giaodiem copyright
          posted: 27.3.2006

   Tác giả Lê Xuân Nhuận – cố Giáo Hoàng John Paul II và sự sụp đổ của chế độ Cộng sản Ba Lan… Gđ.

Về: TƯỞNG-NIỆM CỐ GIÁO-HOÀNG GIOAN PHAOLỒ II  

          Ngày 02 tháng 4 năm nay, 2006, là ngày “húy-nhật” đầu tiên của cố Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II.

          Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II được xem là một “vĩ-nhân của thời-đại”.

          Trong thời-gian Ngài còn sống, một trong các việc làm đầy ý nghĩa nhất của Ngài là Ngài đã trung-thực, can-đảm, và thẳng-thắn công-khai nhìn-nhận các tội-lỗi mà Giáo-Hội Ky-Tô-Giáo La-Mã đã phạm phải từ trước đến nay.

          Liên-quan đến điểm này, Thanh-Thanh có làm một bài thơ bằng tiếng Anh như sau : 

LAUD TO POPE JOHN PAUL II
 
                      On 03-12-2000, Pope John Paul II apologized
                       for all the Vatican’s mistakes in the past.
 
  The first version of this poem had been published in
  "Who's Who in New Poets" (New York, USA, 1996).
 
I laud you for most of the other moral systems detecting
And for anything true and holy in them not rejecting –
Those Asian Buddhist, Confucian, and Taoist religions,
And Australian hundreds-of-centuries-old native traditions.
 
I commend you on admitting your predecessors misapprehended
The earth’s form and position for which Galileo contended.
To deny the roundness and movement of the globe, in error
The Inquisition persecuted the physicist, inflicted terror!
 
I praise you for acknowledging that, without lenience,
In order to liberate Jerusalem from Islamic obedience,
They fostered crusades in the European Catholics’name;
But they had recourse to violence – unworthy of fame!
 
I respect you for apologizing, to many a Latin nation,
For Spanish past roles in South-America Evangelization.
Delegated by the Church, Spain took advantage of the situation
To practice cruelly massacre, tyranny, and exploitation!
 
I admire you for testifying your anterior ones’ lack of sanity
While love of one another is the Bible’s thesis of humanity.
They considered the black-skinned race as of lowest grade;
And they tolerated, and even encouraged, slave trade!
 
I sympathize with your feeling about World War II a sharp pain:
The Vatican’s cooperation with the Nazis – a dark stain!
I acclaim your recognition of the processes of Evolution:
Such reasoning beyond Creation is quite a revolution!
 
I extol you rectifying the doctrine of the Virgin Mary:
Whether body and soul into heavenly glory it does vary.
To inherit sin – before that conception – she was bound;
To exclude her from natural death, there is no ground.
 
I comprehend your part in seeking Poland’s regime to replace:
Because you are a Polish above and first of any other race.
I agree with you that though you tell people not to fear,
You still must use bulletproof protection in public to appear.
 
I love your getting prepared for the century twenty-first:
All predictions of the near end only mean a frenzy burst!
I’m sorry for you yielding to the Vietnamese protestation
Of their own country’s prelacy against your ordination!
 
I thank you for teaching Christians to repent of their sin
Committed in the past by certain Pontiffs and their kin.
Such lucidity, justice, and courage, of a man capable,
Lets me believe that you - the Pope - is not mistakable!

 

GIÁO-HOÀNG JOHN PAUL II VÀ MẸ MARIA 

          Trong thời-gian Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II còn sống, nhất là thời-gian Ngài làm Giáo-Hoàng, tôi thấy Ngài đã tôn-thờ, rao-giảng, và cầu-nguyện Đức Mẹ Maria một cách vô cùng đặc-biệt, đến độ xem như Đức Mẹ gần-gũi và có quyền-phép trực-tiếp với Ngài (và toàn thể giáo dân) hơn cả Đức Chúa Trời và Đức Giê-Su.

          Thử lấy một thí-dụ cụ-thể (theo Trần Phong Vũ):

“SỰ CHIẾN ĐẤU CAN ĐẢM VÔ ÚY CỦA ĐGH JP II

Hồi 5 giờ chiều ngày 13-5-81 nhằm ngày Thứ Tư, theo thông lệ, Đức Gioan Phaolô II tới Công Trường Thánh Phêrô gặp gỡ khách hành hương.  Bỗng dưng có tiếng nổ chát chúa khiến đàn bồ câu hoảng hốt cất cánh bay lên.  Từ trên lầu cao nhìn xuống, người ta thấy Đức Thánh Cha trong bộ áo trắng, bỗng dưng ngã chúi vào người cận vệ bên cạnh Ngài. Theo lời thuật lại của Monsignor Dziwisz thì có kẻ vừa bắn vào bụng Ngài. Lập tức, người tài xế vội vàng chở Đức Thánh Cha tới một xe cứu thương để đưa Ngài tới bệnh viện cấp cứu.

Là người ở bên cạnh Đức Thánh Cha, nên Đức Ông Dziwisz theo sát từng biến chuyển trên gương mặt Ngài trong giây phút thập tử nhất sinh ấy.   Đức Ông cho hay: “Hai mắt Ngài nhắm nghiền, dường như đang trải qua một cơn đau đớn dữ dội, trong khi miệng Ngài liên tiếp kêu: Maria Mẹ con, Maria Mẹ con”.  Đoạn đường từ Công Trường tới bệnh viện mất 8 phút, và khi xe cứu thương tới nơi thì Đức Thánh Cha đã hoàn toàn lâm vào tình trạng hôn trầm.  Tại đây, Ngài đã trải qua một cuộc giải phẫu kéo dài trong 5 tiếng đồng hồ 20 phút.   Khoảng 60% lượng máu bị mất.  Bác sĩ giải phẫu đã phải cắt đi 22 inches ruột non của Ngài.

Đối với Đức Gioan Phaolô II, sự kiện thời điểm Ngài bị mưu sát nhằm đúng ngày Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ ở Fatima phải được coi là một huyền nhiệm.  Do đó Ngài xác tín rằng chính Đức Trinh Nữ Maria đã cứu mạng sống của Ngài.  Trong thời gian tĩnh dưỡng, có lần Đức Thánh Cha tâm sự: “Bàn tay kẻ ác bóp cò súng mong lấy mạng sống của tôi, nhưng bàn tay Đức Mẹ đã điều hướng đường bay của viên đạn để cứu tôi.” ...  

