giaodiem copyright
           posted: 09.3.2006

   Nguyễn Mạnh Quang

  IV. - TỪ GIÁO SƯ ĐẠI HỌC LÊ HỮU MỤC DẠY MÔN VĂN LANH CHANH NHẨY RÀO VÀO LÃNH VỰC SỬ HỌC

Người viết xin nêu lên đây trường hợp ông Da-tô Lê Hữu Mục, một cán bộ giáo dục dạy môn Văn tại trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn để làm đề tài nghiên cứu về những đặc tính Da-tô của những người được Giáo Hội đưa vào dạy học trong kế sách trồng người tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.  Thông thường, ai cũng nghĩ rằng, một giáo sư phụ trách giảng dạy môn Văn tại Phân Khoa Văn Khoa của Trường Đại Học Sàigòn, một trường đại học lớn nhất ở miền Nam trong những năm 1954-1975, thì vị giáo sư đó phải có kiến thức rất vững về môn học này, phải hiểu rõ  cái phạm vi kiến thức chuyên môn của mình, phải biết rõ NẾU đi ra khỏi cái phạm vi đó là lạng quạng,và phải biết rằng ngay cả cái kiến thức chuyên môn mà chính mình đang phụ trách giảng dạy cũng hữu hạn,  chưa hẳn là vô biên.  Thế nhưng, ông Giáo-sư Lê Hữu Mục lại không biết như vậy.

Thực vây, sau khi đã  đọc một số bài viết của ông Giáo-sư Lê Hữu Mục, người viết nhận thấy ông ta vừa bị điều kiện hoá, nhìn văn  chương Việt Nam qua lăng kính Da-tô giáo, cho nên ông ta mới có cái nhìn thiên lệch và thiếu trung thực khi nhận xét về một tác phẩm văn chương Việt Nam, vừa không nhận thức được cái  khả năng hiểu biết hữu hạn của ông là chỉ nằm trong lãnh vực của môn Văn mà thôi. Vì thế,  ông ta mới ham hố viết ẩu, viết càn và lanh chanh nhẩy rào vào lãnh vực  sử để rồi viết bậy, viết bạ khiến cho người đọc nhìn thấy cái tẩy “nói láo”, làm mất cả tư cách và liêm sỉ của một nhà giáo.

NHỮNG BẰNG CHỨNG.- Nói phải có sách, mách phải có chứng. Dưới đây là những bằng chứng về sự kiện ông Giáo-sư Lê Hữu Mục đã viết ẩu, việt bậy, viết láo ở trong các bài viết của ông.

Thứ nhất.- Tình cờ người viết được đọc cuốn Bút Thuật Của Nguyễn Du Trong Đoạn Trường Tân Thanh của  tác giả Đõ Quang Vinh, thấy nơi trang 7  có một đoạn với nguyên văn như sau:

““Hoặc như học giả Lê Hữu Mục, mới đây nhất, lại cho rằng trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh và trong tư  tưởng của Nguyễn Du không hẳn chỉ tìm thấy vết tích của Phật, Lão, Nho mà còn cả Thiên Chúa Giáo nữa.”[1]  

Mấy bữa sau, khi đọc bài viết Tôi đọc “Truyện Kiều và Tuổi Trẻ” Lê Hữu Mục, Phạm Thị Nhung và Đặng Quốc Cơ của tác giả Trần Chung Ngọc đăng trong www.giaodiem.com tháng 2/2006, người viết lại thấy trong đó có đoạn như sau:

“Không những thế, theo độc giả T.H.D viết trong tờ Thế Giới, ông Lê Hữu Mục còn khẳng định rằng "Phải công nhận Nguyễn Du đã phải đọc Kinh Thánh mới viết nổi đoạn này."[2] 

Sự kiện ông Lê Hữu Mục cho rằng “trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh… do đó tác phẩm Truyện Kiều cũng có vết tích Thiên Chúa Giáo.”, hay “khẳng định rằng "Phải công nhận Nguyễn Du đã phải đọc Kinh Thánh mới viết nổi đoạn này."   chứng tỏ rằng ông Lê Hữu Mục không biết gì về chủ trương của Giáo Hội La Mã triệt để thi hành chính sách ngu dân trong đó có chuyện nghiêm cấm, không cho phép tín đồ được đọc Thánh Kinh  và cũng không được phép đọc tất cả các sách mà  Giáo Hội đã ra lệnh cấm, không cho đọc. Sự kiện này được học giả Hellen Ellerbe ghi lại trong cuốn The Dark Side Of Christian History với nguyên văn như sau:

Giáo Hoàng Gregory I (590-604) cũng lên án việc giáo dục cho tất cả mọi nguời như  là một việc làm độc hại và điên rồ, ngoại trừ đối với giới tu sĩ. Ông cấm giáo dân, không được đọc Thánh Kinh. Ông ra lệnh đốt thư viện Apollo ở Palestine “vì sợ rằng văn chương thế tục sẽ làm sao lãng việc suy ngẫm về thiên đường.” (“Gregory the Great (590-604) also condemned education for all but the clergy as folly and wickness. He forbade laymen to read even Bible. He had the library of Palestine Apollo burned “lest its secular literature distract the faithful from the contemplation of hevean.”)[3]

Việc Giáo Hội La Mã cấm tín đồ đọc Thánh Kinh cũng được Giáo sư Trần Chung Ngọc ghi lại trong bài viết “Tôi đọc Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ”  đăng  www.giaodiem.com, tháng 2/2006  với nguyên văn như sau:

Chúng ta cũng nên nhớ rằng đã một thời Giáo hội cấm tín đồ đọc Thánh Kinh, vi phạm luật này có thể bị xử tịch thu tài sản, bị vạ tuyệt thông, hay bị tử hình. Về sự việc này, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, một tín đồ Gia Tô trong 30 năm thuở thiếu thời, đã viết như sau trong bài "Ít Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa Giáo":

"Tôi mới đầu không hiểu tại sao Giáo hội cấm không cho giáo dân có Kinh Thánh hay đọc Kinh Thánh, nhất là bằng Quốc Ngữ. Dần dà tôi mới thấy sự cấm đoán đó hết sức là hữu lý, vì nếu cứ để cho giáo dân đọc Kinh Thánh, dần dà họ sẽ bới ra được những cái dở của Kinh Thánh, những chỗ dịch sai, dịch bậy của Kinh Thánh, những chỗ thêm, bớt vào Kinh Thánh.... Ngày nay người ta đã bới móc ra rằng Kinh Thánh có nhiều đoạn mâu thuẫn nhau; năm quyển Cựu Ước đầu tiên không phải do Maisen viết mà do nhiều người viết về sau này; Jeremiah, Daniel cũng do nhiều người viết ở nhiều thế kỷ khác nhau; Thánh thư cho giáo đoàn Hebrews, Thánh thư Thessalonians II, Thánh thư Peter II không phải do Paul và Peter viết ra. Thực là điên cái đầu..." [4]

Cho đến ngay nay, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng, chủ trương này vẫn không thay đổi.  Linh-mục Trần Tam Tỉnh ghi nhận tình trạng này ở Việt Nam vào giữa thế kỷ 20  với nguyên văn như sau:

“Cac sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mác, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh  đã dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng  ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, còn giáo dân thì không thể rờ tới.)" [5]

Những bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy:

1.- Cho mãi tới giữa thế kỷ 20, chính giáo dân Việt Nam cũng không được phép đọc Thánh Kinh, thì làm sao cụ Nguyễn Du (1766-1820) sống vào cuối thế kỷ 18 và 20 năm đầu của thế kỷ 19 có thể được đọc Thánh Kinh Ki-tô?  Sự kiện này chứng tỏ ông Lê Hữu Mục đã hồ đồ, viết càn, viết  láo, viết ẩu  khi cho rằng “trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh.”

