giaodiem copyright
          posted: 09.3.2006

   Nguyễn Mạnh Quang

GIÁO HỘI LA MÃ HỒ HỞI THI HÀNH KẾ SÁCH TRỒNG NGƯỜI

[CHƯƠNG 61]

Nói đến kế sách "trồng người", nguời Trung Hoa có câu nói: “Nhất niên chi kế, mạc như thọ cốc, thập niên chi kế, mạc như thọ mộc, bách niên chi kế, mạc như thọ nhân”. Câu nói này được chuyển dịch sang tiếng Việt là “Kế hoạch cho một năm, không gì bằng trồng lúa; kế hoạch cho mười năm, không gì bằng trồng cây; kế hoạch cho trăm năm, không gì bằng trồng người.

I.- NHẬP

Sau gần “một trăm năm lệ giặc Tây”, đại đa số dân ta đã quen với nếp sống văn hóa của thời quân chủ  phong kiến lõi thời, quen với tinh thần nô lệ đối với người ngoại bang và những người có quyền thế. Cho nên, họ chỉ biết có bổn phận của một người dân nô lệ đối với cường quyền mà chưa ý thức được quyền lợi và bổn phận của người công dân của một quốc gia độc lập theo chế độ cộng hoà dân chủ. Vì lý do này, khi mới lên nắm chính quyền vào mùa thu năm 1945, Mặt Trận Việt Minh liền đưa ra một kế sách trồng người với lời tuyến bố của cụ Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Mục đích của kế sách trồng người của  Mặt Trận Việt Minh là  biến con người Việt Nam cũ với  nếp sống văn hóa phong kiến lạc hậu và tinh thần nô lệ như trên  thành con người Việt Nam Mới, ý thức được cả bổn phận và quyền lợi của một người công dân đối với quốc gia và dân tộc bằng chính sách giáo dục mới. Lời tuyên bố này nằm trong mục tiêu xóa bỏ những tàn tích phong kiến lỗi thời tồi bại lạc hậu cùng tinh thần vọng ngoại và nô lệ những người có quyền thế  do chế độ quân chủ phong kiến và Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican tạo ra trong những năm 1885-1945.

Lời tuyên bố trên đây của cụ Hồ Chí Minh cùng với tinh thần quyết chiến để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và chiến thắng  Điện Biên Phủ của quân dân ta dưới quyền lãnh đạo của Mặt Trận Việt Minh đã làm cho người Việt Nam có một nếp sống văn hóa hoàn toàn mới. Trong nếp sống văn hóa mới này, MỌI NGƯỜI ĐỀU ý thức được quyền lợi và bổn phận của một người công dân (citizen) đối với đất nước, KHÔNG CÒN MỘT NGƯỜI NÀO nghĩ rằng mình là tôi thần (subject) của một ông vua trong một chế độ quân chủ, hoặc là một tên nô lệ của một đế quốc xâm lăng, hay là một tên tôi tớ hèn mọn của các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã.  Dĩ nhiên là có những ngoại lệ. Ngoại lệ này là nhóm thiểu số người đã bị điều kiện hóa, lúc nào cũng ở trong tình trạng mộng du, mơ màng về cõi thiên đường qua cửa ải Vatican.

Thực trạng này vô cùng bất lợi cho chính sách xâm thực của Vatican tại Việt Nam. Vì thế, ngay  từ tháng 7/1954, khi được Hoa Kỳ để cho toàn quyền quản lý công việc nội trị ở miền Nam Việt Nam,  Giáo Hội La Mã liền cho tiến hành kế sách trồng người ngay tức thì để biến toàn thể nhân dân miền Nam thành những người ngu xuẩn và dễ sai khiến giống như con cừu (mà Giáo Hội thường gọi là con chiên), mất hết liêm sỉ như Giáo Hội mong muốn. Có như vậy thì người dân miền Nam Việt Nam mới yên phận làm tôi tớ hèn mọn cho các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội, mới ngoan ngoãn triệt để vâng lời và tuân phục những lệnh truyền của Vatican.

II.- VẤN ĐỀ UỐN NẮN TÂM HỒN TRẺ EM,

 PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM VÀ CÁN BỘ GIÁO DỤC

Nói đến kế hoạch trồng người tức là nói đến phương cách uốn nắn tâm hồn trẻ em hay gieo hạt giống tư tưởng vào đầu óc trong trắng của các trẻ em qua chính sách giáo dục.

Bất kỳ chế độ chính trị nào cũng có kế hoạch trồng người tức là chính sách giáo dục để ương mầm hay gieo giống tư tưởng (tư tưởng dân chủ tự do, tư tưởng Karl Marx hay tín lý thần học Ki-tô) vào đầu óc ngây thơ trong trắng của các em cho được hữu hiệu. Và bất kỳ chính sách giáo dục nào dù là chính sách giáo dục tự do khai phóng tự do  ở các nước dân chủ  như ở Tây Âu và Bắc Mỹ,  hoặc là chính sách ngu dân và nhồi sọ tại các nước  theo chế độ đạo phiệt, vấn đề  quan trọng là phải chọn những hạt giống tư tưởng để gieo vào đầu óc trẻ em, chọn phương cách gieo giống  (phương pháp sư phạm) và chọn những người thợ  gieo giống (cán bộ giáo dục) để đảm nhiệm công việc này cho được hữu hiệu. Cũng vì thế mà tại các quốc gia nằm dưới quyền lãnh đạo của một tín đồ Da-tô, tức là dưới quyền chỉ đạo của Giáo Hội La Mã, chính quyền được lệnh  phải tìm đủ mọi cách để nắm độc quyền tất cả các phương tiện sản xuất và  kiểm soát chặt chẽ tất cả mọi phạm vi sinh hoạt trong đời sống của người dân với dã tâm dồn người dân vào  đường cùng để rồi phải trông cậy vào Giáo Hội La Mã mới có thể sinh tồn.   Sự kiện này chủ trương kiểm soát chặt các môn học được sách sử gia  Malachi Martin ghi lại rõ ràng ở trong sách Rich Church, Poor Church với nguyên văn như sau:

Ngay từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lý, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lý toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo mới là  tôn giáo đích thực. Vì thế cho nên mọi hệ thống triết lý khác và mọi hệ thống kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lý – đều phải hài hòa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lý giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Kitô giáo mà ra. Kitô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lãnh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu  khác trong xã hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không hòa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong tình trạng tách rời nhau. Các vấn đề như quân sự, chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.” (“From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated all aspects of temporal life: economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irreconcilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.”)[1] 

Trong các lãnh vực hoạt động bị Giáo Hội khống chế và kiểm soát trên đây, có  lãnh vực giáo dục. Trong lãnh vực này, Giáo Hội kiểm soát hết sức nghiêm ngặt, không để cho môn Sử   và môn Công Dân được đưa vào trong chương trình học NẾU KHÔNG có sự kiểm duyệt, cắt xén, thêm bớt  và được diễn dịch theo ý muốn của Giáo Hội nhằm để tránh khỏi làm nguy hại đến việc rao truyền tín lý Ki-tô và chính sách truyền đạo của Giáo Hội. Cũng vì thế mà Giáo Hội luôn luôn có chủ trương phải thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để đào tạo thanh thiếu niên thành những tín đồ Da-tô ngoan đạo. Chủ trường này hoàn toàn trái ngược với chính sách giáo dục của các quốc gia  có chủ trương đào tạo thanh thiếu niên thành những người có tinh thần dân tộc, đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết. Sự kiện này được Giáo-sư Lý Chánh Trung trình bày rõ ràng trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc với nguyên Văn như sau:

“Trước hết, hai lãnh vực đạo và đời, trong thực tế, chồng chéo lên nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và không thể phân biệt rõ rệt như trong lý thuyết. Cho nên, dầu chánh quyền có chấp nhận sự phân biệt, thì vẫn còn cơ hội xung đột nhau trong những phạm vi gọi là “pha chè” (domain mixte), nghĩa là những phạm vi mà cả hai bên đều có những quyền lợi phải bảo vệ, chẳng hạn phạm vi giáo dục. Giáo Hội cần có một nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo.

Nhưng quốc gia cũng cần phải nắm giữ tất cả thanh thiếu niên của mình để đào tạo chúng theo tinh thần quốc gia.

Nếu quan niệm về “tinh thần quốc gia” mâu thuẫn với tinh thần công giáo (chẳng hạn như trong các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội) thì sự xung đột bùng nổ hầu như không thể giải quyết êm thắm được.

Nhưng ngay trong những quốc gia không có một ý thức hệ mâu thuẫn với đạo Công Giáo hoặc do chính người Công Giáo lãnh đạo, sự xung đột vẫn ngấm ngầm.” [2] 

1.- HẠT GIỐNG TƯ TƯỞNG

Nói đến hạt giống tư tưởng để gieo vào trong đầu óc non dại của các em học sinh là nói đến những tư tưởng mà các nhà làm chính sách giáo dục muốn cho các em khi học xong sẽ hành xử như là mẫu người mà họ mong muốn. Do đó, loại hạt giống tư tưởng gieo vào đầu óc các em học sinh tại một quốc gia là tùy theo chính sách giáo dục được thi hành ở quốc gia đó.

