giaodiem copyright
           posted: 10.3.2006

   Web Giao điểm : “Tư tưởng Việt Nam” của Giáo sư Trần Ngọc Ninh là một bài tham luận khá dài, trong khi thời gian làm việc của chúng tôi thì không có nhiều, vì vậy xin được phép thất lễ với tác giả và bạn đọc, chúng tôi tóm lược phần đầu, chỉ đánh máy phần cuối (phần đầu chiếm hơn nửa chiều dài bài viết) –phần lớn diễn giả bàn về triết lý “ẩn tàng” của nền tư tưởng Việt Nam, theo đó, do những hoàn cảnh lịch sử và tâm lý con người tạo nên. Sự “ẩn tàng” của tư tưởng Việt Nam đã tạo nên định kiến mặc cảm về câu hỏi vẫn còn vương vấn trong đầu một số trí thức chưa nhìn thấy vấn đề : Có thật sự Việt Nam có một nền tư tưởng ? Tinh thần chủ đạo của nền tưởng đó là gì ?

Trước hết, diễn giả đã giải thích những nét căn bản lịch sử của một nền tư tưởng “ẩn tàng” : Một, Trung quốc là một nước lớn, nên khi nhà Nguyên đem đại quân tiến đánh Đại Việt thì có “những người nho sĩ tao nhã, như Lê Tắc, đã vì sự thần phục nền văn chương học thuật Trung quốc mà hàng giặc, và một cách chân thành nghĩ rằng đó là một hành động thuận thiên mệnh, hợp với lòng người.”! Hai, do chính sách tàn bạo của một đế quốc cai trị, Trung quốc tìm cách tiêu diệt người tài của Việt Nam, như thiêu đốt tàng thư, sách vở, bắt người tài về nước họ để làm nô dịch… do đó, để duy trì sự sống còn, chờ quật khởi, tư tưởng của giới sĩ phu phải được che dấu, ẩn tàng… cho tới lúc tư tưởng Phật giáo vào thế kỷ thứ II, đến Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc vào giới nông dân, tạo thành một tầng lớp trí thức mới, bùng lên một ý thức tự chủ và độc lập… Trên căn bản lich sử đó, diễn giả chia nền tư tưởng Việt Nam ra làm 5 thời kì, có những lúc đã thịnh phát, đất nước độc lập thái bình và thịnh trị, nhưng về sau bị suy tàn do một nền học thuật nặng về khoa cử, rập khuôn theo tinh thần Tống Nho (khác xa với tinh thần Nho giáo của Khổng Tử) thiếu hụt tinh thần tự chủ và khai phóng của tinh thần Thiền học tổng hợp và đồng nguyên VN trước đó, đã đưa dân tộc tới những chặng đường suy đồi về đạo đức và xã hội; cho nên dù kinh tế có phát triển thì con người Việt Nam vẫn chịu nô lệ của ngoại nhân, thiển nghĩ !. Có thật sự con rồng tư tưởng Việt Nam thích quí gối chăng?, còn phải tiềm ẩn, còn mê man trong giấc ngủ ? –Theo tác giả, câu trả lời là tùy thuộc vào mỗi người Việt, trước hết, là những người đọc bài tham luận này...  -Phụ trách web Gđ.

Tư Tưởng Việt Nam

Trần Ngọc Ninh

Thời Kì I :

KHởi thủy, là thời đại huyền thông cùng với công cuộc khai sơn phá thạch để xây dựng một cõi sống cho muôn đời về sau, các căn bản nguyên sơ của nền văn hóa dân tộc đã được đặt ra, trên những căn bản đó, lại đã được kiến tạo những cơ cấu thâm sâu của ngôn ngữ, những truyền thông ẩn tàng trong các huyền thoại và những mẫu hình qui ước của đời sống cộng đồng. Hầu hết những điều nầy đã mất đi và có lẽ không bao giờ có thể tìm thấy lại được nữa. Nhưng cũng vẫn có thể hy vọng rằng một ngày nào đó, sẽ khai phá được những ý nghĩa che đậy của các mảnh huyền thoại dân tộc mà truyền thống dân gian còn giữ một cách trung kiên cho tới ngày nay; và cũng sẽ làm sáng tỏ được những nguyên lí nằm chìm trong cái hệ thống của ngôn ngữ mà từ đời này sang đời khác, ông cha ta đã lưu truyền mà trao lại cho chúng ta. Tới lúc đó thì có lẽ rằng một phần của những cơ cấu tư tưởng của con người Việt Nam cũng sẽ được minh hiển.

