
Web
Giao điểm : “Tư tưởng Việt Nam” của Giáo sư Trần Ngọc Ninh là một
bài tham luận khá dài, trong khi thời gian làm việc của chúng tôi thì
không có nhiều, vì vậy xin được phép thất lễ với tác giả và bạn đọc,
chúng tôi Trước hết, diễn
giả đã giải thích những nét căn bản lịch sử của một nền tư tưởng
“ẩn tàng” : Một, Trung quốc là một nước lớn, nên khi nhà Nguyên đem
đại quân tiến đánh Đại Việt thì có “những người nho sĩ tao nhã, như
Lê Tắc, đã vì sự thần phục nền văn chương học thuật Trung quốc mà
hàng giặc, và một cách chân thành nghĩ rằng đó là một hành động thuận
thiên mệnh, hợp với lòng người.”! Hai, do chính sách tàn bạo của một
đế quốc cai trị, Trung quốc tìm cách tiêu diệt người tài của Việt
Nam, như thiêu đốt tàng thư, sách vở, bắt người tài về nước họ để
làm nô dịch… do đó, để duy trì sự sống còn, chờ quật khởi, tư tưởng
của giới sĩ phu phải được che dấu, ẩn tàng… cho tới lúc tư tưởng
Phật giáo vào thế kỷ thứ II, đến Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc vào
giới nông dân, tạo thành một tầng lớp trí thức mới, bùng lên một ý
thức tự chủ và độc lập… Trên căn bản lich sử đó, diễn giả chia nền
tư tưởng Việt Nam ra làm 5 thời kì, có những lúc đã thịnh phát, đất
nước độc lập thái bình và thịnh trị, nhưng về sau bị suy tàn do một
nền học thuật nặng về khoa cử, rập khuôn theo tinh thần Tống Nho (khác
xa với tinh thần Nho giáo của Khổng Tử) thiếu hụt tinh thần tự chủ
và khai phóng của tinh thần Thiền học tổng hợp và đồng nguyên VN trước
đó, đã đưa dân tộc tới những chặng đường suy đồi về đạo đức
và xã hội; cho nên dù kinh tế có phát triển thì con người Việt Nam vẫn
chịu nô lệ của ngoại nhân, thiển nghĩ !. Có thật sự con rồng tư tưởng
Việt Tư
Tưởng Việt Trần
Ngọc Ninh Thời
Kì I : KHởi thủy, là thời đại huyền thông cùng với công cuộc
khai sơn phá thạch để xây dựng một cõi sống cho muôn đời về sau, các
căn bản nguyên sơ của nền văn hóa
dân tộc đã được đặt ra, trên những căn bản đó, lại đã được kiến
tạo những cơ cấu thâm sâu của ngôn ngữ, những truyền thông ẩn tàng
trong các huyền thoại và những mẫu hình qui ước của đời sống cộng
đồng. Hầu hết những điều nầy đã mất đi và có lẽ không bao giờ
có thể tìm thấy lại được nữa. Nhưng cũng vẫn có thể hy vọng rằng
một ngày nào đó, sẽ khai phá được những ý nghĩa che đậy của các mảnh
huyền thoại dân tộc mà truyền thống dân gian còn giữ một cách trung
kiên cho tới ngày nay; và cũng sẽ làm sáng tỏ được những nguyên lí nằm
chìm trong cái hệ thống của ngôn ngữ mà từ đời này sang đời khác,
ông cha ta đã lưu truyền mà trao lại cho chúng ta. Tới lúc đó thì có lẽ
rằng một phần của những cơ cấu tư tưởng của con người Việt Thời
Kì II : Thời đại huyền thông của tư tưởng
Việt Nhưng may thay, giữa lúc đen tối và
bi thảm đó, thì có một luồng gió và một ánh sáng được đưa tới, không
phải bởi đế quốc thống trị, mà là từ một chân trời xa lạ khác. Luồng
gió và ánh sáng ấy đã làm cho dân Việt Đạo Phật được truyền vào Giao
Châu vào khoảng thế kỷ thứ II, hơn một trăm năm sau khi nền văn hóa Lạc
Việt bị tận diệt để Sĩ Nhiếp và các thái thú kế tiếp được thẳng
tay mà gieo trồng cái hạt giống của một
thứ Nho giáo phản Khổng Tử. Chính cái đạo Nho nầy đã được mệnh
danh là “thanh đạo” bởi lời thông ngôn nô dịch mà đế quốc đã ưu
đãi tuyển dụng. Nhưng dân chúng đau khổ, nghèo đói,
tối tăm và vô học thì biết gì đến những chuyện thi thơ lễ nhạc đó.