(Nhà Văn Trần Phong Vũ )

Theo, Saigon Nhỏ ngày 8.4.2005, Tú Gàn :

Một cách đấu tranh kỳ lạ của ĐGH John Paul II 

TRƯỜNG HỢP CỦA BALAN  

 

... cuốn “His Holiness John Paul II and The Hidden History of Our Time” (Đức Giáo Hoàng John Paul II và Lịch Sử Bí Ẩn của Thời Đại Chúng Ta) của Carl Bernstein và Marco Politi...

        Đức Giáo Hoàng đã đến thăm Balan lần thứ hai vào năm 1983, khi phong trào Công Đoàn Đoàn Kết của Lech Walesa đang dấy lên khắp nơi và chính quyền Cộng Sản Ba Lan đã phải ban hành lệnh thiết quân luật và ra lệnh giải tán Công Đoàn để ngăn ngừa một cuộc nổi dậy...

      Đức Giáo Hoàng đã đến Ba Lan ngày 16.6.1983.  Sau khi quỳ xuống hôn đất quê hương...

        Khi đến tu viện Black Madona ở Czestochova, Đức Giáo Hoàng đã nguyện cầu:

      Thiên Chúa đã gởi Mẹ đến với chúng con để bảo vệ dân tộc Ba Lan, xin Mẹ hãy chấp nhận lời khẩn cầu này của những người thanh niên Ba Lan, của Giáo Hoàng người Ba Lan và giúp chúng con giữ vững được ý chí và hy vọng.”

Sau đó, Đức Giáo Hoàng nói với giới trẻ Ban Lan:

Các con đến với Đức Mẹ mang theo trái tim thương tích bởi những sầu muộn, có khi cả những thù hận.  Sự hiện diện của các con biểu lộ được một sức mạnh chứng tá khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng khi thấy người công dân Balan dùng chính bản thân làm phương tiện tranh đấu, với Phúc Âm trong tay, với lời kinh trên môi.  Những hình ảnh ấy vào năm 1980 đã làm cho trái tim và lương tâm thế giới vô cùng xúc động.”

Sau đó, trước sự chứng kiến của khoảng một triệu người, Đức Giáo Hoàng dâng lên Đức Mẹ tấm đai thắt lưng có một lỗ đạn do Ali Agca bắn vào ngài tại Công Trường Thánh Phêrô...”    (Tú Gàn )

*
*   * 

         Thế nhưng, tôi thấy Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II có một đời sống nội-tâm và tâm-linh vô cùng phong-phú, bén nhạy, vừa triết-lý vừa xuyên-cơ, soi rọi, xét lại, phức-tạp đến độ lắm khi tưởng như Ngài tự mâu-thuẫn với chính mình. 

         Ngài đã gác bỏ tất cả những nỗ-lực và ước-nguyện từ nhiều phía muốn Ngài chính-thức công-nhận việc Đức Mẹ hiện ra tại La Vang, Việt-Nam.  Ngài đã minh-bạch công-bố rằng:  "Tiếc thay, hiện nay không có một văn-bản tài-liệu nào (lưu-trữ tại Tòa Thánh Vatican) chứng-minh các lần Đức Mẹ hiện ra tại La Vang" :

          http://www.geocities.com/LeXuanNhuan/LaVangV.html

          http://www.geocities.com/LeXuanNhuan/LaVang 8.html 

        Khi dứt-khoát như thế, vào năm 1998, Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II đã chấp-hành đúng theo lời Chúa dạy, vì Đạo Chúa được rao-giảng là đạo của Sự Thật, và Thánh-Kinh đã viết rõ:  “Các ngươi sẽ biết Sự Thật, và Sự Thật sẽ giải-thoát các ngươi” (John 8:32).   Ngài đã không bị ràng-buộc vào sự dối-gian.

 

        Song le, Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II đã tiến xa hơn nhiều, trong trăn-trở của một người vừa là Đại-Diện Tối-Cao của Đức Chúa Trời, vừa là một nhà trí-thức lỗi-lạc của Loài Người.

Trước đó, trong buổi tổng-tiếp-kiến vào ngày 25 tháng 6 năm 1997, lần thứ 53 trong một loạt các buổi vấn đáp như thế về Mẹ Maria, Ngài đã phát-biểu một cách đặc-biệt, mà nguyên-văn đã được đăng lại trong tờ tuần-báo “L’Osservatore Romano” của Tòa Thánh như sau:

Mở đầu, Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II đã nói:

 

1.  Về sự kết-thúc cuộc sống trần-thế của Đức Mẹ, Hội Đồng dùng các từ-ngữ trong Thánh Chỉ giải nghĩa tín-điều về sự Thăng Thiên và tuyên-bố:  “Đức Mẹ Trinh-Nữ Vô-Nhiễm, vốn được gìn-giữ khỏi mọi tì-vết nguyên-tội, đã được mang lên, cả xác lẫn hồn, vào cõi vinh-hiển trên trời, khi đã hoàn-tất cuộc sống dưới đất...

         Tíếp theo, Ngài đã đưa ra một số luận-điểm như sau để phản bác tín-điều nói trên:

          Với công-thức này, Hiến Pháp Tín Điều, theo sau Đức Thánh Cha Pius XII tiền-nhiệm của tôi, đã không tuyên-bố gì về đề-tài cái chết của Đức Mẹ.  Tuy thế, Pius đã không có ý chối bỏ sự thật về cái chết của Đức Mẹ, mà chỉ đơn-giản xem như là không đúng lúc để long-trọng xác-nhận cái chết của Mẹ của Chúa là một sự thật để cho mọi tín-đồ đều chấp-nhận.    

          Trong thực-tế, một số nhà thần-học đã bảo-lưu ý-kiến của mình rằng Đức Mẹ không chết, và đã được nâng tức-thì từ sự sống dưới đất vào sự vinh-hiển trên trời.  Song le, ý-kiến này chỉ mới được biết đến vào thế-kỷ thứ 17, là lúc thành-hình một truyền-thống chung, xem cái chết của Đức Mẹ là việc Đức Mẹ nhập vào sự vinh-hiển trên trời.

 

          2.  Có thể nào Đức Bà Maria quê quán ở Nazareth đã phải trải qua cái cảnh chết-chóc trong chính thân-xác của mình hay không?  Suy-nghiệm về số-phận của Đức Mẹ và mối quan-hệ của Đức Mẹ với vị Con Thánh của Đức Mẹ, hầu như câu trả lời chính-đáng là có:  Đức Jesus đã chết, thì khó mà cứ nói ngược lại điều đó về Mẹ của Đức Jesus...

