
SAN
BẰNG CHÙA TỪ ĐÀM ? Bên
nhà tin sang là Chùa
Từ Đàm có thể sẽ bị đập bằng để có chỗ xây chùa mới và có dự
kiến quay một phim tài liệu để giữ gìn hình ảnh của chùa cũ. Tôi
không tin vào mắt mình khi đọc điện thư đó. Làm sao có chuyện ấy được?!
Về
phương diện hành chính về việc bảo vệ di tích gia tài văn hóa, một căn
nhà cũ chỉ mấy mươi năm của người dân vô danh khi đã được liệt vào
nhà cổ còn không được phá hủy huống nữa là Chùa Từ Đàm, một thắng
tích linh thiêng? Huế
đang được Liên Hiệp Quốc nâng lên hàng tài sản của nhân loại, Chùa Từ
Đàm là một di sản tôn giáo văn hóa lịch sử, không lý đã bị lọt sổ? Trong
dòng biến động lịch sử hiện đại, Từ Đàm là Ba Thục, là Lam Sơn của
Phật giáo Việt Phật
tử vào chánh điện lễ Phật hẳn còn mườn tượng bóng dáng trầm mặc
của Thầy Tiêu Diêu đêm đêm quán định trước ngày tự thiêu. Thầy đã
tự thiêu hụt ở Đài Phát Thanh Huế, và rồi Thầy quyết hy sinh ngay tại
sân Chùa Từ Đàm. Có
thể san bằng một tụ điểm thiêng liêng và thay vào đó những kiến trúc
mới vô hồn, bình thường như bao nhiêu kiến trúc khác đang là biểu tượng
của phong trào chùa to Phật nhỏ không? Dân
Huế đa số là Phật tử đã đòi đoạn vì vụ Đồi Vọng Cảnh, có nỡ
để cho họ chịu một vụ Đồi Vọng Cảnh thứ hai nữa không? Một
trong những thắng tích ngày trước ở Huế là nhà thờ Phủ Cầu
mong dự kiến phá Chùa Từ Đàm xây chùa mới là một tin đồn. Chính trong
hy vọng ray rứt đó mà chúng tôi giới thiệu lại một bài viết khi hay
tin Thầy Từ Đàm chuyển nghiệp 5 năm trước đây. Bài này đã được in
trong tạp chí Chuyển Luân.
Ôi Thân Yêu Bóng Chùa Từ Đàm Giới Tử Hậu bán thế kỷ 20, Việt
Chùa Xá Lợi năm 1963 là kết điểm
tiên khởi của cuộc trường chinh Chấn Hưng Phật Giáo khởi từ năm 1923
khi Chùa Hội đầu tiên thành lập ở Nam Kỳ. Chùa Xá Lợi năm 1963 nơi diễn
ra trận chiến cuối cùng trong đó kẻ yếu đã thắng, kẻ mạnh đã thua.
Tôi chết hãy cầu nguyện cho kẻ giết tôi. Đó là lệnh của Hòa Thượng
Hội Chủ Tịnh Khiết cho Tăng Ni và Phật tử đang tử thủ trong Chùa Xá Lợi
và tất cả các Chùa trên toàn quốc đợi chờ lưỡi hái tử thần có
tên là chiến dịch Nước Lũ của chính quyền giáng xuống. /Thân cháy nát tan ra tro trắng / Thần thức nương
về giúp sinh linh / Hỡi ai mộng ảo đang còn mộng / Hãy gấp tỉnh đi kẻo
bỏ mình/ đó là lời trăn trối của Thượng Tọa Quảng Đức trước
khi châm lửa tự thiêu. Trong trận chiến chênh lệch quyết tử tại Xá Lợi,
Phật giáo sống còn vì Phật giáo chỉ muốn làm Thầy chứ không ham làm
vua, vì Phật giáo đã tự đặt mình vào thế không còn gì để mà mất nữa.
Chùa Xá Lợi là nơi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được khai
sinh ngày 14.5.1964. Nhưng như một mầm non giữa cơn nắng hạn của lửa đạn
hận thù, kỳ thị và lệ thuộc, GHPGVNTN đã bị khai tử ba năm sau đó. Tờ
giấy khai tử đó là Sắc Luật 023/67 do Nguyễn văn Thiệu ký ngày 18.7.1967
trước cuộc bầu cử Tổng Thống tiền định 3.9.1967.
Chùa Ấn Quang năm 1967. Sắc Luật
023/67 đập tan khối thống nhất của Phật giáo, đẩy Phật giáo vào cảnh
lục đục nội bộ không còn khả năng và tâm sức đối lập, để mặc sức
cho chính quyền Mỹ-Việt thao túng vận mệnh Miền
Chùa Từ Đàm là nơi đơm hoa kết quả
của phong trào Phật giáo chuyển mình từ giấc ngủ lịch sử nội chiến
Gia Long-Tây Sơn. Chiến thắng của Gia Long trong cuộc
tranh quyền với Nguyễn Huệ đã kích thích tham vọng của giới Nho sĩ muốn
biến Nho giáo thành ý thức hệ trị nước và khống chế sinh hoạt tâm
linh và văn hóa của quốc gia. Ảo tưởng độc quyền đó tan biến trước
họng súng của người Pháp và cây thập tự của các giáo sĩ thừa sai.