Đạo Phật bắt rễ vào đám dân đen ấy, và sau mấy thế hệ, đã tạo
ra một lớp trí thức mới. Các vị đại sư từ Trung Hoa tìm đến Giao Châu để học
đạo như Mâu Bác, hoặc trên đường thỉnh kinh từ Tây Trúc trở về như
Nghĩa tịnh, đều biết rằng có những nhà Phật học “uyên thâm, thông
hiểu cả chữ Phạn, chữ Chà-và và chữ Côn luân”, ở miền đất thuộc
ấy. Nhiều vị học giả bản xứ đã được thỉnh sang Trung quốc để
tham khảo ý kiến trong việc dịch Tam Tạng sang Hán tự. Điều này chứng
tỏ rằng các chùa chiền trong thời nội thuộc đã là nơi hun đúc nên một
học giới biệt lập, không phụ thuộc vào sự học do đế quốc thống trị
chủ trương. Một nguồn tư tưởng manh nha độc lập
đã phát xuất từ đấy. Dựa vào Phật Pháp làm nền, (và có lẽ là Phật
Pháp theo truyền thống Cao đồ trước mới có sự du nhập của các phái
thiền tông Nam Phương sau) nguồn tư tưởng mới này lại mở rộng cho cả
các học thuyết, Nho, Lão, được hiểu không phải theo đường lối khoa hoạn,
mà theo một tinh thần khoáng đạt và tinh túy. Đó là những bước đầu,
những bước sủa soạn để tiến tới tư tưởng tổng hợp sau này, dưới
triều đại nhà Lê. Đồng thời, tình thương và lòng dũng
lại chớm nở lại trong đám dân hèn đang bị dày xéo bởi đám quan quân
và thơ lại của đế quốc. Sự đòan kết trong khổ đau nhóm lên ngọn lửa
của sự quật cường bất khuất, và đến năm 544, đã tạo ra cuộc khởi
nghĩa lớn nhất trong lịch sử Bắc thuộc của Lí Bôn và một người cháu
mà lịch sử chỉ ghi lại là Lí Phật Tử, (người họ Lí thờ Phật).
Trong gần sáu mươi năm, mặc dầu rằng lòng người còn chưa ổn và các
tranh chấp nội bộ cứ kéo dài, nhưng người dân cũng đã được giải thóat
một phần nào khỏi những gông cùm xiềng xích của chế độ thực dân. Nhưng sau đó, lại là cái cảnh đêm
dài gần như vô tận của hơn bốn trăm năm tái nội thuộc. Mỗi cái nhúc
nhích, mỗi cái cựa mình của dân bản xứ là một dịp để bộ máy tiểu
trừ và truy bức của bọn thống trị được chuyển bánh mà nghiền nát mọi
hi vọng quật khởi. Tư tưởng Việt Thời
Kì III : Nền độc lập tới, thì sự vươn mình
của tư tưởng Việt Nam lại phát ra như sấm sét, không khác gì cái hình
ảnh huyền thoại của Phù Đổng Thiên Vương, “sinh ra chẳng nói, chẳng
cười, trơ trơ” trong ba năm liền, nhưng chỉ trong phút chốc, đã trưởng
thành với một khí thế hào hùng oanh liệt và một sức mạnh vô úy vô ngại.