A.- Tại các nước thi hành chính sách giáo dục tự do khai phóng.- Tại các quốc gia này, chuơng trình học ở bậc tiểu và trung học, môn Social Studies (sử địa và công dân) được coi là hạt giống tư tưởng gieo và đầu óc các em học sinh.  Loại hạt giống tư tưởng này có độc tố sát hại tất cả những hạt giống tư tưởng tín lý Ki-tô, giáo luật, lời dạy của Giáo Hội La Mã và các loại  hạt giống độc tài chuyên chính. Đặc biệt là loại hạt giống này có tính chất miễn nhiễm  đối với những độc tố do loại hạt giống thần học Ki-tô toát ra. Cũng vì thế mà ở đâu có hạt giống tư tưởng này, ở đó những mầm tư tưởng của loại hạt giống  tín lý Ki-tô và độc tài chuyên chính sẽ trở nên còm cõi, héo hon rồi tàn lụi, và  chỉ còn tồn tại ở trong đám người có hệ số thông minh dưới trung bình (IQ bằng hay nhỏ hơn 90), hoặc là dốt nát, ít học.

Vì môn Sử   Địa và Công Dân được coi là những loại hạt giống tư tưởng để gieo vào đầu óc non nớt của học sinh, cho nên môn học này được coi là một môn học chính trong chương trình trung học và có giá trị hơi cao hơn các môn học khác. Tại Hoa Kỳ, thời lượng của môn học này chiếm tới 1/6 tổng số thời lượng của chương trình học ở bậc trung học. Tại Việt Nam hiện nay, ở bậc trung học, môn học này cũng được coi là một trong những môn học chính, có giá trị cao hơn so với các môn học chính khác và thời lượng dành cho môn học này còn cao hơn 1/6 (gần 1/5) tổng số thời lượng của chương trình trung học. Trong khi đó ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, môn học này bị coi là một môn học phụ có hệ số thấp nhất so với các môn học khác và thời lượng dành cho môn học này ở bậc trung học  chỉ chiếm vào khoảng 1/11 tổng số thời lượng chương trình học,  bằng ngót nghét 70% thời lượng dành cho môn Sử Địa và Công Dân ở Hoa Kỳ) và trên 60 % so với Việt Nam hiện nay.

Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ trong mục nói về chính sách giáo dục của Hoa Kỳ, của Việt Nam hiện nay và của miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 trong một mục gồm nhiều chương sách ở sau.

Môn sử gồm có môn sử thế giới và môn sử quốc gia.- Chủ yếu của môn sử thế giới là trình bày đầy đủ  về những bước tiến của loài người từ thuở hồng hoang, cái thuở con người còn ở trong hang, trong hốc, ăn sống nuốt tươi, rồi tiến lần từng bước qua những Thời Cổ Đại tới Thời Thượng Cổ với  các chế độ thị tộc và bộ lạc, rồi tiến sang Thời Trung Cổ. Riêng tại Âu Châu, trong   Thời Trung Cổ,  chế độ quân chủ phong kiến lần lần xuất hiện trộn lộn với thần quyền (800-1300). Tình trạng này đã khiến cho Giáo Hội La Mã  và giới giáo sĩ Da-tô thừa cơ lấn tới lộng hành, rồi khuynh loát chính quyền, áp bức,   cưỡng bách nhân dân làm nô lệ cho tôn giáo và bóc lột họ đến tận xương tận tủy. Những hành động này của Giáo Hội La Mã và giới giáo sĩ Da-tô  giống y như bọn đồng bóng và thày cúng ở ven bờ sông Chướng Hà  đất Nghiệp Đô (thuộc nước Ngụy, Trung Hoa trong thời Chiến Quốc) cấu kết với bọn cường hào ác bá địa phương để cưỡng bách nhân dân trong vùng hàng năm phải  bỏ tiền ra tổ chức lễ cưới vợ cho ông thần hà bá ở khúc sông này. Mục đích duy nhất của bọn người lưu manh này  bóc lột người dân ở vùng này. 

Những hành động bất chính và gián ác này của Giáo Hội La Mã đã làm cho nhân dân Âu Châu vô cùng bất mãn và hết sức căm phẫn Tòa Thánh Vatican và giai cấp tu sĩ Da-tô. Cũng vì thế mà văn hào Voltaire mới gọi Đạo Ki-tô La Mã là cái “tôn giáo ác ôn[3],  người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội La Mã và tránh xa như tránh hủi[4],  rồi sử dụng những cụm từ “bọn lưu manh buôn thần bán thánh đột lốt tôn giáo” và “Bọn quạ đen ăn bám xã hội” (Les corbeaux noirs vivent sur le dos de la société.) để tỏ lòng ghê tởm và khinh bỉ của họ đối với Giáo Hội La Mã và giới giáo sĩ Da-tô. 

Tư tưởng biên thành hành động. Lòng thù ghét của nhân dân Âu Châu đối với Giáo Hội La Mã dần dần chuyền thành hành động. Những hành động này đưa đến việc hình thành các Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo bùng nổ vào khoảng năm 1309 và kéo dài đến năm 1648.  Nhờ có  Phong Trào Cải Cách Tôn Giáo, Phong Trào Lý Trí (the Age of Reason)  mới có cơ may xuất hiện vào khoàng năm 1500 và kéo dài cho đến năm 1789. Trong thời kỳ này, các nhà trí thức nô nức đua nhau hô hào và cổ võ người đời chỉ nên tin vào những gì hữu lý (reasonable),  phải cương quyết không tin những tín lý Ki-tô hoang đường, nặng tính cách bịp bợm, phải cương quyết loại bỏ những giáo luật và lời dạy nặng tính cách bóc lột và cưỡng chế  của Tòa Thánh Vatican. Trong thời kỳ này, người ta thấy xuất hiện những danh nhân như John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778),  v.v…  Đặc biệt là văn hào Voltaire  đã sử dụng những lời lẽ hết sức nặng nề để tỏ lòng khinh bỉ và căm thù  Giáo Hội La Mã bằng cách gọi cái tôn giáo này là “tôn giáo ác ôn” như đã nói ở trên,  và nhà báo Jacques René Hebert (Nov. 15, 1757- March 24, 1794) đã phải hét lên những tiếng thét căm thù làm rúng động cả Tòa Thánh Vatican. Những tiếng thét căm thù này được sách sử ghi lại như sau:

"Các bạn người Pháp, các bạn hãy nói cho tôi nghe xem có được không? Nếu cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh Cha cương quyết chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có ngu xuẩn và hèn hạ đến độ phải từ bỏ luật pháp của các bạn. Các bạn hy vọng gì ở một ông Giáo Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là đến lượt các bạn; cả trong mười thế kỷ qua, Giáo Hoàng đã áp bức các bạn quá nhiều rồi."(Tell me, Frenchmen, is it possible? if that man you call the Holly Father takes it into his head to oppose your laws, do you dare, are you stupid and base enough, to give them up? What do you expect from a Pope? Screw the Pope, believe me; it is your turn at last; for ten centuries the Pope has screwed you." [5]

Lòng căm thù của nhân dân Âu Châu  đối với Giáo Hội La Mã và những tư tưởng của những danh nhân trên đây đã kết tinh thành những hạt giống của tinh thần cách mạng và dẫn dắt nhân dân Âu Châu tiến lên Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ  (1603-1815). Trong thời kỳ này,  có rất nhiều tư tuởng gia đưa ra chủ trương phải làm cách mạng, dùng sức mạnh của nhân dân để cướp đoạt chính quyền rồi  thiết lập chế độ dân chủ tự do đem lại công bằng chính trị và công bằng xã hội cho mọi người dân trong nước. Song song với việc làm này, chính quyền cách mạng  phải sử dụng những biện pháp mạnh để đối phó với tôn giáo, huỷ bỏ hết mọi đặc quyền đặc lợi mà trước kia các chế độ đạo phiệt Da-tô đã dành cho Giáo Hội La Mã, loại bỏ tôn giáo ra khỏi chính quyền, ban hành hiến chương dân sự cho giới tu sĩ, bắt buộc họ phải tuân hành hiến pháp, thẳng tay trừng trị bọn tu sĩ và  bọn tín đồ cuồng tín ngoan cố, muốn bơi ngược dòng lịch sử, mưu đồ đem tôn giáo nhập nhằng trộn lộn với chính quyền hay chống lại Cách Mạng. Phong trào vùng lên của người dân Âu Châu và Bắc Mỹ đã sôi sục từ Thời Đại Lý Trí, đến  đầu thế kỷ 17 thì bùng lên thành những cuộc cách mạng bạo động và càng về sau càng mãnh liệt.  Cho đến cuối thế kỷ 18, phong trào này  bùng nổ thành cuộc Cách Mạng Pháp 1789. Thời kỳ này được các nhà viết sử gọi là  “Thời Kỳ Cách Mạng Dân Chủ = The Age of Democratic Revolutions (1603-1789). Kể từ đó, tinh thần Cách Mạng Pháp 1789 với tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái lan truyền đi khắp các lục địa Âu, Phi, Mỹ và Á Châu. Cũng từ đó,  các bậc thức giả khắp nơi trên thế giới nô nức theo gương nước Pháp quyết tâm làm cách mạng phế bỏ chế độ chính trị quân chủ phong kiến trung ương tập quyền lỗi thời để thiết lập chế độ dân chủ tự do tại quốc gia của họ.