Gia Long vịn vai Pháp mà lên ngôi và cuối cùng chủ quyền quốc gia lọt
vào tay Pháp. Người Việt yêu nước không ngồi yên, tùy duyên mà mỗi người
mỗi nhóm đi theo những con đường khác nhau. Văn Thân và Cần Vương tự lực
vũ trang kháng chiến tàn lụi, nhường bước cho chủ trương dĩ ngoại trị
ngoại của Phan Chu Trinh với lòng tin vào lý tưởng cách mạng Pháp, của
Phan bội Châu với chính sách canh tân của Nhật, của người Mác-xít hướng
về Moscova, của Nguyễn thái Học với Tam Dân chủ nghĩa của Trung Hoa mà
cao điểm là khởi nghĩa Yên Báy.
Đa số những thành phần sĩ phu trí
thức yêu nước còn lại - cộng thêm vào 'những anh hùng mạt vận' từ những
phong trào kể trên, không còn đường nào khác hơn là nương vào cửa Phật.
Chùa chiền trở thành những ổ đề kháng thụ động cho những Phật tử
dấn thân. Họ vừa quay lại với kinh nghiệm tự giác nhi giác tha của
Lý-Trần, vừa nhìn về những cố gắng đưa đạo vào đời về cả hai
phương diện tu học và phổ độ của phong trào Phật giáo quốc tế ở
Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện và Nhật, vừa nhìn về Thái Hư Đại Sư
ở Trung Hoa qua phong trào đổi mới Phật giáo trong ba phương diện giáo chế,
giáo luật và giáo sản. Chùa Từ Đàm là cái trục chính của phong trào Phật
giáo dấn thân này với cái tên vừa gần gũi vừa xa lạ là Chùa Hội.
Chùa Hội là tên chung chỉ những cơ
sở hoạt động, những điểm kết hợp của Phật tử đủ mọi tầng lớp
có chung tâm nguyện phục vụ dân tộc trong ánh sáng của đạo pháp và phục
vụ đạo pháp trong những điều kiện khế hợp của dân tộc. Chùa Hội
là một hình thức quy tập nhân lực, thống nhất tổ chức để tiến hành
tâm nguyện tự giác nhi giác tha của những hàng Phật tử hữu tâm và hiếu
hoạt. Chùa Hội là trụ sở của những Hội Phật Học, tức những tổ chức
tiền thân tiên khởi của GHPGVNTN định hình năm 1964. Nguyễn Lang trong Việt
Nam Phật Giáo Sử Luận tập 3 đã lược thật đoạn đường hình thành của
những tổ chức Phật giáo tiên khởi này như sau... Năm 1923 tại 1923-1934, đoạn đường mười hai năm
gập ghềnh trắc trở, từ ngoài vào, từ trong ra... nhưng cuối cùng, với
tâm nguyện và gương sáng đạo hạnh của hàng xuất gia, với ý thức phục
vụ và hy sinh đóng góp của hàng tại gia, Phật giáo toàn quốc đã có
được những điểm tựa, những đòn bẫy để kết tập tâm sức tiến
lên, đó là các hội Phật học, các Chùa hội, các sách báo của hội.
Cơ quan ngôn luận của An Nam Phật Học
Hội là tờ Viên Âm số ngày 1.1.1934, đã đúc kết những lý do và mục
tiêu thống nhất và đổi mới Phật giáo như sau: 1. Phật giáo sẵn có truyền thống yêu nước,
cởi mở, dung hợp nên có khả năng lấp đầy khoảng trống tâm linh và thế
trị do sự sụp đổ của ý thức hệ Nho giáo tạo ra. 2. Truyền thống yêu nước, cởi mở và
dung hợp của Phật giáo sẽ củng cố và phát triển dân tộc tính Việt
Nam trên tiến trình hiện đại hóa, bảo vệ tổ quốc và tranh đua với thế
giới. 3. Phật giáo rất khế hợp với nhu cầu
duy lý của khoa học và ý chí tự lực tự cường của dân tộc. 4. Cần phải đổi mới những lễ nghi phụng
tự đương hành của Phật giáo, cần phải triển khai khía cạnh sinh động,
tự do của Phật giáo để đáp ứng được nhu cầu tâm linh và trí thức
của những người biết tôn trọng tự do tâm linh, tôn trọng lý trí, tôn
trọng khoa học và mưu cầu tiến bộ. Có thể nói đó là một cương lĩnh hành
động của các Chùa hội.
Dù sinh sau Chùa hội Nam Kỳ, nhưng Chùa
hội và An Nam Phật Học Hội ở Huế lại tiến những bước khá dài trên
đường canh tân. Thành tựu đáng kể nhất trong tiến
trình hiện đại hóa Phật giáo giai đoạn này là Phật giáo Việt Nam đã
tạo cho mình một chỗ đứng tươm tất công khai chính thức trong sinh hoạt
quốc gia mà thực dân Pháp cũng như triều đình Việt Nam có muốn cũng không
thể phủ nhận. Bằng chứng là lễ Phật Đản năm 1935 do An Nam Phật Học
Hội tổ chức tại Huế. Phật Đản 1935 tại Huế là một biến
cố toàn quốc vì mấy sự kiện sau đây. Thứ nhất, quy tụ tất cả những
nhà lãnh đạo sơn môn từ các Chùa lớn như Linh Mụ, Từ Hiếu, Báo Quốc,
Trúc Lâm, Túy Ba, Tây Thiên, Linh Quang, Tường Vân, Từ Quang, Quốc Ân, Vạn
Phước. Thứ hai, cuộc lễ khai mạc từ chiều hôm trước bằng cuộc rước
Phật từ Chùa Báo Quốc về Chùa Diệu Đế là Quốc Tự thời đó. Thành
phố Huế tưng bừng như ngày hội lớn. Thứ ba, Bảo Đại với tư cách
Hoàng Đế đã chính thức nhận chức Hội Chủ Danh Dự của An Nam Phật Học
Hội. Thứ tư, Bảo Đại đã cùng hoàng gia, Cơ Mật Viện hay nội các và
Khâm Sứ Pháp tham dự lễ Phật Đản tại Chùa Diệu Đế. Bảo Đại, Hoàng
Thái Hậu cũng đã đóng tiền cho Hội, thưởng tiền cho ban ca múa trong đại
lễ và tặng 1.000 đèn lồng soi sáng khuôn viên Chùa Diệu Đế trong đêm
liên hoan sau khi rước Phật từ Chùa Báo Quốc về.