Tư tưởng Việt Như Kinh Dịch viết : Hiện long tại
điền, lợi kiến đại nhân. Ngô Quyền dựng nên nền độc lập với
lòng chính trung, Đinh Bộ Lĩnh nhóm ngọn lửa anh kiệt trong tâm của tuổi
trẻ mà tạo ra sự thống nhất, Lê Hoàn lấy trí thông tuệ ra mà thắng rồi
hòa với địch quốc miền Bắc, đặt thành cái thế vĩnh cửu của quốc
gia Việt Nam trong ngàn năm về sau. Đó là những vị anh hùng, đã cùng với
các anh em đồng chí hướng, tạo ra sự phục sinh của tư tưởng Việt Về phương diện tư tưởng, mở đầu
là ba dòng Thiền đạo : -- --Quan Bích (Vô Ngôn Thông) --Thảo Đường Sự khác biệt giữa ba dòng này,
chính yếu là ở trong sự dạy về bản thể của Bồ Đề giác ngộ cùng
với phép đốn ngộ. Thiền sư Tứ Đạo Hạnh, thuộc dòng Ti Ni Đa Lưu Chi
nói :
Đó là giải cái tinh nghĩa trong lời
của Bách Trượng Thiền sư rằng : “Tâm địa đã khai thông được, thì
mặt trời trí tuệ sẽ tự nhiên sáng”. Cả hai dòng Thiền đạo, theo Tì Ni
Đa Lưu Chi và theo Vô Ngôn Thông, đều đã tạo ra những vị Thiền sư dấn
thân nhập thế. Trong một thời mà “Vận nước như dây quấn” theo lời
Sư Pháp Thuận : Quốc tộ như đằng lạc) sự tham gia của các Thiền sư cạnh
các nhà lãnh đạo dân tộc thực đã là một yếu tố lớn trong công cuộc
tranh đấu dành độc lập và xây dựng xã hội của tình thương. Sư Khuông
Việt, Pháp thuận, Trí Không, Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Đạo Hạnh, Minh Không
là những nhà tư tưởng đã bước vào hành động trong đời Đinh, Lê,
Lí. Trong đời Lí, kiến trúc, điêu khắc
và chung là mỹ thuật Việt Đời nhà Lí, không phải chỉ có Đạo
Phật. Các Thiền sư là những người tham bác rất lớn. Đó là một truyền
thống để lại từ đời Mâu Tử. Ngay cả Thiền học Việt
Và bao gồm cả Phật pháp với Khổng
học, là một lời giảng của Viên Chiếu Thiền sư, cho một người hỏi về
sự khác nhau giữa Phật và Thánh.
Trong cái tinh thần quảng dung ấy, Lí
Thánh Tông dựng Văn miếu (1069) và lập ra sự học theo Nho. Nhưng tai hại
nhất là sau đó, lại bắt chước theo Trung Hoa mà lập ra Quốc tử giám,
Hàn Lâm Viện và đặt các khoa thi để tuyển quan chức. Thiền pháo Thảo Đường bắt đầu
cũng vào khoảng đó. Vị tổ là Thiền sư Thảo Đường một người Trung
Hoa truyền giáo ở Chiêm quốc bị bắt về Việt Thời
Kì IV : Giữa Phật Giáo và Nho Giáo bắt đầu
có một cuộc tranh chấp từ đây : Khi nhà Trần sắp dấy lên thì Phật
Giáo chưa phải là thất thế, nhưng dòng tư tưởng đã bắt đầu giao động
vì những ảnh hưởng phức tạp. Nhận thấy cái cơ suy biến của đạo,
Thiền sư Thường Chíêu thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đã hóa thân mà đi sang
với phái Tì Ni Đa Lưu Chi để hợp nhất hai truyền thống này làm một.
Sau đó, lại thu hút được cả phái Thảo Đường. Lúc lâm chung, ông đọc
bài kệ rằng :
Đó không những là sự giải thoát,
mà còn là cái tâm khoáng đạt đã đi tới sự thật như trong tuệ giác. Sự
tổng hợp cuối cùng của ba phái thiền đã được thực hiện bởi Duy thức
học mà ngài Thường Chiếu thuyết giảng và tạo thành phái Yên Tử sau đó.
Yên Tử thiền môn truyền được năm đời, từ Hiện Quang Thiền sư đến
Huệ Tuệ Thiền sư. Vua Trần Thái Tông thuộc đời thứ ba của phái Yên Tử.
Tới đời thứ sáu là vua Trần Nhân Tông thì bắt đầu là phái Trúc Lâm,
với chủ trương nhập thế. Tất cả những sự biến thiên trong lịch sử
tư tưởng ấy đã xẩy ra giữa một thời đại vô cùng nguy nan trong lịch
sử của đất nước là thời kháng chiến chống
ba cuộc xâm lăng quy mô tàn bạo của nhà Nguyên. Sự đau khổ
và hy sinh của quốc dân Việt Nho Giáo là cái học để trị dân,
và đã trở thành cái cầu cho những người nuôi mộng bình trị thiên hạ,
bắt đầu từ đời Trần. Việc khoa cử lúc đầu còn theo tam giáo, nhưng
hình thức thì đã bắt chước Trung Hoa. Càng về sau, chế độ thi cử càng
được kiện toàn. Sách học đuợc qui định, và bắt dầu đem phú biểu
chế, chiếu với văn sách và kinh nghĩa vào phép thi. Các thứ bực được
lập ra : trạng nguyên, bảng nhởn, thám hoa, hoàng giáp có là từ thời đó. Sự học nhi tuy thế cũng còn giữ
được cái thông thái của một cái học cao thuợng và chính trực trong một
hời khá lâu. Tuy rằng không truyền lại được một học thuyết nào có
thể goi là tân kì và đặc sắc nhưng cũng đã tạo được một số kẻ sị
thành danh, như Trần Quang Khải, Trần Nhật
Duật, Mạc Đỉnh Chi, Hàn Thuyên, Chu Văn An. Nhiều người tài trí, mà ta
có thể cho là thuộc truyền thống Nho học, như Phạm Ngũ Lão, lại đã
có đủ cái khí tiết và lòng nhiệt thành để bỏ con đường khoa bảng và
tự tiến cử mình một cách hào hùng trong một thời nước biến. Những chế độ khoa cử càng ngày
càng khép chặt, và trí óc của người ta càng ngày càng bị đóng khuôn.
