giaodiem copyright
          posted: 09.3.2006

   Nguyễn Mạnh Quang

 VI.- VAI TRÒ CỦA VATICAN TRONG KẾ SÁCH TRỒNG NGƯỜI Ở MIỀN NAM

 Căn cứ vào môn Sử Thế Giới bị kiểm soát và cấm đoán, không cho dạy ở trong chương trình học ở bậc trung học, căn cứ vào môn Sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại bị cắt xén và bị bóp méo, căn cứ vào kiến thức của các ông Linh mục và tín đồ Da-tô dạy môn Văn ở Đại Hội Văn Khoa Sàigòn, Đại Học Đà Lạt, Đại Học Huế cũng như phụ trách dạy môn Sử và Công Dân tại các trường trung học trong những năm 1954-1975, căn cứ vào tác phẩm của các ông Linh mục và tín đồ Da-tô viết về những đề tài có liên hệ đến Giáo Hội La Mã và đến lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại cho đến năm 1975,  người viết có thể khẳng định rằng, tất cả các ông linh-mục và tín đồ Da-tô được đưa vào giảng dạy ở đại học và trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và tất cả những lớp người đã tiếp nhận sở học của họ tại các trường trung học tại miền Nam trong những năm 1954-1975 đều không được học một chút gì về lịch sử thế giới hay những bước tiến hóa của nhân loại từ thuở hồng hoang cho đến ngày nay.

Đây chính là nguyên nhân khiến cho họ không biết một tí gì lịch sử Âu Châu trong thời Trung Cổ, không biết TẠI SAO lại có Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo (1309-1648), không biết TẠI SAO lại có Thời Đại Lý Trí (1500-1789), không biết TẠI SAO lại nẩy sinh ra Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ (1603-1815), không biết TẠI SAO chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã phải tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mã và hủy bỏ toàn bộ đặc quyền đặc lợi dành cho Giáo Hội cùng giới tu sĩ Da-tô và giai cấp quý tộc, không biết TẠI SAO chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 phải dùng biện pháp mạnh để trừng trị giới tu sĩ và giáo dân Da-tô ngoan cố đã có hành động phản quốc chống lại nước Pháp trong thời kỳ Cách Mạng 1789-1799.

Qua sự tìm hiểu với nhiều trường trung học tư thục ở Sàigòn và ở một vài tỉnh ở miền Hậu Giang, qua sự tiếp xúc với rất nhiều người có học vị đại học, trong đó có rất nhiều người tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, với rất nhiều công chức và sĩ quan quân đội, người viết nhận thấy rằng hầu hết các tu sĩ và tín đồ Da-tô được đưa vào phụ trách dạy môn Văn, môn Sử và môn Công Dân ở các trường trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và tất cả những học sinh và sinh viên tiếp nhận sở học ở miền Nam Việt Nam trong thời gian này đều ở vào tình trạng không hiểu biết lịch sử thế giới và hiểu sai lạc lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đai như đã nói ở trên. Lý do rất dễ hiểu: Giáo Hội La Mã đã ra lệnh cho chính quyền miền Nam phải loại bỏ ra khỏi chương trình học ở bậc trung học những bài học lịch sử từ thời Trung Cổ ở Âu Châu cho đến thời hiện đại. Bằng cớ là bộ sử thế giới do ông Nguyễn Hiến Lê và ông Thanh Giang biên soạn và phát hành vào năm 1956 bị cấm lưu hành và chính tác giả Nguyễn Hiến Lê “Bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát là đầu óc đầy rác rưởi”, “một linh mục ở   Trung yêu cầu  bộ Gíao Dục cấm bán và tịch thu hế bộ đó”, “bị chính quyền cho mật vụ theo dõi”. Sự kiện này đuợc chính nạn nhân Nguyễn Hiến Lê kể lại với nguyên văn như sau:

“ Đầu niên khóa 1954-55 trong chương trình Trung Học Đệ Nhất Cấp có thêm môn Lịch- sử Thế-giới dạy trong 4 năm. Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách học, khỏi  phải chép "cua" (cours). Ông đồng ý. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối cho lớp đệ thất và đệ tứ; ông viết hai cuốn giữa cho lớp đệ lục và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong; tôi bỏ vốn ra in; năm 1955 in xong trước kỳ tựu trường tháng chín. Bộ (Lịch-sử Thế-giới) đó khá chạy, sau tôi nhường cho nhà Khai Trí tái bản. Một chuyện đáng ghi là vì bộ (sử) đó mà năm 1956 bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát (tôi) là "đầu óc đầy rác rưởi" chỉ vì chúng tôi nhắc qua đến thuyết của Darwin về nguồn gốc loài người. Chẳng cần nói ai cũng biết độc giả đó là người Công Giáo. Sau đó lại có một linh mục ở Trung yêu cầu bộ Giáo Dục cấm bán và tịch thu hết bộ (lịch sử thế giới) đó trong cuốn II viết về thời Trung Cổ, chúng tôi có nói đến sự bê bối của một vài ông Giáo-hoàng. Bộ phái một viên bí thư có bằng cấp cử nhân tiếp xúc với tôi. Ông này nhã-nhặn khen tôi viết sử có nhiệt tâm, cho nên đọc hấp dẫn như đọc bộ sử Pháp của Michelet; rồi nói rằng sách của tôi được bộ Thông Tin cho phép in, lại nạp bản rồi, thì không có lý gì tịch thu, cấm bán được, chỉ có thể ra thông cáo cho các trường đừng dùng thôi: cho nên ông ta chỉ yêu cầu tôi bôi đen vài hàng trên hai bản để ông ta đem về nộp bộ, bộ sẽ trả lời linh mục nào đó, còn bán thì tôi cứ bán, không ngại gì cả. Tôi chiều lòng ông ta. Ông ta lại hỏi lớp mẫu giáo của tôi đã được phép của bộ chưa. Tôi đáp: Đơn nộp cả năm rồi, giấy tờ đủ cả, tôi đã nhắc Sở Giáo Dục thành phố, mà người ta cứ làm thinh, không cho phép mà cũng không cấm. Ông ta chỉ gật đầu. Hồi đó bộ Lịch Sử Thế Giới của tôi chỉ còn một số ít. Tôi hỏi các nhà phát hành, được biết có lệnh cấm các trường ngoài Trung dùng nó, trong Nam thì không. Chỉ ít tháng sau bộ đó bán hết. Tôi không tái bản. Công Giáo thời đó lên chân như vậy. Nghe nói một ông tỉnh trưởng ở miền Tây không dám cho hội Phật Giáo cất chùa trong thị xã và bảo: "Công Giáo cất nhà thờ, bây giờ Phật Giáo cũng xin cất chùa, bộ các người muốn kình với Công Giáo hả?" Một hôm bà láng giềng của tôi cho hay: "Ít lâu nay tôi thấy ngày nào cũng có một hai người ngồi ở quán cà phê bên kia đường nhìn về phía nhà thầy và nhà tôi như rình cái gì. Hôm qua một người vào nhà hỏi tôi: "Ông Lê ở nhà bên lúc này đi đâu mà không thấy?" Tôi đáp: "Ông ấy đau, nằm ở trong phòng, chứ đi đâu? Thầy cứ vô mà hỏi. Rồi họ đi". Vậy là mật vụ rình tôi mà tôi không biết. Vì tôi là công chức thời Pháp mà tản cư lâu quá, về lại không hợp tác với chính phủ Diệm, hay vì bộ Lịch Sử Thế Giới mà họ theo dõi như vậy? Có lẽ cả hai.  Hơn một chục năm sau, một giáo sư ở Huế vào thăm tôi, hỏi: "Tại sao hồi đó ông không làm đơn trình bày rằng ông đã dùng sách nào để viết về các ông giáo hoàng thời Trung Cổ đó, rồi xin cho bộ sử của ông được dùng trong các trường?" Tôi đáp: "Không khi nào tôi làm việc xin xỏ đó". Sau ngày 30-4-1975, giáo sư đó lại thăm tôi nữa, bảo: "Tôi phục tư cách của ông từ hồi đó".[1] 

