
Diễn
Văn Khai Mạc Của Thượng Tọa Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hóa Thượng
Tọa Thích Mãn Giác (diễn văn đọc vào sáng ngày
22-12-1974 tại Nhân danh Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ
Văn Hóa, thay mặt ban Tổ chức Đại hội Văn Hóa Phật Giáo toàn quốc và
toàn thể các Đại biểu tham dự Đại Hội, chúng tôi xin kính chào mừng
Hòa Thượng Viện Trưởng, chư vị Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni, quí
vị Văn nghệ sĩ và toàn thể quí vị quan khách đã ưu ái quang lâm tham dự
buổi Lễ Khai Mạc Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo toàn quốc hôm nay. Chúng tôi xin chân thành tri ân tất cả
quí vị đã khích lệ trợ giúp, đóng góp tinh thần cũng như tài vật cho
Đại Hội nầy được thành tựu. Kính bạch Hòa Thượng Viện trưởng, Kính thưa Liệt Quí vị, Trong một hoàn cảnh quay cuồng, căng
thẳng với bao nhiêu biến cố thời sự, với bao nhiêu bận tâm cấp thiết
thường nhựt như thế nầy thì những công việc văn hóa quả thật là rất
khó khăn nếu không muốn nói là có thể bị xem như không tưởng, xa vời
vì lẽ cảm nghĩ thông thường là có thực mới vực được đạo, có phú
quí mới sinh lễ nghĩa, và Văn hóa là Đạo, là Lễ nghĩa cho nên Văn hóa
đương nhiên phải đi sau và đến sau cái sống còn, cái no đủ, cái an
lành, các sung túc. Cảm nghĩ thông thường đó không đúng
nếu chúng ta hiểu Văn hóa như là những gì làm đẹp thêm cho những cái đã đẹp sẵn,
nói cách khác, nếu chúng ta hiểu văn hóa như một “giải trí ngoài trời
lao tác” như một sản phẩm thặng dư. Tuy nhiên, ý nghĩa của văn hóa lại
không chỉ là bấy nhiêu. Nếu đời đã là bể khổ như Phật Giáo quan niệm,
và đất chỉ sanh chông gai, trái đắng như Thánh kinh nói thì hiện hữu hẳn
là một nỗ lực tiên quyết để thoát khổ, để canh tác cho đất ươm mầm
sống, cho thêm mầu mỡ. Nỗ lực ấy chính là văn hóa và tất cả thành
quả của nỗ lực ấy lại cũng chính là văn hóa vậy. Nói rõ hơn, văn hóa
là nỗ lực thực hiện những ước vọng và nhu cầu vĩnh cửu, miên trường
và đồng thời là thành quả nỗ lực thực hiện ước vọng đó. Ước vọng và nhu cầu vĩnh cửu của
người Việt Không một chủ thuyết chính trị, kinh
tế, xã hội, đạo đức nào và không một người Việt Nam nào còn đủ
chân thành để tự nhận mình là con Rồng cháu Tiên lại có thể đi nguợc
với ước vọng đó. Chủ thuyết Phật Giáo là một, người Phật Giáo là
một, người Phật Tử Việt Nam là một. Phật Giáo có thể không phải là một
đáp ứng tuyệt đối, tối hậu cho những ước vọng nêu trên và nếu quả
thật đã là người Phật Tử thì hẳn không ai có thể nghĩ giải pháp của
mình là tối hậu cả. Tuy nhiên, bằng vào những kinh nghiệm lịch sử và
dựa theo tiêu chuẩn hiệu dụng tương đối mà xét thì có lẽ không ai lại
có thể phủ nhận rằng Phật Giáo Việt Nam đã có thời là giải pháp khả
quan nhứt để đấu tranh lập quốc Ngô, Đinh, Lê và kinh nghiệm củng cố
phát huy độc lập Lý, Trần là những thực chứng về hiệu năng của giải
pháp Phật Giáo đối với nhân loại và công dân. Những thành công lịch sử
từng là hoạt lực và niềm tự hào cho mọi người Việt Nam yêu nước đó
đã cho thấy bí quyết hiệu dụng của giải pháp Phật Giáo chính là khả
năng hóa giải của Phật Giáo vậy. Hóa giải những căng thẳng và xung khắc
giữa quốc tế và quốc gia, cá nhân và xã hội, tư lợi và công ích, bản
năng và trí huệ, phản động và cách mạng, tiến bộ và thoái hóa. Không
có được khả năng hóa giải ấy thì Phật Giáo đã không thể là yếu tố
chủ động trong việc tạo dựng quốc gia thành một thế lực thuần nhứt
về mặt tâm linh và hiệp ý về mặt xã hội để khả dĩ đương cự hữu
hiệu những phong ba bão tố từ ngoài liên tiếp ào ạt thổi đến. Nhắc lại kinh nghiệm Lý, Trần, không
có nghĩa là chử trương phải đẩy Việt Nam lùi lại thời kỳ đó, nhắc
lại kinh nghiệm Lý, Trần cũng không có nghĩa là che đậy một tham vọng
