
Bài viết này đăng lại với sự đồng
ý trước của tác giả. Gđ hân hạnh giới thiệu trang nhà của NHV, theo
đường URL: http://perso.wanadoo.fr/nguyen.hoai.van/Muc-Luc.htm
NHỮNG ĐIỆU HÁT QUEN TAI Nguyễn
Hoài Vân Ba mươi năm đã qua. Một thế hệ. Một
quãng thời gian mênh mông. Một bước dài trên cuộc hành trình của Lịch
Sử… Với thời gian trôi, là sự vật đổi thay, thiên biến vạn hóa. Nó
cuốn theo con thuyền Việt Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta có
thực sự tiến hóa theo nhịp độ của cuộc sống hay không ? Tư duy của
chúng ta, so sánh với ba mươi năm về trước, có những khác biệt nền tảng
nào ? Những trang Lịch Sử dự phóng mà chúng ta viết lên trong đầu
chúng ta, cái sơ đồ của tương lai mà chúng ta hiện đang hình dung, ngày
nay, khác với khi xưa chỗ nào ? Sơ đồ ấy, trên nguyên tắc phải đến
từ sự phân tích thực tại một cách chính sác, rồi nhận ra được những
mâu thuẫn của thực tại ấy và mô phỏng ra những con đường vượt lên
trên các mâu thuẫn này để đi vào tương lai. Vấn đề là chúng ta có thực
sự nhìn vào thực tại hay không ? Hoặc giả chúng ta vẫn nhắm mắt
nhìn một giấc mộng , một chuỗi những niềm tin được thể nhập vào những
« thực tại » tưởng tượng của một thế giới … trong mơ !
Có những bài hát, những điệu ru
quen thuộc, êm ả, trầm ấm, đã đưa tư duy vào giấc ngủ. Rồi, trong
cái cảnh giới mộng mơ của những bài hát ấy, Lịch Sử không còn chuyển
hóa, mọi sự mọi vật như ngừng lại trong một thiên đường tưởng tượng.
Những bài hát ấy là những bài hát nào ? Có ba bài hát, thường được lập
đi lập lại trên mọi đầu môi chót lưỡi, được trải ra trên trăm ngàn
trang giấy, với những nhịp điệu khác nhau, những kỹ thuật hòa âm ít
nhiều phong phú, được trình tấu bởi những giàn nhạc vĩ đại hay xướng
lên bởi vài ca sĩ lẻ loi … Thật vậy , muôn ngàn diễn văn, phát biểu,
thuyết trình, xã luận, không kể mọi tuyên ngôn tuyên cáo đủ loại đủ
cỡ, xét cho cùng, cũng không ra ngoài ba bài hát quen thuộc. Đó là :
dân chủ, kinh tế thị trường và bài ca phát triển … Chúng chứa đựng những mâu thuẫn
và bế tắc, đưa đến một khẳng định : tương lai nhân loại không
thể là sự nối dài và chắp vá của ba yếu tố này như người ta hiện
vẫn thường quan niệm. DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG : Người ta thường tin tưởng rằng dân
chủ và kinh tế thị trường có tác dụng hỗ tương, đặc biệt là kinh tế
thị trường giúp cho sự hình thành của dân chủ, và dân chủ là yếu tố cần thiết cho sự phát triển
của kinh tế thị trường. Thật ra, bên dưới những khía cạnh hợp tác
trên bề mặt (1), ở trong chiều sâu, dân chủ và kinh tế
thị trường có những mâu thuẫn nền tảng. Dân chủ (trong bài này dân chủ có
nghĩa là dân chủ nghị trường), trong sự
hoạt động của nó, cần đến những cấu trúc lệ thuộc vào một biên
giới rõ ràng, thông thường nhất là biên giới quốc gia. Thị trường,
ngược lại, không biết đến ranh giới. Môi trường hoạt động của nó
rốt rào là toàn cầu. Những quyết định của thị trường có thể mâu
thuẫn với những quyết định dân chủ của người dân một quốc gia. Thị
trường có thể áp đặt quy luật của mình trên luật lệ an sinh xã hội,
luật lao động, luật tài chánh, thuế khóa, hối đoái v.v… của một quốc
gia. Áp lực của thị trường có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Ảnh hưởng
điều chế của dân chủ trên áp lực của thị trường thì, ngược lại,
có khuynh hướng ngày càng suy giảm, ngay cả tại các nước tiền tiến. Một
chính phủ hữu khuynh hay tả phái tại Pháp, Đức, Ý, hay Tây Ban Nha, rốt
cuộc cũng vẫn phải chọn một con đường thực tế, tức là phù hợp với
những đòi hỏi của thị trường tự do trong cái thế toàn cầu không thể
tránh được. Mặt khác, dân chủ hướng đến đồng
thuận, trong khi kinh tế thị trường trong bản chất là cuộc chiến của mọi
người chống lại mọi người, để tranh thủ lợi nhuận và để sống còn.