          Các vị Tổ Tiên của Giáo Hội, vốn không nghi-ngờ gì về điều này, đã lý-luận theo chiều-hướng này.  Chúng ta chỉ cần trích dẫn bài viết của Thánh Jacob of Sarug (521):  khi đã đến lúc mà Đức Bà Maria phải “bước qua con đường của mọi thế-hệ”, con đường ấy nghĩa là sự chết, thì “nhóm Mười Hai Tông Đồ” họp lại để chôn cất “tấm thân trinh-khiết của Thánh Nữ Maria”...

 

        3.  Quả thật là trong sách Khải Huyền cái chết được trình-bày như là một sự trừng-phạt tội-lỗi.  Tuy thế, việc Giáo-Hội tuyên xưng rằng Đức Mẹ được một đặc-ân thiêng-liêng cho miễn khỏi mắc tội tổ-tông không đưa đến kết-luận là Đức Mẹ bất-tử về mặt thể-xác.  Đức Mẹ không cao-siêu hơn Đức Chúa Con, mà Đức Chúa Con thì đã phải chết, điều đó có một ý-nghĩa mới và biến đổi cái chết thành một phương-cách để cứu rỗi linh-hồn.

Đức Mẹ tham-dự vào công-cuộc cứu-chuộc và liên-đới với sự hy-sinh để cứu-thế của Đức Jesus, nên Đức Mẹ có năng-lực chia sẻ sự đau-đớn và cái chết với Đức Jesus để cứu rỗi loài người.  Lời của giáo-sĩ thần-học-gia Severus nói về Đức Jesus cũng áp dụng đối với Đức Mẹ:  “Nếu không có cái chết mở đầu, thì làm sao mà có sự phục-sinh?”  Để cũng sống lại với Đức Jesus, Đức Mẹ trước tiên phải cũng chết như Đức Jesus.

 

        4.  Tân Ước không cung-cấp tin-tức gì về các cảnh-huống lúc Đức Mẹ chết.  Sự nín bặt này khiến người ta cho rằng cái chết của Đức Mẹ đã xảy ra một cách tự-nhiên, không có chi-tiết đặc-biệt nào đáng chú ý.  Nếu không, thì làm sao mà các dữ-kiện liên-quan đã được các người sống đồng-thời với Đức Mẹ giấu kín và không truyền-tụng bằng cách này hay cách khác thấu tai chúng ta ngày hôm nay?

        Về lý-do của cái chết của Đức Mẹ, các ý-kiến mong muốn rằng Đức Mẹ được miễn khỏi phải chết vì các nguyên-nhân tự-nhiên (chết như một người bình-thường) có vẻ là vô căn-cứ...

(L’Osservatore Romano, số 27, ra ngày 2 July 1997, trang 11)  

 

Tóm-tẮt vẤn-đỀ

 

          Trước Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II, nhất là trước cuộc tổng tiếp-kiến ngày 25-6-1997, khá nhiều giáo-dân tin rằng Đức Mẹ đã được nâng lên, cả xác lẫn hồn, vào cõi vinh-hiển trên trời (như một tín-điều về sự Thăng Thiên đã có từ thế-kỷ thứ 17).

        Nay Ngài đã tìm ra được căn-cứ, cũng như của nhiều vấn-nạn khác nữa, và căn-cứ đó chính là Sự Thật, khi Ngài kết-luận:  các ý-kiến mong muốn rằng Đức Mẹ được miễn khỏi chết vì các nguyên-nhân tự-nhiên (không chết như người bình-thường, để được cả xác lẫn hồn đều lên Thiên Đàng) là vô căn-cứ.

          Tôi kính phục những người như Ngài, có đầu óc mà biết vận-dụng đầu óc, chứ không thụ-động nhắm mắt đi theo bất-cứ những lối cũ-mòn nào...

GIÁO-HOÀNG JOHN PAUL II

VÀ SỰ SỤP ĐỔ

CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG-SẢN BA-LAN

  I/  TỔNG-QUÁT:

          Từ sau khi chế độ cộng-sản Ba-Lan sụp đổ, vào tháng 12 năm 1990, có nguồn dư-luận hầu khắp thế-giới cho rằng chính Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II, vốn là một người Ba-Lan, đã có công lật đổ bộ máy cai-trị vô-thần ấy, để giải-phóng cho quê-hương và đồng-bào mình.

          Trước đó, đảng cộng-sản Hung-Gia-Lợi đã bị giải-tán, dân-nhân nước này thoát ách cộng-sản kể từ tháng 10 năm 1989, nhất là Liên-Xô (USSR=United Soviet Socialist Republics= Liên-Bang Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Xô-Viết) đã bị giải-thể từ đầu năm.

          Chỉ chú-trọng vào Ba-Lan, nguồn dư-luận nói trên cho rằng Đức Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II cũng là người đã chấm dứt luôn cả các chế-độ cộng-sản khác tại Đông-Âu.

          Cái công-lao ấy đã được các giới ủng-hộ Ngài khắp nơi ngưỡng-mộ tối-đa, thậm-chí có một số người Việt-Nam chống-Cộng tin rằng nếu có một Giáo-Hoàng là người Việt-Nam thì cộng-sản Việt-Nam chắc-chắn sẽ sớm tiêu-vong trong một ngày rất gần.  

II/  HOẠT-ĐỘNG CHỐNG CS BA-LAN CỦA GH. GIOAN PHAOLỒ II (THEO GIỚI TRUYỀN-THÔNG NGƯỜI VIỆT HẢI-NGOẠI):

          1/  Theo nhà báo Tú Gàn, Báo Saigon Nhỏ ngày 8.4.2005 :

“Một cách đấu tranh kỳ lạ của ĐGH John Paul II

   Sau khi Đức Giáo Hoàng John Paul II qua đời, nhiều người ở khắp nơi trên thế giới ...  đều đã bày tỏ cảm tình yêu mến và ca ngợi về những gì ngài đã đem lại cho thế giới trong thế kỷ qua. Các cơ quan truyền thông đã dùng khá nhiều thì giờ và gíấy mực để nói về Đức Giáo Hoàng, trong đó có bàn đến việc Đức Giáo Hoàng đã góp phần vào việc làm sụp đổ các chế độ cộng sản ở Đông Âu.  Sự thật như thế nào?

   Cho đến nay, các sử liệu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa được công bố, nên chúng ta khó có thể bàn đến một cách chính xác được.  Chúng ta chỉ biết Đức Giáo Hoàng đã đến thăm hai nước cộng sản là Ba Lan và Cuba. Nhân khi thế giời đang tiển đưa ngài, chúng ta thử tìm hiểu xem Đức Giáo Hoàng đã làm gì ở hai nước này và ảnh hưởng của ngài ở đó ra sao. Tuy nhiên, trước khi đề cập đến hai biến cố đó, chúng tôi xin nói qua về cách nhìn của Đức Giáo Hoàng đối với chủ nghĩa cộng sản.   

