đánh Chiêm Thành, ở nhà nhiếp chính khôn khéo được lòng nhân
dân, nên quốc dân đã suy tôn là Quan Âm Nữ !. Và đặc biệt hơn nữa, Vua Lý Thánh
Tông sau khi đánh thắng Chiêm Thành trở về, có bắt theo một tù binh là một
đạo sĩ Tàu học đạo ở Chiêm là Thảo Đường. Và nhà Vua đã sáng lập
nên một phái Thiền tông Việt Nam là “Thảo Đường” với tôn chỉ hợp
nhất tín ngưỡng sùng bái của nhân dân là dòng Tịnh với dòng Thiền là
tín ngưỡng của phần tử trí thức lãnh đạo. Thật là một sự kiện lạ lùng, một
đạo sĩ Tàu đại diện cho truyền thống Lục địa Trung Hoa, sang Chiêm
Thành là khu vực truyền thống Ấn Độ, bị nhà Vua Việt bắt làm tù
binh, để rồi trở nên vị Tổ của một phái Thiền học Việt Nam là
phái Thảo Đường có khuynh hướng dung hòa Tịnh tông và Thiền tông, tôn
giáo tình yêu sùng bái của đại chúng với tôn giáo trí thức của giới
lãnh đạo, một đàng tin vào tự lực giải thoạt. Muốn hòa hợp hai
khuynh hướng tín ngưỡng mâu thuẫn ấy, giữa tình yêu và lý trí thì phải
vươn lên một bình diện ý thức tâm linh bao hàm cả hai cực đoan “Có,
Không” “liễu sinh tử”, tức là cái triết lý Hoa Sen như Thiền sư Ngộ
Ấn đã trình bày và Lý Thánh Tông đã thực hiện vào chính trị quốc
gia, đã cụ thể hóa ra cái ngôi Chùa độc đáo hình bông Sen “ở bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn” :
Vậy Chùa Một Cột, Diên Hựu toát yếu
tượng trưng cả một ý thức hệ dân tộc vì nó phản chiếu được ý
nguyện của toàn dân khi Lý Thành Tông năm 1054 đổi Quốc hiệu Đại Cồ
Việt ra Đại Việt, phía Bắc đánh Tống, phía Nam bình chiêm, phía Tây dẹp
Đại Lịch, Việt Nam bắt đầu trở nên một đế vương hùng cường tại
Đông Nam Á vậy. Buớc sang triều nhà Trần, cái tinh thần
Quốc học ấy vẫn được kế tiếp phát triển và dòng Thiền hợp sáng
thứ hai của Việt Nam là dòng Thiền tông Trúc Lâm Yên Tử với ba vị Tổ
danh tiếng là Vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Để chứng minh cái
triết lý “Bất Nhị Pháp” với hình ảnh ngôi Chùa Bông Sen còn đuợc hàm
dưỡng trong tâm hồn giới lãnh đạo thời Trần, chúng ta chỉ cần trích
dẫn bài thơ vịnh Chùa Một Cột của Tổ Huyền Quang sau đây :
Bài thơ trên của Thiền Sư là cả một
biện chứng sinh tâm lý biến hóa khí chất, nối liền tương đối lưỡng
nguyên với tuyệt đồi nhất nguyên, thế giới hình danh sắc tướng với
thế giới tâm linh không biên giới của từ bi bác ái hợp nhất con đường
tha lực. Tịnh với con đường tự lực Thiền vào một nguồn chung Giác
tính Không vừa nội tại vừa siêu nhiên, không có biên giời, vô hạn giải
htoát. Cái tính Giác ấy đã được nhà Vua Trần Thái Tông thực hiện như
là đồng nguyên Tam giáo PHẬT LÃO NHO. “Vị minh nhân vọng phân Tam giáo, liễu
đắc để đồng ngộ nhất tâm”. Dịch : “Người chưa sáng, còn vô minh thì lầm
phân biệt ra ba giáo lý khác nhau, hiểu thấu được đến căn bản thì
cùng giác ngộ thấy một tâm.’ Và Thái Tông đã lấy Tam giáo làm
quan niệm Quốc học Việt “Phật vô Nam Bắc, quân khả tu cầu,
chính hữu trí ngu, đồng tư giác ngộ. Thị dĩ dụ quần mê chi phương tiện,
