giaodiem copyright
                posted: 07.3.2006

   Phát Triển Các Cơ Sở Văn Hóa Trong Khung Cảnh Thanh Bình Của Đất Nước

(thuyết trình tại Đại hội Văn hóa Phật giáo toàn quốc tháng 12-1974)

Toan Ánh

Nói đến Văn Hóa trong lúc này, khi chiến tranh còn đang tiếp diễn với sự tàn sát hàng ngày, câu chuyện có vẻ như lạc lõng và có thể trở thành một trò cười đối với những người chủ trương dùng súng đạn kiến tạo hòa bình, và đồng thời cũng có thể là một sự vô lễ đối với những chiến sĩ đang nằm gai nếm mật nơi mặt trận, nếu những chiến sĩ này nghĩ rằng họ đang sát cánh với tử thần, mà chúng ta lại đi cùng nhau đem văn hóa ra mà bàn bạc, thì việc làm của chúng ta quả thật là thiếu ý nghĩa.

Nhưng người xưa có câu : Bình thời giảng vẽ, loạn thế độc thư, thì giữa lúc này là lúc loạn chúng ta phải nghĩ đến và sửa soạn cho những ngày hòa bình sắp tới.

Nghĩ tới những ngày sắp tới, chúng ta không thể chỉ nghĩ tới chính trị, kinh tế, tài chánh, xã hội, hành chánh v.v.., mà cho là đủ, nếu chúng ta không nghĩ tới văn hóa là cái gốc của tất cả mọi sinh hoạt của một dân tộc, và nhất là không nghĩ tới việc phát triển các cơ sở văn hóa trong khung cảnh thanh bình của đất nước.

Văn hóa là nếp sống mọi mặt của dân tộc, bao gồm tất cả những biểu hệin liên hệ đến con người trong cộng đồng, từ tư tưởng cảm xúc, giá trị tinh thần đến những thực hiện vật chất.

Vai Trò Của Các Cơ Sở Văn Hóa.

Phát triển các cơ sở văn hóa để bảo vệ và phát huy sắc thái đặc thù của dân tộc mà cũng là để bảo tồn những di sản  tinh thần và vật chất của tiền nhân. Không những thế, riêng những di sản tinh thần lại cần được phát huy, đặc biệt là các truyền thống cao quý, các thuần phong mỹ tục và các đức tính đặc sắc của người Việt.

Những cơ sở văn hóa chính là những cơ quan tạo điều kiện cho các nổ lực nghiên cứu, khám phá và sáng tạo trong mọi lãnh vực văn hóa và cũng giúp cho mọi người có cơ hội thuận lợi tham gia sinh họat văn hóa.

Hơn nữa chính những cơ sở văn hóa sẽ phổ biến văn hóa Việt Nam trong phạm vi quốc tế, đồng thời cũng là nhịp cầu để các nền văn hóa xa lạ dễ du nhập vào đất nuớc, và nơi đây sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự thâu nhận tinh hoa của các nền văn hóa này.

Với sự phổ biến văn hóa dân tộc và thâu nhận tinh hoa văn hóa ngoại quốc, chúng ta sẽ đi tới sự cảm thông và hợp tác quốc tế trên mặt văn hóa.

Ấy là chưa kể tới việc phát triển tinh thần khoa học cũng như sự nghiên cứu qua các cơ sở này.

Vai trò của các cơ sở văn hóa qua các điểm trên thật là quan trọng, nhất là trong thời thanh bình. Ngay từ lúc này, nếu chúng ta không nghĩ ngay tới sự phát triển của các cơ sở này, e rằng khi hòa bình trở lại trên đất nước, chúng ta sẽ lúng túng vội vàng làm điều này, bỏ điều khác, việc đáng làm trước lại để lại sau, và việc ưu tiên thứ lại đặt lên hàng đầu.

Phát triển các cơ sở văn hóa, lẽ tất nhiên ngoài những cơ sở đã có sẵn chúng ta phải có những cơ sở mới, nhất là tại các địa phương, hiện nay, hầu hết hoàn toàn xa lạ với các cơ sở văn hóa bất cứ thuộc ngành nào.

Hóa Trình Văn Hóa Việt Nam.

Để tiện việc sắp đặt phát triển các cơ sở cũng như sửa sọan cho sự phát huy, ít nhất chúng ta cũng nên biết quá trình văn hóa Việt nam ra sao, có biết rõ quá khứ mới định quá được hiện tại và xây dựng được tương lai.

Nên văn hóa Việt Nam chính là nền văn hóa Lạc Việt đã được tạo nên qua những yếu tố lịch sử, địa dư cũng như mọi sự diễn tiến trong nếp sống mọi mặt. Những yếu tố đã tạo những đều kiện, thêm vào đó, tâm lý đặc thù, đã gây nên ở đa số người Việt Nam những pảhn ứng, những cách tiếp xử, những lối sống và cảm nghĩ, những hình thức biểu lộ tư tưởng và tình cảm riêng biệt, tóm lại những cái mà ta gọi là cá tính dân tộc. Cá tinh ấy có hai năng lực có vẻ tương phản nhưng kỳ thực lại bổ túc cho nhau : một bên là năng lực đối kháng mãnh liệt, một bên là năng lực đồng hóa phi thường. Chính với bản tính thiên bẩm ấy nhân dân Việt Nam đã tạo dựng cho mình một nếp sống riêng biệt, một nền văn háo đặc thù. Nền văn hóa vốn gốc là Văn hóa Lạc Việt với những sự thâu góp và gạn lọc những phần đóng góp của các nền văn hóa lân cận, quan trọng nhất là Văn hóa Trung Hoa và Văn hóa Ấn Độ, sau đó kể từ thế kỷ thứ 10 thêm các nền Văn hóa Chiêm Thành và Châp Lạp.

Rồi tới thế kỷ 18, với sự du nhập của Văn hóa Tây phương cùng Gia-tô giáo, nẩy sinh sự tương khắc Đông Tây mãnh liệt cơ hồ làm chấn động đến cả căn bản của nền văn hóa cổ truyền, nhưng những giá trị truyền thống vẫn không bị lung lay.

Khoảng giữa tiền bán thế kỷ 20 này, từ 1930 trở về sau, đặc biệt là từ 1945, trong khi dân tộc Việt Nam lo tranh đấu để thu hồi nền độc lập thì chủ nghĩa Cộng sản dưới danh nghĩa tranh đấu đuổi thực dân đã du nhập vào Việt Nam, và từ 1960 trở về sau với sự hiện diện của người Mỹ, lại thêm nền Văn hóa kỹ thuật Mỹ châu khiến cho Văn hóa Việt Nam lại phải trải qua nhiều cuộc thử thách trong sự tranh dành ảnh hưởng giữa hai Thế giới Tự do và Cộng sản. Những cuộc thử thách còn đang tiếp diễn.