MỘT CÁI NHÌN VỀ CỘNG SẢN

   Đức Giáo Hoàng John Paul II có tên thật là Karol Josef Wojtyla, sinh ngày 18.5.1920 tại Wadowice, Ba Lan...

   Từ năm 1948 đến 1951, cha Karol Wojtyla phụ trách giáo xứ Niegowic...  Cậu Stanislaw Wyporeck, người thư ký đánh máy của linh mục, cũng được yêu cầu báo cáo cho họ (CS) những điều linh mục đã làm hàng ngày, nhưng cậu từ chối. Một hôm, cảnh sát đến bắt cậu và đưa đến một làng gần đó đánh đập và buộc cậu thú nhận đã tham gia một tổ chức bí mật chống lại chế độ. Sáng hôm sau, Stanislaw trở về đã run rẩy và sợ hải kể lại mọi chuyện cho Linh mục Wojtyla nghe. Ngài đã an ủi cậu: “Stanislaw, đừng lo, họ sẽ tự kết liểu bản thân họ thôi.” Sau đó, ngài đã nói với những người khác trong nhóm: Chủ nghĩa xã hội không đi ngược lại những lời răn dạy của Giáo Hội, thế nhưng phương pháp của những người cộng sản thì chống lại Giáo Hội...”

   Ít năm sau Linh mục Wojtyla về làm cha xứ ở Krakow và cậu Stanislaw đã đến thăm ngài. Thấy trên giá sách của ngài có các tác phẩm của Marx, Lénin và Stalin, cậu đã hỏi: “Cha đã chuyển sang tư tưởng khác rồi sao?” Ngài trả lời: “Stanislaw! Nếu con muốn hiểu kẻ thù, con phải biết họ viết gì.” Ông khuyên cậu nói thật với cảnh sát những gì mà giới trẻ trong giáo xứ đang làm. Stanislaw kể lại: “Ông nói: Những điều xầu xa phải được khắc phục bởi những điều tốt đẹp. Chúng ta cần phải tạo ra một tấm gương tốt. Chúng ta cần thể hiện sự khiêm nhường của mình.” Đây là một cách chống cộng mà Linh mục Wojtyla muốn lưu ý cậu.

   Trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”, xuất bản năm 1995, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã nói về chủ nghĩa cộng sản như sau:

   Điều mà chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản thì thực ra đã có lịch sử rồi. Đó là lịch sử phản kháng khi đương đầu với bất công mà tôi đã nhắc đến trong thông điệp Laborem Exercens – Sự phẫn nộ chính đáng của giới thợ thuyền, tiếp theo đã biến thành một ý thức hệ. Những sự phản kháng này cũng đã trở thành một phần trong các giáo huấn của Giáo Hội... Thực tế, chính Đức Giáo Hoàng Leo XIII, theo một nghĩa nào đó, ngài đã tiên đoán chế độ cộng sản sụp đổ rồi, một sự sụp đổ mà nhân loại, nhất là Âu Châu, phải trả một giá quá đắt, bởi vì phương thuốc chữa trị, theo ngài viết từ năm 1891 trong bức thông điệp này, có thể chứng tỏ còn độc hại hơn là chính con bệnh.  Giáo Hoàng (Leo XIII) đã nói điều này với tất cả thái độ nghiêm chỉnh và uy quyền của bậc Thầy trong Giáo Hội.”

   Trong một đoạn khác, ngài đã viết:

   Vì thế, thật quá giản lược hóa khi cho rằng Thiên Chúa Quan Phòng đã trực tiếp gây ra cuộc sụp đổ chế độ cộng sản này. Theo một nghĩa nào đó, chủ thuyết cộng sản như là một hệ thống đã tự nó sụp đổ. Chế độ đó sụp đổ chính là hậu quả của những lầm lạc và lạm dụng vô độ của chủ nghĩa. Chủ nghĩa cộng sản chứng tỏ là “một phương thuốc còn nguy hiểm hơn chính con bệnh.” Chủ thuyết này đã không thành công khi muốn đem lại một cuộc đổi mới xã hội thật sự, nhưng đã trở thành một mối đe dọa mạnh mẽ và một thách đố kinh hoàng cho toàn thế giới. Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ vì những suy yếu nội tại của chính nó.” 

TRƯỜNG HỢP CỦA BALAN

    Ảnh hưởng của Giáo Hoàng đối với sự sụp đổ của chế độ cộng sản Ba Lan đã được diễn tả khá sinh động trong cuốn “His Holiness John Paul II and The Hidden History of Our Time” (Đức Giáo Hoàng John Paul II và Lịch Sử Bí Ẩn của Thời Đại Chúng Ta) của Carl Bernstein và Marco Politi ... 

    Giáo Hoàng đã đến thăm Balan lần thứ hai vào năm 1983, khi phong trào Công Đoàn Đoàn Kết của Lech Walesa đang dấy lên khắp nơi và chính quyền Cộng Sản Ba Lan đã phải ban hành lệnh thiết quân luật và ra lệnh giải tán Công Đoàn để ngăn ngừa một cuộc nổi dậy. Trong bối cảnh đó, chính quyền cộng sản Ba Lan và Tòa Thánh Vatican đã đạt được một thỏa thuận căn bản để Đức Giáo Hoàng có thể đến thăm Ba Lan : Chuyến viếng thăm này chỉ dành riêng cho vấn đề tôn giáo mà thôi...

    Giáo Hoàng đã đến Ba Lan ngày 16.6.1983. Sau khi quỳ xuống hôn đất quê hương, ngài đã lên kêu gọi những người đang bị bắt bớ ở Ba Lan:

    Cha kêu gọi những người bị đày đọa hãy đến đây với cha. Cha kêu gọi lời này thay lời Chúa Jesus: Cha đã bị ốm và các con hãy đến thăm cha. Cha bị giam cầm, các con hãy đến với cha. Bản thân cha không thể tới thăm các con chiên đang bị giam cầm (đám đông xúc động), đến thăm tất cả các con chiên đang bị đày đọa. Nhưng cha kêu gọi họ hãy đến với cha trong tinh thần giúp đỡ cha, như họ vẫn luôn làm.”...