minh sinh tử chi tiệp kinh giả, ngã Phật chi đại giáo dã. Nhậm thúy thế
chi quyền hành, tác tương lai chi quỹ phãm giả, tiên đại Thánh chi trọng
trách dã. Cố Lục Tổ hữu ngôn vân : “Tiên đại Thánh nhân dự đại
Sư vô biệt, tác tri ngã Phật chi giáo hựu giả tiên Thánh nhân dĩ truyền
ư thế dã !” Thiền Tông Chi Dịch nghĩa : “Phật tính không có giới hạn Nam Bắc,
đều có thể tu sửa cầu tìm. Tính người ta có kẻ khôn người ngu,
nhưng cùng tư bẩm có khả năng giác ngộ. Thế nên cái giáo lý chính yếu
của đức Phật ta là phương tiện để dạy dỗ quần chúng mê lầm, con
đường tắt cho sự sáng tỏ lẽ sống chết. Còn trách nhiệm nặng nề của
Thánh Nho là cầm cân nẩy mực cho đời, vạch đường gương mẫu cho đời
sau. Bởi vậy nên Lục Tổ có nói rằng : Thánh nhân tiên phong với nhà Sư
Phật không có chi khác. Đủ biết giáo lý đức Phật ta lại mượn tay Thánh
đi trước để truyền bá vào đời vậy.” Theo tinh thần này, nhà Vua thiết lập
khoa thi thông Tam giáo Nho, Lão, Phậ để lấy người ra làm thành phần trí
thức lãnh đạo quốc gia. Cái triết lý hợp sáng Tam giáo ấy thích ứng với
điều kiện địa lý nhân văn của lãnh thổ Việt Nam vốn là đất giao
lưu gặp gỡ (Giao Chỉ) của các chủng tộc và văn hóa khác nhau : Anh Đô
Nê với văn hóa Đông Sơn, Trống Đồng; Chiêm Thành, Chân Lạp với văn hóa
Bà La Môn, Phật Giáo; tồn trong hoàn cảnh ấy, dân tộc Việt Nam đã sớm
ý thức địa vị chủ động của mình để thâu hóa sáng tạo. Quốc
Học Hòa Giải Dân Tộc. Và nó đã thống nhất tất cả khuynh
hướng mâu thuẫn xung đột vào tinh thần Quốc học hợp sáng như Trần Thái
Tông đã tuyên bố cái triết lý thực hiện “Tam giáo đồng nguyên”
trên kia làm khóa trình cơ bản cho khoa thi “Tam giáo chư khoa”. Cái quan niệm Quốc học ấy phản chiếu
được trung thực tư tưởng và tín ngưỡng truyền thống Việt Nam, như một
giáo sư Pháp trường “Viễn Đông Bác Cổ” (E.F.E.O.) Maurice Durad đã
công nhận mới đây : “Một điều đã thành điển hình
mà nói rằng tâm hồn Việt Mặc dầu các cuộc thăng trầm chính
trị trên lịch sử vận mệnh dân tộc trong vòng hai ngàn năm tới nay, cái
sợi dây truyền thống vô hình ấy vẫn không bị đoạn tuyệt. Truyền thống
tâm linh ấy ngấm ngầm vận hành trong mạch máu dân tộc suốt một ngàn năm
Bắc thuộc để bột phát hiệu năng cách mệnh giải phóng ở thời nhà
Đinh nhà Lý khỏi ách đô hộ và họa thôn tính Trung Hoa. Sau thời đại Lý Trần oanh liệt,
sang tiều đại Lê Nguyễn, truyền thống Tam giáo điển hình có bị gián
đoạn trong giới trí thức lãnh đạo Quốc gia khiến cho vận mệnh điêu
linh vì mất ý thức thống nhất, nào Lê Mạc, Lê Trịnh, Trịnh Nguyễn,
Nam Bắc phân tranh. Nhưng truyền thống ấy vẫn luôn luôn sống động thức
tỉnh trong nông dân từ Bắc chí Nam, mặc dầu lãnh thổ có bành trướng về
chiều dài hơn chiều rộng, sau hơn hai trăm năm (1534-1788) đất nước phân
chia, nhờ sức mạnh của tín ngưỡng truyền thống mà người anh hùng “áo
vải cờ đào” đã dọn đường thống nhất để Vua Gia Long hoàn thành Đại
Nam nhất thống.