2.- Chính ông Lê Hữu Mục cũng chưa đọc hết Thánh Kinh mà chỉ được đọc sách giáo lý (catechism) hay nghe các nhà truyền giáo thuyết giảng. Những đoạn văn trong các sách  giáo lý lấy từ trong Thánh Kinh và đã được sửa lại cho thích hợp với sách lược truyền giáo của Giáo Hội La Mã. Vì thế, tín đồ Da-tô chỉ được nghe những đoạn văn trong sách giáo lý  có lợi cho Giáo Hội do các ông truyền giáo rao giảng. Tình trạng này đã làm cho tín đồ lầm tưởng rằng những lời lẽ trong Thanh Kinh Ki-tô đều như vậy cả. Sự thực, những lời dạy và những câu chuyện trong Thánh Kinh nếu không phải là siêu hoang đường hay loạn luân dâm loàn thì cũng là những lời dạy hay lệnh truyền cực kỳ ghê tởm. Dưới đây là một vài bàng chứng về sự kiện này:

1.- Sáng Thế Ký: "30.- Lot ở Xoa thì sợ hãi, nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia. 31.- Cô lớn nói cùng em rằng: Cha ta đã già, mà không còn ai trên đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ. 32.- Hê! chúng ta hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại. 33.- Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha mình; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 34.- Qua ngày mai, chị nói cùng em rằng: Nầy đêm hôm qua   ta đã nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha nữa, rồi em hãy lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng-giống cha lại. 35.- Đêm đó hai nàng lại phục rượu cho cha mình, rồi nàng nhỏ lại nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết. 36.- Vậy, hai con gái của Lot do nơi của mình mà thọ thai, 37.- Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ dân Mô-áp đến bây giờ. 38.- Người em cũng sanh đặng một trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây giờ." (Sáng Thế Ký: 19:30-38). 

Đây Là một trong những chuyện loạn luân dâm loàn trong Thánh Kinh.

2.- Leviticus: 26.14.- "Nhưng nếu các người không nghe lời Ta, không tuân hành những lời răn dạy này.” (But if you do not obey Me, and do not observe all these commandements.) 26.15.- “và nếu các ngươi khinh thường những quy luật của Ta, hay nếu linh hồn của các ngươi khinh ghét những lời phán xét của Ta, cho nên các người không thực thi tất cả những lời răn dạy của Ta, và không tuân hành quy ước của Ta." ( and if you despise My statutes, or if your soul abhors My judgements, so that you do not perform all My commandements, but break My covenant.)". . 26.16.- "Ta sẽ gây ra những tai họa dưới đây cho các ngươi: Ta sẽ đem lại cho các ngươi những gì khủng khiếp nhất, những bệnh tật tàn phá các ngươi, dịch sốt rét sẽ hủy hoại những tròng mắt của các ngươi và nhiều cảnh đau buồn khác nữa. Những hạt giống mà các người gieo xuống đất sẽ không nẩy mầm được nữa vì rằng kẻ thù của các người sẽ ăn mất đi hết những hạt giống đó.” (I also will do this to you: I Will even appoint terror over you, wasting disease and fever which shall consume the eyes and cause sorrow of heart. And you shall sow your seed in vain, for your enemies shall eat it.)  26.17.- "Ta sẽ nhìn thẳng vào mặt các ngươi, và các ngươi sẽ bị thảm bại trước kẻ thù. Những người nào thù ghét các ngươi sẽ đè đầu cỡi cổ các ngươi, và các ngươi sẽ phải chạy trốn cả những khi không có người nào đuổi bắt các ngươi.” (I will set My face against you, and you shall be defeated by your enemies. Those who hate you shall reign over you, and you shall flee when no one pursue you.)  26.18.- ""Và sau hết, nếu các ngươi không nghe lời Ta, Ta sẽ trừng phạt các ngươi bẩy lần hơn về tội lỗi của các ngươi.” ( And after all this, if you do not obey Me, then I will punish you seven times more for your sins.)

Đây là một trong những bằng cớ chứng rỏ rằng Thiên Chúa của Giáo Hội La Mã vô cùng bạo ngược và cực kỳ độc ác. Ây thế mà Giáo Hội La Mã lại bảo rằng Thiên Chúa “Toàn năng, Toàn Thiện…” và “Lòng lành vô cùng”. Rõ ràng là lươn lẹo, ăn nói ngang ngược.

Ghê thay miệng lưỡi Da-tô!

Lươn lẹo, ngang ngược như đồ lưu manh.

3.-  Luật Sợ Chúa.- “Dùng danh nghĩa thiên-chúa Giê-hô-va, bọn giáo-sĩ chế (bịa) ra các luật ở bảng thứ nhất để bắt dân phải cung phụng họ, chỉ được thờ vị thần do họ đưa ra, phải diệt (hết) các đạo khác, phải giết nhưng người thay đổi đạo mà họ đã đặt ra, phải giết vợ con, bạn hữu nếu những người này tuyên truyền cho các đạo khác, phải không có lòng thương xót khi giết người .” [6]  

Đây là một trong những bằng cớ khác chứng tỏ Thiên Chúa của Giáo Hội La Mã hết sức gian tham và dã man đến cùng độ của dã man.

4.- Luật Quy Định Vịệc Cung Phụng Thiên Chúa.- Môi-se ra lệnh cho đám dân Do Thái giặc cướp phải giết hết người nam, giết hết đàn bà, con gái đã ăn nằm với đàn ông, chỉ giữ lại con gái trinh thôi (Dân số 31:17-18). Giê-ho-va đòi dân đi ăn cướp về phải chia của cướp được cho mình. Của này phải giao cho các giáo sĩ giữ từ cừu, bò cho tới những người con gái (Dân số 31:28 và 31:40). Thân hình thiên chúa Giê-hô-va và thân hình người đàn ông (Sáng Thế 1:26) giống nhau nên vị thiên chúa đó đòi dâng con gái của loài người không có gì là lạ. Cha sao, con vậy. Thảo nào các con của vị thần đó cũng ham (Sáng Thế 6:4) con gái loài người. Vị thần ăn cướp gọi là Thiên-chúa Giê-hô-va đòi tín đồ chỉ được thờ có một mình mình thôi, cho nên vị thần ấy đòi tín đồ thẳng tay tiêu diệt quyền tự do tôn giáo, đòi như sau:

Phải dứt khoát giết những người đi lễ (bất kỳ) vị thần nào khác ngoài Giê-hô-va (Xuất Hành 22:20)

Phải giết những kẻ tiên tri nào dám nhân danh các vị thần khác mà nói (Phục Luật 18:20)

Chớ theo những vị thần của các dân tộc ở chung quanh các ngươi (Phục Luật 6:14).

Dân Do Thái phải dâng con đầu lòng cho Giê-hô-va (Xuất Hành 13:12).

Dân Do Thái hay dân khác sống trên đất Do Thái mà dâng con cho thần Mo-lóc thì phải bị xử tử (Lê-vi: 20:2).

Không được tha mạng sống cho các thầy phù thủy (Xuất Hành 22:18).

Những người đi hỏi thầy phù thủy hay hỏi thầy bói cũng phải dứt khoát bị trừng trị. Giê-hô-va nói: “Ta sẽ đối mặt kẻ đó và sẽ cắt phăng kẻ đó khỏi dân chúng (Lê-vi 20:6).