Qua ngày Phật Đản 1935 đó, Phật
giáo đã chính thức đến và ở lại trong lòng dân tộc và trên chính trường
Việt Nam, không phải như một thực tế nữa mà là một thực thể có
pháp nhân. Đó là điều mà 15 năm sau, vua Bảo Đại đã quên khi đặt bút
ký Đạo Dụ số 10 ngày 6.8.1950, mặc nhiên thừa nhận Công giáo như tôn
giáo duy nhất còn Phật giáo cùng các tôn giáo khác như Hòa Hảo, Cao Đài...
chỉ có quy chế như những hội tương tế, hội đua ngựa, đua thuyền. Quốc
Trưởng Bảo Đại không áp dụng tinh thần của văn kiện đó, nhưng chính
quyền Ngô đình Diệm lại đã dùng văn kiện đó như vòng kim cô tròng
vào đầu các tôn giáo khác, khi cần chỉ một niệm là té nhào đầu lạc
địa. Sự hiện diện của Bảo Đại trong
chức vụ Hội Chủ Danh Dự của An Nam Phật Học Hội, cũng như sự hiện
diện của Tổng Đốc Hoàng trọng Phu và Tổng Đốc Nguyễn năng Quốc
trong Hội Phật Giáo Bắc Kỳ, của Trần nguyên Chấn - một viên chức cao
cấp của Pháp, trong hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học là lý do khiến cho
một số người thời đó nghi ngờ các hội Phật giáo chỉ là một lá
bài thực dân Pháp dàn dựng ra để ru ngủ và đánh lạc hướng đối kháng
của người Việt. Nhưng nói như vậy thì cũng chẳng khác chi bảo rằng ngày xưa Phật giáo thời
nhà Đinh đã phản nhà Ngô, Phật giáo thời nhà Tiền Lê đã phản nhà
Đinh, Phật giáo thời nhà Trần đã phản nhà Lý và Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam hôm nay đã phản Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hoài nghi là quyền của thiên hạ, nhưng
nếu Phật tử vì những hoài nghi đó mà chùn bước thì Phật giáo Việt
Phật Đản 1935 cũng mặc nhiên đặt
Phật giáo Huế vào thế phải nhận trọng trách đầu đàn trong công cuộc
đổi mới để phát triển điều kiện tu học và khả năng phục vụ. Thời
kỳ 1935-1945, Phật giáo Việt Trong quá trình đổi mới này, Phật
giáo đã xử dụng hữu hiệu công cụ truyền giáo và đồng thời cũng là
công cụ tẩy não và hoán não của Công giáo và chính quyền thực dân để
phát triển phong trào Phật học. Công cụ đó là chữ quốc ngữ. Ngày xưa,
chỉ có những người có học chữ Hán mới mong đọc được kinh sách. Mà
có đọc được cũng chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa. Phần kinh sách chữ
Nôm không có bao nhiêu, và cũng thưa thớt như những người đọc được
chữ Nôm vậy. Chữ quốc ngữ dễ học, và học đọc học viết quốc ngữ
đang trở thành thời thượng. Nhờ thế mà quốc ngữ trở thành một con
thuyền tải đạo Phật đến gần với người Việt Công tác thứ hai của các Chùa Hội
ráo riết theo đuổi đó là nâng cao trình độ của Tăng Ni về cả hai
phương diện thế học và Phật học. Con đường đã chọn là gấp rút đào
tạo một lớp tăng ni trẻ có đủ khả năng thừa hành trọng trách chấn
hưng Phật giáo mà hàng lãnh đạo đã đề ra. Về điểm này, Nguyễn Lang
trong sách đã dẫn, nhận định như sau: 'So với số lượng tăng sĩ thất
học lớn lao trong xứ, số tăng sĩ được đào tạo tại ba miền không thấm
thía vào đâu. Số lượng tăng ni được trực tiếp đào tạo không vượt
quá số năm trăm vị, trong số đó chỉ có khoảng một phần mười được
gọi là xuất sắc. Tuy vậy trong khoảng 1945-1975, thiểu số này đã tạo
nên được sóng gió trong sinh hoạt văn hóa và chính trị quốc gia.' Người xuất sắc nhất trong một phần
mười xuất sắc này chính là Thầy Thiện Siêu, Thầy Từ Đàm, Thích Trí
Đức vậy. Thầy Thiện Siêu tái nhập cõi ta bà
năm 1921, hai năm trước khi Phật giáo thành lập được hội Phật học đầu
tiên ở Bến Tre. Thầy xuất gia năm 1935, năm An Nam Phật Học Hội biểu
dương lực lượng bằng cuộc lễ Phật Đản vĩ đại tại thành phố Huế
như đã kể trên. Thầy là một trong 50 tăng sinh được chọn vào trường
An Nam Phật Học để được huấn luyện toàn thì bằng một chương trình
từ Tiểu Học đến Đại Học. Đây là khóa huấn luyện quy mô, toàn thì,
rốt ráo đầu tiên của Phật giáo toàn quốc thời ấy. Sau 9 năm học tập, 10 tăng sinh trúng