Sự việc chính quyền Ngô Đình Diệm hạn chế, không cho dạy môn sử thế giới từ thời Thượng Cổ cho đến thời Cách Mạng Pháp 1789 và dùng mật vụ theo dõi để đe dọa nhà viết sử Nguyễn Hiến Lê như trên đã khiến cho hồi đó ở Miền Nam Việt Nam không có bộ sách lịch sử thế giới nào cả. Và bất kỳ ai có can đảm dám viết lên những sự thật của lịch sử cũng không thể nào tránh khỏi cảnh bị mật vụ "theo dõi và đe dọa" như trường hợp của học giả Nguyễn Hiến Lê.

Những hành động phản tiến hóa, vi phạm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do học hỏi một cách dã man như trên là chủ trương của Giáo Hội mà bất kỳ tín đồ Da-tô nào cũng phải triệt để tuân hành làm theo ý muốn của Giáo Hội khi hoàn cảnh cho phép hay khi có quyền lực như  chính quyền Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Ngay cả khi không có quyền lực như ở trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại từ mùa hè năm 1975 cho đến ngày nay, họ cũng làm như vậy. Chúng ta đã từng chứng kiến những người tôn vinh chế độ độc tài Da-tô Ngô Đình Diệm tại Bắc Mỹ, bất chấp cả luật pháp, đã và đang sử dụng bạo lực để đe dọa những người viết sử có ấn phẩm nói lên "sự thật không đẹp trong quá khứ có liên hệ đế Giáo Hội La Mã và chính quyền Ngô Đình Diệm."

VII.- TÁC DỤNG CỦA KẾ SÁCH TRỒNG NGƯỜI CỦA VATICAN

Đối với những lớp người tiếp nhận sở học ở miền Nam Việt Nam.- Kế sách trồng người và chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mã được các chính quyền miền Nam trong những năm 1954-1975 triệt để thi hành khiến cho  những lớp người tiếp nhận sở học ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ này không hiểu biết gì về lịch sử thế giới, nhiên hậu, họ không hiểu được những bước tiến của nhân loại từ thuở hồng hoang cho đến ngày nay. Do đó, họ không biết gì về bộ mặt thật của Giáo Hội, không biết gì về bộ mặt thật của bọn Việt gian bán nước cho Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican, và cũng không biết gỉ về những việc làm của Liên Minh Mỹ - Vatican thống trị miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.

Cũng vì thế mà khi đọc những bản văn sử  có liên hệ đến những việc làm bất chính, đại gian đại ác của Giáo Hội La Mã hay của các chính quyền đạo phiệt tay sai của Vatican ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và tại các quốc gia khác, thì họ như trên trời rớt xuống, rồi giẫy nẩy lên và cho rằng “phịa sử”, “nói láo”, “nói xấu Giáo Hội La Mã”, “chống Công Giáo”.

Đối với Giáo Hội La Mã.- Kế sách trồng người được thi hành song phương với chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội được La Mã  là một kế sách “nhất tiễn tam tứ  điểu” để đạt được 3 tiêu:

1.- Làm cho người dân dưới quyền trở thành những người vừa dốt nát vừa ngu xuẩn đúng như ý muốn của  Tòa Thánh Vatican.

2.- Biến những tín đồ Da-tô thành những người vong bản, phản dân tộc, chỉ biết cúi đầu vâng lời các đấng bề trên của họ và triệt để tuân hành những lệnh truyền của Tòa Thánh Vatican.

3.- Huỷ diệt hết những nét cao đẹp trong nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc.