Thời Kì II :

Thời đại huyền thông của tư tưởng Việt Nam đã chấm dứt khi nhà Tần, rồi nhà Hán dùng mưu cơ và vũ lực chiếm lấy đất nước của ta. Thanh đạo, lễ nghĩa, và phong tục của đế quốc được du nhập vào và bó buộc thổ dân phải theo. Chế độ xã nguyên thủy bị chuyển sang tổ chức của xã hội nông nô, cả nước trở thành một thuộc địa khai thác, và toàn dân phải chịu cảnh khổ sai truyền kiếp. Đó cũng là thời đại đen tối nhất của nền tư tưởng Việt nam. Dưới sự đàn áp và mua chuộc của ngoại bang thống trị một ý thức hệ mới được truyền vào, đó là cái căn bản của Nho học, để tạo ra một lớp thơ lại nô dịch , run sợ trước bề trên và hống hách vời dân chúng. Sau mấy thế kỉ của công cuộc gọi là khai hóa ấy, thì mọi tư tưởng bất khuất và mọi ý nghĩ quật cường đều đã bị áp đảo và tiêu diệt. Đạo Lão Trang cũng được truyền tới Giao Châu ngay từ những buổi đầu của chính sách thực dân Tần Hán, và cũng như đạo Nho, những dị thuật ngụy trá về sự tích cốc luyện tinh. Và nếu có người nào biết đọc để đọc những sách mà bọn đạo gia và thuật sĩ Hán Đường đã viết ra để cám dỗ và mê hoặc lòng người, thì chắc chắn rằng cũng bị rơi xuống bởi sức ảo huyền của những thuyết về tiêu dao và vô vi mà xa rời cái chính nghĩa của dân tộc.

Nhưng may thay, giữa lúc đen tối và bi thảm đó, thì có một luồng gió và một ánh sáng được đưa tới, không phải bởi đế quốc thống trị, mà là từ một chân trời xa lạ khác. Luồng gió và ánh sáng ấy đã làm cho dân Việt Nam từ từ thức tỉnh lại, trên cả hai phương diện dân tộc và tư tưởng.

Đạo Phật được truyền vào Giao Châu vào khoảng thế kỷ thứ II, hơn một trăm năm sau khi nền văn hóa Lạc Việt bị tận diệt để Sĩ Nhiếp và các thái thú kế tiếp được thẳng tay mà gieo trồng cái hạt giống của  một thứ Nho giáo phản Khổng Tử. Chính cái đạo Nho nầy đã được mệnh danh là “thanh đạo” bởi lời thông ngôn nô dịch mà đế quốc đã ưu đãi tuyển dụng.

Nhưng dân chúng đau khổ, nghèo đói, tối tăm và vô học thì biết gì đến những chuyện thi thơ lễ nhạc đó. Đạo Phật bắt rễ vào đám dân đen ấy, và sau mấy thế hệ, đã tạo ra một lớp trí thức mới.

Các vị đại sư  từ Trung Hoa tìm đến Giao Châu để học đạo như Mâu Bác, hoặc trên đường thỉnh kinh từ Tây Trúc trở về như Nghĩa tịnh, đều biết rằng có những nhà Phật học “uyên thâm, thông hiểu cả chữ Phạn, chữ Chà-và và chữ Côn luân”, ở miền đất thuộc ấy. Nhiều vị học giả bản xứ đã được thỉnh sang Trung quốc để tham khảo ý kiến trong việc dịch Tam Tạng sang Hán tự. Điều này chứng tỏ rằng các chùa chiền trong thời nội thuộc đã là nơi hun đúc nên một học giới biệt lập, không phụ thuộc vào sự học do đế quốc thống trị chủ trương.

