
Nguyễn Mạnh Quang GIÁO
HỘI LA MÃ HỒ HỞI THI HÀNH [CHƯƠNG 61] Nói đến kế sách "trồng người", nguời Trung Hoa có câu
nói: “Nhất niên chi kế, mạc như thọ cốc,
thập niên chi kế, mạc như thọ mộc, bách niên chi kế, mạc như thọ nhân”.
Câu nói này được chuyển dịch sang tiếng Việt là “Kế hoạch cho một năm, không gì bằng trồng
lúa; kế hoạch cho mười năm, không gì bằng trồng cây; kế hoạch cho trăm
năm, không gì bằng trồng người.” Sau gần “một trăm năm lệ giặc Tây”, đại đa số dân
ta đã quen với nếp sống văn hóa của thời quân chủ phong kiến lõi thời, quen với tinh thần
nô lệ đối với người ngoại bang và những người có quyền thế. Cho
nên, họ chỉ biết có bổn phận của một người dân nô lệ đối với
cường quyền mà chưa ý thức được quyền lợi và bổn phận của người
công dân của một quốc gia độc lập theo chế độ cộng hoà dân chủ.
Vì lý do này, khi mới lên nắm chính quyền vào mùa thu năm 1945, Mặt Trận
Việt Minh liền đưa ra một kế sách trồng người với lời tuyến bố của
cụ Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm
trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Mục đích của kế
sách trồng người của Mặt Trận Việt
Minh là biến con người Việt Nam cũ với nếp sống văn hóa phong kiến lạc hậu và
tinh thần nô lệ như trên thành con người Việt Nam Mới, ý
thức được cả bổn phận và quyền lợi của một người công dân đối
với quốc gia và dân tộc bằng chính sách giáo dục mới. Lời tuyên bố
này nằm trong mục tiêu xóa bỏ những tàn tích phong kiến lỗi thời tồi
bại lạc hậu cùng tinh thần vọng ngoại và nô lệ những người có quyền
thế do chế độ quân chủ phong kiến
và Liên Minh Xâm Lược Pháp – Lời tuyên bố trên đây của cụ Hồ Chí
Minh cùng với tinh thần quyết chiến để giành lại chủ quyền độc lập
cho dân tộc và chiến thắng Điện Biên
Phủ của quân dân ta dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh đã
làm cho người Việt Nam có một nếp sống văn hóa hoàn toàn mới. Trong nếp
sống văn hóa mới này, MỌI NGƯỜI ĐỀU
ý thức được quyền lợi và bổn phận
của một người công dân (citizen) đối
với đất nước, KHÔNG CÒN MỘT NGƯỜI
NÀO nghĩ rằng mình là tôi thần
(subject) của một ông vua trong một chế độ quân chủ, hoặc là một tên nô lệ của một đế quốc xâm lăng,
hay là một tên tôi tớ hèn mọn của các
đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã. Dĩ nhiên là có những ngoại lệ. Ngoại lệ
này là nhóm thiểu số người đã bị điều kiện hóa, lúc nào cũng ở
trong tình trạng mộng du, mơ màng về cõi thiên đường qua cửa ải Thực trạng này vô cùng bất lợi cho chính
sách xâm thực của Vatican tại Việt II.-
VẤN ĐỀ UỐN NẮN TÂM HỒN TRẺ EM, PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM VÀ CÁN BỘ GIÁO DỤC Nói đến kế hoạch trồng người tức
là nói đến phương cách uốn nắn tâm hồn trẻ em hay gieo hạt giống tư
tưởng vào đầu óc trong trắng của các trẻ em qua chính sách giáo dục. Bất kỳ chế độ chính trị nào cũng có kế
hoạch trồng người tức là chính sách giáo dục để ương mầm hay gieo giống
tư tưởng (tư tưởng dân chủ tự do, tư tưởng Karl Marx hay tín lý thần
học Ki-tô) vào đầu óc ngây thơ trong trắng của các em cho được hữu hiệu.
Và bất kỳ chính sách giáo dục nào dù là chính sách giáo dục tự do khai
phóng tự do ở các nước dân chủ như ở Tây Âu và Bắc Mỹ, hoặc là chính sách ngu dân và nhồi sọ tại
các nước theo chế độ đạo phiệt,
vấn đề quan trọng là phải chọn những
hạt giống tư tưởng để gieo vào đầu óc trẻ em, chọn phương cách gieo
giống (phương pháp sư phạm) và chọn
những người thợ gieo giống (cán bộ
giáo dục) để đảm nhiệm công việc này cho được hữu hiệu. Cũng vì
thế mà tại các quốc gia nằm dưới quyền lãnh đạo của một tín đồ
Da-tô, tức là dưới quyền chỉ đạo của Giáo Hội La Mã, chính quyền
được lệnh phải tìm đủ mọi cách
để nắm độc quyền tất cả các phương tiện sản xuất và kiểm soát chặt chẽ tất cả mọi phạm
vi sinh hoạt trong đời sống của người dân với dã tâm dồn người dân
vào đường cùng để rồi phải trông
cậy vào Giáo Hội La Mã mới có thể sinh tồn.
Sự kiện này chủ trương kiểm soát chặt các môn học được
sách sử gia Malachi Martin ghi lại rõ
ràng ở trong sách Rich Church, Ngay
từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là
chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận
rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo
mới là tôn giáo đích thực. Vì thế
cho nên mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác -
bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý
– đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại,
đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất
nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Kitô giáo mà ra. Kitô giáo thấm
nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế,
chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị,
tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật,
tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự
chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể
tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời
nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và
chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.” (“From
their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak
about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true.
That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge
- any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be
reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a
false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It
permeated all aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts, education,
social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government,
religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable
opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of
politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.”)[1] Trong các lãnh vực hoạt động bị Giáo Hội
khống chế và kiểm soát trên đây, có lãnh
vực giáo dục. Trong lãnh vực này, Giáo Hội kiểm soát hết sức nghiêm ngặt,
không để cho môn Sử và môn
Công Dân được đưa vào trong chương trình học NẾU KHÔNG có sự kiểm
duyệt, cắt xén, thêm bớt và được
diễn dịch theo ý muốn của Giáo Hội nhằm để tránh khỏi làm nguy hại
đến việc rao truyền tín lý Ki-tô và chính sách truyền đạo của Giáo Hội.