Giê-hô-va tự nhận là thần Ganh-ghét, không tiếc lời căn dặn tín đồ mọi chi tiết về việc phá các đạo khác: Phàm những dân tộc nào mà các ngươi đuổi đi được, các ngươi phải:*Phá sạch những nơi thờ thần của họ (Thánh Kinh Tin Lành dùng cụm từ “chúng nó” thay cho “họ") trên núi cao, trên đồi, dưới bóng cây xanh,  đập tan bàn thờ, đâp vụn cột đền, lấy lửa đốt rụi hết các tượng của họ, * đục khoét cho mất hết mọi hình chạm trổ các tượng thần của họ,* và xóa tên những thần ấy ở những nơi đó (Phục Luật 12:2-3). Một nhóm dân Do Thái thờ thần Ba-an Pê-o khiến cho Giê-hô-va nổi giận lôi đình rồi ra lệnh cho Môi-se:“Hãy đem hết các thủ lãnh của đám dân này ra treo cổ ở ngoài nắng trước mặt Gia-vê để cơn giận của Gia-vê không chĩa vào dân Do Thái (Dân Số 25:3-5.) [7]

Bản văn trên đây cho chúng ta thấy rõ Thiên Chúa Jehovah của Giáo Hội La Mã thuộc loại siêu bạo chúa. Tất cả những ác tính của tất cả mọi thứ bạo chúa và của tất cả mọi thứ quỷ dâm dục gom lại đều có ở trong ông Thiên Chúa Jehovah của Giáo Hội La Mã.

5.- "Luke: 19: 27: Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta." (Bring here those enemies of mine who did not want me to reign over them and slay them before me.)

Câu văn này chứng  tỏ rằng ông Chúa Con Jesus cũng bạo ngược và dã man không kém gì ông Thiên Chúa Cha Jehovah.

6.- Matthew 10: 34-36: Đừng tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn."(Do not think that I came to bring peace on earth. I did not come to bring peace but a sword. For I have come to set a man against his father, a daughter against her mother, and a daughter-in-law against her mother-in-law. And a man's foes will be those of his own household.”

Đoạn văn này cho chúng ta thấy ông Chúa Con Jesus chuyên môn làm những chuyện thất đức, xúi giục người đời làm những chuyện thương luân bại lý, đại nghịch bất đạo. Như vậy, ông ta bị ông Thống Đốc La Mã Pilate (Pontius) xử tội đóng đinh trên thập tự giá rồi đem phơi  xác ở Núi Sọ Người (Mount of Golgotha) cho quạ rỉa là đáng tội lắm, chứ còn oan cái nỗi gì? 

Trên đây là những lời dạy trích ra từ trong Cựu Ước và Tân Ước Kinh. Nếu có cơ hội đọc những bản văn có những lời dạy ghê tởm này thì chắc chắn là cụ Nguyễn Du phải bịt mũi mà viết rằng:

Ngán cho cái mũi vô duyên,

Thánh Kinh Công Giáo, con thuyền Nghệ An! (Nhại thơ của cụ Cao Bá Quát).

Và NẾU đã đọc hết Thánh Kinh, tất nhiên là ông Lê Hữu Mục phải biết rõ trong Thánh Kinh có những lời dạy cực kỳ ghê tởm trên đây. Biết như vậy, liệu ông Lê Hữu Mục có dám cho rằng, “trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đọc Thánh Kinh và trong tư  tưởng của Nguyễn Du không hẳn chỉ tìm thấy vết tích của Phật, Lão, Nho mà còn cả Thiên Chúa Giáo nữa.” hay không?

Qua phần trình bày trên đây, chúng ta có thể khẳng định rằng:

1.- Ông Lê Hữu Mục chưa bao giờ đọc hết Thánh Kinh Ki-tô và chỉ hiểu Thánh Kinh  theo các ông truyền giáo nói láo với tín đồ Da-tô mà thôi.

2.- Ông Lê Hữu Mục đã viết láo, viết ẩu, viết bừa bãi, khinh thường độc giả. Trường hợp này có thể là thấy danh tiếng của cụ Nguyễn Du lớn quá, cho nên  ông Lê Hữu Mục muốn vơ vào theo cái bản chất nhập nhằng “thấy người sang bắt quàng làm họ” của  nền đạo lý Da-tô đã truyền dạy cho ông. Cái truyền thống nhập nhằng và vơ vào này đã được Giáo Hội La Mã sử dụng từ thế kỷ 17 hay trước đó, khi nói rằng “văn minh Tây Phuơng” là  văn minh Ki-tô Giáo” trong khi Ki-tô giáo cấm đoán những việc nghiên cứu và  phát triển khoa học. Việc Giáo Hội trừng phạt và cấm  nhà bác học Galileo Galilei (1564-1642) không được công bố công trình chứng minh trái đất có hình cầu, tự xoay quanh và di chuyển chung quanh mặt trời theo một quỹ đạo hình bầu dục với một chu kỳ là 365 và 6 giờ là một bằng chứng không ai có thể phủ bác được. Ấy là chưa nói đến việc Giáo Hội La Mã đã hủy diệt hết tất cả các công trình văn minh và văn hóa khác với văn minh và văn hóa Ki-tô giáo mà người viết đã trình bày một phần ở trên và khá đầy đủ ở trong Chương 5, Phần I trong bộ sách này.

3.- Trong trường hợp ông Lế Hữu Mục đã đọc Thánh Kinh mà ông vẫn viết bậy, viết láo như trên, chúng ta cần phải xét lại trình độ thông minh (IQ) và lương tâm của ông Lê Hữu Mục. Từ đó, chúng ta suy ra trình độ thông minh và lương tâm của những ông linh-mục và tín đồ Da-tô được các chính quyền đạo phiệt Da-tô (tức là Giáo Hội La Mã) đưa vào nắm giữ những chức vụ chỉ huy và giảng dạy tại các trường tiểu, trung và đại học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 theo kế hoạch trồng người cố hữu của Giáo Hội.

Thứ hai.- Trên đây là nói về vấn đề ông Lê Hữu Mục viết sai, viết bậy, viết càn, viết láo, bịa đặt ra chuyện “trước khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du  đã đọc Thánh Kinh… “  Dưới đây xin nói về ông Mục lanh chanh nhẩy rào vào lãnh vực viết sử để làm cái việc chạy tội  bán nước cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican của tên Linh-mục Việt gian Trần Lục. Tội ác phản quốc của tên Linh-mục Việt gian này có thể nói là trùng trùng như rặng núi Hoàng Liên Sơn và đã được các nhà viết sử có học vị và có uy tín ghi lại rõ ràng  trong các tác phẩm của họ.  Riêng về  tội ác  đem giáo dân Phát Diệm đi trợ giúp Liên Minh Xâm Lược Pháp - Vatican tấn công lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta dưới quyền chỉ huy của cụ Đinh Công Tráng tại chiến lũy Ba Đình đã được Linh-mục Trần Tam Tỉnh (tiến sĩ ngành sử học, hiện đang giảng dạy môn sử tại một trường đại học ở Canada), ghi lại trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi gươm với nguyên văn như sau:

"Cho tới ngày chết, 25-4-1892, Giám-mục Puginier chẳng bỏ qua bữa nào để củng cố thêm vị trí nước Pháp tại xứ sở con nuôi này của ông. Người ta đang giữ được hàng chục điệp văn và bản tin tình báo mang chữ ký của ông trong văn khố của Bộ Thuộc Địa. Và một phần nhờ ở các bản tin đó mà quân Pháp đã có thể đập tan cuộc kháng chiến vũ trang của người Việt Nam. Cuộc kháng cự hùng mạnh nhất đã xẩy ra tại Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Bề ngoài, đó là một loại làng được biến thành căn cứ, được lũy tre bảo vệ, có thành, có đường hầm và hệ thống giao thông hào được bố trí rất thông minh. Tinh thần các chiến sĩ lúc đó rất cao. Nhằm "bình định" cứ điểm này, quân Pháp đã gửi tới một lực lượng gồm 2250 tên lính, 25 đại bác, 4 pháo hạm dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Metzinger. Cuộc tấn công ngày 16-12-1886 bị đầy lui. Quân Pháp phải tổ chức bao vây để tìm hiểu chiến thuật mới. May cho chúng, vì có một sĩ quan trẻ, đại úy Joffre (sau này là thống chế Pháp trong Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất) nghĩ tới việc nhờ Linh-mục Trần Lục, quản xứ Phát Diệm và là Phó Vương, tiếp trợ cho cuộc bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Ông linh mục này đã nhận phép lành của Giám-mục Puginier, rồi đi tiếp viện cho quân Pháp với 5 ngàn giáo dân. Ba Đình đã thất thủ." [8]