Môn Sử Thế Giới cũng trình bày đầy đủ những sự kiện Giáo Hội La Mã cấu kết với các đế quốc thực dân xâm lược Âu Châu đem quân đánh chiếm các quốc gia ở các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu làm thuộc địa. Tai các lục địa này, ở đâu có mặt các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ và Pháp, là ở đó có bàn tay lông lá của Giáo Hội La Mã. Việt Nam ta là một trong những quốc gia nạn nhân của  Đế Quốc Pháp cấu kết với Giáo Hội La Mã trong chính sách chiếm đât làm thuộc địa này.

Môn sử quốc gia gồm những bài học nói về tiến trình những sự kiện lịch sử nước nhà từ ngày quốc gia mới hình thành với những công trình tranh đấu của tiền nhân trong các sự nghiệp  dựng nước, mở nước, giữ nước với những cuộc chiến đánh đuổi quân cướp xâm lăng ra khỏi lãnh thổ để bảo toàn chủ quyền độc lập cho dân tộc cùng những công trình mở mang kinh tế, phát huy văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Môn công dân với những bài học giảng giải về tất cả các chế độ chính trị có mục đích   giúp cho học sinh thấy rằng chế độ dân chủ tự do hiện thời là thích hợp với đời sống chính trị của nhân loại ngày nay khiến cho các em tin tưởng vào chế độ dân chủ và ý thức được rằng người dân ở trong các chế độ dân chủ tự do là công dân (citizen) của đất nước (the country), chỉ có bổn phận với đất nước và chỉ trung thành với đất nước và dân tộc, chứ không có bổn phận  hay phải trung thành với cá nhân người lãnh đạo chính quyền. Đồng thời, môn Công Dân cũng có những  bài học giúp cho các em thấy rằng, tại các nước bị áp đặt phải sống dưới chế độ quân chủ trung ương tập quyền, mọi người dân trong nước là thần dân của ông vua, có bổn phận phải trung thành với cá nhân nhà vua và phải tuân hành tất những lệnh truyền của nhà vua dù là những lệnh truyền đó chỉ nhằm để phục vụ quyền lợi cá nhân hay của gia đình hoặc phe đảng của nhà vua. Hơn nữa, môn Công Dân còn có những bài học giúp cho các em hiểu rằng tôn giáo phải tách rời khỏi chính quyền, rằng các ông tu sĩ chỉ có giá trị khi đứng trước bàn thờ và trong giờ làm lễ. Ngay cả khi làm lễ,  họ cũng chỉ là những người trung gian (giống như những người thông ngôn) chuyển lời cầu khấn của người xin lễ lên vị thần linh, chứ không thể coi họ như đại diện của vị thần linh ở trên bàn thờ.  Ngoài ra, họ cũng chỉ là con người theo một nghĩa rất người với những thất tình lục dục giống như mọi người. Những người khác phái (phái nữ) nếu còn trẻ khi tiếp xúc hay giao thiệp với họ, phải hết sức thận trọng, đề cao cảnh giác kẻo bị lợi dụng như đã từng xẩy ra và đã được phơi bầy ra trước công luận Hoa Kỳ và khắp nơi trên thế giới từ đầu năm 2002 cho đến ngày nay.

Chế độ dân chủ tự do có tồn tại được hay không là tuỳ theo trình độ dân trí và mức sống của người dân trong nước. Dân trí và mức sống càng cao, thì bọn tu sĩ lưu manh buôn thần bán thánh đội lốt thày tu và bọn hoạt đầu chính trị dù cho có cấu kết với nhau cũng không thể dùng những tín lý thần học Ki-tô hoặc lý thuyết sáng tạo hay lý thuyết “intelligent design” để   mê hoặc và lừa bịp nhân dân hầu thao túng chính quyền và biến chính quyền thành một chế độ đạo phiệt theo như ý muốn của chúng. Đây là trường hợp của nước Pháp, nước Anh, Hòa Lan, Đan Mạnh, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Thụy Sĩ,  Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Gia Nã Đại, v.v..

Trái lại, tại những nước nghèo đói hay bị tàn phá vì chiến tranh như nước Đức  và Ý sau  Đệ Nhất Thế Chiến, hay các nước còn chậm tiến, nghèo nàn, nhất là tại các quốc gia mà tâm hồn người dân còn bị kẹt cứng trong cái thòng lọng Ki-tô (Catholic loop) như  các nước Tây Ban Nha, Croatia, Phi Luật Tân, Rwanda và các quốc gia Châu Mỹ La-tinh, dù cho có thiết lập được chế độ dân chủ tự do thì sớm muộn cũng sẽ bị bọn tu sĩ cấu kết với bọn chính trị hoạt đầu dùng đủ mọi thủ đoạn gian manh để biến chính quyền của nước họ thành một chế độ độc tài theo ý muốn của chúng. Đây là trường hợp của Đức Quốc Xã (1933-1945), Phát Xít Ý (1922-1145), chế độ đạo phiệt Da-tô Francisco Franco (1936-1975) ở Tây Ban Nha, chế độ đạo phiệt Da-tô Ante Pavelich ở Croatia (1941-1945), các chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, chế độ độc tài Da-tô của Giám-mục Augustin Misago ở Rwanda trong năm 1994 cũng như các chế độ đạo phiệt Da-tô ở Phi Luật Tân và ở các nước Châu Mỹ La Tinh từ thế kỳ 19 cho đến ngày nay.

B.- Tại các nước theo chủ nghĩa xã hội.- Hạt giống tư tưởng tại các quốc gia này là các bài học trong môn Sử Địa, Công Dân giống như những bài học trong môn Sử Địa và Công Dân ở trong các nước thi hành chính sách giáo dục tự do và khai phóng, nhưng có thêm   phần hệ thống tư tưởng Karl Marx   và phần này được nhấn mạnh, được trình bày đầy đủ hơn. Có thể vì lý do này mà thời lượng dành cho môn Sử Địa và Công Dân trong chương trình trung học hiện nay ở Việt Nam  cao hơn thời lượng dành cho môn học này trong chương trình trung học ở Hoa Kỳ.

Những hạt giống tư tưởng này, nhất là tư tưởng Karl Marx,  có những độc tố cực mạnh sát hại những hạt giống tư tưởng tín lý Ki-tô, giáo luật, lời dạy của Giáo Hội La Mã cũng như  của tất cả các hệ phái Thiên Chúa Giáo khác. Đặc biệt là những hạt giống này có khả năng diệt trừ những bọn lưu manh buôn thần bán thánh, muợn tôn giáo để chui vào cửa quyền hay mượn danh đạo tạo danh đời. Cũng vì thế Giáo Hội La Mã  đã có chính sách chống đối mãnh liệt các chế độ xã hội chủ nghĩa, coi các chế độ này như la một kẻ thù không đội trời chung.

C.- Tại các nước theo chế độ đạo phiệt Da-tô (tôn giáo chỉ đạo chính quyền).- Tại các quốc gia bị áp đặt phải sống dưới chế độ đạo phiệt Da-tô, hạt giống tư tưởng được gieo vào đầu óc non nớt của các em học sinh là hệ thống tín lý Ki-tô. Những hạt giống tư tưởng này rất kị đối với những bài học trong môn Sử và Công Dân trong chương trình trung học ở  các nước thi hành chính sách giáo dục tự do và khai phóng, và càng kị hơn nữa đối với những bài học trong môn Sử và Công Dân  trong chương trình trung học ở các nước theo xã hội chủ nghĩa. Vì lý do này mà  những bài học trong môn Sử Địa và Công Dân đều bị kiểm soát  chặt chẽ, cắt xén đi rất nhiều, và phần còn lại phải được diễn dịch theo ý muốn của các ông tu sĩ  Da-tô ở hậu trường sân khấu chính trị. Đồng thời, thời lượng dành cho môn học này cũng bị  giảm thiểu tối đa. Ngoài ra, chế độ hệ số được đặt ra để quy định cho môn Sử Địa và Công Dân  là môn học phụ có hệ số 1 trong khi  các môn học khác như Toán, Lý, Hóa, Vạn Vật, Anh, Pháp Việt được quy định là môn học chính có hệ  số 4 và 3. Thâm ý của việc đặt ra chế độ hệ số quái đản như trên là để cho học sinh không chú ý đến việc học môn Sử Địa và Công Dân.