    Tướng Jaruzelski nhớ lại: “Đức Giáo Hoàng đã không đưa ra một tối-hậu-thư...  Ngài nói về giá trị của con người. Ngài nói rằng nhà nước phải quan tâm đến từng cá nhân con người, rằng đối thoại luôn luôn phải cần đến, và rằng tất cả các Công Đoàn có quyền tồn tại.” Ngài không tranh-luận quyết-liệt, mặc dầu ngay từ đầu hai bên đã có những bất đồng nghiêm trọng. Tướng Jaruzelsk thưa với Giáo Hoàng: “Xin ngài dùng ảnh-hưởng của ngài giúp chúng tôi cô-lập phái quá-khích trong Công-Đoàn Đoàn-Kết, giúp chúng tôi bỏ lệnh cấm-vận của phương Tây, nhất là Mỹ.” Đức Giáo-Hoàng trả lời: “Tôi quan-tâm đến việc đạt tới một tình-trạng bình-thường càng sớm càng tốt”...

   Cũng như đa số người Việt, người Công giáo Balan muốn Giáo Hoàng lên tiếng chống chế độ cộng sản Ba Lan một cách nào đó để đưa chế độ này đến chỗ sụp đổ. Họ muốn ngài nói tiếng “Solidarity” biểu tượng cho phong trào Công Đoàn Đoàn Kết. Các ký giả Tây phương cũng vậy. Nhưng ngài đã không nói theo cách họ trông đợi mà giảng về một đề tài phức tạp hơn: “Hãy phân biệt rõ cái tốt và cái xấu”... Ngài nói: “Tùy vào các con mà có thể ngăn được sự suy đồi luân lý hay không, mà nói lên sự đoàn kết giữa con người hay không.”

   Buổi tối, hàng chục ngàn người đã diễn hành... Khi đi ngang qua tòa nhà của Trung Ương Đảng Cộng Sản Balan, đoàn thanh niên đã hô to: “Solidarity! Solidarity! Walesa! Dân Chủ!.” Khi họ tập trung lại, Đức Giáo Hoàng nói:

    Con người được kêu gọi để chiến thắng chính mình. Chính các vị thánh và các chân phước sẽ chỉ lối cho chúng con đường chiến thắng – sự chiến thắng mà Thiên Chúa đã đạt được trong lịch sử nhân loại.” Sự chiến thắng ấy đòi hỏi “lối sống trong sự thật, nghĩa là biết yêu thương người lân cận, nghĩa là biết đoàn kết giữa con người, nghĩa là trở về với lương tâm, gọi thẳng tên sự lành và sự dữ chứ không mập mờ..., nghĩa là phát triển nơi sự lành và tìm cách sửa sai sự dữ từ chính nơi ta.”

   Khi đến tu viện Black Madona ở Czestochova, Giáo Hoàng... nói với giới trẻ Ban Lan:

    Các con đến với Đức Mẹ mang theo trái tim thương tích bởi những sầu muộn, có khi cả những thù hận. Sự hiện diện của các con biểu lộ được một sức mạnh chứng tá khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng khi thấy người công dân Balan dùng chính bản thân làm phương tiện tranh đấu, với Phúc Âm trong tay, với lời kinh trên môi. Những hình ảnh ấy vào năm 1980 đã làm cho trái tim và lương tâm thế giới vô cùng xúc động.”

    Sau đó, trước sự chứng kiến của khoảng một triệu người, Giáo Hoàng dâng lên Đức Mẹ tấm đai thắt lưng có một lỗ đạn do Ali Agca bắn vào ngài tại Công Trường Thánh Phêrô. Cả một khối người chăm chú, ngất ngất. Họ hô lên: “Xin ở lại với chúng con! Xin ở lại với chúng con!”...

       Có người cho rằng các chế độ cộng sản Đông Âu đã sụp đổ là do những mục nát từ bên trong. Nhưng trong thập niên 1980s hai chế độ cộng sản Việt NamCuba còn mục nát hơn các chế độ cộng sản Đông Âu. Hơn nữa, CSVN đã sống bám vào các chế độ cộng sản Đông Âu và đã trở thành một trong những nước nghèo nhất thế giới. Tại sao hai chế độ này đã không sụp đổ?

   Tờ “Inside the Vatican” (Bên trong Vatican) số ra ngày 4.4.2005, cho biết trong một cuộc phỏng vấn, Đức Hồng Y Joachim Meisner, Tổng Giám Mục Cologne ở Đức, người đã từng sống dưới thời cộng sản Đông Đức, cho biết người dân Đông Đức ghi ơn Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vì ngài đã giúp làm sụp đổ chế độ cộng sản...  

TRƯỜNG HỢP CỦA CUBA

   Năm 1998, Giáo Hoàng đã đến thăm Cuba ... (vân vân)… theo tác giả  Tú Gàn              

          2/  Theo nhà văn TRẦN PHONG VŨ :  

ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH CS. CỦA CÔNG GIÁO & ĐGH JP II

Quả vậy... Với tư cách là con dân đất nước, Đức Gioan-Phaolô 2 đã tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền của người dân Ba Lan... Ngài cực lực tranh đấu cho nhân quyền của mọi người dân trên thế giới, trong đó có quyền được sống tự do theo niềm tin tôn giáo của mình trong sự kính trọng mọi tôn giáo anh em.

Rất nhiều người, thiện cảm với Giáo Hội Công Giáo La Mã cũng có mà ác cảm hoặc chống đối cũng có, thường nghĩ như thật rằng : "Vatican là một ổ gián điệp thế giới, đã từng ngấm ngầm cấu kết với đế quốc Mỹ để 'chống cộng' đến kỳ cùng. Và cộng sản mà có sụm ba chè là cũng nhờ có bàn tay lông lá của Mỹ và nhất là mật vụ của Vatican nhúng vào". Đúng hay sai là một chuyện, nhưng quan điểm của vị giáo chủ Vatican thì hoàn toàn khác. Thực vậy, 3 tháng sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, Đức Gioan-Phaolô 2 tuyên bố vào ngày 21/02/1990 trong khi tiếp đoàn người hành hương tại Vatican : "Chính Thiên Chúa đã thắng ở Phương Đông"...

Ngược đời ở chỗ là Lòng Tin cho thấy có bàn tay Thiên Chúa trong những biến cố xảy ra trong trần thế, nơi con người và xã hội loài người, do bởi chính con người chủ động làm ra. Trong quyển "Bước vào ngưỡng cửa hy vọng" xuất bản năm 1994, Đức Gioan-Phaolô 2 giải thích nguyên do trước mắt, có thể kiểm chứng được, của sự tan rã của chế độ cộng sản Liên Xô: "Chính hệ thống cộng sản đã, một cách nào đó, tự nó làm cho nó sụp đổ. Sự sụp đổ của nó là hậu quả của những hành động sai lầm và quá khích của nó. Muốn chữa bệnh, nó lại nguy hại hơn chính con bệnh. Trở thành một đe dọa hùng hậu và một thách đố ghê gớm (đối với xã hội), nó lại không thành công cải tạo thật sự xã hội. Cộng sản tự suy sụp, do bởi nội lực của nó yếu kém."