Dân chủ tìm sự điều tiết, tìm con đường trung hòa, trong khi kinh tế thị
trường tìm sự phát triển không hạn chế càng nhanh càng tốt. Đình trệ,
đối với một công ty, là bước đầu của suy thoái, và suy thoái, là con
đường dẫn đến tiêu diệt. Lý tưởng của dân chủ là quyền lợi của
đại đa số, trong khi bản chất của kinh tế thị trường đưa đến việc
tập trung lợi nhuận vào tay một số người càng ngày càng thu hẹp. Thật
vậy, hai trăm hai mươi lăm người giàu có nắm giữ hơn phân nửa lợi nhuận
của toàn nhân loại. Trong một thể chế dân chủ, con người là mục tiêu
cuối cùng của tất cả, trong khi lý luận của kinh tế thị trường cho
con người chỉ là công cụ của sản xuất và tiêu thụ, là guồng máy điều tiết sự tiêu thụ hàng hóa đồng
thời cũng chính là hàng hóa. Những giá trị rất được tôn quý của con
người, như nghệ thuật, tôn giáo, và ngay cả y tế, trong kinh tế thị trường
cũng rơi vào khuôn khổ của hàng hóa. Chúng ta có thể tiếp tục nêu lên
nhiều mâu thuẫn tương tự giữa dân chủ và kinh tế thị trường … DÂN CHỦ VÀ KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG TRƯỚC CÁC VẤN NẠN CỦA THỜI ĐẠI : ĐỐI KHÁNG VỚI
THIÊN NHIÊN Chúng ta đang đứng trước những nguy
cơ có thể đưa đến sự sụp đổ của xã hội con người. Trữ lượng dầu
hỏa chỉ còn 40 năm, khí đốt 70 năm, uranium 55 năm. Hàng năm diện tích rừng
bị phá hủy rộng bằng gần nửa diện tích của nước Việt ĐỐI KHÁNG GIỮA CON
NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI Bên cạnh đó, là sự đối kháng giữa
con người với con người. Mỗi 4 giây đồng hồ có một người chết đói
(Assoc.Action Contre la Faim – 17/10/2004). 1,3 tỷ người có dưới 1 MK lợi tức
mỗi ngày. 2,6 tỷ không có được những phương tiện vệ sinh căn bản. 1
tỷ người không có nhà cửa đúng nghĩa. 1,3 tỷ người không có nguồn nước
sạch. 880 triệu người không với đến được những cấu trúc y tế. 840
triệu người thiếu ăn trầm trọng. Trong khi đó mức tiêu thụ toàn cầu
tăng lên gấp 6 lần từ thập niên 50 cho đến cuối thập niên chín mươi. 86 % của sự tiêu thụ ấy đến từ 20 %
người giàu. Những người này chiếm hữu 58 % năng lượng trên thế giới,
trong khi 20 % người nghèo nhất chỉ sử dụng có 4 % năng lượng. Hai mươi
phần trăm người giàu nhất tiêu thụ 45 % thịt và cá đối với 5 % thịt
cá tiêu thụ bởi 20 % người nghèo. Ba người giàu nhất trên thế giới
có tài sản cao hơn tổng sản lượng của 48 quốc gia nghèo nhất. Để đạt
được chỉ tiêu giáo dục cơ bản nhất cho các nước nghèo, cần khoảng
6 tỷ MK ngân sách phụ trội cho ngân sách hiện có. Số tiền ấy chưa bằng
tiền túi của trẻ em Pháp (7 tỷ MK 1 năm, 1/3 tổng sản lượng quốc gia của
Việt Người ta thường nghĩ các nước giàu
giúp tiền cho các nước nghèo. Sự thực là ngược lại : các nước
nghèo phải trả cho các nước giàu khoảng 250 000 MK mỗi phút, do tiền lời
của những món nợ khổng lồ không bao giờ trả nổi số vốn. Áp lực
tài chánh kinh khủng này khiến các nước nghèo sãn sàng bán tất cả những
gì họ có, sẵn sàng chấp nhận ô nhiễm và các tai họa mội sinh (thí dụ
khi phá rừng), sẵn sàng chuyển hướng canh tác sang các hoa màu có thể xuất
cảng được (thí dụ cà phê) thay vì những hoa màu đem lại thực phẩm nuôi
dân, sẵn sàng chấp nhận những điều kiện thiệt thòi trên khía cạnh
con người để thu hút vốn đầu tư, để liên doanh hay hợp doanh với các
công ty ngoại quốc. Thậm chí những món tiền trợ cấp hay cho vay đến từ
các nước giàu lại thường rơi trở vào tay các đại công ty của chính
các nước này. Nhiều màn « xóa nợ » cũng không ra ngoài mô thức
ấy (2). Cùng lúc ấy, những nước giàu như
Hoa Kỳ lại xây dựng sức mạnh của mình, kể cả sức mạnh quân sự vô
địch, trên những món nợ khổng lồ không kém, tức trên sự đóng góp của
tất cả người dân của các quốc gia cho Hoa Kỳ vay tiền, cùng với những
người dân trực tiếp hay gián tiếp sử dụng đồng Mỹ Kim trong việc mua
bán, trao đổi, tức hầu hết con người trên thế giới … Áp lực của nạn thất nghiệp cũng vô
cùng nặng nề. Giữa năm 1993 và năm 2003, số người thất nghiệp trên thế
giới tăng từ 140,4 triệu người lên 186 triệu người, theo phúc trình cũa
ILO (International Labour Organization) thuộc Liên Hiệp Quốc. Đây là con số
cao nhất chưa bao giờ đạt tới. Ngay cả trong vùng Đông Á với những chỉ
số phát triển cao nhất thế giới, số người thất nghiệp cũng gia tăng.