Trong nếp sống tâm linh, nền tảng tín ngưỡng của đại chúng Việt Nam là phụng sự Tổ Tiên, Thánh Thần và Anh hùng dân tộc, đượm màu Khổng Giáo và Lão Giáo. Kế đó, Phật Giáo tô bồi nền tảng cổ truyền ấy, hợp thành một ý thức tôn giáo ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống dân chúng. Dân chúng chấp nhận và theo những tôn giáo du nhập vào đất nước vì tin tưởng cào giáo lý và kinh điển nhưng không tín đồ ton giáo nào đã vì tôn giáo mình mà đem bán rẻ non sông đất nước.

Tinh thần hợp dung tông giáo của ta đã đi đến chỗ hòa đồng tôn giáo, tránh mọi điều kỳ thị, nên sau này, Gia-tô giáo, Hồi giáo và gần đây còn thêm các tôn giáo mới Cao Đải, Phật Giáo Hòa Hảo, Baha’I v.v… đều đặt được cơ sở trong quần chúng.

Xét về xã hội, Việt Nam xưa kia là một xã hội quân chủ và nông nghiệp, những nền quân chủ Việt Nam không có tính cách chuyên chế nhờ ảnh hưởng của Khổng giáo và chế độ xã thôn tự trị. Nền nông nghiệp Việt Nam chỉ là tiểu nông nghiệp được hỗ trợ bởi chế độ quân cấp công điền, và không có đại điền chủ. Truyền thống xã hội Việt Nam nhờ vậy có tính chất tự do và dân chủ. (1)

Dân tộc Việt Nam rất trọng đạo đức và văn học. Ngày xưa tiêu chuẩn để tuyển chọn nhân tài lãnh đạo là : tài, đức; với tài và đức, người dân nào cũng có cơ hội tiến thân.

Nên Văn hóa Việt Nam thật tốt đẹp cho tới khi người Pháp bắt đầu đô hộ Việt Nam. Rồi gần ba chục năm chinh chiến triền miên, lại thêm sự du nhập bừa bãi các phong trào sinh hoạt ngoại lai và qua sự can thiệp của các lực lượng chính trị quốc tế, nền văn hóa cổ truyển Việt Nam đang trải qua thời kỳ gay cấn, và nếu không thắng được những cuộc thử thách sẽ đi vào con đường suy sụp.

Trong lúc này, với những tệ trạng xã hội đáng ghê tởm, với cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt hết sức tàn khốc, những người Việt Nam có tâm hồn với văn hóa chỉ mong sao nền văn hóa cổ truyền này giữ được những giá trị cổ truyền đặc biệt mà đa số đồng bào còn tha thiết quý chuộng :

- Tinh thần bất khuất của dân tộc,

- Tinh thần tương thân tương trợ,

- Tinh thần trọng tôn giáo, đạo đức và chú trọng tới sự tu thân,

- Lòng sùng kính tổ tiên, Thánh thần và Anh hùng dân tộc,

- Lòng tôn quý trưởng thượng, kính trong hiền tài,

- Lòng yêu mến, quý trọng gia đình, giữ gìn hiếu đễ.

Bên những giá trị cổ truyền này lẽ tất nhiên dân tộc Việt Nam luôn luôn có khuynh hướng theo đả tiến bộ chung trên thế giới để tiếp thu đồng thời gạt bỏ những điều gì đi ngược lại tinh thần dân tộc và tạo những sự hỗn loạn trong cuộc sống.

Định Hướng Văn Hóa.

Sau khi đã tìm hiểu sơ lược quá trình văn hóa Việt Nam muốn thiết lập và phát triển các cơ sở văn hóa, chúng tôi nghĩ chúng ta cần biết sẽ làm gì trên những chiều hướng nào của văn hóa. Đành rằng văn hoa tự nó cứ xây dựng và phát triển, và trong sự diễn biến không ngừng của nếp sống, nhưng ít nhất chúng ta cũng phải quan niệm rõ ràng những điều chúng ta muốn làm, và những mục tiêu chúng ta muốn đạt được.

Theo chúng tôi, có thể dưới đây là sơ lược những điều mà khi để tâm tới văn hóa, chúng ta ai cũng muốn thể hiện.

- Bảo vệ và phát huy sắc thái đặc thù của dân tộc.

- Giúp mọi người Việt Nam có một nếp sống xứng đáng với nhân phẩm, hợp với truyền thống dân tộc và đà tiến hóa chung của nhân loại.

Thể hiện những điều trên, lẽ tất nhiên chúng ta có những mục tiêu nhằm đạt được.

- Bảo tồn di sản văn hóa vật chất của tiền nhân.

- Phát huy di sản tinh thần của dân tộc, đặc biệt các truyền thống cao quý, các thuần phong mỹ tục và các đức tính đặc sắc của người Việt Nam.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các nỗ lực nghiên cứu khám phá và sáng tạo trong mọi lãnh vực văn hóa.

- Giúp mọi người đều có cơ hội và điều kiện tham gia sinh hoạt văn hóa.

- Phổ biến văn hóa Việt Nam trong phạm vi quốc tế.

- Phát triển tinh thần khoa học.

- Phát triển sự cảm thông và hợp tác quốc tế.

Những Cơ Sở Văn Hóa Hiện Tại.

Sau khi đã đạt lược tìm biết những việc chúng ta muốn làm để bảo tồn và phát huy gia tài văn hóa dân tộc, lại biết sơ qua những mục tiêu chúng ta mong đạt được, chúng ta thử kiểm điểm hiện nay đã có những cơ sở văn hóa nào, và liệu những cơ sở này có đáp ứng nổi cho những mục tiêu chúng ta theo đuổi và có đang làm những việc chúng ta mong mỏi chăng ? Chúng ta bắt đầu từ những cơ sở địa phương, từ tỉnh, quận, đến làng xã.

Trước hết, tại Trung ương, hiện ngày hôm nay, trong Chính phủ, chúng ta có một Khối Văn Hóa nằm trong Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên. Khối Văn hóa có danh, nhưng trên thực tế chẳng làm được bao nhiêu việc, dù người điều khiển khối này có thiện chí. Chính phủ lúc này không coi nặng vấn đề văn hóa. Đối với nhiều cấp lãnh đạo chỉ là một thứ trang trí, một thứ trang trí tốn tiền mà không hữu ích. Quan niệm sai lầm này đã khiến qua nhiều chính phủ liên tiếp chưa bao giờ đất nước có một Bộ Văn Hóa riêng biệt, Văn hóa hết tá túc trong Bộ Quốc Gia Giáo Dục lại biến thành một khối với một Quốc Vụ Khanh đặc trách, sự đặc trách này đã khiến có người phải nghĩ, Văn phòng QVK đặc trách được đặt ra là vì con người hơn là vì công vụ, và khi con nguời không còn nữa, Văn hóa lại phải tá túc vào Giáo dục, Thanh niên.

Có một khối văn hóa, nhưng khối này hiện nay không có ngân sách riêng và người phụ trách cũng không được lãnh hoàn toàn trách nhiệm về văn hóa, nhiều ngành trong văn hóa đã nằm trong tay những cơ quan khác.