  Không "chống cộng" và không "dương uy"

Tuy vậy, nhiều người vẫn còn nghĩ rằng Gioan-Phaolô 2 có đóng một vai trò trực tiếp và quan trọng trong vụ này. Họ cho rằng Ngài phải là một người tài trí xuất chúng, đầy mưu lược, "chống cộng cùng mình", bởi vì Ngài là giáo chủ một tôn giáo không đội trời chung với cộng sản và nhất là vì Ngài đến từ một đất nước mà người công giáo có tiếng là thành phần chống cộng lì nhất thế giới. Không, không hoàn toàn như vậy đâu! Ngài và Giáo Hội Công Giáo ngày nay nhất định không "chống cộng" theo cái nghĩa phe đảng, bè phái, cục bộ, giáo điều, bất bao dung, điên rồ, cố chấp trong thái độ "không đội trời chung", và càng không theo cái nghĩa "tay sai", "vụ lợi" hay "bán linh hồn" cho ai cả!

 

       3/  Theo nhà báo TrẦn ĐẠi HẢi:

  Fri, 24 Feb 2006 15:02:57 +0100 TRAN DAI HAI : Danh Tong Thong Dien

( Đánh tổng thống điên? )

Ngày 15.2.2006 Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice đã đề nghị quốc hội Mỹ chi ngân khoản 75 triệu Mỹ kim để sử-dụng vào việc ‘dân chủ hoá’ Iran.
Ngân sách này sẽ được bổ sung vào ngân khoản 60 triệu mà quốc hội Mỹ đã thông qua cho cho năm tài khoá 2006... Bộ ngoại giao Mỹ hy vọng là sẽ khuấy động lên một phong trào chính trị tại Iran tương tự phong trào Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan trong thập niên 80.

       4/  Theo 2 bài báo tiêu-biểu của 2 tác-giả Ky-Tô-Giáo trích trên, thì:

a)  Ông Tú Gàn viết:   Trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”, Giáo Hoàng John Paul II đã nói về chủ nghĩa cộng sản như sau:  thật quá giản lược hóa khi cho rằng Thiên Chúa Quan Phòng đã trực tiếp gây ra cuộc sụp đổ chế độ cộng sản này.”

Trước đó, trong bài “Chỉ Làm Công Cụ Thôi” đăng trên “Saigon Nhỏ” ngày 13-8-2004, ông Tú Gàn đã viết:  Ðức Giáo Hoàng không hề “lên tiếng chống lại những hành vi chà đạp của nhà nước CS đối với tự do tôn giáo và những phẩm giá khác của con người cũng như những tương quan công lý và đạo đức trong xã hội” như Linh mục Trần Xuân Tâm và nhóm Diễn Ðàn Giáo Dân đã đòi hỏi Ðức Hồng Y Nguyễn Vãn Thuận và HÐGMVN...

          b)  Ông Trần Phong Vũ viết:  nhiều người vẫn còn nghĩ rằng Đức Gioan-Phaolô 2 có đóng một vai trò trực tiếp và quan trọng trong vụ này. Họ cho rằng Ngài phải là một người... Không, không hoàn toàn như vậy đâu!

          Cũng như ông Tú Gàn, ông Trần Phong Vũ đã trích dẫn một đoạn văn nổi bật của chính Gioan PhaoLồ II viết:  "Chính hệ thống cộng sản đã, một cách nào đó, tự nó làm cho nó sụp đổ. Sự sụp đổ của nó là hậu quả của những hành động sai lầm và quá khích của nó... Cộng sản tự suy sụp, do bởi nội lực của nó yếu kém."

          Ông Trần Phong Vũ còn ngụ ý nói là Đức cố Giáo-Hoàng không hợp-tác với Hoa-Kỳ trong vụ này.  

   

      5/  Theo bài báo của ông Trần Đại Hải thì:

Ngày 15.2.2006 Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice... Bộ ngoại giao Mỹ hy vọng là sẽ khuấy động lên một phong trào chính trị tại Iran tương tự phong trào Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan trong thập niên 80.

          Ông Trần Đại Hải xác-nhận là có bàn tay khuấy-động của Hoa Kỳ trong vụ Ba-Lan.  

          Về sự mâu-thuẫn hoặc khó hiểu này, ông Tú Gàn viết: “Cho đến nay, các sử liệu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa được công bố, nên chúng ta khó có thể bàn đến một cách chính xác được.”  

III/  BA-LAN KỶ-NIỆM 25 NĂM THOÁT ÁCH CỘNG-SẢN (1990-2005):  

          Ngày 30-8-2005, Ba-Lan hân-hoan tổ-chức Lễ Kỷ-Niệm 25 Năm Công-Đoàn Đoàn-Kết tại nhiều thành-phố ở Bắc Ba-Lan, địa-điểm chính là Gdansk, cái nôi của phong-trào và lực-lượng chống Cộng do Lech Walesa lãnh-đạo; và chính Lech Walesa (người lật đổ cộng-sản, lên làm Tổng-Thống từ 1990 đến 1995) đến chủ-tọa và thuyết-trình.  Đương kim Tổng thống Balan, ông Alexandre Kwasniewski (trước kia là cộng-sản) có đến phát-biểu ở phần khai-mạc...

Trong số quan-khách (có cả phái đoàn Việt-Nam), có ông Dan Fried, phụ tá Ngoại-Trưởng Hoa-Kỳ đặc trách Âu châu và Âu Á sự vụ, và tiến sĩ Zbigniew Brzezinski, cựu cố vấn an ninh quốc gia Hoa-Kỳ, lên thuyết-trình...

Nhà báo Đông Giang TỬ đã viết bài tường-thuật tại chỗ.   

Điều đáng nói hơn hết là, theo bài tường-thuật, nhân-vật chủ-chốt Lech Walesa, trong suốt buổi lễ, nhất là trong bài nói chuyện, đã không đề-cập gì đến, dù chỉ cái tên, nói gì công-trạng, của Đức Cố Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II trong sự-nghiệp giải-thể chế-độ cộng-sản Ba-Lan.

Không lẽ ông Lech Walesa không nhớ đến cố Giáo-Hoàng, mới chết vào ngày 02-4-2005, trước đó chưa đầy 5 tháng, hoặc giả ký-giả Đông Giang Tử ghi sót?

Nhưng đó là chuyện nhỏ, của cá-nhân.  Còn về chuyện lớn, của lịch-sử?