Tỷ số thất nghiệp tại Đông Nam Á là 3,9% năm 1993 và 6,3% năm 2003. Áp lực
thất nghiệp đưa đến những nhân nhượng của các nước nghèo trên khía
cạnh luật lao động, luật an sinh xã hội, trong việc kềm chế đồng
lương, trong việc đè nén các cấu trúc cần thiết để bảo vệ quyền lợi
của người làm công. Những nhân nhượng không được điều tiết như thế
khiến cho tình trạng xã hội tại các nước này rất dễ bùng nổ. Chỉ cần
một cuộc khủng hoảng sâu rộng, không thể tránh được trong các chu kỳ
kinh tế, là người ta có thể chứng kiến những rối loạn lớn, như lời
tiên đoán của Bernanos : « bước chân người nghèo sẽ làm
rung chuyển địa cầu ». Thật ra,
không cần những cuộc khủng hoảng mạnh mẽ, mà chỉ cần ý thức được
rằng tình trạng chênh lệch nặng nề hiện tại không có hy vọng quân
bình lại được, đủ khiến cho người dân tại các vùng nghèo khổ có
khuynh hướng quy tụ nhau lại trong các ý thức hệ của quá khứ, như niềm
tin tôn giáo hay dân tộc chủ nghĩa quá khích, để kình chống lại các nước
giàu, với những phương tiện nhà nghèo, như chúng ta hiện thấy qua nạn
khủng bố tràn lan. Một trong những hậu quả có thể lường trước của
sự phân tranh này là sự cô lập, hay tự cô lập, của các nước giàu
có, một chiều hướng hoàn toàn mâu thuẫn với khuynh hướng « toàn cầu
hóa » cần thiết cho kinh tế thị trường. Những ốc đảo giàu có sẽ
được vây quanh bởi những hàng rào bảo vệ càng ngày càng mọc cao trước
đám dân nghèo vây quanh tìm cách xông vào dành dựt vài mảnh vụn hàng
hóa, vài vật phẩm tiêu thụ thừa thãi (3) ! HUỶ DIỆT GIÁ TRỊ
CON NGƯỜI CỦA CUỘC SỐNG Thật ra, ngay cả trong các nước giàu,
ảnh hưởng của kinh tế thị trường càng gia tăng thì con người lại càng
nghèo đi, không nhất thiết là trên phương diện tài chánh, như tại các
quốc gia không giải quyết nổi nạn thất nghiệp, mà trên phương diện
tinh thần. Đời sống trở nên vô vị, số
người tự tử, khủng hoảng tâm thần, đầu óc căng thảng, gia tăng đều
đặn, cùng với sự sụp đổ của các giá trị nền tảng. Con người mất
mọi niềm tin, sống ích kỷ trên bờ sự chết như một vực sâu không đáy.
Trên bờ vực thẳm ấy, con người chỉ còn cảm giác hư vô như thực tại
duy nhất … Những hàng hóa chồng chất
đầy nhà đầy cửa, những phản xạ thi đua tiêu thụ, không khỏa lấp
được sự trống vắng của nội tâm. Thêm vào đó, những màn giải trí
nhắm vào những thị hiếu thấp kém được kỹ nghệ giải trí bày ra để
thu hút những thị trường càng rộng lớn càng tốt. Chúng càng ngày càng
lấn áp và tiêu diệt những khuynh hướng nghệ thuật thực sự sáng tạo,
mang cá tính đặc thù, hướng vào con người như những cá nhân, chứ
không phải như một tập thể đồng loạt tiêu thụ một cách máy móc, một
bầy cừu con này cắm cổ đi theo con khác, dẫn dắt bởi vị thần Quảng
Cáo … HY VỌNG HAY LÀ ẢO VỌNG
? Tàn phá môi sinh đưa đến sự hủy
diệt của nhân loại như một thành phần của môi sinh. Khánh kiệt tài
nguyên đưa đến sữ sụp đổ của của một xã hội con người đặt trên
căn bản chính yếu là tiêu thụ. Chênh lệch giàu nghèo đưa đến tranh chấp
và hủy diệt con người bởi con người. Sự sụp đổ của các giá trị
tinh thần đưa đến hủy diệt gia trị con người của cuộc sống, khiến
cuộc sống không còn ý nghĩa, chìm dắm trong hư vô chủ nghĩa. Trước những
vấn nạn ấy, ta chờ đợi được gì ở dân chủ và kinh tế thị trường
để tìm ra một lối thoát ? VỞ TUỒNG DÂN CHỦ Trước tiên là dân chủ. Nền dân chủ
nghị trường hiện hành càng ngày càng trở thành một sân khấu, với những
diễn viên đóng những vở tuồng hết Tả dến Hữu, hết cấp tiến đến
bảo thủ, nhưng rốt cuộc không đem lại một thay đổi nền tảng nào
trong xã hội. Các đảng phái trở thành những lò tuyển chọn và đào luyện
diễn viên, với những ưu tư nặng phần hình thức hơn là nôi dung tư tưởng.