tuyển, 6 chính thức và 4 đậu vớt. Pháp hiệu của sáu người đó đều
bắt đầu bằng chữ Trí. Thầy là Trí Đức, những đạo huynh của Thầy
là Trí Thuyên, Trí Nghiễm hay Thiện Minh, Trí Quang, Trí Tịnh, Trí Duyên. Thầy
Trí Thuyên được coi như anh cả đã bị Pháp bắn chết ngay trong đại tòng
lâm Kim Sơn. Thầy Thiện Minh giải nghiệp trong lao tù. Thầy rũ mộng ra
đi, giờ chỉ còn hai Trí tại thế là Thầy Trí Quang và Thầy Trí Tịnh. Theo mấy Ôn kể thì Thầy Thiện Minh
giỏi lịch sử, Thầy Trí Quang giỏi luận và Thầy Thiện Siêu giỏi nội
điển. Điều này giải thích tại sao Thầy có một số lượng tác phẩm lớn
lao như thế, tại sao Thầy được suy cử vào chức vụ Phó Chủ Tịch đặc
trách Hán tạng trong Hội Đồng Phiên Dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam, và tại
sao chỗ nào chưa có trường thì Thầy được chỉ định đi khai phá, chỗ
nào có trường lớp rồi thì Thầy có chạy trời cũng không khỏi nắng
trong chức vụ giảng sư. Công trình cuối cùng của Thầy là Học Viện Phật
Giáo Việt Nam khai giảng năm 1997 mà Thầy là Viện Trưởng. Thầy nhắm mắt
mấy tháng sau khi Học Viện bế giảng khoá Cử Nhân Phật Học đầu tiên.
Từ Đàm ngày một trở nên trọng điểm
của Chùa hội ở Huế và Trung Phần, nơi đặt trụ sở của An Nam Phật Học
hội. Năm 1947, Thầy được Phật giáo Huế cử làm trú trì Từ Đàm lúc
Thầy mới 26 tuổi. Ba năm sau, Thầy được công cử vào chức vụ Chánh Hội
Trưởng Tỉnh Hội Thừa Thiên nhiệm kỳ 1950-1955. Trong chức vụ Chánh Hội
Trưởng và Giám Viện Từ Đàm, Thầy đã làm được ba việc có ảnh hưởng
lâu dài đến tiền đồ của Phật giáo. Thứ nhất, đoàn ngũ hóa Phật tử
thành những Khuôn Tịnh Độ. Thứ hai, tiếp sức chuyển thái Đoàn Thanh
Niên Phật Học Đức Dục thành Gia Đình Phật Hóa Phổ và rồi thành Gia
Đình Phật Tử. Cuộc vận động năm 1963 chứng tỏ các hạ tầng cơ sở
này vững chắc và hữu hiệu đến thế nào. Thứ ba, góp phần hình thành
đại hội Phật giáo toàn quốc khai mạc ngày 6.5.1951 tại Từ Đàm. Đại hội này đã nhất trí đề ra
hai mục tiêu chiến lược đó là thứ nhất, chính thức biến Phật Học
thành Phật Giáo và, đặt nền móng cho một định chế giáo hội thống nhất.
Từ năm 1923 đến nay chỉ có những Hội Phật Học rời rạc tự lập cho
từng tỉnh, từng miền. Những hội đó bây giờ tự giải thể để quy tập
thành một Tổng Hội Phật Giáo duy nhất. Bằng quyết định này, đạo Phật
đã tiến thêm một bước nữa trong ý chí xác lập bản vị pháp nhân của
mình trong xã hội Việt Quyết tâm xác lập bản vị pháp
nhân của mình trong xã hội Việt Nam đó đã thể hiện một lần nữa năm
sau 1952 bằng cuộc đón xá lợi tại Sài Gòn ngày 13.9 1952. Đây là cuộc
biểu dương lớn nhất ủa Phật giáo từ trước đến nay với khoảng 100
ngàn người tham dự. Lần đầu tiên Phật tử Sài Gòn có cơ duyên nhìn thấy
xá lợi Phật, và đây cũng là lần đầu tiên cờ Phật giáo quốc tế ngũ
sắc ra mắt quần chúng Việt
Nhìn theo quan điểm của tuyên ngôn dẫn
thượng thì hòa bình Genève 1954 hẳn chưa phải là ước nguyện viên thành
toàn vẹn đối với hàng lãnh đạo Phật giáo. Nhất là khi Miền Ngô đình Diệm được Bảo Đại phó
thự cho hồi hương làm Thủ Tướng. Ông chỉ thề trung thành với Bảo Đại
chứ không trung thành với chức vụ Quốc Trưởng của Bảo Đại. Ông lật
Quốc Trưởng và lên làm Tổng Thống với số phiếu 99 phần trăm. Một
điều ít ai nghĩ đến là Phật giáo Huế trân trọng giữ lư hương bài vị
của tổ tiên dòng họ Ngô đình, nghĩa là của những vị trước Ngô đình
Khả không rửa tội theo Công giáo. Nhưng Phật giáo vẫn có cảm tình hơn
với hoàng tộc, nhất là Hoàng Thái Hậu, đệ tử Chùa Tường Vân. Không
có sự can thiệp của Hoàng Thái Hậu thì Thầy Đôn Hậu đã bị Pháp xử
tử năm 1947. Do đó Phật giáo Huế không khỏi giật mình trước chiến dịch
truất phế Bảo Đại, càng giật mình hơn khi thất chính quyền nặng tay với
Hòa Hảo và Cao Đài, cụ thể là việc gài bẫy rồi chém đầu Ba Cụt Lê
quang Vinh.