Cũng vì thế mà Giáo Hội luôn luôn có chủ trương phải thi hành chính
sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để đào tạo thanh thiếu niên thành những
tín đồ Da-tô ngoan đạo. Chủ trường này hoàn toàn trái ngược với chính
sách giáo dục của các quốc gia có chủ
trương đào tạo thanh thiếu niên thành những người có tinh thần dân tộc,
đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết. Sự kiện này được Giáo-sư
Lý Chánh Trung trình bày rõ ràng trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc với
nguyên Văn như sau: “Trước hết,
hai lãnh vực đạo và đời, trong thực tế, chồng chéo lên nhau, ảnh hưởng
lẫn nhau và không thể phân biệt rõ rệt như trong lý thuyết. Cho nên, dầu
chánh quyền có chấp nhận sự phân biệt, thì vẫn còn cơ hội xung đột
nhau trong những phạm vi gọi là “pha chè” (domain mixte), nghĩa là những
phạm vi mà cả hai bên đều có những quyền lợi phải bảo vệ, chẳng hạn
phạm vi giáo dục. Giáo Hội cần có một
nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không
những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo
tinh thần công giáo. Nhưng quốc
gia cũng cần phải nắm giữ tất cả thanh thiếu niên của mình để đào
tạo chúng theo tinh thần quốc gia. Nếu quan niệm
về “tinh thần quốc gia” mâu thuẫn với tinh thần công giáo (chẳng hạn
như trong các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội) thì sự xung đột bùng nổ hầu
như không thể giải quyết êm thắm được. Nhưng ngay
trong những quốc gia không có một ý thức hệ mâu thuẫn với đạo Công
Giáo hoặc do chính người Công Giáo lãnh đạo, sự xung đột vẫn ngấm ngầm.” [2] 1.- HẠT
GIỐNG TƯ TƯỞNG Nói đến hạt giống tư tưởng để gieo vào
trong đầu óc non dại của các em học sinh là nói đến những tư tưởng mà
các nhà làm chính sách giáo dục muốn cho các em khi học xong sẽ hành xử
như là mẫu người mà họ mong muốn. Do đó, loại hạt giống tư tưởng
gieo vào đầu óc các em học sinh tại một quốc gia là tùy theo chính sách
giáo dục được thi hành ở quốc gia đó. A.- Tại
các nước thi hành chính sách giáo dục tự do khai phóng.- Tại các quốc gia này, chuơng trình học
ở bậc tiểu và trung học, môn Social
Studies (sử địa và công dân) được coi là hạt giống tư tưởng gieo và
đầu óc các em học sinh. Loại hạt
giống tư tưởng này có độc tố sát hại tất cả những hạt giống tư
tưởng tín lý Ki-tô, giáo luật, lời dạy của Giáo Hội La Mã và các loại hạt giống độc tài chuyên chính. Đặc biệt
là loại hạt giống này có tính chất miễn nhiễm đối với những độc tố do loại hạt giống
thần học Ki-tô toát ra. Cũng vì thế mà ở đâu có hạt giống tư tưởng
này, ở đó những mầm tư tưởng của loại hạt giống tín lý Ki-tô và độc tài chuyên chính sẽ
trở nên còm cõi, héo hon rồi tàn lụi, và chỉ
còn tồn tại ở trong đám người có hệ số thông minh dưới trung bình
(IQ bằng hay nhỏ hơn 90), hoặc là dốt nát, ít học. Vì môn Sử
Địa và Công Dân được coi là những loại hạt giống tư tưởng
để gieo vào đầu óc non nớt của học sinh, cho nên môn học này được
coi là một môn học chính trong chương trình trung học và có giá trị hơi
cao hơn các môn học khác. Tại Hoa Kỳ, thời lượng của môn học này chiếm
tới 1/6 tổng số thời lượng của
chương trình học ở bậc trung học. Tại Việt Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ
trong mục nói về chính sách giáo dục của Hoa Kỳ, của Việt Nam hiện nay
và của miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 trong một mục gồm nhiều
chương sách ở sau. Môn sử gồm
có môn sử thế giới và môn sử quốc gia.- Chủ yếu của môn sử thế
giới là trình bày đầy đủ về những
bước tiến của loài người từ thuở hồng hoang, cái thuở con người còn
ở trong hang, trong hốc, ăn sống nuốt tươi, rồi tiến lần từng bước
qua những Thời Cổ Đại tới Thời Thượng Cổ với các chế độ thị tộc và bộ lạc, rồi
tiến sang Thời Trung Cổ. Riêng tại Âu Châu, trong
Thời Trung Cổ, chế độ
quân chủ phong kiến lần lần xuất hiện trộn lộn với thần quyền
(800-1300). Tình trạng này đã khiến cho Giáo Hội La Mã và giới giáo sĩ Da-tô thừa cơ lấn tới
lộng hành, rồi khuynh loát chính quyền, áp bức,
cưỡng bách nhân dân làm nô lệ cho tôn giáo và bóc lột họ
đến tận xương tận tủy. Những hành động này của Giáo Hội La Mã và
giới giáo sĩ Da-tô giống y như bọn
đồng bóng và thày cúng ở ven bờ sông Chướng Hà đất Nghiệp Đô (thuộc nước Ngụy, Trung
Hoa trong thời Chiến Quốc) cấu kết với bọn cường hào ác bá địa
phương để cưỡng bách nhân dân trong vùng hàng năm phải bỏ tiền ra tổ chức lễ cưới vợ cho
ông thần hà bá ở khúc sông này. Mục đích duy nhất của bọn người
lưu manh này bóc lột người dân ở
vùng này. Những hành động bất chính và gián ác
này của Giáo Hội La Mã đã làm cho nhân dân Âu Châu vô cùng bất mãn và
hết sức căm phẫn Tòa Thánh Vatican và giai cấp tu sĩ Da-tô. Cũng vì thế
mà văn hào Voltaire mới gọi Đạo Ki-tô La Mã là cái “tôn giáo ác ôn” [3], “người
Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội La Mã và tránh xa như tránh hủi”[4], rồi sử dụng những cụm từ “bọn lưu manh buôn thần bán thánh đột lốt tôn
giáo” và “Bọn quạ đen ăn bám xã hội”
(Les corbeaux noirs vivent sur le dos de la
société.) để tỏ lòng ghê tởm và khinh bỉ của họ đối với Giáo Hội
La Mã và giới giáo sĩ Da-tô. Tư tưởng biên thành hành động. Lòng
thù ghét của nhân dân Âu Châu đối với Giáo Hội La Mã dần dần chuyền
thành hành động. Những hành động này đưa đến việc hình thành các
Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo bùng nổ vào khoảng năm 1309 và
kéo dài đến năm 1648. Nhờ có Phong Trào Cải Cách Tôn Giáo, Phong Trào Lý
Trí (the Age of Reason) mới có cơ may xuất
hiện vào khoàng năm 1500 và kéo dài cho đến năm 1789. Trong thời kỳ này,
các nhà trí thức nô nức đua nhau hô hào và cổ võ người đời chỉ nên
tin vào những gì hữu lý (reasonable), phải
cương quyết không tin những tín lý Ki-tô hoang đường, nặng tính cách bịp
bợm, phải cương quyết loại bỏ những giáo luật và lời dạy nặng
tính cách bóc lột và cưỡng chế của
Tòa Thánh Vatican. Trong thời kỳ này, người ta thấy xuất hiện những danh
nhân như John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau
(1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), v.v… Đặc
biệt là văn hào Voltaire đã sử dụng
những lời lẽ hết sức nặng nề để tỏ lòng khinh bỉ và căm thù Giáo Hội La Mã bằng cách gọi cái tôn
giáo này là “tôn giáo ác ôn” như đã nói ở trên, và nhà báo Jacques René Hebert (Nov. 15, 1757-
March 24, 1794) đã phải hét lên những tiếng thét căm thù làm rúng động cả
Tòa Thánh Vatican. Những tiếng thét căm thù này được sách sử ghi lại như
sau: "Các bạn người Pháp, các bạn hãy nói cho
tôi nghe xem có được không? Nếu cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh
Cha cương quyết chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có ngu xuẩn
và hèn hạ đến độ phải từ bỏ luật pháp của các bạn. Các bạn hy vọng
gì ở một ông Giáo Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là
đến lượt các bạn; cả trong mười thế kỷ qua, Giáo Hoàng đã áp bức
các bạn quá nhiều rồi."(Tell me, Frenchmen, is it possible? if that man
you call the Holly Father takes it into his head to oppose your laws, do you dare, are you
stupid and base enough, to give them up? What do you expect from a Pope? Screw the Pope,
believe me; it is your turn at last; for ten centuries the Pope has screwed you." [5]
Lòng căm thù của nhân dân Âu Châu đối với Giáo Hội La Mã và những tư tưởng
của những danh nhân trên đây đã kết tinh thành những hạt giống của
tinh thần cách mạng và dẫn dắt nhân dân Âu Châu tiến lên Thời Đại Cách
Mạng Dân Chủ (1603-1815). Trong thời kỳ
này, có rất nhiều tư tuởng gia đưa
ra chủ trương phải làm cách mạng, dùng sức mạnh của nhân dân để cướp
đoạt chính quyền rồi thiết lập chế
độ dân chủ tự do đem lại công bằng chính trị và công bằng xã hội
cho mọi người dân trong nước. Song song với việc làm này, chính quyền
cách mạng phải sử dụng những biện
pháp mạnh để đối phó với tôn giáo, huỷ bỏ hết mọi đặc quyền đặc
lợi mà trước kia các chế độ đạo phiệt Da-tô đã dành cho Giáo Hội
La Mã, loại bỏ tôn giáo ra khỏi chính quyền, ban hành hiến chương dân sự
cho giới tu sĩ, bắt buộc họ phải tuân hành hiến pháp, thẳng tay trừng
trị bọn tu sĩ và bọn tín đồ cuồng
tín ngoan cố, muốn bơi ngược dòng lịch sử, mưu đồ đem tôn giáo nhập