Người ta gọt dũa một ứng cử viên để kẻ này trở nên « ăn khách »
nhờ ăn nói lưu loát, mặt mũi sáng sủa, ăn mặc đúng với thị hiếu của
thành phần cử tri mà mình nhắm đến, hơn là suy nghĩ xem thử kẻ ấy khi
được bầu lên sẽ đem lại được gì cho xã hội, với những phương tiện
nào, trong thời hạn ra sao ? Người ta cũng bỏ tiền rừng bạc biển
để tổ chức bôi bẩn ứng viên đối nghịch, kể cả bằng những
phương tiện hạ cấp nhất, thay vì vẽ ra trong
sự tranh luận đứng đắn, những con đường tương lai khả hữu, để mọi
người cùng nhau chọn lựa. Lý do vì trong chính trường hầu như ai cũng biết
rằng phe này hay phe khác lên cầm quyền, rốt cuộc nền chính trị được
áp dụng cũng sẽ là một chính trị được gọi là « thực tiễn »,
là « trung phái » (4), trong thực tế là một chính trị không
đem lại thay đổi căn bản nào, một chính trị với mục đích duy nhất
là lập lại và nối dài tình trạng hiện tại trong tương lai. Nối dài hiện
tại ? Trong khi chúng ta đều biết hiện tại nối dài không thể đưa
đến tương lai nào khác hơn là sự sụp đổ của xã hội con người ! BẦU CỬ VÀ ĐẤU
TRANH Nhu cầu nối dài hiện tại thực ra
được áp đặt bởi kinh tế thị trường. Lý do vì trong kinh tế thị trường
nhà đầu tư cần thời gian và sự ổn định của xã hội, tức sự nối
dài của hiện tại để lấy lại vốn liếng mà mình đã bỏ ra, và thu hoạch
lợi tức. Kinh tế thị trường quyết định hướng đi của dân chủ qua
quyền lực của nó trên truyền thông, trên các guồng máy chính quyền, đảng
phái, tôn giáo, kể cả các cơ cấu giáo dục, thể thao, thiện nguyện v.v…
Khi đại đa số cấu trúc và tác nhân trong một xã hội biến thành hàng
hóa (5), thì quyền lực của kinh tế thị trường không gì ngăn cản nổi.
Các tầng lớp dân nghèo bị gạt ra khỏi công việc ứng cử, do những
ngân quỹ tranh cử to lớn mà họ không bao giờ có được. Họ cũng tự gạt
mình ra khỏi công việc bầu cử. Hiện tượng số người đi bầu giảm sút
được thấy ở nhiều nơi. Ngay cả ở những nước mới vừa tranh đấu
gian khổ để thoát khỏi độc tài, để được quyền bầu phiếu, chỉ vài
năm sau, người dân cũng chán ngán thờ ơ trước việc đi bầu. Tại nhiều
quốc gia, tỷ lệ người dân đi bầu chỉ khoảng
trên dưới 50 %, nên người thắng cử chỉ đại diện 25 đến
30 % số dân chúng có ghi danh vào cử tri đoàn, tức một tỷ lệ nhỏ hơn
nữa nếu tính trên toàn thể người dân ở tuổi trưởng thành. Tại
Pháp, người dân càng ngày càng ít đi bầu, nhưng lại càng ngày càng sẵn
sàng tham gia vào các cuộc đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi thực tế.