Chủ trương này là của Giáo Hội La Mã. Tại các nước bị áp đặt theo chế độ đạo phiệt Da-tô như miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, Phi Luật Tân, East Timor và các quốc gia Châu Mỹ La-tinh (ngoại trừ một vài nước như Cuba, Nicaragua), Giáo Hội La Mã ở hậu   trường sân khấu chính trị, ra lệnh cho chính quyền thế tục phải triệt để thi hành các chính sách của Giáo Hội đề ra, trong đó có chính sách giáo dục. Tình trạng này được các nhà viết sử gọi là “Tôn giáo chỉ đạo chính quyên.”

Về vấn đề giáo dục, Giáo Hội vốn dĩ không chấp nhận cho mở mang giáo dục cho đại khối nhân dân mà chỉ dành việc giáo dục cho giới tu sĩ trong một phạm vi giới hạn. Sự kiện này được sử gia Hellen Ellerbe ghi lại trong cuốnThe Dark Side Of Christian History với nguyên văn như sau:

“Giáo Hoàng Gregory I (590-604) lên án việc giáo dục cho tất cả mọi nguời như  là một việc làm độc hại và điên rồ, ngoại trừ đối với giới tu sĩ.” (Gregory the Great (590-604) also condemned education for all but the clergy as folly and wickness.)[6]

Giáo Hội đã duy trì tình trạng này suốt cả thời Trung Cổ - The Middle Age (476-1500) và cố gắng chống lại bước tiến của nhân loại suốt trong Thời Đại Lý Trí – The Age of Reason (1500-1789). Sang đến Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ - The Age of Democratic Revolutions (1603-1815), thấy rằng không thể nào chống lại được bánh xe tiến hóa của nhân loại, Giáo Hội đành phải nhượng bộ, nhưng lại chủ trương nắm độc quyền giáo dục để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ theo ý muốn của Giáo Hội. Sự kiện này được Giáo-sư Lý Chánh Trung ghi nhận trong cuốn Tôn Giáo Và Dân Tộc với nguyên văn như sau:

Giáo Hội cần có một nền giáo dục công giáo độc lập như một môi trường thiết yếu, không những để truyền bá giáo lý mà còn để đào tạo thanh thiếu niên theo tinh thần công giáo.” [7]

Nói về nền giáo dục độc lập của Giáo Hội, Linh-mục Trần Tam Tỉnh nói rõ cho chúng ta biết như sau:

Ngọai trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người Công Giáo thường được tập trung lại  thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đoàn ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều gì không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Các sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh  đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng  ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể rờ tới)". [8]

Không những nắm độc quyền giáo dục để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ, Giáo Hội còn cấm hết tất cả các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tự do báo chí. Sự kiện này được sách Tôn Giáo và Dân Tộc ghi lại rõ ràng như sau:

Trong xã hội loài người, Giáo Hội không bao giờ công nhận cho các tôn giáo khác hoặc cho những người không công giáo cái quyền ăn nói ngang hàng với mình, bởi cái lý do giản dị là chỉ Giáo Hội mới có sự thật mà chỉ có sự thật mới có quyền ăn nói. Người sai lầm thì chỉ có mỗi một quyền sửa sai.

Trong Thông Điệp ngày 29/4/1814 gửi Đức Giám Mục địa phận Troyes, Đức Giáo Hoàng Pie VII (1800-1823) viết: “Người ta lẫn lộn sự thật với sự sai lầm, người ta đặt vị Hiền thê thánh thiện và tinh truyền của Đức Ki-tô (tức Giáo Hội Công Giáo) ngang hàng với các giáo phái lạc đạo  và ngay cả với bọn Do Thái bất tín”. Đức Giáo Hoàng Gregory XVI (1831-1846) đã gọi tự do báo chí là “thứ tự do tệ hại nhứt, đáng ghét nhứt, kinh tởm nhứt, mà một số người dám đòi hỏi một cách ồn ào cuồng nhiệt và quảng bá khắp nợ…”

Giáo Hội đã lên án chủ nghĩa tự do qua ba bức thông điệp: “Mirari vos” của (Giáo Hoàng) Grégoire XVI (1832), “Quanta cura” của (Giáo Hoàng) Pie XI (1864) và “Libertas prestantissimum” của (Giáo Hoàng) Leo XIII (1888). Thông điệp sau cùng này tiến bộ hơn đôi chút nhưng vẫn không công nhận các quyền tự do như những quyền tự nhiên mà chỉ chấp nhận chúng như một thực trạng.”[9]

Với chủ trương như trên, những hạt giống tư tưởng Ki-tô chỉ có thể hích hợp với môi trường hay tại quốc gia nghèo đói, dân trí thấp kém và ở trong tình trạng chậm tiến. Những hạt giống này rất kị đối với các hạt giống tư tưởng được các quốc gia theo chính sách giáo dục tự do khai phóng sử dụng để gieo vào đầu óc các trẻ em, và càng kỵ hơn nữa đối những hạt giống tư tưởng được các nước theo xã hội chủ nghĩa gieo rắc và đầu óc người dân trong nước. Đây là nguyên nhân TẠI SAO  các chế độ đạo phiệt đều có chủ trương cấm đoán, không cho du nhập những hạt giống tư tưởng gieo vào đầu óc người dân trong các nước tự do dân chủ hay trong các nước theo xã hội chủ nghĩa, và tìm đủ mọi các để hủy diệt nó bằng mọi giá.  Người dân nào lén lút  tàng trữ hay đọc những sách báo nói về những loại hạt giống này thì sẽ bị mật vụ theo dõi, có thể bị túm cổ, bị tống giam, bị trừng phạt hết sức nghiêm khắc theo luật rừng tùy hứng của người cầm quyền chế độ, cũng có thể bị biệt giam vô hạn định hoặc là bị làm cho biến mất, không còn hiện dịên trên cõi thế gian này nữa. Đây là trường hợp của Miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và nhiều quốc gia khác truớc và sau cái chế độ đạo phiệt khốn nạn này.    

Ngoài những việc kiểm soát gắt gao những bài học trong môn Sử Địa và Công Dân, giảm thiểu thời lượng, coi môn học này là môn học phụ với hệ số 1 như trên,  những ấn phẩm bàn luận về những đề tài  này còn bị cấm lưu hành.

Tại sao lại như vậy?

Lý do: Những tín lý Ki-tô đều mang nặng tính cách hoang đường, phi lý, phản khoa học, loạn luân dâm loàn, và những giáo luật cũng như những lời dạy của Giáo Hội La Mã đều có tính cách chuyên chế, độc đoán, áp bức và bóc lột người dân dưới quyền. Trong khi đó, những bài học trong môn Sử  Địa và Công Dân được giảng dạy trong chương trình tiểu và trung học ở các nước dân chủ tự do, nhất là môn Công Dân và Lịch Sử Thế Giới hoàn toàn trái ngược với những hạt giống tư tưởng Ki-tô mà chính quyền muốn gieo vào đầu óc non dại của trẻ em. Hơn nữa, nếu môn Lịch Sử Thế Giới được đưa vào trong chương trình học dù là đã bị Giáo Hội kiểm soát và lược bỏ những phần bất lợi cho Giáo Hội,  cũng vẫn gây tò mò cho các em tìm đọc các cuốn sách sử thế giới khác được du nhập từ các quốc gia tự do dân chủ. Như vậy, nếu đưa môn Sử Thế Giới vào trong chương trình học thì chẳng hoá ra chính quyền công khai xúi giục các em đi tìm đọc sử thế giới để biết  những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã. Những bài học mà Giáo Hội La Mã kỵ nhất là những bài  học nói về thời Trung Cổ trong đó có cả rừng tội ác của Giáo Hội. Đồng thời,  Giáo Hội cũng rất kỵ đối với những bài học nói về phong trào các đế quốc thực dân Âu Châu đi chiếm đất ở các lục địa Phi, Mỹ và Á Châu vì trong đó có nói đến vai trò quan trọng của Giáo Hội và các nhà truyền giáo Da-tô trong phong trào này.  

Vì lý do này mà môn Sử Địa và Công Dân trong chương trình trung học bị chính quyền  kiểm soát vô cùng gắt gao. Bằng chứng là vào năm 1956,  bộ sách lịch sử thế giới của học giả Nguyễn Hiến Lê bị tịch thu, bị cấm lưu hành, tác giả bị sỉ vả là đầu óc đầy rác rưởi và bị chính quyền cho mật vụ theo dõi. Đồng thời, trong các trường tiểu và trung học tư thục tại các xóm đạo và ở các nơi ngoài xóm đạo do các ông linh mục hay tín đồ Da-tô làm chủ, môn Sử Địa và Công Dân bị rơi vao tình trạng vô cùng thê thảm (sẽ đựợc nói rõ trong tiểu mục nói về Cán Bộ Giáo Dục). Nhiều trường lại đưa môn Giáo Lý Ki-tô lý vào   trong chương trình học và môn này chính là những hạt giống tư tưởng mà chế độ muốn gieo vào đầu óc các trẻ em thơ dại. Trong môn Giáo Lý, các em được dạy rằng con người là do Thiên Chúa tạo dựng nên theo hình ảnh của thiên Chúa và mọi sư việc ở  trong vũ trụ này đều do Thiên Chúa an bài.