Bên cái cơ quan trung ương về văn hóa mệnh danh là khối Văn hóa này, chúng ta còn có một cơ quan hiến định phụ trách về Văn hóa giáo dục, đó là Hội đồng Văn hóa Giáo dục. Mặc dầu cơ quan này được thành lập do sự quy định của Hiến Pháp tại các điều 93 và 94 đã được tổ chức do Luật số 05/69 ngày 2-5-1969, nhưng đây chẳng qua cũng là chỉ là một cơ quan trang trí, chính những người có trách về cơ quan này cũng đã từng lắc đầu chán nản thốt ra điều này cũng một số hội viên. Hội đồng Văn hóa Giáo dục có trách nhiệm về hai mặt Văn hóa và Giáo dục, nhưng khốn thay, cơ quan này lại chỉ là một cơ quan tư vấn, nên tính cách trang trí lại càng rõ rệt hơn. Trong nhiệm kỳ I, nhiều hội viên có khả năng và thiện chí đã là tác giả nhiều khuyến cáo về Văn hóa, nhưng chưa từng bao giờ Chính phủ trả lời cho Hội đồng biết là đã thi hành hay không những khuyến cáo này. Nhiệm kỳ I hết, bây giờ là nhiệm kỳ II, kiểm điểm lại thành phần, chúng tôi xin được phép có nhận xét sau đây : Thành phần Hội đồng nhiệm kỳ II, gồm rất nhiều tu sĩ Gia-tô giáo nhưng kiểm điểm thật kỷ lưỡng, chúng ta không thấy một tu sĩ nào của Phật giáo, không những thế, tu sĩ các tôn giáo khác cũng hoàn toàn vắng mặt. Trong khi nhiệm kỳ I, ít nhất cũng có Thuợng Tọa Thích Minh Châu đại diện cho hàng tu sĩ Phật Giáo bên cạnh 7 tu sĩ đạo Gia Tô !.

Tới đây trong quý vị ắt có người nghĩ rằng hội viện Hội đồng Văn hóa Giáo dục là do bầu cử, chúng tôi xin thưa ngay, bên những thành phần bầu cử, lại có những thành phần chỉ định, bằng một phần ba tổng số Hội viên.

Ngoài khối Văn hóa và Hội đồng Văn hóa Giáo dục, hiện nay tại Trung ương chúng ta còn có :

- Nha Du lịch

- Hệ thống Vô tuyến Truyền hình

- Hệ thống Vô tuyến Truyền thanh

- Viện Bảo táng

- Viện Khảo cổ

- Viện Khảo cứu Nông nghiệp

- Viện Quốc gia Nông nghiệp

- Viện Quốc gia Thống kê

- Thư viện Quốc gia

- Ủy ban Điển chế Văn tự

- Trường Cao đẳng Mỹ thuật

- Trường Quốc gia Âm nhạc

- Trung tâm Điện ảnh.

Trong những cơ sở Văn hóa trên, hai Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Quốc gia Âm nhạc tuy là những cơ quan Văn hóa nhưng cũng có tính cách giáo dục, và chính vì tính cách giáo dục, nên giờ đây, dường như chúng đã trực thuộc hẳn một Giám đốc học chính thay vì nằm trong Khối Văn hóa, rồi đây trong thẩm quyền một vị Giám đốc, bao nhiêu sự gò bó hành chánh sẽ lấn áp cả chiều hướng mỹ thuật của hai cơ quan Văn hóa này !.

Có thể trong bảng liệt kê danh sách các cơ quan Trung ương này, có một vài thiếu sót, nhưng nếu có sự thiếu sót, chính vì có những cơ sở hữu danh mà vô thực, nên tuy có được thiết lập nhưng không có hoạt động, do đó nhiều người không biết tới.

Và chúng tôi không nhắc tới những cơ quan Văn hóa tư, hoặc có những cơ quan nặng tính chất giáo dục hơn văn hóa như Trung tâm Học liệu, Viện Vi Trùng học v.v…

Những cơ quan Trung ương vừa nói hoặc có hoặc không những chi nhánh tại các địa phương, hoặc đôi khi một vài cơ quan có cơ quan tương đương tại một nơi khác như Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế, trường Quốc gia Âm nhạc Huế, trực thuộc hẳn Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, ngang hàng với các Trường cùng loại ở Saigon, hoặc như các Thư Viện, không thư viện nào trực thuộc Thư viện Quốc gia mà đều thuộc Khối Văn hóa.

Thực ra tại các địa phương, những cơ sở Văn hóa cho tới ngày hôm nay không có bao nhiêu có thể đếm trên đầu ngón tay, năm ba tỉnh có Đài truyền hình, truyền thanh, một vài nơi có chi nhánh của Nha Du lịch Quốc gia, ở Huế, Saigon và Đà Lạt có chi nhánh Văn khố Quốc gia, độ mươi tỉnh có thư viện, nhiều tỉnh rất lớn cho tới hôm nay cũng chưa có một thư viện cho dân chúng. Theo quyển Niên Giám Thư Viện 1973 của Hội Thư Viện Việt Nam, chúng tôi chỉ thấy tại một vài thị xã như Qui Nhơn, Phú Yên, Đà Lạt là có thư viện để dân chúng sử dụng. Những đô thị thật lớn, như Huế, Cần Thơ, Khánh Hòa cho tới ngày hôm nay chưa có một Thư viện công cộng.

Còn có cơ sở khác thì quả thật chỉ có ở Trung ương, không có một chi nhánh nào ở bất cứ nơi nào.

Đối với những tỉnh lỵ, những thị xã còn vậy nói chi tới quận, tới xã, lẽ tất nhiên không quận, xã nào có thể có được những cơ sở văn hóa để giúp đỡ dân chúng học hỏi, tìm hiểu ngõ hầu có đủ điều kiện tham gia những sinh hoạt Văn hóa của đất nước, ngay đến những cơ sở rất cần thiết như một tủ sách nông thôn cũng không làng xã nào có.

Cải Thiện và Phát Triển Các Cơ Sở Văn Hóa.

Với tình trạng hiện hữu đầy khiếm khuyết của các cơ sở Văn hóa, lẽ tất nhiên phải cần có một sự cải thiện và thiết lập thêm nhiều các cơ sở Văn hóa từ Trung ương , địa phương cho đến xã thôn, nhất là khi thanh bình trở lại trên đất nước.

Cải thiện ra sao ? Phải cải thiện thế nào để có thể bảo tồn và phát huy được tòan diện các gia tài văn hóa của dân tộc. Cái gia tài này tuy không đồ sộ nhưng cũng không đế nổi nghèo nàn, và so sánh với các lân bang, chúng ta có quyền hãnh diện về cái gia tài trên cả hai phương diện tinh thần lẫn vật chất.

Có bảo tồn và phát huy được cái gia tài quý báu này, chúng ta mới có thể đạt được những mục tiêu khác đã đề ra, vì chính đây là cái gốc cần phải vun bồi để nảy ngành sinh ngọn.