Tội ác phản quốc của Linh-mục Trần Lục chống lại đất nước và dân tộc ta  cũng được  sử gia Vũ Ngự Chiêu ghi nhận trong sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1884-1945 - Tập II với nguyên văn như sau:

Tại miền Bắc, Linh-mục Trần Lục (Xuân Triêm) - được cơ quan ngôn luận của Hội Truyền Giáo mô tả như một “courtisan” (người thân tín, kẻ xu nịnh) của Puginier – không những đã bảo vệ được họ đạo Kim Sơn (Ninh Bình) mà còn cho tăng cường lực lượng “thập tự quân” tiếp tay bất cứ cuộc hành quân nào của Pháp vào các tỉnh lân cận, đặc biệt là Thanh Hóa. Một trong những công lớn của Trần Lục với chính phủ Bảo Hộ là chiến thắng Ba Đình. Ngoài ra, Trần Lục cũng cung cấp cho Pháp hàng ngàn cu-li, mật báo viên, lính tập, và viên chức hành chính. Trần Lục uy quyền đến độ được đi đứng tự nhiên trước mặt Kinh Lược, và được Pháp trao tặng cả Bắc Đẩu Bội Tinh.”[9]

Người viết không biết ông Lê Hữu Mục có căn bản sử học ở vào mức độ nào mà lại hăm hở nhẩy bổ vào lãnh vực sử học để viết bài một bài viết Cụ Sáu Đối Diện Với Văn Thân in trong cuốn Trần Lục (Montreal, Canada: LM Nguyễn Gia Đệ, 1996), với chủ tâm  lấp liếm và chạy tội cho tên Linh-mục Việt gian này về những hành động phản quốc rành rành như sách sử đã ghi lại như trên. Dưới đây là lời lẽ và cung cách ông Lê Hữu Mục viết trong một đoạn của bài viết này:

 Linh-mục Trần Công Hoán, tác giả tiểu sử cụ Trần Lục, linh mục Nam tước Phát-diệm, tái bản tại Hoa Kì, 1991, còn cho biết thêm: “Toàn quyền Pháp ở Hà Nội nhờ cụ Sáu dẹp hộ (vụ Ba Đình)  song ngài kiếu hẳn” (Sđd., tr. 83). Đại Úy Joffre, sau này là thống chế, đến Phát Diệm xin thêm ít cu-li và mấy chiếc thuyền. Cụ Sáu nói: “Người sẵn và thuyền sẵn, muốn lấy, tôi yêu cầu phải trả công cho họ”. (Nt, tr. 8). Như vậy đúng như lịch sử Việt Nam đã ghi, không có chuyện Cụ Sáu cộng tác với người Pháp để dẹp vụ Ba Đình, cũng không có lính Công Giáo trong quân đội Pháp đi dẹp nghĩa quân Ba Đình. Những điều ấy chỉ có trong cuốn Ba Đình truyện kí, Hà Nội, 1945, do nhà văn Phan Trần Chúc tưởng tượng ra.” [10]

Đọc qua bản văn của ông Lê Hữu Mục viết trên đây, chúng ta thấy rằng:

1.- Câu văn “Cụ Sáu nói: “Người sẵn và thuyền sẵn, muốn lấy, tôi yêu cầu phải trả công cho họ.”  cho người đọc thấy rõ Linh-mục Trần Công Hoán xác nhận rằng  đám lính đạo của Phát Diệm của Linh-mục Trần Lục là đạo quân đánh thuê cho Liên Quân Xâm Lăng Pháp – Vatican.

2.- Câu văn “Như vậy đúng như lịch sử Việt Nam đã ghi, không có chuyện Cụ Sáu cộng tác với người Pháp để dẹp vụ Ba Đình, cũng không có lính Công Giáo trong quân đội Pháp đi dẹp nghĩa quân Ba Đình.”  Là lới kết luận của ông Lê Hữu Mục.

Qua hai câu văn trên đây, chúng ta thấy rằng ông Lê Hữu Mục  dùng câu văn 1 của Linh-mục Trần Công Hoán để dẫn chứng rồi kết luận bằng câu văn 2 để chứng minh rằng ông Linh-mục Trần Lục “không cộng tác với người Pháp để dẹp vụ Ba Đình”.  Đây là chủ tâm của ông Giáo-sư Lê Hữu Mục.

Như vậy có nghĩa là ông Lê Hữu Mục muốn minh định rằng đạo quân thập tự Phát Diệm dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Trần Lục không phải là đạo quân cộng tác với Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican trong chiến dịch tiêu diệt lực lượng kháng chiến của nhân dân ta dưới quyền chỉ huy của cụ Đinh Công Tráng tại Chiến Lũy Ba Đình, mà là một đạo quân đánh thuê.

Không biết  ông Giáo-sư Lê Hữu Mục và những người đồng đạo của ông có biết rằng đối với lịch sử và dân tộc Việt Nam,  tất cả người Việt Nam đứng về Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican chiến đấu chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam dù là công tác hay đánh thuê cũng đều là Việt gian cả. Thực tế là như vậy, nhưng NẾU gọi là “cộng tác” là có ý muốn nâng mình  lên hàng bạn bè đồng đẳng  hay đồng minh của người Pháp  Vatican. NẾU gọi là “đánh thuê” là  có ý muốn nói bị người Pháp và Vatican coi là một thứ đầy tớ.

Trong thực tế, dưới con mắt của người Pháp, những người Việt Nam nhẩy ra làm tay sai (cộng tác hay đánh thuê) cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đều bị coi như là những hạng người đầy tớ của chúng và bị chúng khinh miệt như là hạng người lưu manh, đầu trộm đuôi cướp, du thuỷ du thực. Đoạn văn sử dưới đây là bằng chứng:

"Chúng tôi chỉ có với mình", Đô Đốc Rieunier  sau này nói, "những giáo dân và bọn du thủ du thực".  "Bọn lang bạt bị trục xuất khỏi làng vì đói rét hoặc vì tội phạm," Đại Tá Bernard viết, xô về đây với cái lưng mềm dễ uốn, họ tham sống sợ chết; họ hoàn toàn hững hờ với cuộc đấu tranh của dân tộc mình, sẵn sàng phụng sự bất cứ những ông chủ nào… Người ta sẽ tuyển dụng trong số họ tất cả nhân viên hành chính cần thiết cho nhà nước, hoặc những người giúp việc gia đình: làm đầy tớ, làm khuân vác, làm người chạy giấy và cả những tên phiên dịch, hoặc những người ghi chép được đào tạo thô sơ qua các nhà trường của Hội Truyền Giáo. Chính là qua sự tiếp xúc với những kẻ khốn nạn này mà bọn thực dân và công chức, vừa mới đổ bộ lên, làm quen với dân tộc Việt Nam …"[11]

Xin nói cho ông Lê Hữu Mục biết rằng những đạo quân Lê Dương, Bắc Phi, Trung Phi và những đạo quân người Việt Nam chiến đấu trong hàng ngũ Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican tại Đông Dương trong những năm 1945-1954 đều là những lính đánh thuê cả. Tất cả những người lính trong các đạo quân này chỉ  chiến đấu cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican với điều kiện họ được trả tiền hậu hĩ giống y hệt như đám lính và dân công Phát Diệm dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Trần Lục trong chiến dịch tấn công và tiêu diệt căn cứ kháng chiến của nhân dân Việt Nam tại Chiến Lũy Ba Đình  ở Thanh Hóa vào năm 1894-1895.