Cái học Tống nho đuợc nhập nội từ đó. Bởi vậy nên Sự úy kị Phật Giáo cũng tăng dần.
Bắt chuớc Hàn Dũ ở Trung quốc, một số
Nho sĩ của ta như Trương Hán Siêu và Lê Quát lại viết sách để bài
xích Phật Giáo, tạo ra một sự chia rẽ trầm trọng trong dân tộc. Cái không khí suy tàn đó ở cuối đời
Trần đã dẫn dắt đến hiện tượng Hồ Quí Li, một bộ óc siêu việt
trong một tâm tính gian hùng. Nói theo con đường của Trần Thủ Độ, họ
Hồ đã cướp được ngôi vua và bắt đầu công việc cải tạo quốc gia,
để bài trừ cái nạn Tống Nho hủ bại và thay đổi sự sinh hoạt kinh tế
trong nước. Sách Minh Đạo của Hồ Quí Li đuợc làm ra lúc này, nhưng mong
gột rửa được trí thức của sĩ giới. Nhưng cái lầm lớn của Hồ Quí
Li là đã không hiểu rằng kẻ sĩ chỉ hiểu chữ trung với nghĩa là trung
quan, và chỉ biết có một quyền lợi tối thượng là quyền hành của
thiên triều Trung quốc. Và thời thế lúc đó lại là thời thế của Nho
giáo theo con đường khoa cử. Nhà Hồ không có sự ủng hộ của giới sĩ
trong nước đã thất bại vì thế, và kết quả là Việt Thời
Kì V : Lê Lợi là một vị đại anh hùng của
dân tộc Việt Nam sau 10 năm gian khổ, với sự phụ tá của các bậc đại
trí thức như Nguyễn Trãi, Lê Chích, nền độc lập đã được giành lại
và nuớc Việt Nam lại được tái sinh. Nhưng sau một thời gian ngắn ngủi
trong đó con người của Nguyễn Trãi vuợt lên trên tất cả thế nhân về
sự nghiệp cứu nước cũng như về sự nghiệp văn chương tư tưởng, thì
tình trạng văn học lại bắt đầu nhưng trệ. Cái nguyên cớ chính của sự ngưng trệ
này là óc hướng ngoại của triều đình nhà Lê và nhà Nguyễn. Cái định
chế cũng như luật pháp được chép theo Trung quốc. Nạn khoa cử nặng nề
rập đúng khuôn của thiên triều đè chặt trên đầu học giới. Cái học
Tống Nho được nhận là sự học chính thống và trở nên độc tôn từ
đây, và gần như liên tục trong bốn thế kỉ sau đó, cho tới khi ta mất
nước vào tay người Pháp. Và tuy rằng chương trình học có bị thay đổi
đi từ bấy giờ cho đến bây giờ, nhưng cái óc học đó vẫn còn được
tiếp tục. Đó là cái hại vạn thế của một
chính sách vong bản về văn hóa. Sự chuyên chế trong tinh thần nô lệ đã
coi con rồng chầu là con rồng lý tưởng, và tất cả các phép tắc đã đặt
ra, mỗi ngày một hoàn bị thêm, để bắt tư tưởng Việt Nam phải quì xuống
và khấu đầu. Bởi vậy cho nên, mặc dầu là Nguyễn
Trãi đã khơi lại nguồn văn chương học thuật quốc âm, nhưng phần lớn
bọn sĩ phu trong nước vẫn khinh miệt cái tiếng mà họ gọi một cách rẻ
rúng là “nôm” và ta gọi là tiếng mẹ đẻ. Và cái thứ tiếng nôm ấy,
họ đã chỉ dùng để làm những công việc sỏ siên được nói bằng Hán
văn. Tư tưởng bị thuần thục hóa chỉ
bò rạp trên mặt đất. Các bậc trí thức lớn nhất trong thời Nguyễn
không phải là tư tưởng gia, mà là học giả, sử gia, thì như Ngô Sĩ Liên,
Ngô Thời Sĩ, biên khảo thì như Lê Quí Đôn, Phan Huy Ích. Sự phán xử của
người dân cũng rất sáng suốt và công minh đối với những vị này. Người
ta cho, trong một truyện truyền kì, rằng Lê Quí Đôn đã phải chết đi sống