Gia tài Văn hóa.  Để giải tỏa ngay một thắc mắc có thể có về gia tài Văn hóa gồm những gì, chúng tôi xin được phép trình bày. Gia tài này có hai phần vật chất và tinh thần đã được Hội đồng Văn hóa Giáo dục trình bày rõ ràng trong Dự án Chính sách Văn hóa ngày 12 tháng 6 năm 1972 như sau:

1) Gia tài vật chất.   Gia tài vật chất này chẳng những gồm các công trình do tay con người tạo dựng nên mà còn cả cảnh trí thiên nhiên nữa:

--Môi trường sinh sống trong lãnh thổ quốc gia

--Di tích lịch sử

--Danh lam thắng cảnh

--Viện Bảo tàng

--Thư viện Quốc gia

--Văn khố Quốc gia.

2) Gia tài tinh thần.  Bên các gia tài vật chất, nền Văn hóa dân tộc còn cái vốn liếng tinh thần, mà bổn phận mọi người phải lo tìm hiểu và phát huy :

--Phong tục tập quán cổ truyền

--Các định chế

--Các nền tư tưởng và đạo lý từ ngàn xưa

--Các nền nghệ thuật

--Ngôn ngữ và văn chương dân tộc.

Để gìn giữ và phát huy cái vốn văn hóa, sinh lời cho cái vốn này lẽ dĩ nhiên những cơ sở hiện có không thể nào đủ đáp ứng cho những công việc vừa khó khăn, vừa phức tạp lại vừa tế nhị trong mọi lãnh vực văn hóa. Phải thay đổi và có nhiều cơ sở mới để chia phần trách nhiệm cho từng cơ sở từ địa phương tới trung ương, mỗi cơ sở lo đúng trong phạm vi của mình, giúp đỡ cho các cơ sở bạn về mọi mặt nhất là về kỹ thuật và tài liệu. Như vậy, guồng máy văn hóa, nếu chúng tôi có thể dùng được danh từ này cứ tuần tự tiến, theo nếp sinh hoạt mà nảy nở mà diễn biến đúng với hoàn cảnh và vị trí của quốc gia.

Những Cơ Sở Văn Hóa Sau Này.

Trước hết phải cải thiện những cơ sở hiện có bắt đầu từ Trung ương rồi tới địa phương. Chúng tôi nghĩ trên hết đất nước phải có một bộ Văn hóa Quốc gia, đứng riêng biệt để phụ trách hoàn toàn về Văn hóa. Các quốc gia tiền tiến, tự do cũng như cộng sản, nhiều nước có bộ Văn hóa vì họ quan niệm đúng tầm mức quan trọng của Văn hóa. Thắng địch nếu chúng ta chỉ thắng về quân sự, kinh tế hoặc chính trị, cái thắng sẽ không bền, nhưng nếu chúng ta thắng đuợc địch về mặt Văn hóa ấy là chúng ta đã có một cuộc thắng vĩnh cửu. Văn hóa chi phối mọi mặt, coi thường Văn hóa tức là coi thường tất cả, mặc cho văn hóa đồi trụy tức là mặc cho mọi sự suy sụp trên mọi lãnh vực cứ suy sụp hơn.

Một bộ Văn hóa rất cần thiết cho một dân tộc muốn đứng vững và muốn tiến.

Quốc gia có một bộ Văn hóa, chịu trách nhiệm chung về mọi lãnh vực Văn hóa, nhưng riêng Giáo hội Phật Giáo, chúng ta có những vấn đề Văn hóa riêng biệt, tuy vẫn là Văn hóa chung của dân tộc, nhưng trách nhiệm về chúng ta nhiều, do đó ngay trong Giáo hộ, chúng ta luôn luôn phải có một cơ quan Văn hóa tối cao để bảo vệ, theo dõi và phát triển về mọi mặt Văn hóa Phật Giáo. Tổng Vụ Văn Hóa hiện nay lãnh trách nhiệm này, chúng tôi tin rằng Thượng Tọa Tổng Vụ trưởng đã và sẽ không làm thất vọng bất cứ tín đồ nào đang kỳ vọng vào nền Văn hóa Phật Giáo Việt Nam để nâng cao nền Văn hóa Quốc gia.

Bên cạnh Bộ Văn hóa phải có một cơ quan cố vấn tối cao không phải để quyết định mà để soi sáng cho những người có trách nhiệm về Văn hóa. Hội đồng Văn hóa Giáo dục, lẽ ra chính là cơ quan này về phần Văn hóa, nhưng với tính cách trang trí, Hội đồng đã không làm được việc gì dù có bao nhiêu thiện chí. Không bao giờ trước khi có một quyết định quan trọng về văn hóa giáo dục. Hội đồng đuợc các cấp lãnh đạo có trách nhiệm hỏi ý kiến. Tự Hội đồng muốn có khuyến cáo gì thì có, những khuyến cáo này cũng chưa từng được Chính quyền cho biết có áp dụng hay không.

Cơ quan cố vấn tối cao bên cạnh Bộ Văn hóa sau này không phải là một cơ quan bồ nhìn, và phải được các cấp lãnh đạo Văn hóa hỏi ý kiến về mọi vấn đề lên quan tới đường lối chính sách văn hóa, cũng như những quyết định quan trọng về văn hóa.

Đối với Giáo hội, chúng tôi cũng xin đề nghị một Hội đồng Văn hóa Phật Giáo để làm cố vấn cho Tổng Vụ Văn Hóa.

Bộ Văn hóa và Hội đồng Văn hóa là những cơ quan đầu não chủ chốt của Văn hóa quốc gia. Dưới đó là những cơ sở thực hiện đường lối văn hóa do Bộ văn hóa với sự góp ý của Hội đồng này không phải là những kẻ ngồi đấy vì bè phái, vì áp lực này hoặc áp lực khác.

Những cơ sở sẽ do Bộ Văn hóa điều khiển và chịu trách nhiệm, chúng tôi xin làm 3 loại:

a) Những cơ quan bảo tồn gia tài Văn hóa.

b) Những định chế văn hóa

c) Những cơ quan phổ biến và trau dồi Văn hóa.

A. Những Cơ Quan Bảo Tồn Gia Tài Văn Hóa.

Đây là những cơ quan có nhiệm vụ gìn giữ những cái gì chúng ta hiện có, do tổ tiên để lại vật chất cũng như tinh thần. Trong những năm vừa qua, với nhiều diễn biến chính trị và nhiều cuộc rối loạn gây nên bởi thời cuộc, gia tài Văn hóa của ta đã bị phương hại rất nhiều. Sách của bao nhiêu thư viện, nhất là ở Huế đã bị thiêu hủy, bao nhiêu di tích lịch sử đã bị bom đạn phá tan, bao nhiêu danh lam thắng cảnh không còn nguyên vẹn. Ấy là chưa kể môi trường sinh sống của dân tộc bị ô nhiễm vì thuốc khai quang, vì khói của cá máy móc động cơ, vì những công tác chiến tranh…

Còn cái gì, chung ta cần phải giữ lại, dù đây là công trình kiến tạo của tiền nhân hay tài sản thiên nhiên dành cho chúng ta : những danh lam thắng cảnh, những sông dài, núi cao rừng rậm cũng như những di tích lịch sử.