Thùng phiếu vừa đưa một đảng phái lên cầm quyền chưa đầy vài tháng
thì đường phố đã nổi lên chống đối chính sách của chính quyền này
một cách mãnh liệt, như thể người dân đi bầu, và người dân biểu
tình đình công không liên hệ gì với nhau cả ! Cũng như giới chính
trị chuyên nghiệp, người dân đã hiểu : bầu cử không đem lại thay
đổi trong đời sống hàng ngày bằng trực tiếp đấu tranh. DÂN CHỦ VÀ … VÔ
TRÁCH NHIỆM Như vậy, sự tê liệt của dân chủ
trong hình thức áp dụng hiện tại, khiến cho người ta khó mà trông cậy
được vào đó để giải quyết các vấn nạn đã được nêu ra. Ai có thể
nghĩ được rằng một chính quyền dân cử, có thể nói với cử tri của
mình : phải thắt lưng buộc bụng, phải giảm tiêu thụ, để bớt ô
nhiễm, để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phải chia sẻ phú hữu và
công ăn việc làm với người nghèo khó, không những trong đất nước mình
mà cả trên toàn thế giới, phải bớt ích kỷ, phải ý thức trách nhiệm
của mình dối với nhân loại và Thiên Nhiên … Thái độ của nền dân chủ
chỉ đạo trên thế giới là Hoa Kỳ, đối với việc bảo vệ môi sinh (thỏa
ước Kyoto) là một thí dụ đáng suy nghĩ. Một chính quyền mà mục tiêu
chính yếu là tranh thủ quyền hành, với một hay vài nhiệm kỳ hạn chế,
chỉ biết duy trì một tình trạng đại khái ổn định trong một thời
gian hạn chế, chứ không hề mang trong bản chất của mình khả năng hay
tham vọng giải quyết những vấn nạn lâu dài. Khi có thể vứt được một
vấn đề khó khăn cho những chính quyền khác trong tương lai phải lãnh giải
quyết, thì một chính quyền như thế thường không ngần ngại. Tại Pháp,
sự thâm thủng của quỹ an sinh xã hội là 14 tỷ euros riêng cho năm 2004, cộng
thêm với 35 tỷ thiếu hụt đã có sẵn. Giải pháp : một chương trình
trả nợ trải dài đến năm 2024, tức 20 năm sau, rất ít hy vọng thành
công, tức sẽ còn phải kéo dài thêm vài chục năm nữa. Người ta đặt
trên đầu những đứa trẻ hiện chưa sinh ra gánh nặng bù dắp những chi
phí thuốc men của cha mẹ, ông bà của chúng ! Vấn đề hưu trí cũng
được giải quyết một cách tương tự … Các thí dụ này cho thấy trong
một nền dân chủ, sự ích kỷ và vô trách nhiệm trải rộng từ chính
quyền đến người dân. Nếu một nền dân chủ có thể ích kỷ và vô
trách nhiệm như thế đối với chính con cháu mình, thì thử hỏi làm sao
có thể đòi hỏi được ở nó một tinh thần trách nhiệm đối với người
nghèo khổ ở một đất nước xa xôi, đối với cây cỏ súc vật, môi
sinh, rừng, biển … ? CUỘC CHIẾN GIỮA MỌI
NGƯỜI VÀ TẤT CẢ Bây giờ ta thử nhìn về phía kinh tế
thị trường. Vấn đề của kinh tế thị trường là nó luôn phải gia tăng
sản xuất. Lý do tương đối đơn giản. Khi một xí nghiệp sản xuất một
món hàng, giá trị của món hàng ấy được coi là tương ứng với thời
gian làm việc cần thiết để làm ra nó. Khi xí nghiệp này đầu tư vào việc
gia tăng năng xuất và làm ra được 110 thay vì 100 món hàng tương tự, với
cùng một thời gian làm việc, thì giá trị của mỗi món hàng bị giảm
đi trên một nhịp độ gần với mức độ gia tăng sản xuất. Giá bán của
nó cũng giảm. Số tiền thu được cho mỗi món hàng giảm đi, khiến cho xí
nghiệp có thể thiếu thu hoạch để bù lại cho việc đầu tư vào sự gia
tăng năng xuất. Giải pháp cho tình trạng này là càng tăng thêm năng xuất
để hy vọng với số hàng sản xuất càng nhiều hơn nữa, trong cùng thời
gian làm việc, sẽ giúp cho nhà đầu tư gia tăng thu nhập để bù lại số
vốn đầu tư, cộng thêm lợi nhuận. Sự gia tăng năng xuất mới này lại
khiến giá trị của mỗi món hàng giảm thêm đi, giá bán của nó sụt
thêm xuống, cùng với số tiền nó đem lại cho nhà đầu tư. Kết quả là
lại phải tiếp tục nâng cao năng xuất, tạo nên một « vòng luẩn quẩn ». Việc chạy đua sản xuất khiến kinh
tế thị trường luôn phải mở rộng tầm ảnh hưởng của nó, để tiêu
thụ tất cả hàng hóa nó sản xuất ra. Đối với từng xí nghiệp sự bắt
buộc mở rộng tầm ảnh hưởng của mình mang ý nghĩa một cuộc chiến không
nhân nhượng với tất cả những gì có thể cản trở sự bành trướng
ấy. Xí nghiệp trong cuộc chạy đua này phải « chiến đấu »
không những với các xí nghiệp cạnh tranh, mà cả với những cấu trúc
xã hội, nghiệp đoàn, chính quyền, luật pháp, thiên nhiên v.v… có thể cản
trở nó. Đó là tình trạng « chiến tranh » của « mọi người