Vào mùa xuân năm 1974, trong một lớp dạy Giáo Lý ở nhà Bình Thới, Sàigòn, khi nói chuyện với  vị linh Mục phụ trách lớp học này,  người viết đặt ra vấn đề vai trò của Giáo Hội đại diện của Chúa hay Thượng Đế đối với giáo dân và người đời,  thì được giải thích rằng, “Chúa ở mãi trên chín từng mây còn mắc bận cả ngàn chuyện, không thể có mặt ở trên trái đất này được. Vì thế, Chúa đã ủy nhiệm cho Giáo Hội La Mã làm đại diện duy nhất cho Chúa ở trên trái đất này với những quyền năng của Chúa để ban phát những ân sủng cho những người triệt để vâng lời hay tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội, và trừng phạt  nghiêm khắc những kẻ nào nghi ngờ hay không tin rằng Giáo Hội không phải là đại diện của Chúa. Vì phải quản lý tất cả mọi người trên thế giới, Giáo Hội không thể có mặt tại các địa phương để hành xử quyền hành đã được Chúa ủy nhiệm  đối với tất cả mọi người ở trên thế giới. Vì thế Giáo Hội lại ủy nhiệm cho các ông hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục mà  Giáo Hội gọi là những người mang chức thánh tại các địa phương với những quyền năng của Chúa đã ủy nhiệm cho Giáo Hội để   họ trực tiếp ban ân sủng những người biết nghe lời  họ,  và trừng phạt nghiêm khắc những kẻ nào dám không nghe lời họ.

Những phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ là, những hạt giống tư tưởng trong kế sách trồng người của Giáo Hội La Mã tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 là hạt giống tín lý Ki-tô và những hạt giống mà vị linh mục dạy gíao lý trên đây đã giải thích cho người viết. 

Vì thế mà   trong những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, ở miền Nam Việt Nam mới có khẩu hiệu “Nhất Chúa, nhì cha, thứ ba Ngô Tổng Thống.”  (Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003), tr. 18 và 37.) và vào mùa hè năm 1964, Linh-muc Hoàng Quỳnh mới đưa ra khẩu hiệu “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” để hô hào, kêu gọi giáo dân quyết tâm liều chết chiến đấu cho quyền lực của Giáo Hội La Mã ở miền Nam Việt Nam.  

Đọc qua phần trình bày trên đây, độc giả thấy rõ dã tâm thâm độc của Giáo Hội La Mã sử dụng tín lý Ki-tô là để mê hoặc và lừa bịp người đời với mục đích làm cho họ lầm tưởng rằng chính những cái hoang đường, phi lý và phản khoa học trong Thánh Kinh và trong lời dạy của Giáo Hội La Mã là quyền năng của ông Thượng Đế hay Thiên Chúa trong hệ thống thần học Ki-tô. Nếu nhắm mắt tin theo những tín lý này và vấng lời các nhà tuyền giáo một cách vô điều kiện thì sẽ được ông Thượng Đế này  ban cho những phép lạ, được hưởng những  ẩn sủng của Thượng Đế”, “sẽ được Chúa trả ơn”. Vì cái bản chất tham lam, hám lợi háo danh, thèm khát quyền lực, nhưng lại ngu dốt và thiển cận, không biết nhìn xa trông rộng, không biết suy cho kỹ nghĩ cho cùng, nhiều người đã nhắm mắt tin theo những tín lý Ki-tô láo khoét này để hy vọng sẽ được ban cho những “ân sủng của Thượng Đế” như bọn giáo sĩ Ki-tô thường rao truyền.  Giáo Hội La Mã cũng biết rõ đại đa số những người ít học, ngu dốt và số đông những người nghèo túng, đói khổ thường hay có những nhược điểm này và những bọn tiểu tư sản có máu trưởng giả học làm sang thường mắc chứng bệnh thèm khát quyền lực. Cho nên, Giáo Hội đã dùng cả  vật chất, lãn   địa vị trong xã hội và chức vụ trong chính quyền làm miếng mồi câu nhử những hạng người này chạy theo để rồi lọt vào cái tròng Da-tô  (the Catholic loop) của Giáo Hội. Đồng thời, các chính quyền đạo phiệt Da-tô tay sai của Giáo Hội được lệnh phải triệt để thi hành chính sách ngu dân và giáo dục  nhồi sọ để kìm hãm nhân dân dưới quyền mãi mãi ở trong tình trạng vừa dốt đặc không biết gì về lịch sử thế giới hay những bước tiến của loài người, không biết gì về những rặng núi tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua vừa ngu xuẩn  như con cừu (con chiên) không biết sử dụng lý trí để tìm hiểu sự vât. Có như thế thì người dân và tín đồ mới nhắm mắt tin tường và những tín lý láo khớet và bịp bợm trong hệ thống thần học Ki-tô, và có như vậy, Giáo Hội mới cảm thấy an toàn. 

2.- PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM

(PHƯƠNG PHÁP GIEO GIỐNG)

A.- Tại các nước theo chính sách giáo dục tự do và khai phóng.- Tại các quốc gia này, phương pháp dạy môn Sử Địa và Công Dân (phương pháp gieo hạt giống tư tưởng vào đầu óc học sinh) ở các trường trung và đại học là phương pháp thảo luận. Theo phương pháp này,  học sinh được cho biết trước đề tài học hỏi. Những đề tài này đều nằm trong sách giáo khoa phát không  cho học sinh ở bậc trung học (và phải mua ở bậc đại học) đem về  tìm hiểu trước khi được đem ra thảo luận ở trong lớp học. Đến giờ học, thày giáo thuyết giảng đề tài đó, rồi thảo luận với học sinh và có nhiệm vụ phải giải đáp những thắc mắc do học sinh nêu lên. Đồng thời, giáo viên cũng phải giảng rộng thêm những gì có liên hệ đến đề tài mà sách giáo khoa không có đủ chỗ để nêu lên. Phương pháp dạy học này cũng đã được các Nho gia áp dụng trong thời chữ Hán còn được sử dụng trong văn thư hành chánh trong các nước theo văn minh Khổng Mạnh.

B.- Tại các nước theo theo chế độ đạo phiệt.-  Tại các quốc gia này, đặc biệt là các nước theo chế  độ đạo phiệt Da-tô, Phương pháp sư phạm độc thoại được áp dụng triệt để trong lãnh vực khoa hoc xã hội trong đó có môn Sử Địa và Công Dân. Phương pháp này đã được các ông truyền giáo Da-tô sử dụng trong việc rao giảng tín lý Ki-tô như chúng ta thường thấy vào những giờ lễ trong các nhà thờ. Phương pháp này đòi hỏi hoc sinh phải chấp nhận không được thắc mắc những luận cứ hay tất cả những gì ghi sẵn trong bài học, đòi hỏi học sinh phải học thuộc lòng những bài học của giáo viên truyền đạt, không được thắc mắc, không được tìm hiểu sự vật.  Chủ đích của phương pháp này là tạo cho học sinh có thói quen thụ động, không sử dụng lý trí vào việc phân tách và lý luận để tìm hiểu sự vật. Cũng vì vậy mà những lớp người theo học các trường học qua phương pháp dạy học này trở thành thụ động lười suy nghĩ. Gặp khi có việc gì cần phải giải quyết, họ có khuynh hướng trông nhờ vào người khác giải quyết giùm. Đây là nguồn gốc của tinh thần vọng ngọai và là cha đẻ của đặc tính vong bản và trọng ngoại khinh nội của những lớp người này. Cũng vì thế mà họ sẽ:

1.- Không   thể suy đoán ra tính cách bịp bợm và lừa dối trong những tín lý Ki-tô.

2.- Không biết gì về tính cách chuyên đoán, áp bức và bóc lột trong các giáo luật Ki-tô và lời dạy của Giáo Hội La Mã.

3.- Không nhìn thấy chủ trương "thần quyền chỉ đạo thế quyền" là một mối nguy hại cho nhân loại, và cũng không nhìn thấy "chính sách bất khoan dung" của Giáo Hội La Mã đối với các tôn giáo và văn hóa khác hết sức là  bạo ngược và dã man đến cùng độc của dã man.