nhằng trộn lộn với chính quyền hay chống lại Cách Mạng. Phong trào
vùng lên của người dân Âu Châu và Bắc Mỹ đã sôi sục từ Thời Đại
Lý Trí, đến đầu thế kỷ 17 thì
bùng lên thành những cuộc cách mạng bạo động và càng về sau càng mãnh
liệt. Cho đến cuối thế kỷ 18, phong
trào này bùng nổ thành cuộc Cách Mạng
Pháp 1789. Thời kỳ này được các nhà viết sử gọi là “Thời Kỳ Cách Mạng Dân Chủ = The Age of
Democratic Revolutions (1603-1789). Kể từ đó, tinh thần Cách Mạng Pháp 1789 với
tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái lan truyền đi khắp các lục địa
Âu, Phi, Mỹ và Á Châu. Cũng từ đó, các
bậc thức giả khắp nơi trên thế giới nô nức theo gương nước Pháp quyết
tâm làm cách mạng phế bỏ chế độ chính trị quân chủ phong kiến trung
ương tập quyền lỗi thời để thiết lập chế độ dân chủ tự do tại
quốc gia của họ. Môn Sử Thế Giới cũng trình bày đầy đủ
những sự kiện Giáo Hội La Mã cấu kết với các đế quốc thực dân
xâm lược Âu Châu đem quân đánh chiếm các quốc gia ở các lục địa
Phi, Mỹ và Á Châu làm thuộc địa. Tai các lục địa này, ở đâu có mặt
các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp, là ở đó có bàn tay
lông lá của Giáo Hội La Mã. Việt Môn sử quốc
gia gồm những bài học nói về tiến trình những sự kiện lịch sử nước
nhà từ ngày quốc gia mới hình thành với những công trình tranh đấu của
tiền nhân trong các sự nghiệp dựng nước,
mở nước, giữ nước với những cuộc chiến đánh đuổi quân cướp xâm
lăng ra khỏi lãnh thổ để bảo toàn chủ quyền độc lập cho dân tộc
cùng những công trình mở mang kinh tế, phát huy văn hóa, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân. Môn công
dân với những bài học giảng giải về tất cả các chế độ chính
trị có mục đích giúp cho học
sinh thấy rằng chế độ dân chủ tự do hiện thời là thích hợp với đời
sống chính trị của nhân loại ngày nay khiến cho các em tin tưởng vào chế
độ dân chủ và ý thức được rằng người dân ở trong các chế độ dân
chủ tự do là công dân (citizen) của đất nước (the country), chỉ có bổn
phận với đất nước và chỉ trung thành với đất nước và dân tộc, chứ
không có bổn phận hay phải trung
thành với cá nhân người lãnh đạo chính quyền. Đồng thời, môn Công
Dân cũng có những bài học giúp cho
các em thấy rằng, tại các nước bị áp đặt phải sống dưới chế độ
quân chủ trung ương tập quyền, mọi người dân trong nước là thần dân
của ông vua, có bổn phận phải trung thành với cá nhân nhà vua và phải
tuân hành tất những lệnh truyền của nhà vua dù là những lệnh truyền
đó chỉ nhằm để phục vụ quyền lợi cá nhân hay của gia đình hoặc
phe đảng của nhà vua. Hơn nữa, môn Công Dân còn có những bài học giúp
cho các em hiểu rằng tôn giáo phải tách
rời khỏi chính quyền, rằng các ông tu sĩ chỉ có giá trị khi đứng
trước bàn thờ và trong giờ làm lễ. Ngay cả khi làm lễ, họ cũng chỉ là những người trung gian
(giống như những người thông ngôn) chuyển lời cầu khấn của người
xin lễ lên vị thần linh, chứ không thể coi họ như đại diện của vị
thần linh ở trên bàn thờ. Ngoài ra, họ
cũng chỉ là con người theo một nghĩa rất người với những thất tình lục
dục giống như mọi người. Những người khác phái (phái nữ) nếu còn trẻ
khi tiếp xúc hay giao thiệp với họ, phải hết sức thận trọng, đề cao
cảnh giác kẻo bị lợi dụng như đã từng xẩy ra và đã được phơi bầy
ra trước công luận Hoa Kỳ và khắp nơi trên thế giới từ đầu năm 2002
cho đến ngày nay. Chế độ dân chủ tự do có tồn tại được
hay không là tuỳ theo trình độ dân trí và mức sống của người dân
trong nước. Dân trí và mức sống càng cao, thì bọn tu sĩ lưu manh buôn thần
bán thánh đội lốt thày tu và bọn hoạt đầu chính trị dù cho có cấu kết
với nhau cũng không thể dùng những tín lý thần học Ki-tô hoặc lý thuyết
sáng tạo hay lý thuyết “intelligent design” để
mê hoặc và lừa bịp nhân dân hầu thao túng chính quyền và biến
chính quyền thành một chế độ đạo phiệt theo như ý muốn của chúng.
Đây là trường hợp của nước Pháp, nước Anh, Hòa Lan, Đan Mạnh, Na Uy,
Thụy Điển, Phần Lan, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ,
Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại, v.v.. Trái lại, tại những nước nghèo đói hay
bị tàn phá vì chiến tranh như nước Đức và
Ý sau Đệ Nhất Thế Chiến, hay các nước
còn chậm tiến, nghèo nàn, nhất là tại các quốc gia mà tâm hồn người
dân còn bị kẹt cứng trong cái thòng lọng Ki-tô (Catholic loop) như các nước Tây Ban Nha, Croatia, Phi Luật
Tân, Rwanda và các quốc gia Châu Mỹ La-tinh, dù cho có thiết lập được chế
độ dân chủ tự do thì sớm muộn cũng sẽ bị bọn tu sĩ cấu kết với
bọn chính trị hoạt đầu dùng đủ mọi thủ đoạn gian manh để biến chính
quyền của nước họ thành một chế độ độc tài theo ý muốn của
chúng. Đây là trường hợp của Đức Quốc Xã (1933-1945), Phát Xít Ý
(1922-1145), chế độ đạo phiệt Da-tô Francisco Franco (1936-1975) ở Tây Ban
Nha, chế độ đạo phiệt Da-tô Ante Pavelich ở Croatia (1941-1945), các chế
độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, chế
độ độc tài Da-tô của Giám-mục Augustin Misago ở Rwanda trong năm 1994
cũng như các chế độ đạo phiệt Da-tô ở Phi Luật Tân và ở các nước
Châu Mỹ La Tinh từ thế kỳ 19 cho đến ngày nay. B.-
Tại các nước theo chủ nghĩa xã hội.- Hạt giống tư tưởng tại các
quốc gia này là các bài học trong môn Sử Địa, Công Dân giống như những
bài học trong môn Sử Địa và Công Dân ở trong các nước thi hành chính
sách giáo dục tự do và khai phóng, nhưng có thêm
phần hệ thống tư tưởng Karl Marx
và phần này được nhấn mạnh, được trình bày đầy đủ
hơn. Có thể vì lý do này mà thời lượng dành cho môn Sử Địa và Công
Dân trong chương trình trung học hiện nay ở Việt Những hạt giống tư tưởng này, nhất
là tư tưởng Karl Marx, có những độc
tố cực mạnh sát hại những hạt giống tư tưởng tín lý Ki-tô, giáo luật,
lời dạy của Giáo Hội La Mã cũng như của
tất cả các hệ phái Thiên Chúa Giáo khác. Đặc biệt là những hạt giống
này có khả năng diệt trừ những bọn lưu manh buôn thần bán thánh, muợn
tôn giáo để chui vào cửa quyền hay mượn danh đạo tạo danh đời. Cũng
vì thế Giáo Hội La Mã đã có chính
sách chống đối mãnh liệt các chế độ xã hội chủ nghĩa, coi các chế
độ này như la một kẻ thù không đội trời chung. C.-
Tại các nước theo chế độ đạo phiệt Da-tô (tôn giáo chỉ đạo chính
quyền).- Tại các quốc gia bị áp đặt phải sống dưới chế độ đạo
phiệt Da-tô, hạt giống tư tưởng được gieo vào đầu óc non nớt của
các em học sinh là hệ thống tín lý Ki-tô. Những hạt giống tư tưởng này
rất kị đối với những bài học trong môn Sử và Công Dân trong chương
trình trung học ở các nước thi hành
chính sách giáo dục tự do và khai phóng, và càng kị hơn nữa đối với
những bài học trong môn Sử và Công Dân trong
chương trình trung học ở các nước theo xã hội chủ nghĩa. Vì lý do này
mà những bài học trong môn Sử Địa
và Công Dân đều bị kiểm soát chặt
chẽ, cắt xén đi rất nhiều, và phần còn lại phải được diễn dịch
theo ý muốn của các ông tu sĩ Da-tô
ở hậu trường sân khấu chính trị. Đồng thời, thời lượng dành cho
môn học này cũng bị giảm thiểu tối
đa. Ngoài ra, chế độ hệ số được đặt ra để quy định cho môn Sử
Địa và Công Dân là môn học phụ có
hệ số 1 trong khi các môn học khác như
Toán, Lý, Hóa, Vạn Vật, Anh, Pháp Việt được quy định là môn học
chính có hệ số 4 và 3. Thâm ý của
việc đặt ra chế độ hệ số quái đản như trên là để cho học sinh không
chú ý đến việc học môn Sử Địa và Công Dân. Chủ trương này là của Giáo Hội
La Mã. Tại các nước bị áp đặt theo chế độ đạo phiệt Da-tô như miền
Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, Phi Luật Tân, East Timor và các quốc
gia Châu Mỹ La-tinh (ngoại trừ một vài nước như Cuba, Nicaragua), Giáo Hội
La Mã ở hậu trường sân khấu
chính trị, ra lệnh cho chính quyền thế tục phải triệt để thi hành các
chính sách của Giáo Hội đề ra, trong đó có chính sách giáo dục. Tình trạng
này được các nhà viết sử gọi là “Tôn giáo chỉ đạo chính quyên.” Về vấn đề giáo dục, Giáo Hội vốn
dĩ không chấp nhận cho mở mang giáo dục cho đại khối nhân dân mà chỉ
dành việc giáo dục cho giới tu sĩ trong một phạm vi giới hạn. Sự kiện
này được sử gia Hellen Ellerbe ghi lại trong cuốnThe Dark Side Of Christian History với nguyên văn
như sau: “Giáo
Hoàng Gregory I (590-604) lên án việc giáo
dục cho tất cả mọi nguời như là một
việc làm độc hại và điên rồ, ngoại trừ đối với giới tu sĩ.”