chống lại tất cả ». THẤT NGHIỆP, TẬP
TRUNG PHÚ HỮU, VÀ TÀN PHÁ THIÊN NHIÊN Sự cần thiết gia tăng năng xuất
cũng khiến cho các xí nghiệp không ngừng đầu tư vào những phương tiện
kỹ thuật nhằm giảm thiểu thời gian làm việc của người làm công. Máy
móc, kỹ thuật, càng ngày càng tiến bộ, càng làm thêm được nhiều công
việc thì xí nghiệp càng bớt cần đến việc làm của nhân công. Hậu quả
rất dễ nhận ra là nạn thất nghiệp gia tăng. Mặt khác, sự tăng trưởng
của phú hữu qua máy móc, kỹ thuật, có nghĩa là sự gia tăng giàu có ấy
chỉ dành cho những người có vốn, có khả năng đầu tư vào máy móc, kỹ
thuật. Người làm công chỉ có phú hữu đặt trên căn bản sức làm việc
của mình, không tham gia vào sự gia tăng giàu có này. Đó là một trong những
lý do khiến cho phú hữu càng ngày càng tập trung vào tay những người có
nhiều vốn nhất, đã nói đến ở trên. Môi trường thiên nhiên cũng là
« nạn nhân » của áp lực gia tăng sản xuất. Áp lực này mạnh
đến độ các xí nghiệp thường bất chấp những tai hại môi sinh, để tìm
cách thủ lợi nhất thời, làm thỏa mãn các nhà đầu tư, các thị trường
chứng khoán, và vứt lại cho các thế hệ mai sau những ô nhiễm đầu độc
sự sống. Nhà bác học Hubert Reeves quả quyết con người sẽ biến mất trên
quả địa cầu như loài khủng long, nếu đà ô nhiễm hiện tại vẫn tiếp
tục. Điều ngặt nghèo là viễn tượng ấy không nằm trong những tính
toán tài chánh, không ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, bằng sự
đình trệ hay suy giảm sản xuất của một xí nghiệp (6) ! Bảo vệ môi sinh chỉ có thể đến
từ quyền lực chính trị. Nhưng, như chúng ta đã thấy, quyền lực chính
trị, qua dân chủ đại nghị, luôn phải chiều theo quy luật của kinh tế
thị trường … Sự khánh tận tài nguyên thiên nhiên
cũng là một hậu quả của áp lực gia tăng sản xuất. Một thí dụ :
mặc dầu đã phải chịu nhiều cơn khủng hoảng dầu hỏa từ năm 1974 đến
nay, người ta vẫn không thực sự phát triển những năng lượng thay thế,
ngoại trừ năng lượng nguyên tử. Lý do vì sau những giai đoạn tăng vọt,
giá dầu hỏa vẫn tương đối rẻ, khiến các xí nghiệp vẫn chọn con
đường dễ dãi nhất, là tiếp tục duy trì sự sản xuất dựa trên năng
lượng dầu hỏa. Trường hợp của kỹ nghệ xe hơi rất đáng ghi nhận :
khi giá dầu giảm mạnh, trong thập niên 90, người ta đẩy mạnh việc sản
xuất những chiếc xe 4x4 (SUV) rất tốn xăng. Người ta chỉ nhắm vào lợi
nhuận ngắn hạn, vào duy trì sản xuất trong một thị trường càng ngày
càng khó khăn, bằng một lựa chọn tai hại cho tương lai. Dầu hỏa, dù rẻ,
nhưng chỉ trong hơn một thế hệ, sẽ không còn nữa. Tuy nhiên, sự tính
toán lâu dài và nặng về công ích ấy không nằm trong tính toán của các
nhà đầu tư. Vì thế, nỗ lực phát triển năng lượng thay thế, cũng như
việc bảo vệ môi sinh, chỉ có thể đến từ quyền lực chính trị, với
những yếu kém và hạn chế mà chúng ta đã biết. Thật ra, dầu hỏa chỉ
là một khía cạnh của nạn khánh tận tài nguyên. Các nguyên liệu khác cũng
suy giảm nhanh chóng cùng với áp lực gia tăng sản xuất tại các nước đã
phát triển vá các nước đang phát triển mạnh mẽ như tại Á Châu. Một
khía cạnh đáng chú ý là khủng hoảng dầu lửa cũng kéo theo khủng hoảng
các nguyên liệu khác, vì muốn trích xuất các nguyên liệu này người ta
phải cần một nguồn năng lượng, như … dầu hỏa. GIẤC MƠ PHÁT TRIỂN
Phát triển đã trở thành một tín điều mà không ai dám chối cãi. Người
ta cũng thêu dệt quanh « phát triển » những huyền thoại dần dần
bị thực tế phủ nhận. Một trong những huyền thoại ấy khẳng định rằng
dân chủ và kinh tế thị trường là những điều kiện không thể thiếu
được của phát triển. Thực tế là Trung Hoa, cũng như Việt Nhiều người cho rằng những sự phát
triển ấy rất mong manh, và sẽ sụp đổ hay ngưng trệ sau một giai đoạn
ngắn. Thực tế cho thấy chưa có dấu hiệu ngưng trệ lâu dài, mặc dù chắc
chắn sẽ có ngày ngưng trệ. Dù sao, khi sự ngưng trệ xảy đến, cũng không
có gì cho phép quả quyết rằng đó là hậu quả của thiếu vắng dân chủ
hay kinh tế thị trường. Gần đây, khi vùng Đông Nam Á lâm vào khủng hoảng
kinh tế, thì chính các nước có dân chủ và thị trường mạnh nhất, như
Nam Hàn, Nhật, lại là những nước phải chịu khủng hoảng nặng nề nhất.