4.- Không nhìn thấy những mâu thuẫn giữa những lời viết ở đoạn này với một đoạn khác ở  trong Kinh Thánh, không nhìn thấy những mâu thuẫn giữa những lời viết trong Thánh Kinh với những lời rao truyền khoác lác bịp bợm của Giáo Hội. Điển hình là:

a.-  Sách Leviticus (26:1-18) nói rõ Chúa Cha Jehovah là "một thứ hung thần ác quỷ nặng lòng ganh ghét, đố kỵ ti hiêm, vô cùng độc ác và cực kỳ vô cùng tàn ngược" mâu thuẫn với  lời rao truyền của Giáo Hội bảo rằng "Thiên Chúa   Tòan Trí, Toàn Năng, Toàn Thiện và lòng lành vô cùng",

b.- Chuyện ông Jesus có khả năng biến hóa 5 cái  bánh mì và hai con cá thành một khối lượng bánh mì và số cá dư thừa cho hơn 5 ngàn người ăn không hết (Mathiew: 14:15-21) mâu thuẫn với  chuyện ông ta không đủ khả năng biến hóa làm cho cây sung (vả) sinh trái cho ông ta ăn vào lúc đói lòng,

c.- Lời rao truyền rằng  Chúa Jesus toàn thiện mâu thuẫn   với sự kiện Chúa Jesus tức giận nổi xung làm  làm cho cây sung (vả) này khô héo tàn tạ (Mathiew: 21: 18-21)

5.- Không nhìn thấy tính cách "xảo trá và bịp bợm" trong "những ngôn ngữ mập mờ và ỡm ờ" qua cửa miệng của giới tu sĩ Da-tô khi rao giảng tín lý Ki-tô hoang đường.

6.- Không nhìn thấy những hành động "gạ gẫm nữ tín đ" phá nát hạnh phúc gia đình giáo dân. Khi những hành động này được phơi bày ra trước công luận thì tất cả đã xong rồi. Đây là trường hợp của các linh-mục Cao Đăng M. ở Porland (Oregon), Nguyễn Hữu Dụ và Đào Quang Ch. ở Houston (Texas), Trịnh Thế H. Chicago (Illinois), Trần Công Ngh.  ở California cũng như tất cả các linh mục được Linh-mục Joseph Nguyễn Thanh Sơn nêu đích danh nơi trang 27 trong tờ Tận Thế Số Ra Mắt, ngày 15/6/2002 và của hàng ngàn vụ ô nhục khác ở Bắc Mỹ đã được phơi bày ra trước ánh sáng công luận từ tháng 2/2002 cho đến ngày nay (tháng 4/2006), và nếu tính từ thế kỷ 4 cho đến ngày nay (như đã trình bày ở Chương 16, Phần I) thì phải có hàng triệu triệu vụ như vậy.

Tìm hiểu phương pháp giảng dạy độc thoại, chúng ta thấy việc làm của giáo viên phụ trách môn Sử Địa và Công  Dân như sau: Như đã nói ở trên, lối giảng bài của họ giống như các ông truyền giáo hay tu sĩ Da-tô thuyết giảng trong giờ lễ ở trong các nhà thời hay trong lớp dạy Giáo Lý Ki-tô  cho những người bị cưỡng bách hay bị dồn vào cái thế kẹt phải theo đạo. Lối giảng bài theo kiểu này thông dụng nhất ở trong các trưởng học và đại học trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong thời kỳ 1883-1954 và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963.

Tất cả những người đã từng theo học tại các trường trung và đại học (bậc cử nhân) ở  miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, đều nhận thấy rằng thày giáo thường đến lớp vào đúng lúc chuông reo vào lớp vừa dứt. Ngay khi vừa tới lớp, việc đầu tiên của ông thày là xóa bảng (nếu chưa xóa), rồi nhập đề bằng câu nói giới thiệu bài học mới. Kế đó là lấy phấn viêt tên đề tài và dàn bài lên bảng cho học sinh nhìn thấy rõ đề tài sắp sửa được nghe giảng. Ở bậc trung học, nếu là các môn Văn, Sử Địa và Công Dân, sau khi làm những công việc trên đây, ông thày bắt đầu lên giọng giảng bài và nói thao thao bất tuyệt khỏang chừng 20 đến 25 phút, chỉ ngưng lại khi có một học trò yêu cầu nhắc lại những chỗ nào nghe không rõ. Thì giờ còn lại là chép bài theo lời ông thày đọc cho học sinh ghi để mang về nhà học thuộc lòng. Ở bậc đại học, trong lúc giáo sư giảng bài, sinh viên ráng mà ghi bài, nếu không ghi được phải mua "cours" đã in sẵn hoặc sách giáo khoa mang về học thuộc lòng để chuẩn bị làm bài thi vào cuối niên học. Một hình ảnh khác nữa là khi vào lớp, ông thày ngồi vào ghế với cái bàn trước mặt ở trên bục giảng. Tiếp theo là mở cuốn sách giáo khoa cầm sẵn trong tay, lật đến trang có bài học ngày hôm đó rồi giới thiệu với học sinh bài học mới và yêu cầu học sinh chép bài theo lời ông thày đọc. Nếu có dư thì giờ, ông thày chuyển sang mục khảo học sinh từng câu một với mục đích làm cho học sinh nhớ bài. Hinh ảnh này được Giáo-sư Lý Chánh Trung kể lại kinh nghiệm bản thân của ông ở Trường Trung Học Taberd với nguyên văn như sau:

"Bây giờ, vào trường Taberd là thế giới của đạo giáo. Đạo giáo bao trùm đời sống và việc học. Kinh kệ khởi đầu và kết thúc mỗi hoạt động. Mỗi buổi sáng, nửa giờ đầu luôn luôn dành cho giáo lý.

Phương pháp là học và trả thuộc lòng. Ông thày chỉ một chú học trò và gõ thước cái cốp, chú này đứng dậy trả câu thứ nhất: "Hỏi: Đức Chúa Trời là gì? - Thưa: Đức Chúa Trời là đấng tạo nên trời đất muôn vật..." (bằng tiếng Pháp). Thước lại gõ cái cốp và chú học sinh thứ hai đứng dậy... cho đến khi hết bài. Tôi là thằng làm biếng tổ, sáng nào cũng co rúm người, cố làm cho mình nhỏ lại như hột cát để thoát khỏi cái nhìn của Sư huynh.

Nhưng cái cực hình kinh khủng nhất là đầu lớp học buổi trưa, học sinh phải lần nguyên một chuỗi tràng hạt. Trời nóng như thiêu, giọng kinh trầm trầm kéo dài như không bao giờ dứt, đứng yên một chỗ không cục cựa, tôi cảm thấy tứ chi ngứa ngáy như có trăm ngàn con kiến đang bò lên.

Nhưng riết rồi cũng quen và một khi đã thuộc kinh tôi cũng ê-a hằng giờ với mấy đứa kia, không còn bực bội nữa: Tiên học lễ, hậu học." Lý Chánh Trung, Tìm Về Dân Tộc (Sàigòn: Lửa Thiêng, 1972), tr 25-26. [10]

Còn nữa, nếu so sánh với chủ trương giáo dục ở các nước theo chính sách giáo dục tự do khai phóng, người viết nhận thấy, các nhà làm chính sách giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975  cố tình lờ đi, không đưa vào chương trình phần dạy cho học sinh biết cách phân biêt sự khác nhau giữa một bên là "ý kiến" (opinion) tức là quan niệm của một cá nhân hay một nhóm người về một vấn đề gì, và một bên là "sự kiện" (fact) tức là một vật hiện hữu hay một sự việc đã hoặc là đang xẩy ra. Mặt khác, nhà trường không dạy học sinh  phương cách viết một bài "điểm sách" và cũng không dạy cho học sinh biết phương cách viết một "bài khảo luận".