Về những cơ sở có nhiệm vụ bảo tồn gia tài văn hóa, chúng tôi đề nghị khuếch trương hoặc thiết lập tại Trung ương các cơ quan sau :

Tổng Nha Du lịch.   Để Nha Du lịch hiện nay xứng đáng với nhiệm vụ văn hóa nặng nề trong việc bảo tồn những cảnh đẹp thiên nhiên cũng như những di tích lịch sử. Nha này cần phải được nâng lên hàng Tổng Nha, với nhiệm vụ to tát hơn nhiệm vụ hiện chỉ nhằm vào mục đích khai thác du lịch để thi lợi. Tổng Nha này sẽ có nhiệm vụ :

1) Đối vời những di tích lịch sử :

--Tìm kiếm, kiểm kê, sắp hạng tất cả các di tích này và để trùng tu lại trong trường hợp đã bị phá hủy theo như sự đã có lúc ban đầu.

--Liên lạc với Viện Khảo cổ để công nhận các di tích này và để trùng tu lại trong trường hợp đã bị phá huỷ, theo như sự đã có lúc ban đầu.

--Áp dụng những phương pháp khoa học vào việc bảo trì và trùng tu.

2) Đối với danh lam thắng cảnh

--Kiểm kê danh lam thắng cảnh và những muông thú hiếm có hiện diện tại Việt Nam.

--Đề nghị những biện pháp bảo vệ danh lam thắng cảnh cũng như các muông thú này.

--Hướng dẫn các giới kinh doanh khai thác biến các danh lam thành những trung tâm du lịch theo tiêu chuẩn quốc tế.

Tổng Nha Du lịch sẽ có chi nhánh tại nhiều nơi.

Riêng đối với Giáo Hội Phật Giáo, chúng tôi đề nghị sẽ có một ban phụ trách về việc kiểm kê, lập danh sách các nơi thắng tích và lịch sử Phật Giáo Việt Nam, đồng thời hướng dẫn các Phật tử trong và ngoài nước cũng như các du khách tới thăm viếng các nơi này. Ngoài ra ban này cũng phải thu thập tài liệu để viết thành sách phân phối cho các du khách.

Viện Bảo tàng.   Văn minh và lịch sử của bất cứ dân tộc nào đều thường được thể hiện qua các sáng tạo thuộc mọi lãnh vực liên hệ đến cuộc sống. Các chứng tích văn minh và lịch sử này thường bị mai một theo thời gian. Bảo Tàng viện phải là nơi tập trung, trưng bày, sưu tầm và nghiên cứu tất cả các chứng tích văn minh và lịch sử. Viện sẽ chia thành từng ngành :

--Bảo tàng Nhân chủng và Dân tộc học.

--Bảo tàng Khoa học và Kỹ thuật

--Bảo tàng Vạn vật học

--Bảo tàng Nông Lâm Ngư nghiệp.

Mỗi tỉnh cũng nên có một Viện Bảo tàng cổ vật, di tích lịch sử và sản phẩm của địa phương.

Viện Bảo tàng Saigon ngày nay không có tính chất Quốc gia. Viện này cần được khúêch trương ngay để biến thành Viện Bảo tàng Quốc gia, chẳng những lưu giữ những cổ vật, chứng tích lâu đời của nếp sống tổ tiên mà còn phải trưng bày đầy đủ các sản phẩm hiện đại.

Nếu Quốc gia có Viện Bảo tàng Quốc gia, Giáo hội cũng cần có một Viện Bảo tàng riêng về Phật Giáo.

Thư viện Quốc gia.   Đây là nơi lưu giữ, theo nguyên tắc, tất cả các sách báo, bản nhạc, dĩa hát đã được sản xuất tại Việt Nam. Ngoài ra còn các sách báo trong nước và ngoại quốc đã được mua để các độc giả sử dụng.

Với những biến cố chính trị liên tiếp, với tinh thần thiếu trách nhiệm của một số các cấp lãnh đạo, nhiều sách báo quý đã bị đánh cắp trong những khi lộn xộn, và một số nhỏ cũng bị hỏng, bị mất trong khi độc giả sử dụng.

Lẽ ra đây phải là nơi mọi người đều được tới đọc sách, nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng Thư viện Trung ương hiện nay hạn chế các loại độc giả, và các học giả muốn vào tra cứu cũng rất khó khăn.

Không biết có nên nhắc đến sự khiếm khuyết những sách báo của địch xuất bản trong nước cũng như sách báo ngoại quốc. Sự khiếm khuyết này rất quan trọng vì những nhà nghiên cứu muốn tìm tòi đã thiếu sách đọc. Đành rằng không phải sách này để trong tầm tay mọi người và bất cứ ai cũng có thể đọc được, nhưng phải có sách để những người cần đọc có nơi tìm đọc. Vả chăng Văn hóa làm gì có ranh giới. Bất cứ một dân tộc nào đều có thể thu nhận những tinh hoa của dân tộc khác, bất cứ nơi nào đều có thể chấp nhận những cái hay của nơi khác.

Hiện nay Thư viện Trung ương, thực ra cũng chỉ là một thư viện địa phương. Phải cần có một hệ thống Thư viện quốc gia trong toàn quốc, với một Thư viện Quốc gia Trung ương tại Thủ đô có nhiệm vụ, ngoài những nhiệm vụ thường xuyên của một Thư viện, tập trung thư mục của các thư viện địa phương để thiết lập ngay một Tổng Thư mục quốc gia ngõ hầu giúp những ai muốn nghiên cứu để tìm tòi sách báo cần thiết. Thư viện này phải được trang bị đầy đủ tất cả các sách báo xuất bản trong nước, đặt kế hoạch mua lại sách cũ, liên lạc với các Thư viện ngoại quốc để làm vi ảnh các tài liệu liên hệ đến Việt Nam, gấp rút đóng thành tập các báo chí nạp bản, phân tích và làm phiếu mục lục.

Thư viện Quốc gia Trung ương cũng là nơi tập trung các bản thảo, những tác phẩm quan trọng về văn chương và khoa học kỹ thuật.

Tại các địa phương từ tỉnh quận đến xã ấp đều phải có Thư viện để cho dân chúng có nơi học hỏi, và có như vậy văn hóa dân tộc mới thấm nhuần tới mọi tầng lớp dân chúng.

Lẽ tất nhiên các Phủ Bộ, các trường học đều phải có Thư viện hoặc ít ra cũng có một tủ sách, và những thư viện này phải có sự liên lạc mật thiết về phương diện chuyên môn với Thư viên Quốc gia Trung ương.

Riêng về Giáo hội, chúng tôi cũng xin đề nghị có một Thư viện Phật học tại Trung ương, tại mỗi Khuôn hội, Tỉnh hội, Chi hội đều có hoặc một Thư viện hoặc một tủ sách trang bị đầy đủ ít nhất các sách liên quan tới Phật Giáo. Tại Thư viện trung ương cũng nên có một phòng tàng kinh, nơi đây sẽ có đầy đủ các kinh sách để các địa phương có thể tới thỉnh bất cứ lúc nào.

Văn khố Quốc gia.   Văn khố Quốc gia bao gồm tất cả các tài liệu, văn thơ, văn kiện quốc gia mà các cơ quan công quyền đã dùng để trao đổi hay chuyển đạt tư tưởng tới các thể nhân hay pháp nhân. Văn khố Quốc gia là những kho tàng quý giá. Bổn phận chúng ta phải sư tập bảo vệ, đừng để mất mát những chứng tích lịch sử này.