Một nguồn tư tưởng manh nha độc lập đã phát xuất từ đấy. Dựa vào Phật Pháp làm nền, (và có lẽ là Phật Pháp theo truyền thống Cao đồ trước mới có sự du nhập của các phái thiền tông Nam Phương sau) nguồn tư tưởng mới này lại mở rộng cho cả các học thuyết, Nho, Lão, được hiểu không phải theo đường lối khoa hoạn, mà theo một tinh thần khoáng đạt và tinh túy. Đó là những bước đầu, những bước sủa soạn để tiến tới tư tưởng tổng hợp sau này, dưới triều đại nhà Lê.

Đồng thời, tình thương và lòng dũng lại chớm nở lại trong đám dân hèn đang bị dày xéo bởi đám quan quân và thơ lại của đế quốc. Sự đòan kết trong khổ đau nhóm lên ngọn lửa của sự quật cường bất khuất, và đến năm 544, đã tạo ra cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong lịch sử Bắc thuộc của Lí Bôn và một người cháu mà lịch sử chỉ ghi lại là Lí Phật Tử, (người họ Lí thờ Phật). Trong gần sáu mươi năm, mặc dầu rằng lòng người còn chưa ổn và các tranh chấp nội bộ cứ kéo dài, nhưng người dân cũng đã được giải thóat một phần nào khỏi những gông cùm xiềng xích của chế độ thực dân.

Nhưng sau đó, lại là cái cảnh đêm dài gần như vô tận của hơn bốn trăm năm tái nội thuộc. Mỗi cái nhúc nhích, mỗi cái cựa mình của dân bản xứ là một dịp để bộ máy tiểu trừ và truy bức của bọn thống trị được chuyển bánh mà nghiền nát mọi hi vọng quật khởi. Tư tưởng Việt Nam lại phải trầm mình xuống mà ẩn náu mà chờ thời.

Thời Kì III :

Nền độc lập tới, thì sự vươn mình của tư tưởng Việt Nam lại phát ra như sấm sét, không khác gì cái hình ảnh huyền thoại của Phù Đổng Thiên Vương, “sinh ra chẳng nói, chẳng cười, trơ trơ” trong ba năm liền, nhưng chỉ trong phút chốc, đã trưởng thành với một khí thế hào hùng oanh liệt và một sức mạnh vô úy vô ngại. Tư tưởng Việt Nam đã đột hiện ra như con rồng hiển thân ở nơi đồng ruộng, và người hiền trong nước, rời bỏ những nơi ẩn náu, rủ nhau ra mắt quốc dân.

Như Kinh Dịch viết : Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân.

Ngô Quyền dựng nên nền độc lập với lòng chính trung, Đinh Bộ Lĩnh nhóm ngọn lửa anh kiệt trong tâm của tuổi trẻ mà tạo ra sự thống nhất, Lê Hoàn lấy trí thông tuệ ra mà thắng rồi hòa với địch quốc miền Bắc, đặt thành cái thế vĩnh cửu của quốc gia Việt Nam trong ngàn năm về sau. Đó là những vị anh hùng, đã cùng với các anh em đồng chí hướng, tạo ra sự phục sinh của tư tưởng Việt Nam. Do đó mà một bài tứ tuyệt của Lí Thường Kiệt, vang dội trong nghĩa lí, hùng tráng trong lời thơ, đã chận đứng hẳn được cái mộng xâm lăng của nhà Tống và mở rộng biên thùy Đại Việt về phương Bắc. Thời cực thịnh của tư tưởng Việt Nam bắt đầu. Từ các thiền viện, lời sấm, lời kệ, công án, kinh, sách, thơ, văn phát xuất ra như những dòng suối trong vô tận, từ sườn núi cao chảy xuống để thấm nhuần tất cả cỏ cây người vật. Nếu có một lúc nào mà ta có thể nói rằng tư tưởng bao trùm cảnh vật và đời sống, thì hiển nhiên là lúc này, khi nền độc lập đã vững bền, sự thống nhứt đã thực hiện, và dân tâm đã an trú.