lại, mới mở mắt ra mà thấy đuợc rằng cái tài của Nguyễn Trãi vượt
cao hơn cái học bách khoa của ông trăm trượng. Đó đã là một sự quí mến
đặc biệt đối với Lê Quí Đôn rồi. Đã như vậy, mà các học giả uyên
thâm này lại còn có những sự hẹp hòi và những thiên kiến lạ lùng đếnmức
quái dị. Như họ Ngô nói “Đạo chỉ có một, ngoài đạo tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ, không còn có gì gọi là đạo nữa.”, và
họ Phan nói tiếp mà bàn rằng : “Đạo Phật, đạo Lão, học giả vốn
không nên theo, vì đạo Thánh lớn rộng, sao lại có đạo khác sanh ngang
được.” Phật học trong khoảng thời gian này
cũng không còn cái hào khí như thời Lí, Trần. Nguyễn Trãi ở đây, cũng
vẫn là một bậc phi thường; văn thơ chữ Hán cũng như Quốc âm thi của
ông chứng tỏ rằng ông hiểu đọa Thiền một cách thâm sâu. Ông không
biên soạn gì về Phật Pháp, vì cả cuộc đời của ông đã hoàn toàn
dâng hiến cho dân tộc. Nhưng nếu coi rằng “vô ngã” là sự giải thoát
vô thượng thì Nguyễn Trãi thực là bậc trí giả đã đạt được giác
ngộ. Ngoài ra, trong số các Thiền sư của
đời Lê, đời Nguyễn, tuy không hiếm bậc đạo đức chân tu, mà cũng không
thể nói rằng có những nhà tư tưởng. Ở rất nhiều nơi, ngay cả sự giáo
hóa quần chúng cũng bị bỏ hoang làm cho sự tín ngưỡng trong Phật giáo bị
suy đồi đến mức chỉ còn có việc tụng niệm cúng lễ và ma chay là
còn được duy trì mà thôi. May thay là trong cái giai đoạn bi đát
của nền tư tưởng Việt Nam này, còn có một vài kẻ sĩ anh tú như Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, với vài bực văn
tài kiệt tác như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Cao Bá Quát… Và một thời
đại oanh liệt, nhưng quá ngắn ngủi, là thời Tây Sơn với một vị cao
sĩ là La Sơn phu tử Nguyễn Thiệp. Các nhà Nho hàng thần của nền học
thuật Trung Hoa đã bài bác các hoài bảo về nền văn hóa dân tộc của
vua Quang Trung, để sớm được trở về với đời sống và nô dịch mà họ
mong muốn. Những sự kiện lịch sử bi thảm cho dân tộc Việt
Con rồng tư tưởng Việt Thưa Quí vị, Ngày mai đây, nền tư tưởng Việt Tôi đã trình bày với quí vị những
điều mà tôi hiểu biết. Sự biết của tôi còn rất nông cạn. Sự hiểu
của tôi còn nhiều thiên kiến. Tôi được học về Phật rất ít, có lẽ
cũng chỉ có một chữ nhất. Được học về chữ Nho cũng rất ít, có lẽ
cũng chỉ có một chữ thành. Tất cả cái học còn lại của tôi, là ở
dân tộc, ở sự đau khổ trên dòng thời gian của dân tộc. Và tôi trình
bày trước quí vị những sự suy tư của tôi về niềm đau khổ của dân
ta. Ngày mai ra sao ? Tôi không dám trả lời,
nhưng biết rằng cái ngày mai của nền tư tưởng, cái ngày mai của cả
dân tộc Việt Nam ấy, tùy thuộc rất nhiều vào sự thức tỉnh của các
nhà trí thức trong nước đối với cái chính nghĩa của dân tộc. Các quí vị nghe hay đọc bài này là
các nhà trí thức của dân tộc. Tôi xin cảm ơn các quí vị. Trần Ngọc Ninh
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com