(Gregory the Great (590-604) also condemned education for all but the clergy as folly and
wickness.)[6]
Giáo Hội đã duy trì tình trạng
này suốt cả thời Trung Cổ - The Middle Age (476-1500) và cố gắng chống lại
bước tiến của nhân loại suốt trong Thời Đại Lý Trí – The Age of
Reason (1500-1789). Sang đến Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ - The Age of
Democratic Revolutions (1603-1815), thấy rằng không thể nào chống lại được
bánh xe tiến hóa của nhân loại, Giáo Hội đành phải nhượng bộ, nhưng
lại chủ trương nắm độc quyền giáo dục để thi hành chính sách ngu
dân và giáo dục nhồi sọ theo ý muốn của Giáo Hội. Sự kiện này được
Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi nhận trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc với nguyên
văn như sau: “Giáo Hội cần
có một nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu,
không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên
theo tinh thần công giáo.” [7]
Nói về nền giáo dục độc lập của
Giáo Hội, Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ cho chúng ta biết như sau: “Ngọai
trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người Công Giáo thường
được tập trung lại thành làng xóm
riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây
theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và
được đoàn ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần
chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo
vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống
ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với
đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không
được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều,
một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng
đều bị cho là ngược với đạo. Các sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi
nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật
khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản
sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm
trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không
thể rờ tới)". [8] Không những nắm độc quyền giáo dục
để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, Giáo Hội còn cấm
hết tất cả các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do báo
chí. Sự kiện này được sách Tôn Giáo và Dân Tộc ghi lại rõ ràng như
sau: “Trong
xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo
khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với
mình, bởi cái lý do giản dị là chỉ Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ
có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một
quyền sửa sai. Trong
Thông Điệp ngày 29/4/1814 gửi Đức Giám Mục địa phận Troyes, Đức Giáo
Hoàng Pie VII (1800-1823) viết: “Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm,
người ta đặt vị Hiền thê thánh thiện và tinh truyền của Đức Ki-tô
(tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với các giáo phái lạc đạo và ngay cả với bọn Do Thái bất tín”.
Đức Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846) đã gọi tự do báo chí là “thứ tự
do tệ hại nhứt, đáng ghét nhứt, kinh tởm nhứt, mà một số người dám
đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nợ…” Giáo
Hội đã lên án chủ nghĩa tự do qua ba bức thông điệp: “Mirari vos” của
(Giáo Hoàng) Grégoire XVI (1832), “Quanta cura” của (Giáo Hoàng) Pie XI (1864)
và “Libertas prestantissimum” của (Giáo Hoàng) Leo XIII (1888). Thông điệp
sau cùng này tiến bộ hơn đôi chút nhưng vẫn không công nhận các quyền
tự do như những quyền tự nhiên mà chỉ chấp nhận chúng như một thực
trạng.”[9]
Với chủ trương như trên, những hạt giống
tư tưởng Ki-tô chỉ có thể hích hợp với môi trường hay tại quốc gia
nghèo đói, dân trí thấp kém và ở trong tình trạng chậm tiến. Những hạt
giống này rất kị đối với các hạt giống tư tưởng được các quốc
gia theo chính sách giáo dục tự do khai phóng sử dụng để gieo vào đầu
óc các trẻ em, và càng kỵ hơn nữa đối những hạt giống tư tưởng
được các nước theo xã hội chủ nghĩa gieo rắc và đầu óc người dân
trong nước. Đây là nguyên nhân TẠI SAO các
chế độ đạo phiệt đều có chủ trương cấm đoán, không cho du nhập những
hạt giống tư tưởng gieo vào đầu óc người dân trong các nước tự do dân
chủ hay trong các nước theo xã hội chủ nghĩa, và tìm đủ mọi các để
hủy diệt nó bằng mọi giá. Người dân
nào lén lút tàng trữ hay đọc những
sách báo nói về những loại hạt giống này thì sẽ bị mật vụ theo
dõi, có thể bị túm cổ, bị tống giam, bị trừng phạt hết sức nghiêm
khắc theo luật rừng tùy hứng của người cầm quyền chế độ, cũng có
thể bị biệt giam vô hạn định hoặc là bị làm cho biến mất, không
còn hiện dịên trên cõi thế gian này nữa. Đây là trường hợp của Miền
Nam Việt Ngoài những việc kiểm soát gắt
gao những bài học trong môn Sử Địa và Công Dân, giảm thiểu thời lượng,
coi môn học này là môn học phụ với hệ số 1 như trên, những ấn phẩm bàn luận về những đề
tài này còn bị cấm lưu hành. Tại sao lại như vậy? Lý do: Những tín lý Ki-tô đều mang nặng tính
cách hoang đường, phi lý, phản khoa học, loạn luân dâm loàn, và những
giáo luật cũng như những lời dạy của Giáo Hội La Mã đều có tính
cách chuyên chế, độc đoán, áp bức và bóc lột người dân dưới quyền.
Trong khi đó, những bài học trong môn Sử Địa
và Công Dân được giảng dạy trong chương trình tiểu và trung học ở
các nước dân chủ tự do, nhất là môn Công Dân và Lịch Sử Thế Giới
hoàn toàn trái ngược với những hạt giống tư tưởng Ki-tô mà chính quyền
muốn gieo vào đầu óc non dại của trẻ em. Hơn nữa, nếu môn Lịch Sử
Thế Giới được đưa vào trong chương trình học dù là đã bị Giáo Hội
kiểm soát và lược bỏ những phần bất lợi cho Giáo Hội, cũng vẫn gây tò mò cho các em tìm đọc các
cuốn sách sử thế giới khác được du nhập từ các quốc gia tự do dân
chủ. Như vậy, nếu đưa môn Sử Thế Giới vào trong chương trình học
thì chẳng hoá ra chính quyền công khai xúi giục các em đi tìm đọc sử thế
giới để biết những rặng núi tội
ác của Giáo Hội La Mã. Những bài học mà Giáo Hội La Mã kỵ nhất là những
bài học nói về thời Trung Cổ trong
đó có cả rừng tội ác của Giáo Hội. Đồng thời, Giáo Hội cũng rất kỵ đối với những bài
học nói về phong trào các đế quốc thực dân Âu Châu đi chiếm đất ở
các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu vì trong đó có nói đến vai trò quan trọng
của Giáo Hội và các nhà truyền giáo Da-tô trong phong trào này. Vì lý do này mà môn Sử Địa và
Công Dân trong chương trình trung học bị chính quyền kiểm soát vô cùng gắt gao. Bằng chứng
là vào năm 1956, bộ sách lịch sử thế
giới của học giả Nguyễn Hiến Lê bị tịch thu, bị cấm lưu hành, tác
giả bị sỉ vả là đầu óc đầy rác rưởi và bị chính quyền cho mật
vụ theo dõi. Đồng thời, trong các trường tiểu và trung học tư thục tại
các xóm đạo và ở các nơi ngoài xóm đạo do các ông linh mục hay tín đồ
Da-tô làm chủ, môn Sử Địa và Công Dân bị rơi vao tình trạng vô cùng
thê thảm (sẽ đựợc nói rõ trong tiểu mục nói về Cán Bộ Giáo Dục).