Thực ra, khi trích dẫn câu văn của Linh-mục Trần Công Hoán và viết câu văn kết luận trên đây, trong thâm tâm, ông Lê Hữu Mục có gian ý úm ba la xuyên tạc lịch sử, nhưng lại vô tình để lộ ra sự thiếu thông minh của ông ta. Gian ý úm ba la ở chỗ ông Lê Hữu Mục sử dụng mệnh đề “Như vậy đúng như lịch sử Việt Nam đã ghi” với ý đồ lươn lẹo bảo rằng đoạn văn sử của Linh-mục Trần Công Hoán  viết trên đây là “sử Việt Nam”.  Thiếu thông minh ở chỗ ông Lê Hữu Mục dựa vào lời viết của ông Linh-mục Trần Công Hóan để bảo rằng “lịch sử Việt Nam đã ghi, không có chuyện Cụ Sáu cộng tác với người Pháp để dẹp vụ Ba Đình, cũng không có lính Công Giáo trong quân đội Pháp đi dẹp nghĩa quân Ba Đình.”

Chủ tâm của ông Lê Hữu Mục là như vậy, nhưng ý nghĩa toàn bộ đoạn văn này của ông lại chứng tỏ rằng đạo quân linh đạo Phát Diệm dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Trần Lục là đạo quân đánh thuê cho Liên Minh Xâm Lăng Pháp - Vatican.  Như vậy, rõ ràng là ông Lế Hữu Mục không chứng minh được gì cả. Kết quả của việc ông chứng minh đã đi ngược lại với ý định của ông. Đặc biệt là câu văn “cũng không có lính Công Giáo trong quân đội Pháp đi dẹp nghĩa quân Ba Đình” thì  càng chứng tỏ ông Lế Hữu Mục viết bậy viết, cãi cuội để chạy tội  phản quốc cho những tín đồ Da-tô riêng trong chiến dịch tấn công và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân của nhân dân Việt Nam tại căn cứ Ba Đình.

Không biết ông Lê Hữu Mục có biết rằng  tất cả các chiến sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân Việt Nam từ đầu thập niên 1860 dưới quyền chỉ huy của các cụ Trương Công Định (1860-1864), Võ Duy Dương (1861-1865), Nguyễn Trung Trực (1861-1868), Nguyễn Hữu Huân (1863), Mai Xuân Thưởng (1885-1887), Phan Đình Phùng (1885-1895), Hoàng Hoa Thám (1885-1913), Nguyễn Thái Học và Quốc Dân Đảng (1927-1930), v.v…  cho đến những chiến sĩ chiến đấu trong Cuộc Chiến Giải Phóng Dân Tộc (1945-1954) và những người bộ đội miền Bắc chiến đấu trong Cuộc Chiến Thống Nhất Đất Nước (1960-1975) đều là những người tình nguyện   quyết tâm liều thân chiến đấu cho quyền lợi tối thượng của đất nước và dân tộc mà không hề đòi được trả tiền hay trả lương gì cả. Họ chỉ đuợc nuôi ăn và phát quần áo cho đủ mặc mà thôi.

Người viết không biết ông Giáo-sư Lê Hữu Mục có nhận ra sự khác biệt giữa một bên là những người linh đánh thuê trong đạo quân thập tự dưới quyền chỉ huy của ông Linh-mục Trần Lục và một bên là những chiến sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến trên đây của nhân dân Việt Nam hay không?

V.-  ĐẾN TÌNH TRẠNG CHUNG CỦA CÁC TÁC  DA TÔ VIẾT SỬ

 Hầu hết các ông Linh-mục và tín đồ Da-tô không theo học ngành sử học, không có khả năng chuyên về môn sử lại ham hố, lanh chanh và học đòi viết  sử  Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Mục đích viết sử của họ là  bia đặt ra những chuyện láo khoét để tô vẽ hay chạy tội cho Giáo Hội La Mã và những người đồng đạo của họ về những hành động kề vai sát cánh với Quân Xâm Lăng Pháp đánh chiếm và thống trị Việt Nam trong suốt thời kỳ từ giữa thế kỷ 19 cho đến năm 1954, hoặc  chạy tội cho Vatican và các chính quyền đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Linh-mục Trần Công Hoán cũng như ông Giáo-sư Lê Hữu Mục các tác giả khác viết cuốn Trần Lục (Montréal, Canada: Trần Gia Đệ, 1996) lanh chanh viết sử cũng nhằm mục đích này. Linh-mục Trần Công Hoán viết sử nói về Linh-mục Trân Lục là có chủ tâm suy tôn một người đồng đạo, đồng nghiệp và cùng làm nô lệ cho Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Vatican bằng những lời lẽ lươn lẹo nhằm làm giảm tội ác của tên linh mục Việt gian cùng thuyền cùng hội này. Rồi sau đó, ông Da-tô Lê Hữu Mục lại sử dụng lời lẽ  láo khoét và lươn lẹo của ông Linh-mục Trần Công Hoán để khẳng định rằng, “không có chuyện Cụ Sáu cộng tác với người Pháp để dẹp vụ Ba Đình, cũng không có lính Công Giáo trong quân đội Pháp đi dẹp nghĩa quân Ba Đình.” 

Cả hai ông Linh-mục Trần Lục, Linh-mục Trần Công Hoán cũng như ông Da-tô Lê Hữu Mục và các tác giả khác viết cuốon Trần Lục đều là những người ngồi chung một con thuyền Vatican, cùng được Vatican nhồi sọ, cùng mang căn bệnh triệt để tuân hành những lời dạy và lệnh truyền của Vatican trong đó có lời dạy, “Đức Giáo Hoàng ở Rome mới là vị vua tối cao duy nhất, và chỉ phải tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican.” [12]

Với một bên là những bản văn của hai sử gia có bằng tiến sĩ về ngành sử học là Linh-mục Tiến-sĩ Trần Tam Tỉnh và Tiến-sĩ Vũ Ngự Chiêu, và một bên là những bản văn của  các ông linh mục Trần Công Hoán, ông Da-tô Lê Hữu Mục và các ông Da-tô khác đồng tác giả cuốn Trần Lục, độc giả có thể nhìn ra bên nào khách quan, vô tư, có khả năng sử học, biên soạn theo đúng phương pháp sử để trình bày một vấn đề lịch sử theo như sự thật đã xẩy ra và đáng tin, và bên nào chủ quan, láo khoét, được viết theo cảm tính với chủ tâm chạy tội phản quốc cho một người đồng đạo cùng triệt để tuân hành lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican để phục vụ cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican. Vấn đề này được ông Nguyễn Văn Quỳ viết như sau:

“Trước hết điểm mặt ai nâng Trần Lục lên: Hội Truyền thống Giáo phận Phát Diệm, đức ông Trần Ngọc Thụ (Rome), các LM Nguyễn Thái Bình, Trần Phúc Vị, Trần Phúc Nhân (ba vị nầy từ Việt Nam qua), LM Nguyễn Gia Đệ (Canada), LM Trần Quý Thiện, hai đức Ông, 3 Linh Mục, cùng với ông Lê Hữu Mục và 5 trí thức giáo sư Công Giáo (đồng tác giả trong cuốn sách dày 640 trang để vinh danh và ca tụng LM Trần Lục), ông Vũ Quang Ninh và ông Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh, hai nhân sĩ Công giáo tại Mỹ,... như thế cũng tạm đủ để kết luận tính đại diện cho quan điểm Sử học và Văn hóa của toàn bộ Giáo hội Công giáo Việt Nam về con người Trần Lục rồi. Vả lại, cho đến giờ nầy, không thấy một cuốn sách nào của người Công giáo viết "khác", lại càng chẳng thấy một người Công giáo Việt Nam nào lên tiếng "phản đối" các vị nầy, kể cả những chuyên viên viết lách Công giáo lúc nào cũng sẳn sàng đòi "dạy Sử" cho cả nước như ông Cao Thế Dung, ông Tú Gàn thẩm phán Nguyễn Cần và ông cựu Nghị sĩ đao to búa lớn Nguyễn Văn Chức.