*
*    *

Về các sử-liệu liên-quan đến vấn-đề này, tôi sẽ thử tìm hiểu thêm và trình-bày sau, ít nhất là về các điểm sau đây:

-- Phần đóng góp của Cố Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II, mà kẻ thì nói là có, người thì nói là không; ngay chính Ngài cũng không nhận công của mình mà nói là do Thiên-Chúa an-bài và do cộng-sản tự-hủy;

-- Phần đóng góp của Hoa-Kỳ (đặc-biệt cơ-quan CIA); v.v...  

        Còn về lý-do tại sao Liên-Xô để yên cho Ba-Lan, là một nước chư-hầu của Liên-Xô, vượt thoát ra khỏi gọng kìm của mình, mà không có một phản-ứng nào cả, thì tôi tạm ghi dưới đây một ít dấu mốc thời-gian, để tự chúng giải-đáp câu hỏi này :  

        1970:  Kinh-tế, huyết-mạch chính của Liên-Xô bắt đầu trì-trệ.  Tại Ba-Lan, có Lech Walesa cùng các công-nhân khác tại bến tàu Gdansk đòi lập công-đoàn tự-do (không quốc-doanh), bị chính-quyền cộng-sản bắt. 

        1971:  Liên-Xô bớt căng-thẳng với Hoa-Cộng; đồng-thời Tổng-Bí-Thư Brezhnev mở các cuộc đàm-phán với Hoa-Kỳ.

        1972:  Tổng-Thống Hoa-Kỳ Nixon viếng Mạc-Tư-Khoa; hai bên ký thỏa-ước hạn-chế vũ-khí chiến-lược (SALT-1), mở đầu thời-kỳ hết căng-thẳng.

1973:  Chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt, chấm dứt đụng-độ quân-sự giữa hai Khối; Brezhnev viếng Tây-Đức vào tháng 5, viếng Hoa Kỳ vào tháng 6.

        1973:  Lê Xuân Nhuận bắt đầu tấn-công điệp-báo vào 2 nước cộng-sản Ba-LanHung-Gia-Lợi, từ tháng 9.

        1975:  Kinh-tế Liên-Xô bắt đầu khủng-hoảng trầm-trọng, nhất là vì chạy đua không-gian, ảnh-hưởng xấu trên mọi lãnh-vực.

         1978:  Walesa cùng các đồng bạn lập nhiều công-đoàn tự-do tại nhiều nơi.  Hồng-Y Karol Wojtyla được bầu làm Giáo-Hoàng ngày 16-10, lấy danh-hiệu là John Paul II.

1979:  Brezhnev ký thỏa-ước SALT-2 với tổng-thống Hoa-Kỳ Carter vào tháng 6,  nhưng (không thông-qua Bộ Chính-Trị Đảng mà tự-ý) can-thiệp vào Afghanistan vào tháng 12, nên bị Hoa Kỳ cấm vận lúa gạo, khiến Liên-Xô suy-yếu thêm.

        1979:  Đồng-thời, Gorbachev (thuộc thế-hệ mới, sinh sau Cách-Mạng 1917) vào Bộ Chính-Trị Trung-Ương Đảng, coi về Tổ-Chức (Nhân-Sự), có đầu óc phóng-khoáng, lãnh-hội tinh-hoa sinh-hoạt chính-trị Tây-Phương (cầm đầu phái-đoàn đi Tây-Đức năm 1975, đi Canada hội-đàm với thủ-tướng Trudeau năm 1983, đi Anh gặp nữ-thủ-tướng Thatcher năm 1984), chú-trọng nâng-đỡ thế-hệ trẻ.

        Giáo-Hoàng John Paul II viếng Hoa-Kỳ lần đầu tiên vào tháng 10 (gặp Tổng-Thống Carter vào ngày 6), sau khi đã về thăm Ba-Lan lần đầu tiên vào tháng 6.

        1980:  Lech Walesa, vốn bị sa-thải vì đòi tăng lương vào năm 1976, được công-nhân tranh-đấu đòi tái-dụng, trở lại bến tàu Gdansk và được bầu làm thủ-lãnh Công-Đoàn, từ nay mang tên “Đoàn-Kết”.  Công-đoàn tranh-đấu bất-bạo-động, ra đời trong bối-cảnh khủng-hoảng nội-bộ của các xã-hội rập khuôn Xô-Viết, đạo-đức suy-đồi, mức sống xuống dốc, chính-quyền Ba-Lan gặp phải khó-khăn kinh-tế hơn 10 năm qua.   Có các giới khác kể cả sinh-viên và trí-thức cùng tham-gia.  Nhờ Đài Phát-Thanh Âu-Châu Tự-Do cổ-vũ cùng các màn lưới rỉ tai, công-đoàn dần-dà trở thành phong-trào chính-trị chống-Cộng lan khắp Ba-Lan và các nước đồng-cảnh xung quanh.  Các cuộc đình-công phản-kháng gây đình-trệ cho sinh-hoạt chung, nhà cầm quyền phải nhượng-bộ, chấp-thuận quyền đình-công và lập công-đoàn riêng, từ ngày 31 tháng 8.

         Walesa được Tổ-Chức Lao-Động Quốc-Tế (International Labor Organization) mời đi du-thuyết tại Ý, Nhật, Thụy-Điển, Pháp, Thụy-Sĩ...

        1981:  Brezhnev trở nên quá-khích (tài-liệu mới đây cho biết là y đã chủ-mưu vụ ám-sát 'hụt' Giáo-Hoàng John Paul II).  Cộng-đảng Ba-Lan đàn-áp, giải-tán công-đoàn Đoàn-Kết và bắt Walesa vào ngày 13-12.

        1982:  Cộng-đồng quốc-tế phản-đối, các tu-sĩ Ky-Tô-Giáo cầu-nguyện, tổng-thống Reagan cấm vận kinh-tế Ba-Lan, và CIA chính-thức tài-trợ cho các hoạt-động bí-mật của công-đoàn Đoàn-Kết, từ nay hòa lẫn trong quần-chúng.

        1983:  Walesa được trao tặng giải Nobel về Hòa-Bình vào ngày 5 tháng 10 (nhưng không được phép xuất-cảnh, vợ đi lãnh thay).  Tổng-Bí-Thư Đảng Gorbachev và Tổng-Thống Hoa-Kỳ Reagan gặp nhau, ký kết cải-thiện quan-hệ Đông-Tây.

         1983:   Giáo-Hoàng John Paul II về thăm Ba-Lan lần thứ hai, vào tháng 6.