Nhiều trường lại đưa môn Giáo Lý Ki-tô lý vào
trong chương trình học và môn này chính là những hạt giống tư
tưởng mà chế độ muốn gieo vào đầu óc các trẻ em thơ dại. Trong môn
Giáo Lý, các em được dạy rằng con người là do Thiên Chúa tạo dựng
nên theo hình ảnh của thiên Chúa và mọi sư việc ở trong vũ trụ này đều do Thiên Chúa an
bài. Vào mùa xuân năm 1974, trong một lớp
dạy Giáo Lý ở nhà Bình Thới, Sàigòn, khi nói chuyện với vị linh Mục phụ trách lớp học này, người viết đặt ra vấn đề vai trò của Giáo Hội đại diện của Chúa
hay Thượng Đế đối với giáo dân và người đời, thì được giải thích rằng, “Chúa ở
mãi trên chín từng mây còn mắc bận cả ngàn chuyện, không thể có mặt
ở trên trái đất này được. Vì thế, Chúa đã ủy nhiệm cho Giáo Hội
La Mã làm đại diện duy nhất cho Chúa ở trên trái đất này với những
quyền năng của Chúa để ban phát những ân sủng cho những người triệt
để vâng lời hay tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội, và trừng phạt nghiêm khắc những kẻ nào nghi ngờ hay
không tin rằng Giáo Hội không phải là đại diện của Chúa. Vì phải quản
lý tất cả mọi người trên thế giới, Giáo Hội không thể có mặt tại
các địa phương để hành xử quyền hành đã được Chúa ủy nhiệm đối với tất cả mọi người ở trên thế
giới. Vì thế Giáo Hội lại ủy nhiệm cho các ông hồng y, tổng giám mục,
giám mục và linh mục mà Giáo Hội gọi
là những người mang chức thánh tại các địa phương với những quyền
năng của Chúa đã ủy nhiệm cho Giáo Hội để
họ trực tiếp ban ân sủng những người biết nghe lời họ, và
trừng phạt nghiêm khắc những kẻ nào dám không nghe lời họ. Những phần trình bày trên đây cho
chúng ta thấy rõ là, những hạt giống tư
tưởng trong kế sách trồng người của Giáo Hội La Mã tại miền Nam Việt
Nam trong những năm 1954-1975 là hạt giống tín lý Ki-tô và những hạt giống
mà vị linh mục dạy gíao lý trên đây đã giải thích cho người viết. Vì thế mà
trong những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960,
ở miền Nam Việt Nam mới có khẩu hiệu “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.” (Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh,
Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 18 và 37.) và vào mùa hè năm 1964, Linh-muc Hoàng
Quỳnh mới đưa ra khẩu hiệu “thà mất nước,
chứ không thà mất Chúa” để hô hào, kêu gọi giáo dân quyết tâm liều
chết chiến đấu cho quyền lực của Giáo Hội La Mã ở miền Nam Việt Đọc qua phần trình bày trên đây,
độc giả thấy rõ dã tâm thâm độc của Giáo Hội La Mã sử dụng tín
lý Ki-tô là để mê hoặc và lừa bịp người đời với mục đích làm
cho họ lầm tưởng rằng chính những cái hoang đường, phi lý và phản
khoa học trong Thánh Kinh và trong lời dạy của Giáo Hội La Mã là quyền năng
của ông Thượng Đế hay Thiên Chúa trong hệ thống thần học Ki-tô. Nếu
nhắm mắt tin theo những tín lý này và vấng lời các nhà tuyền giáo một
cách vô điều kiện thì sẽ được ông Thượng Đế này ban cho những phép lạ, được hưởng những “ẩn sủng
của Thượng Đế”, “sẽ được Chúa
trả ơn”. Vì cái bản chất tham lam, hám lợi háo danh, thèm khát quyền
lực, nhưng lại ngu dốt và thiển cận, không biết nhìn xa trông rộng,
không biết suy cho kỹ nghĩ cho cùng, nhiều người đã nhắm mắt tin theo những
tín lý Ki-tô láo khoét này để hy vọng sẽ được ban cho những “ân sủng của Thượng Đế” như bọn giáo
sĩ Ki-tô thường rao truyền. Giáo Hội
La Mã cũng biết rõ đại đa số những người ít học, ngu dốt và số đông
những người nghèo túng, đói khổ thường hay có những nhược điểm này
và những bọn tiểu tư sản có máu trưởng giả học làm sang thường mắc
chứng bệnh thèm khát quyền lực. Cho nên, Giáo Hội đã dùng cả vật chất, lãn
địa vị trong xã hội và chức vụ trong chính quyền làm miếng
mồi câu nhử những hạng người này chạy theo để rồi lọt vào cái
tròng Da-tô (the Catholic loop) của Giáo
Hội. Đồng thời, các chính quyền đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội
được lệnh phải triệt để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để kìm hãm nhân dân dưới quyền
mãi mãi ở trong tình trạng vừa dốt đặc
không biết gì về lịch sử thế giới hay những bước tiến của loài người,
không biết gì về những rặng núi tội ác của Giáo Hội trong gần hai
ngàn năm qua vừa ngu xuẩn như con cừu (con chiên) không biết sử dụng
lý trí để tìm hiểu sự vât. Có như thế thì người dân và tín đồ mới
nhắm mắt tin tường và những tín lý láo khớet và bịp bợm trong hệ thống
thần học Ki-tô, và có như vậy, Giáo Hội mới cảm thấy an toàn. 2.-
PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM (PHƯƠNG
PHÁP GIEO GIỐNG) A.-
Tại các nước theo chính sách giáo dục tự do và khai phóng.- Tại các
quốc gia này, phương pháp dạy môn Sử Địa và Công Dân (phương pháp gieo
hạt giống tư tưởng vào đầu óc học sinh) ở các trường trung và đại
học là phương pháp thảo luận. Theo phương
pháp này, học sinh được cho biết
trước đề tài học hỏi. Những đề tài này đều nằm trong sách giáo
khoa phát không cho học sinh ở bậc
trung học (và phải mua ở bậc đại học) đem về tìm hiểu trước khi được đem ra thảo luận
ở trong lớp học. Đến giờ học, thày giáo thuyết giảng đề tài đó, rồi
thảo luận với học sinh và có nhiệm vụ phải giải đáp những thắc mắc
do học sinh nêu lên. Đồng thời, giáo viên cũng phải giảng rộng thêm những
gì có liên hệ đến đề tài mà sách giáo khoa không có đủ chỗ để nêu
lên. Phương pháp dạy học này cũng đã được các Nho gia áp dụng trong thời
chữ Hán còn được sử dụng trong văn thư hành chánh trong các nước theo
văn minh Khổng Mạnh. B.-
Tại các nước theo theo chế độ đạo phiệt.- Tại các quốc
gia này, đặc biệt là các nước theo chế độ
đạo phiệt Da-tô, Phương pháp sư phạm độc
thoại được áp dụng triệt để trong lãnh vực khoa hoc xã hội trong
đó có môn Sử Địa và Công Dân. Phương pháp này đã được các ông truyền
giáo Da-tô sử dụng trong việc rao giảng tín lý Ki-tô như chúng ta thường
thấy vào những giờ lễ trong các nhà thờ. Phương pháp này đòi hỏi hoc sinh phải chấp nhận không được
thắc mắc những luận cứ hay tất cả những gì ghi sẵn trong bài học,
đòi hỏi học sinh phải học thuộc lòng những bài học của giáo viên
truyền đạt, không được thắc mắc, không được tìm hiểu sự vật. Chủ đích của phương pháp này là tạo
cho học sinh có thói quen thụ động, không sử dụng lý trí vào việc phân
tách và lý luận để tìm hiểu sự vật. Cũng vì vậy mà những lớp người
theo học các trường học qua phương pháp dạy học này trở thành thụ động
lười suy nghĩ. Gặp khi có việc gì cần phải giải quyết, họ có khuynh hướng
trông nhờ vào người khác giải quyết giùm. Đây là nguồn gốc của tinh
thần vọng ngọai và là cha đẻ của đặc tính vong bản và trọng ngoại
khinh nội của những lớp người này. Cũng vì thế mà họ sẽ: 1.- Không
thể suy đoán ra tính cách bịp bợm và lừa dối trong những
tín lý Ki-tô. 2.- Không biết gì về tính cách
chuyên đoán, áp bức và bóc lột trong các giáo luật Ki-tô và lời dạy của
Giáo Hội La Mã. 3.- Không nhìn thấy chủ trương
"thần quyền chỉ đạo thế quyền"
là một mối nguy hại cho nhân loại, và cũng không nhìn thấy "chính sách bất khoan dung" của
Giáo Hội La Mã đối với các tôn giáo và văn hóa khác hết sức là bạo ngược và dã man đến cùng độc của
dã man. 4.- Không nhìn thấy những mâu thuẫn
giữa những lời viết ở đoạn này với một đoạn khác ở trong Kinh Thánh, không nhìn thấy những mâu
thuẫn giữa những lời viết trong Thánh Kinh với những lời rao truyền
khoác lác bịp bợm của Giáo Hội. Điển hình là: a.- Sách