Phải thành lập ngay một hệ thống Văn khố Quốc gia giống như hệ thống Thư viện, và phải có ngay một Văn khố Quốc gia Trung ương tại Saigon và những Văn khố địa phương tại các thị trấn lớn các vùng như Huế, Đà Lạt, Cần Thơ.

Văn khố Quốc gia Trung ương và địa phương có nhiệm vụ tập trung tàng trữ tất cả các văn kiện mà các cơ quan từ Trung ương tới địa phương không cần dùng tơi nữa sau một thời gian để tránh mọi sự mất mát, đồng thời phải tìm kiếm và thâu hồi các văn kiện đã bị tản mác và thất lạc.

Những điều chúng tôi đề nghị về Văn khố Quốc gia, chúng tôi cũng xin đề nghị với Giáo hội để thiết lập ngay một Văn khố Phật Giáo Việt Nam.

Gia tài tinh thần.   Từ trên chúng ta mới nhắc tới gia tài Văn hóa vật chất. Bên những gia tài vật chất này, như trên chúng tôi đã trình bày, còn có những gia tài văn hóa tinh thần lẽ tất nhiên chúng ta cũng cần bảo vệ và phát huy. Ngoài những cơ sở cần được thiết lập ra để bảo vệ phần gia tài này, chúng ta còn cần động viên tinh thần mọi người để bảo vệ, phát huy và nuôi dưỡng tinh thần dân tộc.

Đền thờ Quốc tổ và các vị Anh hùng Dân tộc.   Để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và nhắc nhở dân chúng nhớ đến công đức của tiền nhân, một đền thờ Quốc Tổ và các vị anh hùng dân tộc cần phải được thiết lập ngay, không phải đợi đến thời thanh bình.

Đền thờ Quốc Tổ sẽ nhắc nhở mọi người nguồn gốc và do đó nhắc nhở họ những bổn phận đối với quốc gia dân tộc. Cây có gốc, nước có nguồn thì chúng ta cũng có tổ tông. Quốc Tổ của chúng ta ở Việt Nam, dân tộc chúng ta đang sống trên địa bàn Quốc Tổ, không bao giờ chúng ta nên vọng ngoại mà đem bán rẻ đất nước cho ngoại tộc.

Gần đây nhiều người nói tới việc xây dựng Đền Thờ Quốc Tổ nhưng cho tới nay, việc xây dựng vẫn chỉ ở trong dự định. Phải chăng có kẻ phá phách, có áp lực nào đã ngăn cản sự thực hiện này.

Theo chúng tôi nghĩ, bất cứ theo tôn giáo nào, chúng ta cũng cần có tổ tiên, nếu vì tôn giáo mà bỏ tổ tiên, chúng ta chỉ là một lũ vong ân bội nghĩa, quên nguồn quên gốc. Chính vì vậy, trên cương vị một Phật tử, chúng tôi mong mỏi Phật Giáo góp phần vào công cuộc xây dựng ngôi Đền thờ Quốc Tổ và các vị Anh hùng dân tộc.

Viện Khảo cổ.   Văn hóa Cổ truyền là tất cả gia tài văn hóa của dân tộc, thường bị mất dần theo thời gian. Để giữ gìn và nêu lại những giá trị này cần phải có một chương trình quy mô nhằm khuyến khích, yểm trợ mọi công trình học hỏi nghiên cứu và giảng dạy Văn hóa Cổ truyền. Nhiều công việc cần phải làm ngay từ bây giờ và Viện Khảo cổ đảm trách.

--Soạn thảo ngay một bộ Văn hóa sử Việt Nam

--Soan thảo một bộ Tự điển Nôm đầy đủ

--Phiên âm theo phương pháp đối chiếu tất cả các tài liệu chữ Nôm

--Dịch ra Quốc ngữ tất cả các sách quan trọng viết bằng chữ Hán có liên quan tới Việt Nam, nhất là các sách viết tại Việt Nam.

--Nghiên cứu các nền đạo lý cổ truyển ở Việt Nam

--Nghiên cứu các phong tục tập quán và các định chế VN.

--Khuyến khích việc học chữ Nôm, chữ Hán và nói chung cổ học.

--Nghiên cứu việc giảng dạy văn hóa cổ truyền theo một phương pháp và chương trình hợp lý từ bậc Trung học đến Đại học cũng như trong đại chúng, và đặc biệt chú ý tới môn phong tục học VN để học sinh và sinh viên không quên nguồn gốc.

--Đặc biệt đối với các ngành nghệ thuật cổ truyền phải có sự nghiên cứu và phục hồi đúng mức :

a) Nghiên cứu và biện soạn về nền hội họa và điêu khắc và kiến trúc cổ truyền.

b) Nghiên cứu và biên soạn về cổ nhạc, dân ca và các truyền thống nghệ thuật dân sinh.

c) Nghiên cứu và chấn hưng những nghệ thuật trình diễn cổ truyền : hát chèo, hát bội.

e) Nghiên cứu và biên soạn về các trò chơi cổ truyển VN,

Tất cả những công việc trên dòi hỏi thiện chí và cố gắng. Lẽ tất nhiên Phật Giáo cũng dự phần đóng góp những điểm liên quan tới đạo Phật, thí dụ như Kiến trúc, Điêu khắc Phật giáo, v.v…

B. Những Định Chế Văn Hóa.

Bảo tồn những di tích của tổ tiên cũng như truyền thống quý báu của dân tộc chưa đủ, chúng ta còn có nhiệm vụ chuẩn bị cho các thế hệ mai sau nối tiếp các công trình của tiền nhân để kiến tạo một nền văn hóa tuy vẫn giữ nét đặc thù, nhưng càng ngày thêm phong phú và trong liên tục lịch sử với những sự canh tân cần thiết, những công cuộc nghiên cứu và phát triển văn hóa cần được đẩy mạnh, muốn như vậy, những định chế văn hóa phải được thiết lập, tối thiểu những định chế cần thiết sau đây :

--Viện Hàn Lâm

--Viện Quốc Sử

--Hội đồng Quốc gia Khảo cứu Khoa học

--Viện Nghiên cứu Dân tộc học

--Viện Khảo cổ.

*Hàn Lâm Viện Quốc Gia.

Nhìn sang các lân bang trong thế giới tự do, Đại Hàn, Nhật Bản, Cao Miên … họ đều đã có một Viện Hàn Lâm. Vậy mà quốc gia chúng ta vẫn tự hào là một nước Văn Hiến, cho tới nay, cơ quan văn hóa cần thiết này vẫn chưa có.

Có Hàn Lâm Viện, chúng ta mới có một cơ quan chịu trách nhiệm về các vấn đề :

--Điển chế ngôn ngữ và văn tự VN.

--Cổ vỏ, yểm trợ các công cuộc sưu tầm khảo cứu và khoa học kỹ thuật.

--Huy động sự hợp tác giữa các học giả và các nhà tư tưởng, các nhà khoa học và nghệ thuật Việt Nam cũng như giữa những người này với các học giả, các nhà tư tưởng, các nhà khoa học và nghệ thuật ngoại quốc.