độc tôn, độc quyền tín ngưỡng. Nhắc lại thời đại Lý, Trần chỉ
là để suy nghiệm lại một bài học lịch sử, và từ đó rút ra những
ưu điểm thường hằng nếu không có thể làm căn bản thì ít ra cũng có
tác dụng dẫn khởi cho việc tựu thành một giải pháp hữu hiệu khả dĩ
đưa dân tộc ra khỏi những quay cuồng sân hận, oán thù, ly tán kéo dài
đã hơn một phần tư thế kỷ nay. Những tệ hại thông thường của thời
hiện đại, và thường là tệ hại của truyền thống văn hóa Tây Phương
gây ra, là đã giải quyết vấn đề của con người toàn diện bằng cách
tách con người ra từng phần, tách xã hội trong đó con người đang sống
ra từng lãnh vực tìm giải pháp cho từng phần, từng lãnh vực đó, và cuối
cùng đi đến kết luận : giải pháp cục bộ đó cũng chính là giải pháp
tòan bộ. Đó chính là trường hợp của những giải pháp chính trị, kinh
tế, xã hội, và có khi cả tôn giáo nữa. Mặt khác, những giải pháp cục bộ
như chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo lại thường chỉ nhìn con người
trong tương quan với cộng đồng cho nên lại chỉ đưa ra những giải pháp
cộng thể, được cụ thể hóa bằng những hệ thống xã hội, những chế
độ kinh tế, những định chế chính trị. Sở đoản thứ ba là sự thắng thế của
những nhản quan đạo đức tín ngưỡng hay triết lý phiến diện về bản
chất, thiên chức và phần vụ của con người. Các nhản quan nầy lại là
căn bản của những giải pháp chính trị, kinh tế, xã hội không chỉ được
đề cập đến trong sách vở mà còn được đem ra thực hiện bằng sức mạnh
vật chất, bằng bạo lực và súng đạn. Hậu quả là nhân loại đã khổ cực
hơn là hạnh phúc, đồng loại đã ghét bỏ nhau hơn là yêu thương nhau, đồng
bào đã xa cách hận thù hơn là gần gụi đùm bọc nhau. Kể từ khi Việt Nam phải giao tiếp với
Tây Phương và rồi phải rơi vào vòng ngoại thuộc về cả hai phương diện
xã hội và tâm linh ngót một thế kỷ nay; kể từ khi người Việt yêu nước
đã thực sự mở hai trận chiến cùng lúc để vừa chống ngoại xâm, vừa
huynh đệ tương tàn nhồi da xáo thịt, chúng ta hẳn đã nhận thấy có rất
nhiều giải pháp đã được đề nghị và gán ép cho người Việt Nam để
nhằm giái quyết bài toán muôn đời của người Việt. Những giải pháp
đó là biến Việt Nam thành hành lang Thái Bình Dương cho ngôi nhà Liên Hiệp
Pháp; biến Việt Nam thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa tiêu biểu; biến
Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống cọng, hoặc thành một tiền tuyến
lớn của trận chiến vô sản quốc tế chống đế quốc tư bản. Tuy dị đồng và xung khắc nhưng tất
cả những giáp pháp đó đều có chung những đặc điểm là đã nhân danh
hạnh phúc của người Việt và nước Việt nhưng đồng thời lại đem
người Việt hy sinh cho nước Việt, đem nước Việt, hy sinh cho những quyền
lợi hay lý tưởng quốc tế, quả quyết quyền lợi quốc tế cũng chính
là quyền lợi của con người. Nói cách khác, tất cả những giải pháp
này đều chưa bao hàm được nhân tính
đích thực trong người Việt Nam, và Việt tính đích thực của những con
người đã qua bao ngàn năm sanh ra, lớn lên, và chết đi trên dãi đất hình
chữ S này vậy. Kính bạch Hòa Thượng Viện Trưởng, Kính thưa Quí Ngài. Nhằm thấy rõ hơn căn nguyên của những
giải pháp phiến diện, và dựa vào tinh thần và truyền thống hiện hành
của Phật Giáo Việt Nam để soi sáng thêm về đường hướng, về những
trở lực và khả năng phục vụ của Phật Giáo Việt Nam trong hiện tại
và tương lai, đó chính là mục tiêu của Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo
toàn quốc này. Nói một cách khác, ước nguyện của Đại Hội Văn Hóa Phật
Giáo toàn quốc này là thử nhằm trả lời các câu hỏi : Thứ
nhất : Những bế tắc cụ
thể đã và đang tiêu hao bao nhiêu máu xương của đồng bào Việt Nam có
phải chỉ là những bế tắc chính trị, kinh tế, quân sự và có thể được
giải quyết bằng những giải pháp chính trị, kinh tế, quân sự không ?