Trung Quốc hầu như không xao xuyến, Việt Thật ra, vì không thỏa thuận được « phát triển » là gì ? dựa
trên tiêu chuẩn nào ? nên người ta đã thu hẹp khái niệm ấy vào một
vài chỉ số, như tỷ lệ tăng trưởng. Cùng lúc người ta tránh né đề cập
đến vấn đề « hướng đi », hay ý nghĩa, và cái giá phải trả
của phát triển trên phương diện con người và môi sinh. Khoa học kỹ thuật
có thể giải quyết tương đối ổn thỏa câu hỏi « làm thế
nào » mỗi khi nó được đặt ra, nhưng xã hội con người lại thiếu
những nỗ lực để trả lời câu hỏi « để làm gì ». Người
ta đặt hết tâm trí vào « tiến bộ », « phát triển »,
nhưng ít đặt vấn đề tiến đến đâu,
phát triển để hướng về tương lai nào ? Ví như những kẻ cố sức
chạy càng lúc càng nhanh nhưng không biết chạy đi đâu, để làm gì ?
Cũng như các xí nghiệp chỉ đơn thuần tìm cách làm tăng giá trị của cổ
phần chứng khoán, ý nghĩa của phát triển trên bình diện xã hội dường
như chỉ để làm tăng những chỉ số kinh tế, bất chấp cái giá phải trả
trên các khía cạnh con người và môi sinh. Cái giá ấy là những tệ nạn
mà chúng ta đã duyệt qua khi bàn đến
áp lực gia tăng sản xuất ở trên, vì, trong bản chất, một xã hội thi đua phát triển dựa trên những chỉ số
kinh tế, không khác gì với một xí nghiệp chạy đua sản xuất. TÓM LẠI Trong điều kiện hiện tại, phát triển
càng nhanh thì càng chóng dẫn đến điểm rạn nứt trong tương quan giữa
con người với thiên nhiên và giữa con người với con người, chưa kể đến
việc hủy diệt những giá trị con người của cuộc sống. Lý do nằm ở
những mâu thuẫn tiềm tàng trong cặp bài trùng dân chủ - kinh tế thị trường.
Trong sinh hoạt dân chủ hiện hành, sự tập trung quyền lực kinh tế đưa
đến tập trung quyền lực nói chung vào tay người giàu có hay những diễn
viên của họ, khiến sự tham gia của người dân giảm bớt, đưa đến đấu
tranh chính trị ngoài phạm vi dân chủ, cũng như sự phát triển của những
hình thái đấu tranh cực đoan sắt máu, dân tộc chủ nghĩa hay cuồng tín
tôn giáo, cha đẻ của độc tài, độc đoán. Có mâu thuẫn giữa việc
"người dân làm chủ", và "kinh tế làm chủ" với hậu quả
là sự "làm chủ" của người dân càng ngày càng mất thực chất,
trở thành hình thức. Tiến trình hiện tại của kinh tế thị trường
cũng vấp phải những mâu thuẫn gắt gao. Kinh tế thị trường tạo ra thất
nghiệp như một sự điều hòa cần thiết cho các xí nghiệp.Thất nghiệp
tăng cũng có nghĩa là khả năng tiêu thụ giảm. Tiêu thụ giảm đưa đến
thu hẹp thị trường. Thị trường tự nó thu hẹp nó. Mà thu hẹp trong cơ
cấu kinh tế thị trường thì lại dẫn đến sụp đổ. Mặt khác gia tăng
sản xuất là một nhu cầu sống còn của kinh tế thị trường. Càng gia tăng
sản xuất thì càng chóng khánh tận tài nguyên thiên nhiên, khiến không sản
xuất được nữa. Tăng sản xuất và tăng tiêu thụ cũng có nghĩa là tăng
ô nhiễm. Hậu quả là giảm đời sống trong thiên nhiên, giảm đời sống
của chính con người, là giảm người sản xuất, giảm người tiêu thụ
... Thị trường lại tự nó hủy diệt nó. Các nước phát triển lọt vào
các vòng mâu thuẫn này mà không đủ nội lực chịu đựng có thể rơi vào
suy thoái liền ngay trong những năm tháng sắp tới. Michel Camdessus, cựu chủ
tịch Quỹ Tiền Tệ Thế Giới, trong một phúc trình gửi chính phủ ngày
21/10/2004, tiên đoán Pháp Quốc, một
trong 10 quốc gia phát triển nhất, sẽ đi vào suy thoái không thể gượng lại
được trong khoảng 10 năm nữa, nếu tiếp tục tiến trình hiện tại (vả
lại, cán cân mậu dịch của Pháp đã bị thất thu từ năm nay, sau nhiều
năm thặng dư). Thế còn các quốc gia đang hay "sắp" tập tành
phát triển ? Chỉ cần biết rằng nếu các nước này đạt đến mức độ
phát triển, sản xuất và tiêu thụ ngang hàng với Hoa Kỳ, thì chỉ trong
10 năm ngắn ngủi trái đất sẽ không còn chút tài nguyên thiên nhiên nào
nữa và sẽ chết ngộp trong ô nhiễm (7). Họ hoàn toàn không có chút hy vọng nào
đạt đến mức phát triển như thế và sự hiện hữu của các nước, các
người nghèo đói sẽ luôn là một đe dọa cho kẻ giàu có. Và, một lúc
nào đó, người ta sẽ không còn đủ đạo đức và nghị lực để cố gắng
giảm thiểu SỰ NGHÈO ĐÓI nữa, mà sẽ chọn lựa con đường dễ dãi
là : giảm thiểu số NGƯỜI NGHÈO ĐÓI ... Vậy, một viễn tượng cho
tương lai phải được hình dung trên căn bản đoạn tuyệt với mô hình hiện
tại. Dân chủ phải vươn được lên trên những lằn ranh giới quốc gia
để có thể nói chuyện ngang tay với thị trường. Mặt khác dân chủ thực
thụ là người dân làm chủ quyền lực thực thụ trong xã hội, tức quyền
lực kinh tế. Nền tảng giá trị của
hàng hóa cũng phải được xét lại, cùng với áp lực gia tăng sản xuất.