Ấy là không kể, Hàn Lâm Viện có thể, như Hàn Lâm viện Pháp quốc, xét và tặng giải thưởng cho những tác phẩm xuất sắc nhất về mọi mặt trong mỗi năm.

Hàn Lâm Viện có thể chia làm bốn ngành sau đây, mội ngành chịu trách nhiệm về lãnh vực của mình :

--Hàn Lâm Viện Văn học (Văn chương và Triết học)

--Hàn Lâm Viện Nghệ thuật

--Hàn Lâm Viện Khoa học thuần túy và Ứng dụng

--Hàn Lâm Viện Khoa học Nhân văn và Xã hội.

Riêng về Phật Giáo, chúng tôi ước ao Thượng Tọa Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa cũng nghĩ ngay tới việc thiết lập một Hàn Lâm Viện PG.

Viện Quốc Sử Việt Nam

Trước đây Lịch triều đã từng thiết lập Quốc Sử Quán để biên chép, lưu giữ các tài liệu liên quan tới lịch sử địa lý đất nước.

Kể từ ngày VN thu hồi độc lập có lẽ chưa bao giờ chính quyền qua giai đoạn liên tiếp đã nghĩ tới việc tái lập Quán Quốc Sử này. Gần đây, trong dự án Chính sách Văn hóa Giáo dục ngày 12-6-1972 Hội đồng Văn hóa Giáo dục đã đề cập tới, nơi chương Ba, tiết Hai, và đã có thảo luận và khuyến cáo Chính phủ về việc thành lập Viện Quốc Sử VN, trong khóa họp bất thường tháng 3 năm 1974, nhưng việc thảo luận cũng như dự án đã không có tiếng vang.

Viện Quốc Sử có nhiệm vụ :

1) Đối với các tài liệu sử, địa cũ :

--In lại nguyên bản tất cả các bộ sử cũ

--Dịch đối chiếu các bộ sử cũ

--Sưu tầm, gìn giữ, nghiên cứu, ghi chép, phiên dịch các tài liệu lịch sử và địa dư cũ như : các bản đồ xưa, các địa phương chí xưa, các sách vở về địa lý xưa, các gia phả, các thần tích, các văn bia…

2) Đối với các tài liệu sử, địa mới :

--Thu thập và xuất bản những thư mục về các tài liệu sử địa

--Phối hợp hoạt động với Viện Bảo tàng để sử dụng các tài liệu, sản phẩm văn hóa đang lưu giữ tại đó hay mới khai quật được, với các Văn khố và Thư viện để khai thác các tài liệu do hai cơ quan này quản trị và với các Cơ quan Văn hóa ngoại quốc để thu thập các tài liệu sử địa.

--Đính chánh các tài liệu sử địa

--Chính thức cung cấp các tài liệu sử địa cho các cơ quan trong và ngoài nước.

--Biên tập Bộ Chính Sử, Bộ Địa Dư VN và luôn luôn cập nhật hóa các bộ sách này.

Nhiệm vụ của Viện Quốc Sử thật nặng nề, nếu không ai nghĩ tới việc thành lập viện này, thật là một sự khiếm khuyết lớn đối với văn hóa.

Riêng về Phật Giáo, chúng tôi tin rằng trong lúc này TT. Tổng Vụ Trưởng cũng đang suy nghĩ đến việc Tổng Vụ phải có một cơ quan phụ trách về Phật Giáo sử VN.

Hội Đồng Quốc Gia Khảo Cứu Khoa Học.

Khoa học đang tiến với một tốc độ mạnh, vậy mà đất nuớc chúng ta cho tới ngày nay vẫn chưa có một cơ quan quy mô để theo dõi và nghiên cứu, mới chỉ có những cơ quan lẻ tẻ nằm trong các cơ quan lớn khác, hoạt động không cùng trong một chiều hướng. Cần phải có một Hội đồng Quốc gia khảo cứu khoa học với nhiệm vụ :

--Khảo cứu các bộ môn khoa học thiên nhiên và chính xác, khoa học nhân văn và xã hội, để góp phần vào sự phát triển quốc gia và sự hiểu biết của nhân loại.

--Kiểm điểm những khả năng của khoa học, hoạch định các chương trình khảo cứu, phát triển phương tiện hữu hiệu, sử dụng các tài nguyên khoa học và kỹ thuật quốc gia.

Thâu thập các tài liệu khoa học, phối hợp các công tác khảo cứu, sáng tác và áp dụng, thúc đẩy sự tiến bộ cửa mọi ngành khoa học.

--Phổ biến các kiến thức, các tiến bộ và các phương pháp khoa học kỹ thuật.

--Cộng tác với các giới kỹ nghệ và kinh doanh để đi tới những trù hoạch cụ thể góp phần vào sự phát triển kinh tế quốc gia.

Nêu lên nhiệm vụ khó khăn của quý Hội đồng Quốc gia Khảo cứu Khoa học, chúng tôi thầm ước mong, Phật Giáo sẽ có phần đóng góp vào những công tác của Hội đồng này.

Viện Nghiên Cứu Dân Tộc học.

Viện này có nhiệm vụ :

--Sưu tầm nghiên cứu về nhân chủng, hình thể, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tôn giáo, văn chương, âm nhạc, vũ điệu của tất cả các sắc dân sống trên địa bàn Quốc Tổ và các lân quốc hay tại các quốc gia có ảnh hưởng đến nền văn hóa VN.

--Phổ biến bằng cách xuất bản hoặc yểm trợ xuất bản các công trình khảo cứu về dân tộc học.

Phối hợp với Viện Bảo tàng nhân chủng để khai thác các tài liệu liên qua tới các sắc tộc tại VN.

Viện Khảo Cổ.

Về việc này chúng tôi đã trình bày ở trên. Nhiệm vụ này phải mở rộng hơn những công việc hiện nay Viện đang đảm trách.

C. Phổ Biến và Trao Đổi Văn Hóa.

Muốn cho mọi người đều hiểu thấu văn hóa và được tìm hiểu về văn hóa, cần phải có sự phổ biến, và đối với ngoại quốc sự phổ biến văn hóa càng cần thiết để thế giới biết rõ về dân tộc mình.

Và như vậy, phải có một kế hoạch quy mô để đồng thời tổ chức việc phổ biến văn hóa trong quảng đại quần chúng lại thực hiện công cuộc phổ biến và trao đổi văn hóa với các quốc gia trên thế giới.

Những cơ sở và những phương tiện sử dụng trong công cuộc phổ biến và trao đổi này, gồm ít nhất :

1) Truyền thanh và truyền hình.

Đây là những phương tiện để loan truyền tin tức văn hóa để giới thiệu và trình diễn những sáng tác, những tác phẩm nghệ thuật có giá trị nhằm hướng dẫn thị hiếu của đại chúng và để giáo dục đại chúng về những kiến thức văn hóa : phong tục cổ truyền, nếp sống từng địa phương, vẻ đẹp non sông…

2) Thư Viện :

Chúng tôi đã trình bày ở trên. Nếu có cần phải nói thêm ngoài thư viện tại các trụ sở bất dịch, nên có những thư viện lưu động đi tới những thôn xã chưa có một thư viện hoặc một tủ sách nào để dân chúng tìm đọc, và cũng nên có ngoài các thư viện cho người lớn, những thư viện thiếu nhi dành cho trẻ em.