Rồi cũng đến phiên Phật giáo bị
chiếu cố, hết qua chiến dịch bình định Nam Trung Phần, đến kế hoạch
dinh điền khẩn hoang lập ấp. Người Phật tử chỉ còn hai con đường lựa
chọn: hoặc rửa tội để núp bóng Cha nhà thờ, hoặc phải lìa quê cha đất
tổ đi... vùng kinh tế mới. Thảm trạng của những 'quần đảo Gulag' nầy
đã được Phật giáo đúc kết thành một hồ sơ đen gửi Tổng Thống và
Quốc Hội ngày 20.2.1962 với lời cảnh báo Phật giáo đã bị dồn đến
chân tường. Chủ chốt trong việc hình thành hắc thư này là Thầy Thiện
Minh, người có công củng cố phát triển cơ sở giáo hội khắp miền Nam
Trung phần và cao nguyên, đồng thời là người kế nhiệm Thầy Trí Quang
trong trách vụ Hội Trưởng của Hội nhiệm kỳ 1958-1962. Lời cảnh báo của
Phật giáo chỉ như hạt muối rơi xuống biển, hòn sỏi rơi xuống giếng.
Trả lời của chính quyền là Tổng Thống anh minh không bao giờ sai lầm
và Phật giáo muốn làm loạn. Thế nên Phật giáo phải chuẩn bị tự vệ...
Đây là thời điểm anh chị em thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi ồ
ạt đến với Phật giáo, đến với Thầy Thiện Siêu.
Giống như một người vượt biên bằng
đường biển sang đến nơi tạm dung rồi mới nghĩ đến chuyện tập bơi,
đại đa số anh chị em sinh viên học sinh chúng tôi không mấy người biết
các hoạt động của Chùa hội, không mấy người được thân cận với Thầy
Thiện Minh, Trí Quang, Thiện Siêu, không mấy người biết rõ các trụ cột
của Phật giáo... Thảng hoặc, chúng tôi có nghe người lớn nhắc đến thành
tích hay tiếng tăm của Ôn Trúc Lâm, Linh Mụ, Linh Quang, Diệu Đế, Sư Bà
Diệu Đức, Hồng Ân... nhưng chưa bao giờ được gần gũi, chưa bao giờ
được trực tiếp giáo huấn răn dạy. Sự thể chỉ vì anh chị em chúng
tôi, một số đã là đệ tử của các Chùa khác, một số khác thường chỉ
là Phật tử gia truyền cha tụng kinh con niệm Phật thế thôi. Cho nên, một
năm sau khi biến động Huế xảy ra, ngót ba phần tư đoàn viên Đoàn Sinh
Viên Phật Tử Huế và hầu hết ban chấp hành Đoàn Học Sinh Phật Tử Huế
mới chính thức quy y Tam Bảo. Buổi lễ quy y tập thể này được tổ chức
tại Chùa Thuyền Tôn và Thầy Thiện Minh truyền giới. Chúng tôi theo Thầy
sống chết trước khi được Thầy nhận cho làm đệ tử. Đoàn SVPT Huế thành lập năm 1962, và
tiếp đó là Đoàn Học Sinh Phật Tử do nhân sự của Đoàn SVPT hóa thân
phụ trách. Trụ sở là Chùa Từ Đàm mà trú trì là Thầy Thiện Siêu. Từ
Đàm là nơi khởi sự và cũng là kết điểm của phong trào 1963 ở Huế.
Trọng trách của Thầy nặng đến chừng nào ai cũng biết. Anh chị em thanh niên sinh viên học
sinh chúng tôi đến với Chùa Từ Đàm ít nữa cũng vì ba lý do. Thứ nhất,
bế tắc tâm linh tư tưởng và nhìn vào Phật giáo thấp thoáng thấy một
vài hứa hẹn khai thông. Thứ hai, hoàn cảnh quan liêu xu phụ độc tôn kỳ
thị bao quanh chính quyền làm cho chúng tôi không thể thành tâm đến gần
chính quyền. Thứ ba, khi Phật giáo lâm nguy kêu gọi thì chúng tôi nghe theo
và chạy đến, dù đôi khi chỉ làm quẩn chân các vị lãnh đạo, nghĩa là
đến để 'chết chùm' chứ chẳng ích gì cho ai cả. Sức mạnh của chúng
tôi là lòng thành với tín ngưỡng của cha ông, tình đoàn hữu và một
chút mã thượng ham vui nữa. Đêm 20.8.1963, Chùa Từ Đàm bị tấn công và
tràn ngập. Vĩnh Kha, Phó Đoàn Trưởng ĐSVPT Huế nhanh chân vượt được vòng
vây khỏi khu vục Từ Đàm trốn vào một cái am vắng và rồi đã bị bắt
lại chỉ vì trước khi trèo lên núp sau bàn thờ trên trần nhà, Kha đã
cung kính tuột giày dép để lại dưới nền nhà vô tình làm dấu cho công
an cảnh sát biết... tui ở trên này, cũng chỉ vì thói quen cởi dày dép
khi vào điện Phật! Nguyễn hữu Hiệp, Đoàn Trưởng Chi Đoàn SVPT Mỹ Thuật,
nghe Chùa Diệu Đế bị tấn công, từ nhà chạy lên tiếp cứu, gặp các
nút chặn không vào được, thay vì chạy về nhà tìm cách trốn Hiệp đã
bơi vòng qua sông Gia Hội và bơi thẳng vào bến Chùa Diệu Đế. Khi bị bắt
về Nha Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần, Hiệp chỉ có cái quần xà lỏn!