Bây giờ hãy xem họ nâng ông Cha Trần Lục nầy lên đến độ cao nào: "danh nhân anh tài không những của Giáo hội Công giáo mà còn của dân tộc Việt Nam chúng ta" (LM Trần Quý Thiện), "danh nhân không những trong nước Việt Nam mà còn cả ngoài nước" (đức Ông Trần Văn Khả), "đức độ và tài ba", "LM Trần Lục là một vĩ nhân của lịch sử hiện đại" (ông Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh) "gương chung cổ cho người cả nước đời đời soi chung" (ông Vũ Huy Bá),... và nhiều lời tâng bốc mà chính những anh hùng liệt nữ nước ta như các bà Trưng, bà Triệu, và các vị Trần Hưng đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học cũng không sánh bằng.

Nhưng Cụ Sáu Trần Lục ơi! "Danh" gì cũng không thay được cái danh dâng người và súng cho quân xâm lược, "đức" gì cũng không thay được cái đức bị Cụ Phan đánh cho ba roi, "Tài" gì cũng không thay được tài huy động Giáo dân tiêu diệt chiến lũy của nghĩa quân Ba đình, "Gương" gì cũng không thay được cái gương cúi đầu nhận Bắc Đẩu Bội Tinh của giặc.

Thế mà nào là đức Ông, nào là Linh Mục, nào là Giáo dân trí thức cứ đội Cụ Sáu lên đến chín từng mây. Quái đản thật! Cụ làm vĩ nhân của Công giáo, nhất là Công giáo Việt Nam, thì đúng quá rồi, nhưng còn muốn Cụ làm vĩ nhân của cả dân tộc Việt Nam và cả nhân loại nữa thì Cụ có chịu không?!

Tôi bèn kết hợp người "nâng", cách "nâng" và đối tượng được "nâng" lại với nhau trong một phương trình, và giật mình tìm ra được đáp án cho hiện tượng quái đản nói trên: Cứ người Công giáo làm thì Công giáo Việt Nam phải nhắm mắt mà khen. Bất chấp chuyện làm có xấu mấy chăng nữa. Họ không lý đến sự thật, và cũng chẳng cần đắn đo xem có xúc phạm đến dân tộc hay không. Tình cảm tôn giáo của người Công giáo Việt Nam hơn sự liên đới của họ với đất nước Việt Nam, và áp đảo hẳn một chút lương thiện trí thức nào đó còn sót lại của tinh thần đại học mà họ đã tiếp thu. Họ chỉ có một tiêu chuẩn để đánh giá: Có lợi hay có hại cho Công giáo? Cho nên, để có lợi cho Công giáo, họ đã lạy Trần Lục thì làm sao mà thờ Đinh Công Tráng và Phan đình Phùng được, vì có điều nầy thì không thể có điều kia!

Đáp án nầy không chỉ giải thích riêng "vụ" Trần Lục, mà còn làm sáng tỏ thêm ứng xử văn hóa và đánh giá lịch sử (lúc đầu có vẻ khó hiểu) của họ qua những trường hợp rõ ràng không chối cãi được khi họ chạy tội cho những đồng đạo Pétrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Bá Tòng, Lê Hữu Từ, Nguyễn Trường Tộ, Alexandre de Rhodes,... hay khi họ phản ứng hằn học với các phong trào yêu nước chống xâm lăng của Văn Thân, Cần Vương, và các vua chúa triều Nguyễn. điều thê thảm và bất hạnh cho chính họ (và một phần rất nhỏ cho dân tộc Việt Nam) là ứng xử tâm lý đó đã trở thành vận động có tính quy luật trong tâm thức tôn giáo của người Công giáo Việt Nam. Họ muốn thành thật cưỡng chống cũng không được! Ta muốn hết sức giúp họ giải hoặc thì bị họ xem như kẻ thù!” [13]  

Ai cũng biết rằng việc thẩm định một việc làm của một nhân vật lịch sử  cần phải có tinh thần vô tư và công bằng giống như những người được chọn đưa vào ngồi ghế bồi thẳm để thẩm định một hành động tội ác của một bị cáo ở trong một xã hội văn minh. NẾU người được chọn đưa vào ngồi ghế bồi thẩm để thẩm định một hành động tội ác của một bị cáo phải ở trong tình trạng tuyệt đối không có một mối liên hệ nào có thiện cảm hay ác cảm với bị cáo, THÌ những người viết sử hay thẩm định một việc làm của một nhân vật lịch sử cũng phải ở trong tình trạng tuyệt đối  không có một mối liên hệ thân thiết nào với nhân vật lịch sử đó. Nói cho rõ hơn, những người đồng đạo cùng bị điều kiện hoá như nhau, cùng bị chi phối bởi những tín điều và giáo luật Da-tô, cùng phải triệt để  vâng lời và tuân hành những lệnh truyền của Giáo Hội La Mã, nếu chưa  thức tỉnh, lại không ở trong lãnh vực chuyên môn, thì không thể có thái độ vô tư và công bằng khi thẩm định một hành động tội ác chống lại tổ quốc Việt Nam của một người đồng đạo, nhất là hành động tội ác đó có liên hệ với Tòa Thánh Vatican.

Không biết Linh-mục Trần Công Hoán, ông Da-tô Lê Hữu Mục và các tác giả khác của cuốn Trần Lục có biết rõ những điều người viết đã ghi nhận trên đây hay không. Vấn đề đặt ra là:

1.- NẾU các ông biết rõ những điều trên đây mà vẫn bất chấp và tiếp tục viết ẩu, viết càn, viết bựa để chạy tội phản quốc cho Linh-mục Trần Lục, THÌ chỉ còn đặt ra vấn đề liêm sỉ của các ông mà thôi..

2.- NẾU các ông biết rõ là mình   không biết về sự kiện lịch sử đó  mà cứ viết như vậy thì quả thực là một thứ  ếch ngồi đáy giếng”, nghĩa là hai ông đã khinh thường độc giả và đã lanh chanh nhẩy rào vào lãnh vực viết sử để làm cái  trò  múa rìu qua mắt thợ”.  Riềng về ông Linh-mục Trần Công Hoán và các ông linh-mục khác, người viết không nói làm chi bởi vỉ  họ là các nhà truyền giáo. Nhà truyền giáo nào cũng nói láo để  lừa bịp người đời và tô vẽ  cho cái đạo của họ. Cái đặc tính này nổi bật nhất trong giới giáo sĩ Da-tô. Sự kiện này được chính ông Linh-mục Phan Phát Huồn ghi lại với nguyên văn như sau:  Phần đông các sử gia cho những truyện của Giáo-sĩ thuật lại là những chuyện hoang đường…” [14] 

Hơn nữa, những hạng người kiếm ăn bằng nghề truyền giáo Ki-tô là những người nói láo chuyên nghiệp (professional liars). Nghề chuyên môn của họ là đem những chuyện trên trời nói cho người dưới đất nghe. Đây là nghề nói láo được bảo đảm là sẽ không bao giờ bị lật tẩy vì rằng những chuyện họ nói láo không ai có thể lên trời kiểm chứng được. Cái thói quen nói láo này đã trở thành một  cố tật. Vì thế, gặp trường hợp nào họ cũng nói láo, và nói láo giống y như họ rao giảng tín lý Ki-tô với tín đồ ở trong nhà thờ hay trong những giờ dạy giáo lý cho các trẻ em và những người tân tòng. Điều bất hạnh cho họ là khả năng nói láo của họ  chỉ giới hạn và luẩn quẩn trong phạm vị mấy mớ tín điều  Ki-tô mà Giáo Hội La Mã đã mớm cho họ mà thôi. Đi ra ngoài lãnh vực này hay nhẩy rào vào lãnh vực khác, họ sẽ trở thành tên hề “múa rìu qua mắt thợ”, sẽ bị “lật tẩy” ngay tức thì và  làm trò cười cho thiên hạ.