Về phương diện tư tưởng, mở đầu là ba dòng Thiền đạo :

--Nam Phương [Tì Ni Đa Lưu Chi (Vitinaruci) ]

--Quan Bích (Vô Ngôn Thông)

--Thảo Đường

Sự khác biệt giữa ba dòng này, chính yếu là ở trong sự dạy về bản thể của Bồ Đề giác ngộ cùng với phép đốn ngộ. Thiền sư Tứ Đạo Hạnh, thuộc dòng Ti Ni Đa Lưu Chi nói :

Có thì có tự mảy may
Không thỉ cả thế gian này cũng không
Có, không : bông nguyệt lòng sông
Đừng chấp rằng có không không mới là
 
Tác hữu, trần sa hữu
Vì không nhất thiết không
Hữu, không, như thủy, nguyệt
Vật trước hữu không không
Và thiền sư Huệ Anh giảng :
Pháp cũng như vô pháp
Phi hữu lại phi không
Nếu người biết pháp đó
Chúng sanh với Phật đồng.
Trăng Lăng già lặng chiếu
Thuyền vượt biển rỗng không
Biết không không, thấy có
Tam muội chiếu chu thông
 
(Pháp bản như vô páhp
Phi hữu diệc phi không
Nhược thần như thử phá[
Chúng sinh dữ Phật đồng
Tịch tịch Lăng già nguyệt
Không không độ hải chu
Tri không không, giá hữu
Tam muội nhiệm thông chu)
 
Dòng Vô Ngôn Thông thì dạy, với thiền sư Nguyện Học; rằng :
 
Đạo không hình tượng
Trước mặt không xa
Trở về mà cầu
Đừng cầu kẻ lạ
Đạo vô hình tượng
Xúc mục, phi diêu
Tự phản suy cầu
Mạc cầu tha đắc.

Đó là giải cái tinh nghĩa trong lời của Bách Trượng Thiền sư rằng : “Tâm địa đã khai thông được, thì mặt trời trí tuệ sẽ tự nhiên sáng”.

Cả hai dòng Thiền đạo, theo Tì Ni Đa Lưu Chi và theo Vô Ngôn Thông, đều đã tạo ra những vị Thiền sư dấn thân nhập thế. Trong một thời mà “Vận nước như dây quấn” theo lời Sư Pháp Thuận : Quốc tộ như đằng lạc) sự tham gia của các Thiền sư cạnh các nhà lãnh đạo dân tộc thực đã là một yếu tố lớn trong công cuộc tranh đấu dành độc lập và xây dựng xã hội của tình thương. Sư Khuông Việt, Pháp thuận, Trí Không, Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Đạo Hạnh, Minh Không là những nhà tư tưởng đã bước vào hành động trong đời Đinh, Lê, Lí.

Trong đời Lí, kiến trúc, điêu khắc và chung là mỹ thuật Việt Nam đều được thâm đượm triết lí Thiền môn. Chùa Một Cột, biểu tượng cho bông sen nhà Phật từ dưới đầm nước thế gian mọc chồi lên, thanh thoát, nhẹ nhàng và vững bền, trong một khung cảnh tao nhã thoát tục, là một công trình tư tưởng được đời đời mến yêu bởi người dân Việt Nam. Lại còn các chùa Phật Tích (1057) Quang Nghiêm (tức Trăm gian, ở Tiên Lũ, 1185)…, các tháp Bình Sơn, Báo Thiên, Linh Tế…. “Hễ chỗ nào có núi cao cảnh đẹp, thì dựng tháp xây chùa”. Ở mỗi chùa lại không biết bao nhiêu tượng, phù điêu và họa bản. Cảnh vật, quanh chùa cũng được tái tạo để hợp với tâm thiền. Tư tưởng Việt Nam không phải chỉ biểu hiện ra trong lời sách, mà bao trùm tất cả giang sơn văn hóa.