Riêng Hoàng tôi nếu không nhờ cô Đoàn Phó mà chúng tôi thân yêu tặng
cho mỹ danh Con YBN, điếc không sợ súng dành giựt tôi với công an cảnh
sát ra khỏi trận đòn thù rồi lấy áo che đậy khuất mắt giùm tôi thì
biết đâu tôi cũng đã phiêu diêu đâu đó từ khuya. Kha đã giải nghiệp,
Hiệp đang sống lưu đày tại Mỹ và Con YBN đang dạy tại một đại học
ở Đức và kiên trì tiếp tục thay anh chị em trả nợ Chùa, đền tạ Thầy
Từ Đàm.
Biến động 1963, như một ánh đèn
thu hút tầng lớp trẻ Miền Năm 1963, khi phong trào bung ra chuyển
địa bàn vào Xá Lợi cũng như năm 1966, Thầy Thiện Minh bị mưu sát bằng
lựu đạn và Thầy Trí Quang tuyệt thực bị giam lỏng trong Bệnh Viện Duy
Tân thì chúng tôi không còn được cận kề Thầy Thiện Minh và Thầy Trí
Quang nữa, thế là chúng tôi quay sang níu áo Thầy Thiện Siêu, Thầy Đôn Hậu
của Linh Mụ, Mật Nguyện của Linh Quang, Mật Hiển của Trúc Lâm, Trí Thủ
của Ba-La-Mật, Sư Bà Diệu Không, Sư cô Thể Tịnh, Sư cô Cát Tường, Thầy
Chánh Trực và Thầy Đức Tâm những cố vấn giáo hạnh của chúng tôi. Mấy
vị khác, đến Từ Đàm bàn định Phật sự xong là về Chùa mình, Thầy
Thiện Siêu không biết đi đâu nữa nên ở lại chịu trận cái đám 'nhất
quỷ, nhì ma' chúng tôi. Chúng tôi có những tên riêng để gọi những người
thân thương của chúng tôi. Chỉ có Thầy Trí Thủ là không có mỹ danh,
còn Thầy Trí Quang là ông già râu, Thầy Thiện Minh ông pha-cốt, sau này
là ông già què, Thầy Linh Mụ ông sún, Thầy Linh Quang ông địa, Thầy Mật
Hiển ông ròm, Thầy Chánh Trực Tarzan, và Thầy Thiện Siêu chúa đảng đầu
lâu hay ông hô... chỉ vì Thầy ốm quá, ốm giơ xương. Thầy ốm vì thể
chất thì ít, nhưng vì nặng nề Phật sự thì nhiều, và vì cái đám nhất
qủy nhì ma chúng tôi nữa.
Ai mà chẳng sợ dùi cui, lựu đạn
cay, lựu đạn a-xít, chó săn, tù tội. Nhất là tuổi thanh xuân phơi phới
chỉ biết ăn học, long nhong phất phơ, chưa hề bị thử thách gian nguy như
thế hệ cha anh. Trong cơn khổ nạn, chúng tôi thường khuyến khích nhau
bám vào Chùa và chung vai sát cánh bằng câu: chỗ của chúng ta là Đài
Phát Thanh Huế, chúng ta đã chậm chân để cho các Thánh Tử Đạo giữ hết
rồi thì nơi mô cũng rứa mà thôi. Điều chúng tôi nhắm đến là chủ trương
đường lối và lệnh của mấy Thầy phải lan rộng và chính quyền không
thể làm ngơ. Tuổi trẻ không chịu ngồi yên, cực chẳng đã không làm
gì được thì vào chánh điện tụng kinh, ngoài ra không phát thanh thì cũng
hội thảo, không hội thảo thì cũng mít-tinh, không mít-tinh thì xuống đường,
không xuống đường thì đình công bãi thị bãi khóa, không đình công bãi
thị bãi khóa thì tuyệt thực. Làm sao miễn chủ trương đường lối và lệnh
của mấy Thầy được lan rộng tuân hành và chính quyền không thể làm ngơ.