Nhưng đối với ông Da-tô Lê Hữu Mục thì không thể   làm cái chuyện KHÔNG BIẾT mà cứ VIẾT BẬY như vậy được. Lý do là vì ông là môt nhà giáo đã từng phụ trách giảng dạy môn Văn tại trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn trong nhiều năm trước ngày 30/4/1975. Cái nghề làm thày phải có sự thành thật “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” (Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri.), không được băng xăng, không được  ham hố  và lanh chanh hay học đòi nhẩy rào vào những lãnh vực khác mà mình không phải là tay nghề, không có khả năng chuyên môn. Không biết như vậy mà cứ liều mạng làm ẩu, viết bậy, viết láo thì sẽ để lòi cái tẩy “dốt vĩ đại của chính mình”  để cho thiên hạ  nhìn thấy, và trở thành hạng người “bất khả tín” giống như thằng cuội. Làm như vậy thì quả thật không còn có cái liêm sỉ tối thiểu đứng trên bục giảng giảng bài cho sinh viên.

Nhất sự bất tín, vạn sự bất khả tín.  Một khi ông Lê Hữu Mục đã không biết rõ về cái điều ông ta định nói hay định viết mà vẫn cứ nói bậy, nói càn, viết bậy, viết ẩu như vậy, thì những điều ông ta giảng dạy cho sinh viên có thể tin được không? NẾU sinh viên biết ông nói láo, nói bậy, viết bậy và NẾU họ có phản ứng thì mặt mũi ông để ở đâu? NẾU sinh viên theo học ông vẫn nghe lời ông giảng dạy mà họ không biết rằng ông nói   láo, nói bậy, nói ẩu  rồi cứ ghi ghi chép chép những điều ông nói láo, đem về nhà học thuộc lòng thì thật là tội nghiệp cho họ! Với tình trạng như vậy, trình độ kiến thức những người học trò của ông làm sao khá được!

3.- NẾU thực sự ông Lê Hữu Mục không biết rằng ông ta   dốt về sử học, đem những sự kiện lịch sử Việt Nam đã bị  ông Linh-mục Trần Công Hoán bóp méo, xuyên tạc mà cứ tưởng là những sự thật lịch sử rồi viết lại và phổ biến cho thiên hạ biết, thì thật là tội nghiệp cho ông, một người được mệnh danh là “trí thức” và đã dạy học ở trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn trong nhiều năm! Và cũng tội nghiệp cho  những sinh viên đã theo học những lớp học của ông?

Kiến thức của các ông linh mục và những người được gọi là “trí thức Da-tô”  làng nhàng tồi tệ như ông Giáo-sư Lê Hữu Mục mà được trao cho nắm giữ những chức vụ chỉ huy và giảng dạy môn Văn tại các đại học và môn Sử  Địa và Công Dân tại các trường trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, thì những thế hệ thanh thiếu niên theo học các trường trung và đại học này làm sao khá được?  Điển hình là các ông Nguyễn Gia Kiểng, tác giả cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, và các ông trí thức trong Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation được thành lập vào tháng 7/2003 ở  Wesminster, California. Những loại trí thức như những hạng người này quả thật là xứng đáng với lời ông Mao Trạch Đông đã từng nói, “trí thức không bằng cục phân!

Việc ông Linh-muc Trần Công Hoán và  ông trí thức Da-tô ngoan đạo Lế Hữu Mục viết sách nhằm để chạy tội phản quốc cho Linh-mục Trần Lục khiến cho người viết nhớ đến hai chuyện dưới đây:

Chuyện Thứ nhất là một giai thoại văn chương về cái đặc tính Da-tô huênh hoang, khoác lác và hợm hĩnh của ông Linh-mục Việt gian Trần Lục bị cụ Nghè Trần Bích San thưởng cho một bài học đích đáng. Chuyện như sau:

"Tuy là một linh mục, Trần Lục có căn bản Hán học khá uyên thâm, dường như đã được chấm đỗ Cử Nhân... Trần Lục được Kinh Lược Sứ Nguyễn Hữu Độ đề bạt cho vua Đồng Khánh làm Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ  (hư hàm mà thôi). Vì vậy mà bên "Đạo" thời ấy vẫn gọi là Cụ Lớn Khâm. Nhưng đó là chuyện xẩy ra sau ngày triều đình nhà Nguyễn công khai và thật tâm quy đầu người Pháp. Khi Trần Lục được Lãnh-sự Pháp (ở Hà Nội) Kergaradec mời ra làm thông ngôn cho y trong cuộc thương thảo với Tuần Phủ Hà Nội (Hà Nội dĩ nhiên có Tổng Đốc,  Tuần Phủ chỉ là một thuộc quan, đặc trách riêng Hà Nội, trong khi quản hạt cố đô của nước ta bao gồm cả mấy tỉnh lân cận). Lúc bấy giờ,  Pháp đã thắng thế lắm, nhưng vẫn còn chưa thiết lập nền "bảo hộ" ở Bắc và Trung Kỳ. Cách thức đánh thuế thương chính vẫn còn trong vòng bàn cãi. Lãnh-sự Kergaradec biết rằng người đại diện Triều Đình "An Nam" là người có trình độ học thức vào bậc cao nhất nước và có uy tín lớn với dân chúng cũng như với Hoàng Đế An Nam, cho nên ông ta đã tỏ ra thận trọng tối đa trong việc soạn thảo văn thư trao đổi. Thay vì tin dùng mấy gã thông ngôn được tuyển trạch bừa bãi ở Sàigòn hay ở trong giới thân cận của mấy giáo sĩ, Kegaradec thỉnh cho bằng được một giáo sĩ người Việt [dường như hồi ấy, Trần Lục chưa được thụ phong (linh-mục) vì chỉ mới có 6 chức Thánh cho nên vẫn được gọi là Cụ Sáu, Pháp dịch thành Père Six] ra làm thông ngôn cho mình. Giáo sĩ này nổi tiếng là tay thâm Nho. Cụ Sáu cất công ra đi từ Phát Diệm cũng vì muốn trổ tài để áp đảo vị khoa bảng nổi tiếng đỗ cao nhất nước  trong suốt mấy triều nhà Nguyễn là cụ Tuần Phủ Trần Hy Tăng, tên thật là Trần Bích San.

Sau vài buổi hội đàm mà vẫn chưa đạt được kết quả như thày trò tên Lãnh-sự Pháp mong muốn, Trần Lục xin gặp riêng Tuần Phủ Trần Hy Tăng.  Sau một lúc chuyện vãn, Trần Lục đưa ra một tờ  giấy có biên sẵn bằng chữ nôm một vế đối mà y nói trớ đi là của người ta thách mà mình đối không được nên mới nhờ đến sự chỉ giáo của một bậc đại khoa. Vế đối ấy như sau:

"Ba cụ ngồi một cỗ, cụ đủ đều, cụ chẳng sợ ai!"