Đời nhà Lí, không phải chỉ có Đạo Phật. Các Thiền sư là những người tham bác rất lớn. Đó là một truyền thống để lại từ đời Mâu Tử. Ngay cả Thiền học Việt Nam trong đời này cũng có mang những sắc thái khác thường, mà người ta chỉ có thể giảng đươc bằng sự tiếp nhận một vài bí thuật của Mật Tông Tây Tạng và của Phật Giáo Nam Dương Chiêm quốc. Nhưng điều quan trọng hơn hết là thái độ sung nạp của Thiền đạo Việt Nam đối với đạo Lão Trang và Khổng Mạnh. Các Thiền sư như Khuông Việt, Viên Thông, Vạn Hạnh là những nhà tư tưởng đã tổng hợp được tinh thần của tam giáo làm một và đã lập ý rằng tam giáo đồng nguyên, ba tôn gaío và rộng ra là tất cả các tôn giáo đều do một nguồn mà có. Một bài thơ của Giác Hải thiền sư về sự vô thường có thể là Phật và cũng có thể là Trang :

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì
Hoa điệp ưng tu công ứng kì
Hoa điệp bản lai giai thi huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì
 
Xuân sang hoa bướm khéo quen thì
Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kì
Hoa Bướm xưa nay đều ảo huyễn
Kệ hoa mặc bướm, hướng lòng chi?
                  (phỏng theo Ngô Tất Tố : Văn học đời Lý)

Và bao gồm cả Phật pháp với Khổng học, là một lời giảng của Viên Chiếu Thiền sư, cho một người hỏi về sự khác nhau giữa Phật và Thánh.

Lí hạ, trùng dương cúc
Chí đầu, thục khí oanh
Cúc trùng dương dưới giậu
Oanh thục khí đầu cành
                     (Hoàng Xuân Hãn dịch)
 
Trù tắc kim ô chiếu
Dạ lai ngọc thố minh (*)
Ngày thì ác vàng chiếu
Tối lại thỏ ngọc soi
                     (Hoàng Xuân Hãn dịch) Lý Thường Kiệt
 
(*) Hai câu sau này là dịch theo Pháp Cú Kinh

Trong cái tinh thần quảng dung ấy, Lí Thánh Tông dựng Văn miếu (1069) và lập ra sự học theo Nho. Nhưng tai hại nhất là sau đó, lại bắt chước theo Trung Hoa mà lập ra Quốc tử giám, Hàn Lâm Viện và đặt các khoa thi để tuyển quan chức.

Thiền pháo Thảo Đường bắt đầu cũng vào khoảng đó. Vị tổ là Thiền sư Thảo Đường một người Trung Hoa truyền giáo ở Chiêm quốc bị bắt về Việt Nam. Vua Lí Thánh Tông ngã về khuynh hướng này và đuợc nhận vào tông phái, ngay sau vị tổ sáng lập. Đến đời Lí Anh Tông và Lí Cao Tông, vua thuộc phái Thảo Đường thiền sư chấp nhận ba phép tu hành là tham thiền, niệm Phật, tu quán, để giải thoát khỏi sự luân hồi sinh tử, và dạy rằng sự niệm Phật là phép tối vi tiếp kính, mau chóng và tiện lợi nhất. Các Thiền sư và cư sĩ Thảo Đường lại chủ truơng dung hợp Nho và Phật, và thiên về văn học, thi ca. Sự phóng khoáng chẳng bao lâu đã thành nếp sống hưởng thụ; phương chi kí ức của con người cũng ngắn ngủi, những sự đau khổ của dân Việt nam trong thời Bắc thuộc đã dần dần bị lãng quên, Lí Cao Tông, cư sĩ môn đồ của phái Thảo Đường, lên cầm quyền trị nước, đã bị lôi cuốn bởi cung đàn tiếng hát mà thành sa đọa đến nỗi không còn cơ cứu vãn cho họ Lí.

Thời Kì IV :

Giữa Phật Giáo và Nho Giáo bắt đầu có một cuộc tranh chấp từ đây :

Khi nhà Trần sắp dấy lên thì Phật Giáo chưa phải là thất thế, nhưng dòng tư tưởng đã bắt đầu giao động vì những ảnh hưởng phức tạp. Nhận thấy cái cơ suy biến của đạo, Thiền sư Thường Chíêu thuộc dòng Vô Ngôn Thông, đã hóa thân mà đi sang với phái Tì Ni Đa Lưu Chi để hợp nhất hai truyền thống này làm một. Sau đó, lại thu hút được cả phái Thảo Đường. Lúc lâm chung, ông đọc bài kệ rằng :

Đạo vốn không nhan sắc
Mà ngày càng gấm hoa
Trong ba ngàn cõi ấy
Đâu chẳng phải là nhà
                             (Nguyễn Lang dịch)
 
Đạo bản vô nhan sắc
Tân tiên nhật nhật khoa
Đại thiên sa giới ngoại
Hà xứ bất vi gia?