Hay những bế tắc đó chỉ là hậu quả của một bế tắc trầm trọng hơn,
đó là bế tắc tâm linh, văn hóa ? Thứ
hai : Đâu là bản sắc của
bế tắc văn hóa đó ? Lịch sử Việt Thứ
ba : Trong chiều hướng
“phụng hành tín ngưỡng bằng cách phục vụ dân tộc”, và với tư cách
là một thế lực văn hóa dân tộc, Phật Giáo Việt Thứ
tư : Đâu là những trở
ngại văn hóa mà Phật Giáo Việt Nam đã gặp phải, và trong viễn tượng
một nền hòa bình khả hữu, Phật giáo Việt Nam có thể làm gì để duy
trì và phát triển khả năng đóng góp văn hóa của mình ? Đó chính là những vấn đề mà sẽ
được đặt ra trong Đại Hội này qua các thảo luận về : --Quốc Học trong Tinh Thần Hòa Giải
Dân Tộc, do Giáo sư Nguyễn Đăng thục thuyết trình. --Những Ngộ Nhận về Văn Hóa Phật
Giáo, do Giáo sư Lê Văn Siêu phụ trách nêu ra. --Tư tưởng Việt --Phát Triển Cơ Sở Văn Hóa Trong Khung
Cảnh Thanh Bình của Đất Nước, do Giáo sư Toan Ánh dẫn khởi và đề nghị. Các buổi thảo luận này sẽ được sự
tham luận quý báu của những nhà văn hóa hữu tâm trong cũng như ngoài
Giáo Hội đào sâu và tăng bổ quan điểm của diễn giả, và sẽ được
điều hợp chủ tọa của Chư Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Cố vấn Giáo
Hội kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu
Huấn luyện Quảng Đức, Thượng tọa Thích Huyền Quang, Thượng Tọa Thích
Quảng Độ, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, và Thượng Tọa Thích Đức
Nhuận, nguyên Chánh Thư ký Viện Tăng Thống. Xen lẫn vào các công tác có tính cách
lý thuyết căn bản này, Đại Hội cũng còn nhằm trình bày một vài hoạt
động văn hóa đặc thù nói lên tác dụng trường cửu cũng như giai đoạn
của văn hóa Phật Giáo và lịch sử Dân Tộc. Sau hết, Đại Hội cũng sẽ
là cơ hội để các đại biểu hữu trách của Giáo Hội trong vấn đề
duy trì và phổ biến văn hóa Phật Giáo ở cấp trung và hạ tầng trao đổi
kinh nghiệm, hợp nhứt nhận định về đường lối, phương thức sinh hoạt
và các nhu cầu văn hóa khế hợp với hiện tình quốc gia cũng như riêng
địa phương. Kính thưa Hòa Thượng Viện Trưởng, Kính thưa Chư Thượng Tọa, Đại Đức
Tăng Ni, Kính thưa Quí vị Quan khách, Kính thưa toàn thể Đại biểu. Trong lịch sử của dân tộc này, Phật
Giáo đã có những thời vàng son thịnh đạt, nhưng chưa bao giờ Phật Giáo
tồn tại như một quyền lực thế trị và độc trị. Trong những thành đạt
lịch sử cao nhất, có thể đem lại cho tôn giáo và tín hữu của mình những
đặc ưu, đặc quyền to tát nhất, nhưng Phật Giáo trước sau vẫn tồn tại
với quần chúng, với triều đình, hay chính quyền quốc gia như một thế
lực văn hóa mà htôi. Trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam, chỉ có những
nhà vua bỏ triều đình đi làm nhà sư chứ chưa hề có một trường hợp
ngược lại, chỉ có những người Phật tử xả thân cứu nước chứ
chưa hề có những người Phật tử vì quyền lợi cá nhân, đồng đạo
hay tôn giáo của mình hy sinh quyền lợi của quốc gia, dân tộc. Sự thể
chỉ vì trường hợp tu tập của người Phật tử Việt Với nhận định và quyết tâm ấy,
nhân danh Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Văn Hóa, chúng tôi xin tuyên bố khai mạc
Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo toàn quốc kỳ thứ I này. Trân trọng cảm ơn và kính chào toàn
thể quý vị. T.T. Thích Mãn Giác
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com