Đến đây, thiết tưởng cũng nên biết ở Hoa Kỳ, học sinh trung học được thày giáo hướng dẫn rất kỹ cho biết cách phải viết một bài điểm sách. Viết một bài điểm sách cũng phải có  phần nhập đề, và phần nhập đề là phải nói đến tên của cuốn sách, tên tác giả, nhà xuất bản, số trang, khổ trang và giá bán.  Phần thân bài là phần nội dung của cuốn sách: chủ đề của sách, sách được chia ra mấy phần, phải trình bày cho rõ chủ ý của tác giả muốn nói hay chứng minh điều gì trong mỗi phần. Kế đến là phần kết luận, học sinh phải đưa ra nhận xét của mình về cuốn sách. Điều quan trọng là phải biết phân biệt sự khác nhau giữa "sự kiện (fact)"  và "ý kiến (opinion)". Tuyệt nhiên, không được dùng những ngôn từ khiếm nhã đối với tác giả.  Trong xã hội Nho giáo cũng như trong xã hội dân chủ tự do,  người ta chỉ biết căn cứ vào  "sự việc" hay "hành động" mà đánh giá con người, chứ  không cần biết đến gốc gác gia đình, thành phần xã hội và những việc làm trong quá khứ của đương sự trừ phi đương sự đã hay đang  dựa vào một thế lực ngoại bang để nắm chính quyền rồi gieo tai giáng họa cho nhân dân, dị hại cho giống nòi và dân tộc như trường hợp Lê Chiêu Thống và cha con ông Ngô Đình Diệm thì người ta mới tìm hiểu về nguồn gốc và  đặc tính  truyền tử lưu tôn của tác nhân. Chính vì chỉ cần quan tâm đến "sự việc" hay "hành động" và không cần để ý đến gốc gác gia đình và nghề nghịệp của tác nhân hay tác giả, cho nên ông Đội Cấn dù là người đã đi lính cho quân giặc  ngoại xâm Vatican và Pháp, nhưng khi đã  vì dân tộc mà có hành động chống lại quân cướp hung tàn này thì nhân dân ta liền suy tôn ông lên hàng anh hùng dân tộc. Chu Nguyên Chương vốn là một đứa bé mồ côi,  phải nương mình nơi cửa chùa rồi lang thang đi ăn mày khắp nơi trong vùng Hoài Tây, cuối cùng theo nghĩa quân chiến đấu cho quyền lợi của quê hương[11]. Sau đó  ông thành công trong việc đánh đuổi giặc Nguyên, giành lại được chủ quyền độc lập cho dân tộc, người Trung Hoa vẫn đời đời nhớ ơn và ghi công ông mà không bao giờ nhớ tới cái gốc đi ăn mày của ông trong thuở thiếu thời. Jean Jacques Rousseau là một người: "xuất thân là một tên đầy tớ, bị đuổi vì tội ăn cắp, sau sống chung với người đàn bà nhà quê, vừa làm đầy tớ, vừa làm nhân tình, nhưng sách của Rousseau đã khiến cho ông tên tuổi lẫy lừng khắp nước. Phái trẻ coi ông như một vị thần, và ngay đến phe quý tộc, nhất là các bà ngự trị trong các phòng khách văn chương  cũng không ngớt bàn luận ca ngợi những ý kiến của ông."[12]

Thực ra, tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, có rất nhiều linh mục và tín đồ Da-tô  phụ trách môn Văn ở các trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn, Đại Học Huế và Đại Học Đà Lạt cũng như các giáo viên phụ trách môn Sử Địa và Công Dân và những người đã tốt nghiệp đại học  cũng không biết phân biệt sự khác nhau giữa các nhóm từ gọi là ý kiến với các nhóm từ gọi là sự kiện. Họ cũng không biết phưong cách viết một bài điểm sách hay một bài viết theo phương pháp khảo luận. Nếu đọc những tác phẩm hay những bài viết của họ được phổ biến trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại ngày nay, chúng ta sẽ thấy rõ sự kiện này. Một trong những thí dụ điển hình nhất là bài viết “ Đọc Sách: A Poem For My Children” đăng trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 559, tháng 5/1999 ở nơi các trang 26, 27, 86 và 87. Tác giả bài viết này ký tên là Trương Phú Thứ, một bút hiệu của Trương Đăng Qu., một người đã tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh độ mấy năm trước ngày gánh hát miền Nam Việt Nam rã đám tan hàng. Hãy tưởng tượng, một người đã có văn bằng Tú Tài II, đã thi đậu vào trường Quốc Gia Hành Chánh, đã miệt mài học cả bốn năm ở trường này và đã làm việc mấy năm như ông Trương Phú Thứ mà viết bài “Đọc Sách: A Poem For My Children” lại viết theo cái kiểu “điểm mặt” để sỉ vả và chửi bới (personal attack) tác giả, thì đủ biết cái sở học cũng như tình trạng học vấn và kiến thức tổng quát của các ông tín đồ Da-tô người Việt có học vị  đại học  ở Việt Nam ra sao? Và cũng từ đó, chúng có thể ta suy ra trình độ kiến thức về môn Sử Địa và Công Dân của các ông linh mục và tín đồ Da-tô phụ trách môn Văn ở các trường Đại Học Văn Khoa, Đại Học Đà Lạt, Đại Học Huế và những giáo viên phụ trách dạy môn Sử và Công Dân ở các trường trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.   

3.- CÁN BỘ PHỤ TRÁCH MÔN SỬ VÀ CÔNG DÂN

(NGƯỜI THỢ GIEO GIỐNG )

Cán bộ giáo dục còn được gọi là nhà giáo tức là các giáo viên hay giáo sư phụ trách việc giảng dạy và hướng dẫn việc học hỏi của các em học sinh hay sinh viên. Thông thường, ngoại trừ các quốc gia bị áp đặt theo chế độ đạo phiệt, đặc biệt là chế độ đạo phiệt Da-tô, bất kỳ chế độ chính trị nào, quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, cộng hòa dân chủ tự do hay xã hội chủ nghĩa đều coi vai trò của người cán bộ giáo dục phụ trách dạy môn Sử và Công Dân như là những người thợ gieo giống tư tưởng vào đầu óc trong trắng của các em học sinh.

A.- Tại các nước theo chính sách giáo dục tự do và khai phóng.- Tại các nước này, người cán bộ giáo dục hay làm nghề dạy học không phải chỉ làm có công việc “truyền đạt chữ nghĩa, truyền đạt kiến thức và rèn luyện đức hạnh”, mà còn có trách nhiệm phải “KHAI TÂM” cho các môn sinh, nghĩa là phải “mở mang trí tuệ cho môn sinh, lấy chân tâm mà hướng dẫn môn sinh về phương cách vận dụng trí óc vào việc lý luận, phân tách và tìm hiểu sự vật." Viết đến đây, người viết nhớ đến lời nói của một tư tưởng gia Hoa Kỳ đăng trong tờ Daily Bulletin ngày 4 tháng 3 năm 1997 của trường Trung Học Stadium (Tacoma School District) nói về mục đích của giáo dục như sau:

“Mục đích của giáo dục là biến tâm hồn con người thành một tâm hồn linh động truyền đạt, chứ không phải là một tâm hồn tù hãm trong một phạm trù hạn hẹp.” (The goal of education should be to turn the mind into a living fountain, not a holding pond.)

Nói cho rõ hơn, nghĩa vụ của người làm giáo dục là phải cố gắng trình bày các sự kiện một cách rõ ràng, minh bạch, rạch ròi và giải thích cặn kẽ những lý lẽ bằng những phương pháp khoa học khiến cho các môn sinh hay học viên theo đó mà sử dụng lý trí, lương tâm và lương tri để nhận thức hay ý thức được đâu là sự thực, đâu là chân lý, những gì thuận lý và có thật, khác hẳn với những gì nghịch lý, mơ hồ, viển vông và mông muội. Những người làm công việc giáo dục chỉ biết nói những điều thuận lý khiến cho người nghe giảng được nghe những điều thuận tai. Những nhà làm chính sách giáo dục đúng nghĩa của giáo dục (không phải nhồi sọ) là những người lương thiện cố gắng muốn rằng những ông thày, đặc biệt là những ông thày phụ trách dạy môn Sử và Công Dân phải đem lòng chân thành trình bày những sự thật của sự vật và phải giải thích cho học sinh những sự thật của sự vật bằng cách:

1.- Trình bày những cái tốt, cái hay và vẻ đẹp của một hệ thống tư tưởng hay của một khám phá mới về khoa học của bất kỳ cá nhân hay môn phái nào bất kể từ đâu tới.

2.- Nói rõ những sai lầm của một tín lý, một niềm tin (cũng gọi là đức tin) hay bản chất của một việc làm bất chính,  giải thích cho học sinh thấy rõ những tác hại của các tín lý sai lầm chỉ là một thứ tục lệ tin nhảm và bịp bợm giống như chuyện Hà Bá Cưới Vợ mà thôi.

Người ta gọi chính sách giáo dục như vậy là giáo dục tự do và khai phóng. Ở đâu có chính quyền cho thi hành chính sách giáo dục tự do và  khai phóng thì ở đó các hạt giống tư tưởng học thuật cao đẹp và kiến thức khoa học sẽ nầy mầm, đâm chồi, nẩy lộc,  vươn lên thành những cây lá xanh tươi, căng đầy nhựa sống, trổ bông đơm trái đem lại nguồn sống vui tươi an lạc cho đời.

Và chỉ những quốc gia theo chế độ dân chủ thực sự, tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền, thực sự tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, (tức là các nhà lãnh đạo chính quyền hay chế độ phải tuyệt đối tôn trọng quyền sống, quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng của nhân dân), coi “ý dân như ý Trời”, thì chính sách giáo dục tự do và  khai phóng mới có đất dung thân. Bằng chứng là ở Âu Châu, phải đợi đến thời kỳ phong trào nhân dân Âu Châu vùng lên chống lại Giáo Hội La Mã và đòi cải cách tôn giáo (1309-1648) với chủ thuyết nhân bản ra đời đưa đến Thời Đại Lý Trí - Age of Reason (1500-1789) cùng với Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ - The Age of Democratic Revolution (1603-1815), các nhà tư tưởng và khoa học gia như John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), Victor Hugo (1802-1885), Charles Robert Darwin (1809-1882), v.v… mới có thể được tự do đưa ra được những tư tưởng cao đẹp và phát minh khoa học, nhiên hậu mới làm cho loài người càng ngày càng tiến mạnh như ngày nay.