Đó không những là sự giải thoát, mà còn là cái tâm khoáng đạt đã đi tới sự thật như trong tuệ giác. Sự tổng hợp cuối cùng của ba phái thiền đã được thực hiện bởi Duy thức học mà ngài Thường Chiếu thuyết giảng và tạo thành phái Yên Tử sau đó. Yên Tử thiền môn truyền được năm đời, từ Hiện Quang Thiền sư đến Huệ Tuệ Thiền sư. Vua Trần Thái Tông thuộc đời thứ ba của phái Yên Tử. Tới đời thứ sáu là vua Trần Nhân Tông thì bắt đầu là phái Trúc Lâm, với chủ trương nhập thế. Tất cả những sự biến thiên trong lịch sử tư tưởng ấy đã xẩy ra giữa một thời đại vô cùng nguy nan trong lịch sử của đất nước là thời kháng chiến chống   ba cuộc xâm lăng quy mô tàn bạo của nhà Nguyên. Sự đau khổ và hy sinh của quốc dân Việt Nam đã cho Phật Giáo đời Trần một ý thức dân tộc mạnh mẽ, và một tư tưởng phụng sự rất đặc thù. Nhưng mặc dầu vẫn còn những vua theo Thiền đạo mà Phật học không phải là con đuờng để đưa người vào hoạn lộ. Do đó, đã mất dần cái ưu thế trong xã hội.

Nho Giáo là cái học để trị dân, và đã trở thành cái cầu cho những người nuôi mộng bình trị thiên hạ, bắt đầu từ đời Trần. Việc khoa cử lúc đầu còn theo tam giáo, nhưng hình thức thì đã bắt chước Trung Hoa. Càng về sau, chế độ thi cử càng được kiện toàn. Sách học đuợc qui định, và bắt dầu đem phú biểu chế, chiếu với văn sách và kinh nghĩa vào phép thi. Các thứ bực được lập ra : trạng nguyên, bảng nhởn, thám hoa, hoàng giáp có là từ thời đó.

Sự học nhi tuy thế cũng còn giữ được cái thông thái của một cái học cao thuợng và chính trực trong một hời khá lâu. Tuy rằng không truyền lại được một học thuyết nào có thể goi là tân kì và đặc sắc nhưng cũng đã tạo được một số kẻ sị thành danh, như Trần Quang Khải, Trần  Nhật Duật, Mạc Đỉnh Chi, Hàn Thuyên, Chu Văn An. Nhiều người tài trí, mà ta có thể cho là thuộc truyền thống Nho học, như Phạm Ngũ Lão, lại đã có đủ cái khí tiết và lòng nhiệt thành để bỏ con đường khoa bảng và tự tiến cử mình một cách hào hùng trong một thời nước biến.

Những chế độ khoa cử càng ngày càng khép chặt, và trí óc của người ta càng ngày càng bị đóng khuôn. Cái học Tống nho đuợc nhập nội từ đó. Bởi vậy nên Chu Văn An đã phải từ quan. Đáng tiếc là cái gương sáng đó, hậu thế chỉ biết đánh bóng mà ít kẻ sĩ về sau bíết noi theo.

Sự úy kị Phật Giáo cũng tăng dần. Bắt chuớc Hàn Dũ ở Trung quốc, một số Nho sĩ của ta như Trương Hán Siêu và Lê Quát lại viết sách để bài xích Phật Giáo, tạo ra một sự chia rẽ trầm trọng trong dân tộc.