Leviticus (26:1-18) nói rõ Chúa Cha Jehovah là "một thứ hung thần ác quỷ nặng lòng ganh
ghét, đố kỵ ti hiêm, vô cùng độc ác và cực kỳ vô cùng tàn ngược"
mâu thuẫn với lời rao truyền của Giáo Hội bảo rằng
"Thiên Chúa
Tòan Trí, Toàn Năng, Toàn Thiện và lòng lành vô cùng", b.- Chuyện ông Jesus có khả năng biến
hóa 5 cái bánh mì và hai con cá thành
một khối lượng bánh mì và số cá dư thừa cho hơn 5 ngàn người ăn không
hết (Mathiew: 14:15-21) mâu thuẫn với chuyện ông ta không đủ khả năng biến
hóa làm cho cây sung (vả) sinh trái cho ông ta ăn vào lúc đói lòng, c.- Lời rao truyền rằng Chúa Jesus toàn thiện mâu thuẫn
với sự kiện Chúa Jesus tức giận nổi xung làm làm cho cây sung (vả) này khô héo tàn tạ
(Mathiew: 21: 18-21) 5.- Không nhìn thấy tính cách "xảo trá và bịp bợm" trong
"những ngôn ngữ mập mờ và ỡm ờ"
qua cửa miệng của giới tu sĩ Da-tô khi rao giảng tín lý Ki-tô hoang đường. 6.- Không nhìn thấy những hành động
"gạ gẫm nữ tín đồ" phá
nát hạnh phúc gia đình giáo dân. Khi những hành động này được phơi bày
ra trước công luận thì tất cả đã xong rồi. Đây là trường hợp của
các linh-mục Cao Đăng M. ở Porland (Oregon), Nguyễn Hữu Dụ và Đào Quang
Ch. ở Houston (Texas), Trịnh Thế H. Chicago (Illinois), Trần Công Ngh. ở California cũng như tất cả các linh mục
được Linh-mục Joseph Nguyễn Thanh Sơn nêu đích danh nơi trang 27 trong tờ Tận
Thế Số Ra Mắt, ngày 15/6/2002 và của hàng ngàn vụ ô nhục khác ở Bắc
Mỹ đã được phơi bày ra trước ánh sáng công luận từ tháng 2/2002 cho
đến ngày nay (tháng 4/2006), và nếu tính từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay
(như đã trình bày ở Chương 16, Phần I) thì phải có hàng triệu triệu vụ
như vậy. Tìm hiểu phương pháp giảng dạy độc thoại,
chúng ta thấy việc làm của giáo viên phụ trách môn Sử Địa và Công Dân như sau: Như đã nói ở trên, lối giảng
bài của họ giống như các ông truyền giáo hay tu sĩ Da-tô thuyết giảng
trong giờ lễ ở trong các nhà thời hay trong lớp dạy Giáo Lý Ki-tô cho những người bị cưỡng bách hay bị dồn
vào cái thế kẹt phải theo đạo. Lối giảng bài theo kiểu này thông dụng
nhất ở trong các trưởng học và đại học trên toàn lãnh thổ Việt Tất cả những người đã từng
theo học tại các trường trung và đại học (bậc cử nhân) ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975,
đều nhận thấy rằng thày giáo thường đến lớp vào đúng lúc chuông
reo vào lớp vừa dứt. Ngay khi vừa tới lớp, việc đầu tiên của ông
thày là xóa bảng (nếu chưa xóa), rồi nhập đề bằng câu nói giới thiệu
bài học mới. Kế đó là lấy phấn viêt tên đề tài và dàn bài lên bảng
cho học sinh nhìn thấy rõ đề tài sắp sửa được nghe giảng. Ở bậc
trung học, nếu là các môn Văn, Sử Địa và Công Dân, sau khi làm những
công việc trên đây, ông thày bắt đầu lên giọng giảng bài và nói thao
thao bất tuyệt khỏang chừng 20 đến 25 phút, chỉ ngưng lại khi có một học
trò yêu cầu nhắc lại những chỗ nào nghe không rõ. Thì giờ còn lại là
chép bài theo lời ông thày đọc cho học sinh ghi để mang về nhà học thuộc
lòng. Ở bậc đại học, trong lúc giáo sư giảng bài, sinh viên ráng mà ghi
bài, nếu không ghi được phải mua "cours" đã in sẵn hoặc sách
giáo khoa mang về học thuộc lòng để chuẩn bị làm bài thi vào cuối
niên học. Một hình ảnh khác nữa là khi vào lớp, ông thày ngồi vào ghế
với cái bàn trước mặt ở trên bục giảng. Tiếp theo là mở cuốn sách
giáo khoa cầm sẵn trong tay, lật đến trang có bài học ngày hôm đó rồi
giới thiệu với học sinh bài học mới và yêu cầu học sinh chép bài theo
lời ông thày đọc. Nếu có dư thì giờ, ông thày chuyển sang mục khảo học
sinh từng câu một với mục đích làm cho học sinh nhớ bài. Hinh ảnh này
được Giáo-sư Lý Chánh Trung kể lại kinh nghiệm bản thân của ông ở Trường
Trung Học Taberd với nguyên văn như sau: "Bây giờ, vào trường Taberd là thế giới của
đạo giáo. Đạo giáo bao trùm đời sống và việc học. Kinh kệ khởi đầu
và kết thúc mỗi hoạt động. Mỗi buổi sáng, nửa giờ đầu luôn luôn
dành cho giáo lý. Phương
pháp là học và trả thuộc lòng. Ông thày chỉ một chú học trò và gõ thước
cái cốp, chú này đứng dậy trả câu thứ nhất: "Hỏi: Đức Chúa Trời
là gì? - Thưa: Đức Chúa Trời là đấng tạo nên trời đất muôn vật..."
(bằng tiếng Pháp). Thước lại gõ cái cốp và chú học sinh thứ hai đứng
dậy... cho đến khi hết bài. Tôi là thằng làm biếng tổ, sáng nào cũng
co rúm người, cố làm cho mình nhỏ lại như hột cát để thoát khỏi cái
nhìn của Sư huynh. Nhưng
cái cực hình kinh khủng nhất là đầu lớp học buổi trưa, học sinh phải
lần nguyên một chuỗi tràng hạt. Trời nóng như thiêu, giọng kinh trầm trầm
kéo dài như không bao giờ dứt, đứng yên một chỗ không cục cựa, tôi cảm
thấy tứ chi ngứa ngáy như có trăm ngàn con kiến đang bò lên. Nhưng
riết rồi cũng quen và một khi đã thuộc kinh tôi cũng ê-a hằng giờ với
mấy đứa kia, không còn bực bội nữa: Tiên học lễ, hậu học."
Lý Chánh Trung, Tìm Về Dân Tộc (Sàigòn:
Lửa Thiêng, 1972), tr 25-26. [10]
Còn nữa, nếu so sánh với chủ trương
giáo dục ở các nước theo chính sách giáo dục tự do khai phóng, người
viết nhận thấy, các nhà làm chính sách giáo dục ở miền Nam Việt Nam
trong những năm 1954-1975 cố tình lờ đi, không đưa vào chương trình
phần dạy cho học sinh biết cách phân biêt sự khác nhau giữa một bên là "ý kiến" (opinion) tức là quan niệm
của một cá nhân hay một nhóm người về một vấn đề gì, và một bên là "sự kiện" (fact) tức là một vật
hiện hữu hay một sự việc đã hoặc là đang xẩy ra. Mặt khác, nhà trường
không dạy học sinh phương cách viết một bài "điểm sách" và cũng không dạy cho học sinh biết phương
cách viết một "bài khảo luận".
Đến đây, thiết tưởng cũng nên
biết ở Hoa Kỳ, học sinh trung học được thày giáo hướng dẫn rất kỹ
cho biết cách phải viết một bài điểm sách. Viết một bài điểm sách cũng
phải có phần nhập đề, và phần nhập
đề là phải nói đến tên của cuốn sách, tên tác giả, nhà xuất bản,
số trang, khổ trang và giá bán. Phần
thân bài là phần nội dung của cuốn sách: chủ đề của sách, sách được
chia ra mấy phần, phải trình bày cho rõ chủ ý của tác giả muốn nói hay
chứng minh điều gì trong mỗi phần. Kế đến là phần kết luận, học
sinh phải đưa ra nhận xét của mình về cuốn sách. Điều quan trọng là
phải biết phân biệt sự khác nhau giữa "sự kiện (fact)" và "ý kiến (opinion)". Tuyệt
nhiên, không được dùng những ngôn từ khiếm nhã đối với tác giả. Trong xã hội Nho giáo cũng như trong xã hội
dân chủ tự do, người ta chỉ biết
căn cứ vào "sự việc" hay "hành động" mà đánh giá con người,
chứ không cần biết đến gốc gác
gia đình, thành phần xã hội và những việc làm trong quá khứ của
đương sự trừ phi đương sự đã hay đang dựa
vào một thế lực ngoại bang để nắm chính quyền rồi gieo tai giáng họa
cho nhân dân, dị hại cho giống nòi và dân tộc như trường hợp Lê Chiêu
Thống và cha con ông Ngô Đình Diệm thì người ta mới tìm hiểu về nguồn
gốc và đặc tính truyền tử lưu tôn của tác nhân. Chính
vì chỉ cần quan tâm đến "sự việc"
hay "hành động" và không cần
để ý đến gốc gác gia đình và nghề nghịệp của tác nhân hay tác giả,
cho nên ông Đội Cấn dù là người đã đi lính cho quân giặc ngoại xâm Vatican và Pháp, nhưng khi đã vì dân tộc mà có hành động chống lại
quân cướp hung tàn này thì nhân dân ta liền suy tôn ông lên hàng anh hùng
dân tộc. Chu Nguyên Chương vốn là một đứa bé mồ côi, phải nương mình nơi cửa chùa rồi lang
thang đi ăn mày khắp nơi trong vùng Hoài Tây, cuối cùng theo nghĩa quân chiến
đấu cho quyền lợi của quê hương[11].