Thầy Chánh Trực, ôn Trúc Lâm cái gì cũng được nhưng ông địa, chúa đảng
đầu lâu và ôn Trí Thủ thì dè dặt hơn, phải năn nỉ ỉ ôi, giận lẫy
đủ thứ mới được. Thế nhưng tôi chưa bao giờ thấy Thầy nổi cáu,
quá lắm Thầy chỉ than: Mấy chú bây làm ta đau đầu quá... Thầy lo là phải
vì dưới văn phòng Đoàn SVPT và bệnh xá vẫn còn cả chục anh chị em
chúng tôi nằm la liệt, kẻ u đầu xẻ trán, kẻ quẹo tay quẹo chân, kẻ
bị lựu đạn a-xít qua các cuộc xuống đường trước thỉnh thoảng vẫn
lên cơn co giật và la hét vang động khuôn viên Từ Đàm. Lúc anh chị em chúng tôi được chỉ
định phụ trách mở rộng địa bàn sang Chùa Diệu Đế vì sợ phong trào
bị cô lập ở Từ Đàm, chúng tôi quyết định tuyệt thực và phát thanh
chờ cơ hội xuống đường ra phố... Thỉnh thoảng đến tối, Thầy đi với
một vài vị khác trên Từ Đàm xuống thăm chúng tôi. Một hôm Thầy thấy
chúng tôi, không nằm yên để qua cơn đói, cũng không ngồi tụng kinh mà cặp
thì vật tay, cặp thì vật chân loạn cả lên. Thầy ngạc nhiên: Đã nhịn
đói, răng không ngồi yên cho khỏe mà làm chi rứa? Hoàng tôi cười gãi
tai chắp tay: Bạch Thầy, trưa tối đến giờ ăn, bao tử nó hành hoa mắt
chóng mặt, chỉ có làm như rứa mới vui mà quên thôi!
Hai sự cố làm Thầy thực sự mất
ăn mất ngủ đó là hai quyết định tự thiêu của Thầy Thanh Tuệ và của Thầy Tiêu Diêu vào giai đoạn cuối
của phong trào tranh đấu. Thầy Thanh Tuệ tự thiêu tại Chùa Phước Duyên
rạng ngày 13.8.1963, và Thầy Tiêu Diêu tại Từ Đàm ngày 16.8.1963. Với Thầy Thanh Tuệ thì phải làm sao
ngăn không cho chính quyền cướp xác đi thủ tiêu. Với Thầy Tiêu Diêu,
làm sao giữ bí mật cho chính quyền khỏi ngăn chận cơ duyên hi sinh tối hậu
của Thầy. Sau khi Thầy Thanh Tuệ tự thiêu, Phật
giáo dự tính chuyển nhục thân của Thầy về Từ Đàm để làm lễ an
táng cho xứng với hy sinh cao cả của Thầy. Nhưng tất cả đường về đều
bị nút chặn, Từ Đàm hầu như bị hoàn toàn cô lập nên phải quàng lại
tại Chùa Phước Duyên. Việc canh giữ được ủy thác cho Thầy Tarzan
Chánh Trực. Chính quyền Huế ra tay, khiến cho mấy chục thanh niên Tăng Ni
và Phật tử bị thương vì dùi cui và báng súng. Tối hôm đó, đài phát
thanh VOA và BBC loan tin ngay vụ này với một chi tiết mà cho đến sau này
chúng tôi mới biết là đặc biệt. Sau ngày 1.11.1963, Thầy trò chúng tôi mới
được tự do. Hoàng tôi lên hầu Thầy, kể những kinh nghiệm trong tù và
Thầy hỏi: Nì, trong bản tin cướp xác Thầy Thanh Tuệ, mấy cậu viết
cái chi mà công an họ hỏi tui quá trời... Họ tố mình vu vạ, không nói
có về chuyện số xe chi đó. Thầy nhắc Hoàng tôi mới nhớ, hồi đó SVPT
chúng tôi được Chùa chỉ định phụ trách phát thanh, nghĩa là lo những bản
tin phổ biến ngày hai buổi. Chúng tôi phong thanh biết là Hoa Kỳ đã tố
cáo chính quyền Việt
Thầy Tiêu Diêu trước khi tự thiêu
đã ở tại Từ Đàm. Trước tiên, Thầy quyết định chọn địa điểm Đài
Phát Thanh Huế, nhưng tin tức bại lộ, chuyện không thành phải đình
hoãn. Kẻ phụ trách vụ này là Thầy Trúc Lâm với chiếc xe Renault đen bất
hủ của Thầy. Trở về Từ Đàm, Thầy Tiêu Diêu tĩnh tọa trước điện
Phật để cởi áo tràng có lót những lớp bông gòn dày... Từ đó hằng
đêm trước khi đi ngủ, anh chị em chúng tôi đã lên điện Phật tụng niệm
với Thầy cho đến lúc Thầy quyết định lần thứ hai thành công. Hộp
diêm trong tay Thầy xẹt lên khơi bừng biển lửa lúc 3 giờ sáng, trong
khuôn viên Chùa Từ Đàm. Đây là những hình ảnh còn sống động với Hoàng
tôi đến bây giờ. Những hình ảnh đã làm choái cho tôi vịn đi tới những
lúc rã rời chỉ muốn xuôi tay bỏ cuộc. Thành phố Huế tê liệt vì hai vụ tự
thiêu trong vòng ba ngày. Ngày 16.8. tổng đình công bãi thị. Ngày 17.8 Đại
Học Huế nhập cuộc, các giáo chức từ chức, theo học trò mình xuống
đường. Chén nước đã tràn... Đêm 20.8, chiến dịch Nước Lũ khởi động
toàn quốc. Từ Đàm, Diệu Đế và các Chùa khác bị tràn ngập. Thầy
trò, anh chị em chúng tôi vào tù, để làm nhân chứng cho điều Phật giáo
đã cảnh báo: Phật giáo bị chính quyền kỳ thị và đàn áp là điều có