Nhưng giới trí thức lãnh đạo vẫn
không thức tỉnh, để cho nước mất vào quyền lực thực dân đến qua phân
lãnh thổ và chế độ thành hai thành ba, mặc dầu khi người Pháp mới bước
chân lên đất nước ta đã có người khách quan công nhận sự thống nhất
của dân tộc này : “Hết thảy các sử gia có nhiệt
tâm tìm sự thật đều phải công nhận rằng : khi để chân lên đất Việt
Nam, người Pháp đã phải đụng chạm với một dân tộc thống nhất, một
cách không thể có ai ngờ tới, từ miền cao nguyên thượng du Bắc Việt
cho đến biên giới Cao Miên. Thống nhất về đủ các phương diện nhân chủng
cũng như chính trị và xã hội”. (Gosselin trong “L’Empire d’Anam) Nhưng chính sách đế quốc thực dân
“chia để trị” ngót một trăm năm đã dụng công tiêu diệt cái sự thống
nhất dân tộc về lãnh thổ, về nhân chủng, về chính trị, xã hội và
nhất là về nhân tâm, về cái ý thức dân tộc chung bằng chủ trương đế
quốc văn hóa. Cho nên năm 1953 khai mạc hội nghị quốc gia toàn quốc để
thu hồi sự thống nhất lãnh thổ, Quốc Trưởng Bảo Đại tuyên bố tại “Sau 87 năm phân ly, đồng bào Nam Bộ
lại trở về với đại gia đình Việt Quốc thổ đã thống nhất, chúng ta
nay cần phải thống nhất nhân tâm !”. Nhưng rồi Hiệp Định Genève năm 1954
đã tạm thời chia đôi đất nuớc, để cho một dân tộc có hai chế độ
Cộng sản và Tư bản, Tập quyền và Phân quyền, đoàn thể chỉ huy và
cá nhân tự do. Đấy cũng tựa như tình trạng nước Mỹ vào những năm nội
chiến (1881-1885) khiến cho Tổng thống Abraham
Lincoln đã tuyên bố câu nói lịch sử khi ông ví một dân tộc với một
ngôi nhà : “Một ngôi nhà phân chia trái với tự
tính của nó thì không thể đứng vững. “Tôi tin tưởng rằng nước nhà
không thể chịu mãi cảnh tượng một nửa nộ lệ, một nửa tự do. “Tôi thực không mong thấy Hiệp Chủng
Quốc tan lìa. Tôi không mong thấy ngôi nhà sụp đổ. Nhưng tôi mong nó hết
phân chia. Nó sẽ thành toàn thể là một vật này, hay toàn thể là một vật
khác.” (A. Dân tộc Việt
Ngọn lửa thiêng ấy vẫn âm ỷ cháy
trong lòng người dân Việt suốt mười năm nay, mong mỏi ngôi nhà Việt Nam
toàn vẹn thống nhất vào ý thức Quốc học truyền thống như Vua Trần Thái
Tông đã tuyên bố trên kia, hợp nhất đời với đạo, khoa học với đạo
học trên nền tảng tâm linh thực nghiệm Phật Giáo Việt Nam, vốn là một
nhân bản toàn diện khai phóng vậy. Cái tinh thần Quốc học khai phóng ấy
chính là quan niệm nhân bản toàn diện ngày nay thế giới đang mong ước
như nhà tư tưởng Thiên Chúa giáo trứ danh Daniel Rops đã toát yếu trong
“Ce qui meurt et ce qui nait” (Plon). “Quan niệm nhân bản giới thuyết đầy
đủ cho con người tùy thuộc một mặt vào những điều kiện biến đổi
của thời gian và đất đai nó sinh sống, và một mặt khác tùy thuộc vào