Giọng ngạo mạn và tỏ ra thái độ khiêu khích, Trần Lục rất đắc chí vì đinh ninh là đối phương dù cho  giỏi Hán văn cũng sẽ không đối được suôn sẻ bởi lẽ rằng chữ "cụ" trong đó rất khó đối, đối làm sao cho vừa "chọi" lại vừa "chỉnh". Trong Hán tự, có nhiều chữ "cụ" đồng âm dị nghĩa, "cụ" là "sợ", "cụ" là "đều", và "cụ" cũng là "đủ" nữa.  Nhưng Trần Lục không đắc chí được bao lâu! Cụ Tam Nguyên Trần Hy Tăng chỉ suy nghĩ trong nháy mắt rồi nói ngay rằng vế đối khó quá, mình cố gò thì cũng đối tạm được, nhưng không thanh nhã lắm. Khách có miễn thứ cho thì mới dám đọc lên cho nghe. Trần Lục lên mặt kẻ cả, đồng ý ngay và nói rằng dù khiếm nhã cũng không trách. Tiếp theo, Cụ Tam Nguyên Trần Hy Tăng liền đọc:

"Một đạo chẳng hai đường, đạo dẫn trộm, đạo còn nói láo!"

Dù bị mắng như vỗ vào mặt và tức giận vô cùng, Trần Lục cũng vẫn phải thán phục vị gia chủ đối chọi đôm đốp, từ ý đến từ vì chữ "đạo" trong Hán tự cũng có rất nhiều nghĩa khác nhau. "Đạo" là "đạo lý", "đạo" là "đường đi",   "đạo" là "dẫn" và "đạo" là "ăn trộm". Tuyệt vời ở chỗ là nếu đem chữ   "cụ" mà ghép với chữ "đạo"  thì thành một từ kép "cụ đạo", một danh xưng mà người thời ấy thường dùng để gọi các giáo sĩ Da-tô."[15]

Chịu ảnh hưởng nặng nề của nền đạo lý Da-tô với chủ trương "độc tôn độc thiện", nền đạo lý  tự cho là số 1 trong thiên hạ, Trần Lục đã trở thành một người Da-tô hoàn toàn với tất cả những đặc tính Da-tô mà chúng tôi đã trình bày đầy đủ ở Chương 59 nói về Thân Thế Và Con Người Cuồng Tín Của Ông Ngô Đình Diệm. Vì thế cho nên dù ông ta là một người thâm Nho và có bằng Cử Nhân Nho học, những đó chỉ là những nước sơn sơn phết ở ngoài giống như chiếc áo tu hành của ông ta vậy. Bằng cấp Cử Nhân về Nho học của Linh-mục Trần Lục chỉ là nước sơn phết ở bề ngoài. Cốt lõi tạo nên tâm linh của ông ta là đạo lý Da-tô. Đạo lý Da-tô dạy dỗ tín đồ  bằng khẩu hiệu “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”. Lịch sử đã chứng minh tất cả những tín đồ Da-tô ngoan độ người Việt đều hành xử theo tinh thần của khẩu hiệu trên đây và đã bị lên án là Việt gian hay những quân “cõng rắn cắn gà nhà”, hoặc là những phường “rước voi về giầy mả tổ.  Cũng vì chỉ biết hành xử theo tinh thần khẩu hiệu trên đây, Linh-mục Trần Lục không còn nhớ những gì  đã học được ở trong Nho giáo. Không biết chuyện bị cụ Trần Hy Tăng  dạy cho “một bài học” như trên có làm cho ông ta nhớ lại mấy lời dạy trong Nho giáo như "Cao nhân tất hữu cao nhân trị", hay "Thiên hữu ngoại thiên, nhân hữu ngoại nhân" hay không?

Chuyện Thứ hai  những cuốn sách như sách “Việt Nam Tôn Giáo Chính trị Quan” của Linh-mục Vũ ĐÌnh Hoạt (Falls Church, VA: Alpha 1991),  Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo của Linh-mục Bùi Đức Sinh (Sàigòn: Chân Lý, 1972), Việt Nam Giáo Sử của Linh-mục Phan Phát Huồn (Sàigòn: Cứu Thế Tùng Thư, 1965), Những bài viết và cuốn Việt Nam Chính Sử của ông Nguyễn Văn Chức (Arlington, VA: Văn Nghệ Tiền Phong 1989), hai cuốn sách Những Bí Ẩn Đằng Sau Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam (Garden Grove, CA: TXB, 1994) và Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam (Garden Grove, CA: TXB, 1999) của ông Lữ Giang, cuốn Trần Lục (Montreal, Canada,  1996)  của mấy ông   Da-tô Nguyễn Gia Đệ, Lê Hữu Mục, Bằng Phong, Phạm Xuân Thu và Trần Trung Lương. Đọc qua những cuốn sách này, thú thật người viết phải lắc đầu về trình độ kiến thức tổng quát, kiến thức sử học của họ! Người viết cũng phải lắc đầu về cái tài của các tác giả này trong những thủ đoạn bóp méo sự thật và cung cách diễn dịch những sự kiện lịch sử cùng những mánh mung lấp liếm, che giấu tội ác cho Giáo Hội La Mã  (qua việc các nhà truyền giáo đi truyền đạo ở các lục địa ngoài Âu Châu) và cho những người đồng đạo của họ! “Văn tức là người.” Đọc những tác phẩm  này, chúng ta thấy rõ cái tinh thần nô lệ của họ đối với Toà Thánh Vatican và cái bản chất bồi bút của họ.

Trình độ kiến thức tổng quát và tư cách của họ tồi tệ như vậy! Ấy thế mà Giáo Hội La Mã và chính quyền Sàigòn lại đưa họ vào nắm giữ những chức vụ chỉ  huy và giảng dạy các môn Văn và ở các trường văn khoa tại các đại học, môn Sử Địa và Công Dân tại các trường trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975!

TẠI SAO lại như vậy?

Câu trả lời rõ ràng nhất và đúng nhất là Giáo Hội La Mã muốn như vậy và đó chính là kế sách trồng người của Giáo Hội La Mã. Những người nắm giữ những chức vụ chỉ  huy và giảng dạy môn Văn ở đại học cũng như môn Sử Địa và  Công Dân ở các trường trung học càng dốt nát, thì học sinh, sinh viên càng dốt nát hơn họ. Học sinh  sinh viên càng dốt nát thì người dân miền Nam càng dốt nát, càng không biết một chút gì về lịch sử thế giới, càng hiểu sai lạc lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại. Với tình trạng dốt nát như vậy, tất nhiên là người dân càng không biết gì về những tính cách bịp bợm trong những tín lý Ki-tô và càng không biết gì những rặng núi tội ác của Giáo Hội trong gần hai ngàn năm qua.

Kế hoạch trồng người một cách đại quy mô và chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã  được triệt để thi hành miền Nam trong những năm 1954-1975 là như vậy.

CHÚ THÍCH:


[1] Đỗ Quang Vinh, Bút Thuật Của Nguyễn Du Trong Đoạn Trường Tân Thanh (Canada: TXB, 2003), tr. 7.

[2]Trần Chung Ngọc. “Tôi đọc “Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ” của Lê Hữu Mục, Phạm Thị Nhung và Đặng Quốc Cơ.” www.giaodiem.com tháng 2/2006.

[3] Hellen Ellerbe,The Dark Side Of Christian History (Windermere, FL: Morningstar & Lark, 2004), p 48.

[4] Trần Chung Ngọc. “Tôi đọc Truyện Kiều Và Tuổi Trẻ.”www.giaodiem.com, tháng 2/2006. 

[5] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr  54. 

[6] Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (Wextminster: Văn Nghệ, 1996), tr. 124.

[7] Trần Quý, Sđd., tr. 125-126.

[8] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr 45-46.

[9] Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1884-1945 - Tập I (Houston, TX: Văn Hóa,  2000), tr. 458-459.

[10] Nhiều tác giả, Trần Lục (Montréal, Canada: LM Nguyễn Gia Đệ, 1996), tr.388.

[11] Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, Pháp, 1994), tr.101.

[12] Nguyễn Xuân Thọ, Sđd., tr 17.