Sau đó ông thành công trong việc đánh
đuổi giặc Nguyên, giành lại được chủ quyền độc lập cho dân tộc,
người Trung Hoa vẫn đời đời nhớ ơn và ghi công ông mà không bao giờ
nhớ tới cái gốc đi ăn mày của ông trong thuở thiếu thời. Jean Jacques
Rousseau là một người: "xuất thân là
một tên đầy tớ, bị đuổi vì tội ăn cắp, sau sống chung với người
đàn bà nhà quê, vừa làm đầy tớ, vừa làm nhân tình, nhưng sách của
Rousseau đã khiến cho ông tên tuổi lẫy lừng khắp nước. Phái trẻ coi
ông như một vị thần, và ngay đến phe quý tộc, nhất là các bà ngự trị
trong các phòng khách văn chương cũng
không ngớt bàn luận ca ngợi những ý kiến của ông."[12]
Thực ra, tại miền Nam Việt Nam
trong những năm 1954-1975, có rất nhiều linh mục và tín đồ Da-tô phụ trách môn Văn ở các trường Đại Học
Văn Khoa Sàigòn, Đại Học Huế và Đại Học Đà Lạt cũng như các giáo
viên phụ trách môn Sử Địa và Công Dân và những người đã tốt nghiệp
đại học cũng không biết phân biệt sự khác nhau giữa các nhóm từ
gọi là ý kiến với các nhóm từ gọi là sự kiện. Họ cũng không biết phưong cách viết một
bài điểm sách hay một bài viết theo phương pháp khảo luận. Nếu đọc
những tác phẩm hay những bài viết của họ được phổ biến trong các cộng
đồng người Việt ở hải ngoại ngày nay, chúng ta sẽ thấy rõ sự kiện
này. Một trong những thí dụ điển hình nhất là bài viết “ Đọc Sách:
A Poem For My Children” đăng trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 559, tháng
5/1999 ở nơi các trang 26, 27, 86 và 87. Tác giả bài viết này ký tên là Trương
Phú Thứ, một bút hiệu của Trương Đăng Qu., một người đã tốt nghiệp
trường Quốc Gia Hành Chánh độ mấy năm trước ngày gánh hát miền Nam Việt
3.-
CÁN BỘ PHỤ TRÁCH MÔN SỬ VÀ CÔNG DÂN (NGƯỜI
THỢ GIEO GIỐNG ) Cán bộ giáo dục còn được gọi là nhà
giáo tức là các giáo viên hay giáo sư phụ trách việc giảng dạy và hướng
dẫn việc học hỏi của các em học sinh hay sinh viên. Thông thường, ngoại trừ các quốc gia bị áp đặt theo
chế độ đạo phiệt, đặc biệt là chế độ đạo phiệt Da-tô, bất
kỳ chế độ chính trị nào, quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền,
cộng hòa dân chủ tự do hay xã hội chủ nghĩa đều coi vai trò của người
cán bộ giáo dục phụ trách dạy môn Sử và Công Dân như là những người
thợ gieo giống tư tưởng vào đầu óc trong trắng của các em học sinh. A.-
Tại các nước theo chính sách giáo dục tự do và khai phóng.- Tại các
nước này, người cán bộ giáo dục hay làm nghề dạy học không phải chỉ
làm có công việc “truyền đạt chữ
nghĩa, truyền đạt kiến thức và rèn luyện đức hạnh”, mà còn có
trách nhiệm phải “KHAI TÂM” cho các môn sinh, nghĩa là phải “mở mang trí tuệ cho môn sinh, lấy chân tâm
mà hướng dẫn môn sinh về phương cách vận dụng trí óc vào việc lý luận,
phân tách và tìm hiểu sự vật." Viết đến đây, người viết nhớ
đến lời nói của một tư tưởng gia Hoa Kỳ đăng trong tờ Daily Bulletin
ngày 4 tháng 3 năm 1997 của trường Trung Học Stadium (Tacoma School District) nói
về mục đích của giáo dục như sau: “Mục
đích của giáo dục là biến tâm hồn con người thành một tâm hồn linh
động truyền đạt, chứ không phải là một tâm hồn tù hãm trong một phạm
trù hạn hẹp.” (The goal of education
should be to turn the mind into a living fountain, not a holding pond.) Nói cho rõ hơn, nghĩa vụ của người
làm giáo dục là phải cố gắng trình bày các sự kiện một cách rõ
ràng, minh bạch, rạch ròi và giải thích cặn kẽ những lý lẽ bằng những
phương pháp khoa học khiến cho các môn sinh hay học viên theo đó mà sử dụng
lý trí, lương tâm và lương tri để nhận thức hay ý thức được đâu
là sự thực, đâu là chân lý, những gì thuận lý và có thật, khác hẳn
với những gì nghịch lý, mơ hồ, viển vông và mông muội. Những người
làm công việc giáo dục chỉ biết nói những điều thuận lý khiến cho người
nghe giảng được nghe những điều thuận tai. Những nhà làm chính sách
giáo dục đúng nghĩa của giáo dục (không phải nhồi sọ) là những người
lương thiện cố gắng muốn rằng những ông thày, đặc biệt là những
ông thày phụ trách dạy môn Sử và Công Dân phải đem lòng chân thành
trình bày những sự thật của sự vật và phải giải thích cho học sinh
những sự thật của sự vật bằng cách: 1.- Trình bày những cái tốt, cái
hay và vẻ đẹp của một hệ thống tư tưởng hay của một khám phá mới
về khoa học của bất kỳ cá nhân hay môn phái nào bất kể từ đâu tới.