3) Báo chí và Tranh ảnh :

Vai trò báo chí trong vấn đề phổ biến và trao đổi văn hóa, chúng tôi nghĩ chẳng cần nói đến, ai cũng đã hiểu là rất quan trọng, có điều báo chí cần phải được tự do để có thể làm tròn sứ mạng của mình và người ta cũng đừng lợi dụng báo chí làm những điều xuyên tác nhất là về văn hóa.

Riêng về các tranh ảnh ngoài mục đích trang trí, làm đẹp còn có tác dụng phát triển khiếu thẩm mỹ và óc sáng tạo của người dân.

4) Điện ảnh :

Điện ảnh rất hữu hiệu trong việc phổ biến trao đổi và phát huy văn hóa. Và đây cũng là phương tiện để giáo dục quảng đại quần chúng về kiến thức văn hóa như truyền thanh và truyền hình. Trong khung cảnh thanh bình của đất nước, chính quyền không thể lơ là không chú ý tới tầm quan trọng của Điện ảnh có thể có một ảnh hưởng rất rộng lớn về mọi mặt.

Cần phải:

*Khuyến khích và nâng đở sự thành lập các nhóm điện ảnh nghệ thuật, đồng thời phải dành nhiều dễ dãi cho sự nhập nội những phim có tính cách văn hóa giáo dục các dụng cụ chiếu bóng.

*Khuyến khích và yểm trợ để thực hiện những phim có tính cách nghệ thuật, giáo dục, nhất là những phim tài liệu liên quan đến lịch sử, địa lý VN, cũng như những phim lấy cốt truyện trong truyền thống quốc gia.

*Tổ chức những đại hội điện ảnh toàn quốc, và những đại hội điện ảnh quốc tế tại VN.

*Thành lập Viện phim ảnh để thực hiện và lưu giữ những phim ảnh có tính cách tài liệu lịch sử và văn hóa.

5) Sân khấu :

Sân khấu cũng đóng một vai trò quan trọng như điện ảnh đối với văn hóa. Cần phải :

--Thiết lập một Hí viện Quốc gia tại Thủ đô, và một hí viện tại mỗi thị trấn quan trọng.

--Khuyến khích xây dựng những tuồng kịch, chèo cổ có giá trị văn hóa, và những tác phẩm về truyền thuyết dân tộc.

--Tổ chức những buổi trình diễn lưu động.

--Tổ chức những đại hội nhạc kịch trong khung cảnh lịch sử.

6) Nhà Văn hóa :

Tại thủ đô cũng như tại các đô thị lớn, nên có một nhà Văn hóa với tính cách đa dạng. Đây là nơi dành cho các giới văn hóa thảo luận, trình diễn ca vũ nhạc, kịch, chiếu phim, giới thiệu các tác phẩm, triển lãm sản phẩm nghệ thuật v.v…

7) Hệ thống phát hành :

Phải tổ chức một hệ thống phát hành hợp lý và công bằng để mọi sản phẩm văn hóa, kể cả báo chí có thể tới được tầm tay quần chúng.

8) Triển lãm và triển lãm lưu động :

Để giới thiệu những tác phẩm có giá trị, để trưng bày những công trình sáng tác, những cuộc triển lãm phải luôn luôn được tổ chức, và để công chúng khắp nơi đều biết tới những tác phẩm và công trình này phải có những cuộc triển lãm lưu động.

Các nghệ sĩ, các hiệp hội văn hóa phải được khuyến khích và yểm trợ trong sự thực hiện những cuộc triển lãm.

9) Đại hội Văn hóa :

Để có sự trao đổi ý kiến giữa các giới làm văn hóa trong chiều hướng phát huy tinh thần văn hóa phải có những Đại hội Văn hóa toàn quốc có tính cách định kỳ, đồng thời cũng luân phiên tổ chức những đại hội văn hóa địa phương. Khuyến khích các tôn giáo tổ chức những đại hội văn hóa để tín đồ có thể tham gia nhiều vào những hoạt động văn hóa.

Qua những đại hội văn hóa toàn quốc, mỗi năm tuyển chọn một số nghệ phẩm giá trị để phổ biến trong và ngoài nước.

10) Viện âm thanh :

Viện sẽ thực hiện và lưu giữ các tài liệu âm thanh có giá trị trong lịch sử dân tộc.

11) Văn nghệ đoàn :

Thành lập văn nghệ đoàn, chính là một phương thức để thúc đẩy công cuộc sáng tác và phổ biến nghệ thuật.

Ngoài các tổ chức và phương tiện chính nói trên, chúng ta cũng cần nghĩ tới :

--Phiên dịch các tác phẩm văn hóa VN ra ngoại ngữ.

--Phiên dịch các tác phẩm văn hóa bằng ngoại ngữ ra tiếng Việt.

--Gửi các sản phẩm văn hóa VN tham dự các cuộc triển lãm quốc tế hoặc phổ biến ở hải ngoại.

--Tổ chức các cuộc triển lãm và các hội nghị quốc tế về văn hóa, nghệ thuật, khoa học tại VN.

--Gửi các giới làm văn hóa VN, cá nhân cũng như đoàn thể tham gia sinh hoạt văn hóa quốc tế : đi tu nghiệp, dự hội nghị quốc tế…

Tất cả những tổ chức, những phương tiện hoặc những sinh hoạt đề nghị trên, cho nền văn hóa dân tộc trong vấn đề phổ biến và trao đổi văn hóa, chúng tôi tin rằng Phật Giáo sẽ tham dự và sẽ củng cố những tổ chức và những sinh hoạt riêng trong khuôn khổ Phật Giáo.

*
*    *

Những điều chúng tôi vừa trình bày nhằm mục đích phát triển mọi sinh hoạt văn hóa trong nước cũng như ngoài nước, nhưng thực hiện được hay không đều do ý muốn hay không muốn của các cấp lãnh đạo. Nếu chính quyền thờ ơ với văn hóa lẽ tất nhiên tất cả những cơ sở phác họa ra sẽ không bao giờ thành tựu được. Ngoài ra lại cũng phải có sự tiếp tay của mọi giới đồng bào. Một tinh thần hợp tác văn hóa phải có trong mọi giới, dù làm văn hóa hay không. Chính quyền cần kêu gọi sự hợp tác của các giới văn hóa, khuyến khích họ quy tụ thành những hội nhóm càng lớn càng hay, có đường lối, có chủ trương có kế hoạch và chương trình hoạt động ngõ hầu mọi hoạt động đều có một đường lối chung nhằm một mục tiêu. Phát huy văn hóa dân tộc. Có như vậy, văn hóa mới khởi sắc, mới tiến, mới thúc đẩy được sự cố gắng của mọi người và những điều chúng ta mong mỏi ngày hôm nay mới đạt được.

Toan Ánh

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com