Cái không khí suy tàn đó ở cuối đời Trần đã dẫn dắt đến hiện tượng Hồ Quí Li, một bộ óc siêu việt trong một tâm tính gian hùng. Nói theo con đường của Trần Thủ Độ, họ Hồ đã cướp được ngôi vua và bắt đầu công việc cải tạo quốc gia, để bài trừ cái nạn Tống Nho hủ bại và thay đổi sự sinh hoạt kinh tế trong nước. Sách Minh Đạo của Hồ Quí Li đuợc làm ra lúc này, nhưng mong gột rửa được trí thức của sĩ giới. Nhưng cái lầm lớn của Hồ Quí Li là đã không hiểu rằng kẻ sĩ chỉ hiểu chữ trung với nghĩa là trung quan, và chỉ biết có một quyền lợi tối thượng là quyền hành của thiên triều Trung quốc. Và thời thế lúc đó lại là thời thế của Nho giáo theo con đường khoa cử. Nhà Hồ không có sự ủng hộ của giới sĩ trong nước đã thất bại vì thế, và kết quả là Việt Nam lại rơi vào tay của Đế quốc Trung Hoa. Các sách vở bị thiêu hủy các lò gốm bị san bằng, thợ khép bị bắt đi và những người để lộ ra sự bất khuất bị thanh trừng cho kì hết trong 20 năm nước ta bị nhà Minh đô hộ.

Thời Kì V :

Lê Lợi là một vị đại anh hùng của dân tộc Việt Nam sau 10 năm gian khổ, với sự phụ tá của các bậc đại trí thức như Nguyễn Trãi, Lê Chích, nền độc lập đã được giành lại và nuớc Việt Nam lại được tái sinh. Nhưng sau một thời gian ngắn ngủi trong đó con người của Nguyễn Trãi vuợt lên trên tất cả thế nhân về sự nghiệp cứu nước cũng như về sự nghiệp văn chương tư tưởng, thì tình trạng văn học lại bắt đầu nhưng trệ.

Cái nguyên cớ chính của sự ngưng trệ này là óc hướng ngoại của triều đình nhà Lê và nhà Nguyễn. Cái định chế cũng như luật pháp được chép theo Trung quốc. Nạn khoa cử nặng nề rập đúng khuôn của thiên triều đè chặt trên đầu học giới. Cái học Tống Nho được nhận là sự học chính thống và trở nên độc tôn từ đây, và gần như liên tục trong bốn thế kỉ sau đó, cho tới khi ta mất nước vào tay người Pháp. Và tuy rằng chương trình học có bị thay đổi đi từ bấy giờ cho đến bây giờ, nhưng cái óc học đó vẫn còn được tiếp tục.

Đó là cái hại vạn thế của một chính sách vong bản về văn hóa. Sự chuyên chế trong tinh thần nô lệ đã coi con rồng chầu là con rồng lý tưởng, và tất cả các phép tắc đã đặt ra, mỗi ngày một hoàn bị thêm, để bắt tư tưởng Việt Nam phải quì xuống và khấu đầu.

Bởi vậy cho nên, mặc dầu là Nguyễn Trãi đã khơi lại nguồn văn chương học thuật quốc âm, nhưng phần lớn bọn sĩ phu trong nước vẫn khinh miệt cái tiếng mà họ gọi một cách rẻ rúng là “nôm” và ta gọi là tiếng mẹ đẻ. Và cái thứ tiếng nôm ấy, họ đã chỉ dùng để làm những công việc sỏ siên được nói bằng Hán văn.

Tư tưởng bị thuần thục hóa chỉ bò rạp trên mặt đất. Các bậc trí thức lớn nhất trong thời Nguyễn không phải là tư tưởng gia, mà là học giả, sử gia, thì như Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ, biên khảo thì như Lê Quí Đôn, Phan Huy Ích. Sự phán xử của người dân cũng rất sáng suốt và công minh đối với những vị này. Người ta cho, trong một truyện truyền kì, rằng Lê Quí Đôn đã phải chết đi sống lại, mới mở mắt ra mà thấy đuợc rằng cái tài của Nguyễn Trãi vượt cao hơn cái học bách khoa của ông trăm trượng. Đó đã là một sự quí mến đặc biệt đối với Lê Quí Đôn rồi.