cái thực tại siêu nhiên của bản tính nó cho phép nó giải thoát khỏi những
điều kiện kia.” Đấy chẳng phải là nhân bản khai
phóng của Phật Giáo Việt “Giữa các tôn giáo thế giới không
làm gì có sự trái nghịch. Tất cả tôn giáo chỉ là những độ đường
khác nhau của cái Tôn giáo (chân lý) vĩnh cửu. Cái Tôn giáo (chân lý) vĩnh
cửu thích ứng vào các bình diện sinh tồn khác nhau, nó thích ứng cho quan
điểm tinh thần khác nhau và chủng tộc khác nhau. Tôn giáo (chân lý) vĩnh
cửu vẫn có từ cổ lai và sẽ còn mãi mãi. Nó phô diễn cách khác nhau
tùy theo xứ sở khác nhau. Vậy nên chúng ta phải tôn trọng tất cả và cố
sức công nhận tất cả, càng nhiều càng hay.” (Swami Vivehananda “My Master”) Đủ thấy triết lý “Bất Nhị Pháp”
của Trần Thái Tông lấy làm kim chỉ nam cho Thiền tông Việt Nam và là
tinh thần Quốc học thời Lý Trần mà Vạn Hạnh đã tiên phong thực hiện
để giải phóng dân tộc, mà Lê Quí Đôn cùng một số Nho Sĩ thời Lê mạt
Nguyễn sơ đã kêu gọi trở về với khẩu hiệu : “Đồng qui nhi thù đồ”, cái Quốc hồn Quốc
tuý Việt Nam ấy chính là biện pháp hòa giải dân tộc hiện nay, vì nó mới
thực phản chiếu trung thành ý thức dân tộc là ý thức xã hội khai
phóng không đóng khung vào giáo điều hay chủ nghĩa cuồng tín ngoại lai, lại
rất thích hợp cho thế giới đang muốn sống chung hòa bình. Nếu thực
các dân tộc thế giới còn chút tình nhân loại đối với dân tộc Việt
Nam đau thương hiện nay, muốn viện trợ cho nó thì hãy gắng thông hiểu
để giúp nó tự ý thức lấy nó qua cái truyền thống Quốc học khai
phóng tốt đẹp cố hữu Việt Nam, xin đừng viện trợ phe nọ phe kia, chủ
nghĩa này chủ nghĩa khác để kéo dài thảm họa đau thương huynh đệ
tương tàn với hậu ý “chia để trị”, đấy là vạn hạnh cho Việt Nam
chúng ta vậy. Nhưng như đức Phật dạy, trước hết chúng ta hãy tự đốt
đuốc mà soi đường cho mình để tự cứu lấy mình, đấy là thượng sách
hòa giải dân tộc. Khổng Nho cũng nói : “Tài giả bồi chi, khuynh giả
phúc chi !”. Cho nên một dân tộc sau bao lâu bị
chính sách đế quốc văn hóa phân chia, chủ nghĩa giáo dục ngu dân đầu
độc, muốn đứng lên ắt trước hết phải xây dựng lại tinh thần
không phải bằng cái hồn mượn mà bằng sự phản tĩnh về cái ý thức văn
hóa truyền thống của mình, bằng cái tinh thần lập quốc của tiền
nhân, trước khi thâu nhận của người. Đấy là tinh thần Quốc học trong
đó có đường lối hòa giải sâu rộng thực tế vì dân tộc tính Việt Quốc học chân chính Việt Nam là tinh
thần hợp sáng, khai phóng bản lai của dân tộc, không đóng cửa vào giáo
điều cuồng tín, chủ nghĩa đức tôn, hệ thống bế tỏa làm xuyên tạc
Quốc Sử, sai lạc Quốc Văn, mai một Quốc Hồn, Quốc Túy vậy. Nguyễn Đăng Thục
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com