2.- Nói rõ những sai lầm của một
tín lý, một niềm tin (cũng gọi là đức tin) hay bản chất của một việc
làm bất chính, giải thích cho học
sinh thấy rõ những tác hại của các tín lý sai lầm chỉ là một thứ tục
lệ tin nhảm và bịp bợm giống như chuyện Hà Bá Cưới Vợ mà thôi. Người ta gọi chính sách giáo dục
như vậy là giáo dục tự do và khai phóng. Ở đâu có chính quyền cho thi
hành chính sách giáo dục tự do và khai
phóng thì ở đó các hạt giống tư tưởng học thuật cao đẹp và kiến
thức khoa học sẽ nầy mầm, đâm chồi, nẩy lộc, vươn lên thành những cây lá xanh tươi,
căng đầy nhựa sống, trổ bông đơm trái đem lại nguồn sống vui tươi
an lạc cho đời. Và chỉ những quốc gia theo chế độ
dân chủ thực sự, tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền, thực sự
tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, (tức là các nhà
lãnh đạo chính quyền hay chế độ phải tuyệt đối tôn trọng quyền sống,
quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng của nhân dân), coi “ý dân như ý Trời”, thì chính sách
giáo dục tự do và khai phóng mới có
đất dung thân. Bằng chứng là ở Âu Châu, phải đợi đến thời kỳ
phong trào nhân dân Âu Châu vùng lên chống lại Giáo Hội La Mã và đòi cải cách tôn giáo (1309-1648) với chủ thuyết nhân bản ra đời đưa đến
Thời Đại Lý Trí - Age of Reason (1500-1789) cùng với Thời Đại Cách Mạng
Dân Chủ - The Age of Democratic Revolution (1603-1815),
các nhà tư tưởng và khoa học gia như John Locke (1632-1704), Montesquieu
(1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire
(1694-1778), Victor Hugo (1802-1885), Charles Robert Darwin (1809-1882), v.v… mới có
thể được tự do đưa ra được những tư tưởng cao đẹp và phát minh
khoa học, nhiên hậu mới làm cho loài người càng ngày càng tiến mạnh như
ngày nay. Cũng nên
biết chủ nghĩa nhân bản xuất hiện
vào thời kỳ các Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo cuồn cuộn dâng lên
ở Âu Châu. Sách tự điển The American Heritage Dictionary Of The English Language
định nghĩa chủ nghĩa nhân bản như sau: “Chủ
nghĩa nhân bản là một triết lý hay một thái độ quan tâm đển con người,
đến công trình tốt đẹp và quyền lợi của con người, hơn là quan tâm
đến thế giới thần linh và đến những vấn đề của thần học.” (Nguyên văn: Humanism, A philosophy or attitude
is concerned with human beings, their achievements and interests, rather than with
abstract beings and problems of theology.) Theo Tự điển Anh Việt do Viện Ngôn
Ngữ Học Việt “một
hệ thống những sự tin tưởng tập trung vào những nhu cầu phổ biến của
con người và tìm những biện pháp duy lý (chứ không phải dựa vào thần
thánh) để giải quyết những vấn đề của con người.” Điều
kiện để được thâu nhân vào làm thày giáo dạy môn Sử Địa và Công
Dân tại bậc trung học ở các nứoc dân chủ tự do.- Tại các quốc
gia này, việc thâu nhận những ứng viên phụ trách giảng dạy môn học
này cũng hết sức quan trọng như việc thâu nhận các ứng viên phụ trách
các môn học khác như Sinh Học, Toán,
Lý, Hóa, Anh Văn, Công Kỹ Nghệ, v.v…
Chính sách giáo dục tự do khai
phóng có chủ trương nâng cao dân trí, cho nên
cần phải đào tạo những cán bộ giáo dục phụ trách môn Sử Dịa và
Công Dân có căn bản chuyên môn rất vững, phải quán triệt những đề tài giảng dạy, nhất là các
đề tài trong môn Sử Thế Giới và các đề tài thuộc về các chế độ
chính trị nằm trong môn Công Dân. Do đó, những người phụ trách giảng dạy
môn học này phải có văn bằng và có
khả năng thực sự về môn học này. Tại
quốc gia này, việc huấn luyện người
vào làm nghề thày phải có một tổ chức quy mô và người được tuyển
chọn làm nghề thày ở bậc tiểu và
trung học phải có một số điều kiền về trình độ học vấn và khả năng kiến thức về môn học họ phụ trách giảng
dạy. Tại Hoa Kỷ, tất cả các giáo viên
tiểu và trung học phụ trách giảng dạy bất kỳ môn học nào ít nhất cũng
phải có bằng cử nhân trong ngành giáo dục, và sau 5 năm kể từ khi được
thâu nhận vào dạy tại một trường nào, bắt buộc phải có bằng Cao Học
Giáo Dục (Master of Education) về môn học chuyên môn đang phụ trách. Giảng
viên phụ giảng tại bất kỳ một trường đại học cộng đồng - chỉ dạy
có hai năm đầu của chường trình cử nhân (Community Collge) hay một đại học dạy 4 năm cử nhân trở
lên (university), ít nhất là phải có bằng Cao Học và phải có công trình nghiên cứu về môn
học được giao phó cho giảng dạy. Giảng sư thực thụ dạy tại các đại
học, bất kể là đại học cộng đồng hay một đại học lớn cũng đều
phải có ít nhất bằng Tiến Sĩ (Ph. D.) và một hay một vài công trình nghiên cứu để chứng tỏ khả
năng chuyên môn về môn học phụ trách. B.- Tại các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội.- Tại các quốc gia này, vấn
đề huấn luyện hay đào tạo giáo chức
phụ trách dạy môn Sử và Công Dân được coi như là vô cùng quan trọng,
quan trọng hơn tất cả các môn học khác. Giáo viên phụ trách giảng dạy
môn học này không những phải có đủ điều kiện về
văn bằng và kiến thức về môn Sử và Công Dân, mà còn phải có căn bản vững chắc
về lý thuyết Karl Marx (Marxism). Cũng vì vậy, chính quyền hết sức thận
trọng trong việc thâu nhận giáo viên vào phụ trách dạy môn này. Những
người dù là đã có văn bằng đại học về môn Sử và Công Dân ở các
nước dân chủ tự do, nếu không có căn bản vững chắc về lý thuyết
Karl Marx cũng vẫn không được thâu nhận vào phụ trách dạy môn học
này. Đây là lý do TẠI SAO, sau ngày 30/4/1975, các giáo viên vốn đã từng
phụ trách dạy môn Sử và Công Dân tại các trường trung học ở miền
Nam trong nhiều năm dù rằng họ là những người đã tốt nghiệp tại trường
Đại Học Sư Phạm Sàigòn, Đại Học Sư Phạm Huế, v.v.. , và có nhiều
người có cả văn bằng về môn học này ở Hoa Kỳ cũng vẫn không được
cho phụ trách giảng dạy môn học này. Nếu được thâu nhận, họ được
chuyển sang phụ trách dạy môn Địa Lý. C.- Tại các quốc gia nằm dưới ách thống
trị của chế độ đạo phiệt Da-tô.- Bất kỳ chế độ đạo phiệt
nào cũng có chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ.
Chế độ đạo phiệt Da-tô cũng không đi ra ngoài quy luật này. Các chế
độ này có chủ trương đào tạo giáo chức hay cán bộ giáo dục hoàn toàn khác với chủ trương đào tạo
giáo chức tại các nước theo chính
sách giáo dục tự do và khai phóng. Ở đây, những tín lý Ki-tô, những
giáo luật và những lời dạy của Giáo Hội La Mã là những hạt giống tư
tưởng được triệt để gieo rắc
vào đầu óc non nớt của cac em học sinh, và vai trò của người thợ gieo
những hạt giống này được trao cho các ông tu sĩ hay giáo sĩ Da-tô. Vì thế
mà môn Sử Địa và Công Dân không những
không được coi là những hạt giống tư tưởng gieo rắc vào đầu óc các
em học sinh, mà còn bị coi như là một
môn học vô cùng bất lợi cho những hạt giống tư tưởng Ki-tô giáo. Cũng
vì thế mà việc đào tạo các giáo viên phụ
trách môn Sử Địa và Công Dân và giáo sự phụ trách môn văn tại các trường
Đại Học trở nên không cần thiết. Hơn nữa, tại quốc gia này, vì có chủ trương thi hành chính sách ngu dân
và giáo dục nhồi sọ như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975,
cho nên việc đào tạo giáo chức cho các trường tiểu học và trung học bị
coi nhẹ. Đặc biệt là các giáo viên phụ trách dạy môn Sử Địa và
Công Dân lại càng bị coi nhẹ hơn nữa. Phần lớn những giáo viên phụ
trách dạy môn học này tại các trường tư thục do Giáo Hội làm chủ đều
do các ông linh-mục đưa vào và là những người vừa không có đủ tiêu
chuẩn về bằng cấp, vừa không có khả năng kiến thức về môn học
này. Trong thực tế, sự hiện diện môn học này và sự và việc thuê mướn
giáo viên phụ trách môn học này tại các trường tư thục do Giáo Hội
làm chủ chỉ là một sự miễn cưỡng và bất đắc dĩ. Người viết được biết trình độ
học vấn rất thê thảm của các bà sơ và một vài thanh niên trốn quân dịch phụ trách dạy mấy lớp tiểu học trong họ
đạo (trại đinh cư) Dốc Mơ (Kiệm Tân, Long Khánh) vào những năm
1961-1975. Những người này chưa học hết
bậc tiểu học. Người viết có người anh ruột sinh sống ở đây. Do đó,
mấy người con của ông bắt buộc phải theo học tại các lớp học này
và phải đóng học phí hàng tháng. Dân trong trại muốn gửi con em đi học
các trường công lập ở ngoài trại để khỏi phải đóng học phí. Hơn nữa,
các trường công lập có thày hay cô giáo có sư phạm và trình độ học vấn
khá hơn nếu so với các giáo viên dạy trong các trường học tư của họ
đạo. Nhưng Linh-mục Trần Đình Vận (quản nhiệm họ đạo) không cho
phép và bảo rằng nếu cho con em đi học trường ngoài sẽ không có môn
Giáo Lý, như vậy trẻ em sẽ hư hỏng. Kẻ nào dám trái lệnh Cha, thì hoặc là
sẽ bị trục xuất ra khỏi trại, hoặc là sẽ mất hết những
đặc quyền đặc lợi của chính quyền dành cho giáo dân, trong đó có cả
việc chạy chọt cho vào làm các cơ quan cảnh sát, công an và mật vụ, và
đặc lợi NẾU có những hành động phạm pháp và nếu bị bắt sẽ được
Cha lo cho thoát khỏi vòng lao lý. Các trại định cư khác cũng ở trong tình
trạng này. Tình trạng các giáo viên dạy các lớp tiểu
học trong các họ đạo hay trong các trại định cư khác của người Bắc Kỳ di cư đều như
vậy cả. Khả năng học vấn và khả năng sư phạm của các giáo viên dạy trong các trường trung học ở ngoài các |