Trong điều kiện ấy, phát triển phải được quan niệm lại như sự
thăng tiến của cuộc sống con người, cả về vật chất lẫn tinh thần,
đồng loạt với sự bảo vệ cuộc sống thiên nhiên. Nếu viễn tượng
ấy không thành sự thực, thì tương lai có nhiều rủi ro đen tối, chìm ngập
trong đấu tranh sắt máu, trong độc tài, hay trong sự tàn lụi của cặp
bài trùng kinh tế thị trường – dân chủ đại nghị, dưới hình thức
này hay hình thức khác, kéo theo sự tàn lụi của xã hội con người. Ngày
mai tươi sáng là một giả thuyết tùy thuộc khả năng làm chuyển vận trở
lại cái bánh xe lịch sử đang bị bế tắc trong trường tư tưởng. Những
« chân trời không thể vượt qua » của trí tuệ phải được
đẩy lùi, để cuộc hành trình có thể tiếp tục, trên con đường hướng
đến những giá trị Nhân Bản. Vấn đề là thúc đẩy những điều kiện
thuận lợi ngay từ ngày hôm nay, ngay từ quê hương Việt Nam của chúng ta.
Đó sẽ là đề tài của một bài viết khác.
CHÚ THÍCH : (1) Những khía cạnh
hợp tác này có thể được tóm tắt qua sự kiện dân chủ và kinh tế thị
trường đều được xây dựng trên nền tảng Tự Do. Thí dụ kinh tế thị
trường giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc vào quyền hành trong những
nhu cầu vật chất, giúp hình thành dân chủ, trong khi dân chủ đem lại tự
do cho con người trong những quyết định liên quan đến tiêu thụ và sản
xuất, hỗ trợ cho kinh tế thị trường. (2) Một số trường hợp xoá nợ chỉ
là những tính toán đem lại lợi nhuận cho các nước giàu, như trưòng hợp
xóa nợ cho Irak, trong thực chất nhằm mục đích cho phép Irak được quyền
vay những món nợ khác. Tiền vay được sẽ lọt vào tay các đại công ty
xây cất, dầu hoả, v.v... (chưa kể các văn phòng "nghiên cứu" đủ
loại) của Hoa Kỳ và vài quốc gia đồng minh. (3) Cùng với « toàn cầu
hóa », người ta vẫn thấy xuất hiện những biện pháp bảo vệ thị
trường tại các nước giàu (trường hợp Hoa Kỳ với kỹ nghệ tôm cá Việt
Nam), đồng thời với những nỗ lực ngăn cản việc thất thoát công ăn
việc làm sang các nước nghèo, và nhất là nỗ lực ngăn chống di dân. (4) Một chính quyền
có thể nhứt thời áp dụng một chính sách rõ nét hữu khuynh hay tả
khuynh, nhưng nếu nó đem lại thiệt thòi cho nền kinh tế thị trường, thì
chỉ ít lâu sau đó sẽ phải tự điều chỉnh, hoặc « bị » điều
chỉnh. (5) Chúa, Phật, v.v… trở thành những
món hàng. Người ta tiêu thụ Dalai Lama, Mère Theresa, v.v… trong siêu thị,
giữa kem đánh răng và đồ ăn đóng hộp, trong khi nhà thờ chùa chiền phải
chịu quy luật của các cơ sở thương mại : gần đây, tại Pháp, một
Tòa Giám Mục phải sa thải một phần nhân viên của Giáo Phận, và một
tu viện Chính Thống Giáo phải tuyên bố phá sản … (6) Không cần đợi đến
mai sau, ngay ngày hôm nay, ô nhiễm khiến cho đi bộ một ngày ở Milano tương
đương với hút 15 điếu thuốc (Service de Médecine du Travail, Hôpital Sesto
San Giovani - Quotidien du Médecin 27/10/2004). Tại Pháp, ô nhiễm gây 30 ngàn tử
vong mỗi năm và từ 7 đến 20 % tổng số ung thư (Bulletin de l’Ordre des Médecins,
Nov 2004) (7) Hoa Kỳ có tổng sản lượng là 30
% tổng sản lượng toàn cầu, nhưng dẫn đầu trên các lãnh vực ô nhiễm
và tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên. © Copyright 2006 giaodiem.com |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com