thật. Sau 1963, Thầy còn lao đao lận đận
nhiều lần nữa. Nặng nề nhất là vụ Miền Trung 1966, vụ Mậu Thân 1968,
Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Huế bị bỏ ngõ rồi Miền Nam sụp đổ 1975. Hoàng tôi xa Thầy từ cuối năm 1966,
khi Phật giáo bí mật chuyển chúng tôi vào Sài Gòn trong lúc chúng tôi
đang phải bôn đào vì bị truy nã. Đất nước chưa yên, mình chưa yên, đất
nước yên rồi cũng chỉ mới cho ai khác. Hoàng tôi lại vào tù, và khi
được tạm tha thì phải chọn đời lưu vong... Tôi xa Thầy từ đó, bao
nhiêu năm sau mới nối lại liên lạc, dù chúng tôi vẫn nhớ Thầy, kính
phục Thầy, cầu nguyện cho Thầy chân cứng đá mềm. Hoài niệm Huế gắn liền với Từ Đàm,
nơi đã giúp anh chị em chúng tôi nên người. Gốc me già bên trái, cội bồ-đề
bên phải và hình ảnh Thầy từ ái thấp thoáng trong sân Chùa hay trên nhà
khách. Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Siêu là ba người anh chị em chúng tôi
được kề cận, dìu dắt. Thầy là người nghiêm nhất mà cũng là hiền
nhất. Chùa tổ của cả ba là Thuyền Tôn, nhưng cả Thầy Trí Quang và Thiện
Minh đều bám trụ Từ Đàm để quấy rầy ông anh thay vì vô Thuyền Tôn
làm nũng với Thầy tổ là đệ nhị Tăng Thống Giác Nhiên. Thầy Trí Quang
và Thầy Thiện Minh ham đánh cờ và cũng ham cãi nhau về nước cờ nữa.
Thỉnh thoảng Thầy phải hòa giải với nụ cười bao dung lấp lửng: hai
'thằng cha nớ ... !' Mỗi lần Thầy Trí Quang hay Thầy Thiện Minh có chuyện
dặn bảo anh em, hình như có một sự phân công nào đó rồi nên Thầy ít
khi dự, trừ những khi có quyết định lớn thì Thầy dự với các Thầy
Linh Quang, Linh Mụ, Trúc Lâm, Ba-La-Mật, Sư Bà Hồng Ân... Thầy là người
chúng tôi chờ lệnh hoặc phải thỉnh ý trước tiên những khi Thầy Thiện
Minh hay Thầy Trí Quang không có mặt ở Huế. Thầy Trí Quang hay Thiện Minh
về, anh chị em lại rộn rịp tấp nập lên Từ Đàm. Những hình ảnh
thân yêu đó kẻ đã ra đi, kẻ lưu lạc phương trời. Thầy Thiện Minh, Thầy
Đôn Hậu, Thầy Trí Thủ, Thầy Mật Nguyện, Thầy Mật Hiển, Sư Bà Diệu
Không, Thầy Chánh Trực, Thầy Đức Tâm... những người chúng tôi được
kề cận bây giờ đã phiêu diêu lạc cảnh. Bây giờ đến lượt Thầy bỏ
chúng tôi mà đi. Lê khắc Quyến, Bùi tường Huân, Phan đình Bính, Vĩnh
Kha, Phan chánh Đông, Bảo Cương, Nguyễn khắc Từ, Hoàng kim Cúc, Đặng Tống
Tịnh Nhơn, Văn đình Hy... kẻ trước người sau đều đã giải nghiệp.
Bao nhiêu người thân thương khác còn sống thì mỗi người một phương.
Quanh quẩn nhìn lại để thấy rằng ánh sáng và hoài niệm thân thiết cuối
cùng đối với anh chị em chúng tôi chỉ còn mình Thầy Trí Quang, đang tịnh
khẩu như Ca-Diếp lặng yên phe phẩy cành hoa trước mặt bao nhiêu năm nay.
Đất nước hoà bình thống nhất
trong một hoàn cảnh thế giới đã đổi thay, nên có những nhu cầu tâm
linh đạo đức cũng như thế trị mới, do đó Phật giáo cũng đã chuyển
mình vào một nhiệm mệnh mới gian truân, nặng nề, đầy thử thách. Thầy
là một nhân vật đầu đàn của giai đoạn này. Thầy có cách phục vụ
đạo và đời của Thầy, như Thầy Minh Châu, Thầy Huyền Quang, Thầy Trí
Tịnh và những bậc tôn túc khác mà chúng tôi ít có duyên may kề cận. Với
Thầy, đạo và đời hình như là một, phục vụ đời là phục vụ đạo,
Thầy không chấp trước những thị phi thế trị nên Thầy duy trì được
dòng sinh hoạt tồn tục của Phật giáo, dù cộng nghiệp có khi rất nặng
nề, dù y báo có khi rất nghiệt ngã. Một điều nữa làm cho chúng tôi thương
kính Thầy hơn là Thầy đã âm thầm đưa di cốt của Thầy Thiện Minh về
Thuyền Tôn. Từ Đàm là biểu tượng của khai
nguyên của Phật giáo hiện đại, Thầy là biểu tượng của Từ Đàm. Biểu
tượng đó sống mãi. Anh linh, uy nghiêm và thân yêu như lời ca của bản Từ
Đàm Quê Hương Tôi đánh động lòng người Phật tử Huế ít ra cũng một
lần trong đời. Một lần thôi cũng đủ cho cả đời,
như kinh nghiệm Từ Đàm của anh chị em thanh niên, sinh viên học sinh chúng
tôi từ những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước. Giới Tử
© Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com