Đã như vậy, mà các học giả uyên thâm này lại còn có những sự hẹp hòi và những thiên kiến lạ lùng đếnmức quái dị. Như họ Ngô nói “Đạo chỉ có một, ngoài đạo tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, không còn có gì gọi là đạo nữa.”, và họ Phan nói tiếp mà bàn rằng : “Đạo Phật, đạo Lão, học giả vốn không nên theo, vì đạo Thánh lớn rộng, sao lại có đạo khác sanh ngang được.”

Phật học trong khoảng thời gian này cũng không còn cái hào khí như thời Lí, Trần. Nguyễn Trãi ở đây, cũng vẫn là một bậc phi thường; văn thơ chữ Hán cũng như Quốc âm thi của ông chứng tỏ rằng ông hiểu đọa Thiền một cách thâm sâu. Ông không biên soạn gì về Phật Pháp, vì cả cuộc đời của ông đã hoàn toàn dâng hiến cho dân tộc. Nhưng nếu coi rằng “vô ngã” là sự giải thoát vô thượng thì Nguyễn Trãi thực là bậc trí giả đã đạt được giác ngộ.

Ngoài ra, trong số các Thiền sư của đời Lê, đời Nguyễn, tuy không hiếm bậc đạo đức chân tu, mà cũng không thể nói rằng có những nhà tư tưởng. Ở rất nhiều nơi, ngay cả sự giáo hóa quần chúng cũng bị bỏ hoang làm cho sự tín ngưỡng trong Phật giáo bị suy đồi đến mức chỉ còn có việc tụng niệm cúng lễ và ma chay là còn được duy trì mà thôi.

May thay là trong cái giai đoạn bi đát của nền tư tưởng Việt Nam này, còn có một vài kẻ sĩ anh tú như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, với vài bực văn tài kiệt tác như Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Cao Bá Quát… Và một thời đại oanh liệt, nhưng quá ngắn ngủi, là thời Tây Sơn với một vị cao sĩ là La Sơn phu tử Nguyễn Thiệp. Các nhà Nho hàng thần của nền học thuật Trung Hoa đã bài bác các hoài bảo về nền văn hóa dân tộc của vua Quang Trung, để sớm được trở về với đời sống và nô dịch mà họ mong muốn. Những sự kiện lịch sử bi thảm cho dân tộc Việt Nam đã rồn rập tới sau đó, nhưng ngoài vài bậc trí thức trong hàng ngũ chí sĩ hoặc cách mạng ra, hình như vẫn :

Nước bốn nghìn năm hồn chửa tỉnh
Người ham nhăm triệu giấc còn say.

Con rồng tư tưởng Việt Nam còn thích quì gối chăng? Còn phải tiềm ẩn chăng ? Hoặc chẳng lẽ lại vẫn còn đang mê man trong giấc ngủ?

Thưa Quí vị,

Ngày mai đây, nền tư tưởng Việt Nam sẽ chuyển mình theo đường hướng nào ? Đó là câu hỏi mà tất cả chúng ta đều có quyền hỏi và muốn được trả lời.

Tôi đã trình bày với quí vị những điều mà tôi hiểu biết. Sự biết của tôi còn rất nông cạn. Sự hiểu của tôi còn nhiều thiên kiến. Tôi được học về Phật rất ít, có lẽ cũng chỉ có một chữ nhất. Được học về chữ Nho cũng rất ít, có lẽ cũng chỉ có một chữ thành. Tất cả cái học còn lại của tôi, là ở dân tộc, ở sự đau khổ trên dòng thời gian của dân tộc. Và tôi trình bày trước quí vị những sự suy tư của tôi về niềm đau khổ của dân ta.

Ngày mai ra sao ? Tôi không dám trả lời, nhưng biết rằng cái ngày mai của nền tư tưởng, cái ngày mai của cả dân tộc Việt Nam ấy, tùy thuộc rất nhiều vào sự thức tỉnh của các nhà trí thức trong nước đối với cái chính nghĩa của dân tộc.

Các quí vị nghe hay đọc bài này là các nhà trí thức của dân tộc.

Tôi xin cảm ơn các quí vị.

Trần Ngọc Ninh

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com