        1985:  Gorbachev, Tổng-Bí-Thư Liên-Xô, chủ-trương Perestroika (cải-cách kinh-tế và xã-hội, cho phép tư-hữu và ngoại-thương) cùng với Glasnost (cởi-mở tư-duy, cho phép tự-do ngôn-luận, phóng-thích tù chính-trị và đối-lập); mưu-cầu quan-hệ và giao-thương với Tây-Phương; được Tây-Phương hoan-nghênh "Tư-Tưởng Mới".

            1985:  Hung-Gia-Lợi bắt đầu phát-động phong-trào giải-thể “Minh Ước Vác Xô Vi” (WARSAW PACT= tổ-chức liên-quân Liên-Xô đặt tại Ba-Lan) và chuyển qua dân-chủ đa-đảng cùng kinh-tế thị-trường.

1986:  Gorbachev gặp Tổng-Thống Hoa-Kỳ Reagan vào ngày 11 tháng 10, đàm-phán về việc giảm-thiểu vũ-khí và lực-lượng hạt nhân tại Âu-Châu (sau đó ký-kết thỏa-ước INF).  Hằng loạt tù chính-trị Ba Lan được trả tự-do, Walesa thiết-lập cơ-cấu công-đoàn Đoàn-Kết công-khai và hợp-pháp.

1987:  Gorbachev phát-động dân-chủ-hóa, cho phép bầu-cử đa-ứng-viên vào guồng máy chính-trị Xô-Viết.

1988:  Gorbachev triệt-để đổi mới, rút quân Xô-Viết ra khỏi Afghanistan vào tháng 2, giảm bớt ảnh-hưởng của Đảng trong cơ-cấu Nhà-Nước từ tháng 6, thành-lập Quốc-Hội Đại-Biểu Nhân-Dân, cơ-cấu lập-pháp cho phép tu-chính Hiến-Pháp vào tháng 8; và quan-trọng hơn hết là công-bố từ-bỏ chủ-thuyết bá-chủ của Breznev, cho phép các nước trong Khối cộng-sản Đông-Âu tự-quyền quyết-định mọi việc nội-bộ của mình. Việc này dẫn đến một loạt các cuộc cách-mạng lật đổ các chế-độ cộng-sản tại Đông-Âu từ đó cho đến năm 1989.  Kinh-tế Ba-Lan tồi-tệ nhất sau 8 năm liên-tiếp èo-ọp, và Liên-Xô hết muốn, và không còn sức, nâng-đỡ cho chế-độ nhà-nước bù-nhìn Ba-Lan. Cộng-sản nước này phải xin thương-thuyết với Walesa, sau nhiều đợt tranh-đấu quyết-liệt của công-đoàn. 

1989:  Gorbachev tổ-chức bầu-cử quốc-hội kiểu mới tại khắp các nước trong Liên-Bang, chấm dứt chủ-nghĩa công-sản, vào tháng 3 và 4.  Công-đoàn Đoàn-Kết ở Ba-Lan đạt thắng-lợi, được hợp-thức-hóa và có ứng-cử-viên vào quốc-hội.   

1989:  Cộng-sản Hung-Gia-Lợi bị giải-thể vào ngày 23-10.  Chính-phủ không cộng-sản nước này mở cửa biên-giới cho dân Đông-Đức chạy qua tị-nạn từ ngày 10 tháng 9.  Bức tường Bá-Linh được khai-thông từ ngày 9 tháng 11.

1990:  Gorbachev trở thành Tổng-Thống Liên-Bang Nga vào ngày 15-3, được tặng giải thưởng Nobel về Hòa Bình ngày 15-10. Bộ bách-khoa từ-điển New “Encyclopaedia Britannica” mệnh-danh Gorbachev là “người khởi-xướng duy-nhất và quan-trọng nhất của một loạt các biến-cố cuối năm 1989 và trong năm 1990 thay-đổi cơ-cấu chính-trị Âu-Châu đồng-thời mở đầu giai-đoạn kết-thúc của cuộc Chiến-Tranh Lạnh”.

1990: Cộng-sản Ba-Lan bị giải-thể vào ngày 25-12, Walesa được bầu làm Tổng-Thống.  

        Các hoạt-động, và lời phát-biểu liên-quan, về sau, chỉ là dựa theo kết-quả mà Gorbachev của Liên-Xô nói chung, và Walesa của Ba-Lan nói riêng, đã đạt được trước rồi.

 

LÊ XUÂN NHUẬN

NGƯỜI ĐÃ CHẾT

NHƯNG CHUYỆN CHƯA HẾT

 

        Sau khi Đức Giáo-Hoàng Gioan PhaoLồ II qua đời, có một số vấn-đề đã nảy sinh ra.

        Chúng tôi xin lần-lượt ghi lại để rộng đường dư-luận.

1/  Đức tân Giáo-Hoàng Benedict XVI đã kịch-liệt công-kích thuyết tiến-hóa (evolution) mà Đức cố Giáo-Hoàng John Paul II đã tuyên-bố năm 1996 rằng nó không phải chỉ là một giả-thuyết. 

Subject: Intelligent Design Not Science, Vatican Says

Date: Fri, 18 Nov 2005 13:33:47 -0800

Intelligent Design Not Science, Vatican Says

November 18, 2005

VATICAN CITY -- The Vatican's chief astronomer said Friday that Intelligent Design Theory isn't science and doesn't belong in science classrooms, the latest high-ranking Roman Catholic official to enter the evolution debate in the United States.

The Rev. George Coyne, the Jesuit director of the Vatican Observatory, said placing intelligent design theory alongside that of evolution in school programs was "wrong" and was akin to mixing apples with oranges.

"Intelligent design isn't science even though it pretends to be," the ANSA news agency quoted Coyne as saying on the sidelines of a conference in Florence. "If you want to teach it in schools, intelligent design should be taught when religion or cultural history is taught, not science."

His comments were in line with his previous statements on "intelligent design" -- whose supporters hold that the universe is so complex that it must have been created by a higher power.

Proponents of intelligent design are seeking to get public schools in the United States to teach it as part of the science curriculum. Critics say intelligent design is merely creationism -- a literal reading of the Bible's story of creation - camouflaged in scientific language, and they say it does not belong in science curriculum.

In a June article in the British Catholic magazine The Tablet, Coyne reaffirmed God's role in creation, but said science explains the history of the universe.

"If they respect the results of modern science, and indeed the best of modern biblical research, religious believers must move away from the notion of a dictator God or a designer God, a Newtonian God who made the universe as a watch that ticks along regularly."

Rather, he argued, God should be seen more as an encouraging parent.

"God in his infinite freedom continuously creates a world that reflects that freedom at all levels of the evolutionary process to greater and greater complexity," he wrote. "He is not continu