Cũng nên   biết chủ nghĩa nhân bản xuất  hiện vào thời kỳ các Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo cuồn cuộn dâng lên ở Âu Châu. Sách tự điển The American Heritage Dictionary Of The English Language định nghĩa chủ nghĩa nhân bản như sau:

“Chủ nghĩa nhân bản là một triết lý hay một thái độ quan tâm đển con người, đến công trình tốt đẹp và quyền lợi của con người, hơn là quan tâm đến thế giới thần linh và đến những vấn đề của thần học.” (Nguyên văn: Humanism, A philosophy or attitude is concerned with human beings, their achievements and interests, rather than with abstract beings and problems of theology.)   

Theo Tự điển Anh Việt do Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam biên sọan,  chủ nghĩa nhân bản là:

một hệ thống những sự tin tưởng tập trung vào những nhu cầu phổ biến của con người và tìm những biện pháp duy lý (chứ không phải dựa vào thần thánh) để giải quyết những vấn đề của con người.

Điều kiện để được thâu nhân vào làm thày giáo dạy môn Sử Địa và Công Dân tại bậc trung học ở các nứoc dân chủ tự do.- Tại các quốc gia này, việc thâu nhận những ứng viên phụ trách giảng dạy môn học này cũng hết sức quan trọng như việc thâu nhận các ứng viên phụ trách các môn học khác như  Sinh Học, Toán, Lý, Hóa, Anh Văn,  Công Kỹ Nghệ, v.v…

Chính sách giáo dục tự do khai phóng có chủ trương nâng cao dân trí, cho  nên cần phải đào tạo những cán bộ giáo dục phụ trách môn Sử Dịa và Công Dân có căn bản chuyên môn rất vững, phải quán triệt  những đề tài giảng dạy, nhất là các đề tài trong môn Sử Thế Giới và các đề tài thuộc về các chế độ chính trị nằm trong môn Công Dân. Do đó, những người phụ trách giảng dạy môn học này phải  có văn bằng và có khả năng thực sự về môn học này.  Tại quốc gia này, việc huấn luyện  người vào làm nghề thày phải có một tổ chức quy mô và người được tuyển chọn làm nghề thày ở  bậc tiểu và trung học phải có một số điều kiền về trình độ học vấn và khả năng  kiến thức về môn học họ phụ trách giảng dạy.

Tại Hoa Kỷ, tất cả các giáo viên tiểu và trung học phụ trách giảng dạy bất kỳ môn học nào ít nhất cũng phải có bằng cử nhân trong ngành giáo dục, và sau 5 năm kể từ khi được thâu nhận vào dạy tại một trường nào, bắt buộc phải có bằng Cao Học Giáo Dục (Master of Education) về môn học chuyên môn đang phụ trách. Giảng viên phụ giảng tại bất kỳ một trường đại học cộng đồng - chỉ dạy có hai năm đầu của chường trình cử nhân (Community Collge)  hay một đại học dạy 4 năm cử nhân trở lên (university), ít nhất là phải có bằng Cao Học  và phải có công trình nghiên cứu về môn học được giao phó cho giảng dạy. Giảng sư thực thụ dạy tại các đại học, bất kể là đại học cộng đồng hay một đại học lớn cũng đều phải có ít nhất bằng Tiến Sĩ (Ph. D.) và một hay một vài  công trình nghiên cứu để chứng tỏ khả năng chuyên môn về môn học phụ trách. 

B.- Tại các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội.- Tại các quốc gia này, vấn đề  huấn luyện hay đào tạo giáo chức phụ trách dạy môn Sử và Công Dân được coi như là vô cùng quan trọng, quan trọng hơn tất cả các môn học khác. Giáo viên phụ trách giảng dạy môn học này không những phải có đủ điều kiện về văn bằng và kiến thức về môn Sử và Công Dân, mà còn phải có căn bản vững chắc về lý thuyết Karl Marx (Marxism). Cũng vì vậy, chính quyền hết sức thận trọng trong việc thâu nhận giáo viên vào phụ trách dạy môn này. Những người dù là đã có văn bằng đại học về môn Sử và Công Dân ở các nước dân chủ tự do, nếu không có căn bản vững chắc về lý thuyết Karl Marx cũng vẫn không được thâu nhận vào phụ trách dạy môn học này. Đây là lý do TẠI SAO, sau ngày 30/4/1975, các giáo viên vốn đã từng phụ trách dạy môn Sử và Công Dân tại các trường trung học ở miền Nam trong nhiều năm dù rằng họ là những người đã tốt nghiệp tại trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn, Đại Học Sư Phạm Huế, v.v.. , và có nhiều người có cả văn bằng về môn học này ở Hoa Kỳ cũng vẫn không được cho phụ trách giảng dạy môn học này. Nếu được thâu nhận, họ được chuyển sang phụ trách dạy môn Địa Lý.

 C.- Tại các quốc gia nằm dưới ách thống trị của chế độ đạo phiệt Da-tô.- Bất kỳ chế độ đạo phiệt nào cũng có chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ. Chế độ đạo phiệt Da-tô cũng không đi ra ngoài quy luật này. Các chế độ này có chủ trương đào tạo giáo chức hay cán bộ giáo dục  hoàn toàn khác với chủ trương đào tạo giáo  chức tại các nước theo chính sách giáo dục tự do và khai phóng. Ở đây, những tín lý Ki-tô, những giáo luật và những lời dạy của Giáo Hội La Mã là những hạt giống tư tưởng được triệt để  gieo rắc vào đầu óc non nớt của cac em học sinh, và vai trò của người thợ gieo những hạt giống này được trao cho các ông tu sĩ hay giáo sĩ Da-tô. Vì thế mà môn Sử Địa và Công Dân không những không được coi là những hạt giống tư tưởng gieo rắc vào đầu óc các em học sinh, mà còn bị coi như là một môn học vô cùng bất lợi cho những hạt giống tư tưởng Ki-tô giáo. Cũng vì thế mà việc đào tạo các giáo viên  phụ trách môn Sử Địa và Công Dân và giáo sự phụ trách môn văn tại các trường Đại Học trở nên không cần thiết.

Hơn nữa, tại quốc gia này, vì  có chủ trương thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, cho nên việc đào tạo giáo chức cho các trường tiểu học và trung học bị coi nhẹ. Đặc biệt là các giáo viên phụ trách dạy môn Sử Địa và Công Dân lại càng bị coi nhẹ hơn nữa. Phần lớn những giáo viên phụ trách dạy môn học này tại các trường tư thục do Giáo Hội làm chủ đều do các ông linh-mục đưa vào và là những người vừa không có đủ tiêu chuẩn về bằng cấp, vừa không có khả năng kiến thức về môn học này. Trong thực tế, sự hiện diện môn học này và sự và việc thuê mướn giáo viên phụ trách môn học này tại các trường tư thục do Giáo Hội làm chủ chỉ là một sự miễn cưỡng và bất đắc dĩ.  

Người viết được biết trình độ học vấn rất thê thảm của các bà sơ và một vài thanh niên trốn quân dịch  phụ trách dạy mấy lớp tiểu học trong họ đạo (trại đinh cư) Dốc Mơ (Kiệm Tân, Long Khánh) vào những năm 1961-1975. Những người này  chưa học hết bậc tiểu học. Người viết có người anh ruột sinh sống ở đây. Do đó, mấy người con của ông bắt buộc phải theo học tại các lớp học này và phải đóng học phí hàng tháng. Dân trong trại muốn gửi con em đi học các trường công lập ở ngoài trại để khỏi phải đóng học phí. Hơn nữa, các trường công lập có thày hay cô giáo có sư phạm và trình độ học vấn khá hơn nếu so với các giáo viên dạy trong các trường học tư của họ đạo. Nhưng Linh-mục Trần Đình Vận (quản nhiệm họ đạo) không cho phép và bảo rằng nếu cho con em đi học trường ngoài sẽ không có môn Giáo Lý, như vậy trẻ em sẽ hư hỏng. Kẻ nào dám trái lệnh Cha,  thì hoặc là   sẽ bị trục xuất ra khỏi trại, hoặc là sẽ mất hết những đặc quyền đặc lợi của chính quyền dành cho giáo dân, trong đó có cả việc chạy chọt cho vào làm các cơ quan cảnh sát, công an và mật vụ, và đặc lợi NẾU có những hành động phạm pháp và nếu bị bắt sẽ được Cha lo cho thoát khỏi vòng lao lý. Các trại định cư khác cũng ở trong tình trạng này.

Tình trạng các giáo viên dạy các lớp tiểu học trong các họ đạo hay trong các trại định cư  khác của người Bắc Kỳ di cư  đều  như vậy cả.

Khả năng học vấn và khả năng sư phạm của  các giáo viên dạy trong các trường trung học ở ngoài các