1.- LÀM CHO NGƯỜI DÂN DƯỚI QUYỀN TRỞ THÀNH VỪA DỐT NÁT VỪA NGU XUẨN

Kế sách trồng người và chính sách ngu dân của Giáo Hội được triệt để thi hành liên tục ở miền Nam Việt Nam từ năm 1862 cho đến tháng 4 năm 1975 đã làm cho những lớp người tiếp nhận sở học của họ tại các trường trung học ở Việt Nam  không những không biết gì về lịch sử thế giới, không những hiểu sai lạc lịch sử  Việt Nam trong thời cận và hiện đại, mà còn ở trong tình trạng vô cùng lạc hậu và hết sức chậm tiến về chính trị. Những lớp người này vãn còn cho rằng người dân là tôi thần (subject) của một ông vua (a monarch) nước quân chủ chuyến chế, có nghĩa vụ phải trung thành với nhà vua của chế độ, không ý thức được các bổn phận và quyền lợi  của một người công dân (citizen) đối với  quốc gia (the country) theo chế độ cộng hòa dân chủ, rằng mọi người ở trên trái đất này chỉ  là tôi tớ hèn mọn của Giáo Hội La Mã.

Từ khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào năm 1789,  người dân tại các nước Âu Châu và Bắc Mỹ đã khai tử  chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền lỗi thời, không còn ai muốn ngó tới cái của nợ này nữa. Theo gương các nước Âu Mỹ trên đây, các nước Á Châu như Ấn Độ,  Triều Tiên, Trung Hoa,  Nam Dương,  Miến  Điện cũng đã phế bỏ chế độ quân chủ phong kiến lõi thời này từ 1945. Ngay tại Việt, từ giữa thập niên 1920, các đảng phái cách mạng cũng đã có chủ trương vừa đánh đuổi Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican ra khỏi đất nước để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, vừa phải đào sâu chốn chặt chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền của nhà Nguyễn, cởi mở cho đất nước thoát khỏi cái chế độ chính trị cực kỳ phong kiến và hết sức lạc hậu này để mang lại cho người dân cái quyền làm người được bình đẳng và tự do về chính trị. Đây là chủ trường của Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học. Kể từ đó, không có một đảng phái chính trị hay cách mạng nào còn nghĩ đến việc đưa ra chủ trương phục hồi vương quyền cho nhà Nguyễn hay tôn vinh con cháu nhà Nguyễn lên cầm quyền.

Những tưởng rằng, chế độ quân chủ trung uơng tập quyền tại Việt Nam đã nằm yên dưới nấm mồ sâu của nó, nhưng rồi đến cuối năm 1945, Giáo Hội La Mã ra lệnh cho Khâm Mạng Toà Thánh Vatican tại Đông Dương là F. A. Frater Antoninus Drapier và tên cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieu (đang nắm giữ chức vụ Cao Ủy Đông Dương (17/8/1945 –15/3/1947) cho khai quật nó lên, dựng lại cái xác chết của một chế độ chính trị  lỗi thời đã thới rữa này để phục hồi vương quyền cho nhà Nguyễn bằng cách đưa ông Bảo Đại trở lại ngôi vị của một ông vua bù nhìn như những năm trước ngày 19/8/1945 (có thể nói là ngày 25/8/1945, ngày ông ta chính thức tuyên bố thoái vị). Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng.  Sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 viết:

"Ngày 28/12/1945: HUẾ: Tổng Giám Mục Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố:

"Gia đình Bảo Đại là gia đình thân Pháp bậc nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tois les annmites) và theo ý ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis,il serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars; DOM [aix], CP 125). DRAPIER cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo Long kế vị, và Nam Phương làm Giám Quốc [Phụ Chính]."[2] 

Và sử gia Joseph Buttinger ghi nhận trong cuốn Vietnam: A Political History với nguyên văn như sau:

“Từ khi ly khai với Việt Minh vào tháng 3 năm 1946, Bảo Đại tới  Hồng Kông cư ngụ. Tháng Giêng năm 1947, ông ta được viên đặc sứ của d’ Argenlieu muốn dùng ông ta để chống lại Việt Minh. Kể từ đó, và đặc biệt là sau khi Cao Ủy  Baollaert tới Sàigòn nhậm chức,  những người đưa tin và bọn Việt gian xưa kia đã từng cộng tác với giặc Pháp tìm đến Hông Kông….” (“Bao Dai had been residing in Hong Kong since disengaging himself from the Vietminh in March, 1946. He had learned of the French plan of using him against the Vietminh back in January, 1947, from an emissary of d’ Argenlieu. Ever since then, and particular after Bollaert’s arrival in Saigon, messengers and old collaborators of the French had been going to Hong Kong…”[3]

Rồi sau đó Cao Ủy Đông Dương Emile Bollaert (15/3/1947-11/10/1948) cho ra đời cái gọi là  Giải Pháp Bảo Đại”, rồi cho ra đời ra cái gọi là “chính quyền Quốc Gia” và bảo rằng  của “người Việt quốc gia chân chính” vào ngày 5/6/1948. Có chính quyền mà không có lá cờ làm biểu tượng thì trơ trẽn quá! Vì thế Tòa Thánh Vatican mới ra lệnh cho Linh-mục Trần Hữu Thanh sáng chế ra “lá cờ vàng ba sọc đỏ” làm biểu tượng cho cái gọi là   chính nghĩa Quốc Gia” của “người Việt Quốc Gia” rồi cuỗm bài hát Tiếng Gọi Thanh Niên” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước làm Quốc Ca. (Xin xem lại Chương 49 trong Phần III nói về Giải Pháp Bảo Đại và Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.)

Sự thật lịch sử rõ ràng là  như vậy. Nhưng tín đồ Da-tô và những lớp người tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội, không có đủ khả năng thông minh nhìn ra dã tâm thâm độc này của Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican. Cho nên, họ vẫn còn cố bám víu lấy ông vua bù nhìn cuối cùng của triều đình Huế để tôn vinh lên ông ta làm nhà lãnh đạo cho một chế độ chính trị mà họ cho rằng tốt đẹp với cái nhãn hiệu “chính quyền quốc gia” “có chính nghĩa quốc gia” của “những người quốc gia chân chính” như trên. Họ không biết hay cần biết đến sự kiện là đối với dân tộc Việt Nam, nhà Nguyễn đã mất  hết chính nghĩa, không còn tư cách ở lại ngôi vị lãnh đạo đất nước (vì đã ký  Thỏa Hiệp  Nhâm Tuất 1862   nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ , rồi đến các Thoả Hiệp Giáp Tuất 1874, Qúi Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 dâng cả nước Việt Nam cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican), họ cũng không biết hay không cần biết đến tư cách của cá nhân ông Bảo Đại mà các nhà viết sử gọi ông ta là “playboy”:

Tiếp xúc với Bảo Đại vào mùa xuân năm 1957, người Pháp đã không biết về khả năng   chính trị  đã ngủ yên của ông ta và chưng hửng khi thấy “tên ăn chơi đàng điếm” này, nếu có quan tâm đến chính trị, liệu rằng ông ta có thể trở thành một kế hoạch gia đường đường chính chính cương quyết vượt trội hơn được các đối thủ của ông ta hay sao.” (In approaching him in the spring of 1947, the French were ignorarnt of Bao Dai’s dormant political abilities and atonished to se that the “playboy,” if he cared, could himself turn to a schemer, determined to outwit his opponents.” [4]

Những quan niệm và hành động chính trị này của họ không khác gì những quan niệm và chính trị của nhân vật tiểu thuyết  Rip Van Wrinkle trong một chuyện vui của người Hoa Kỳ. Chuyện rằng, nhân vật này khi lạc vào rừng sâu ngủ một giấc dài 20 năm, khi trở về nhà ở Halifax, New York,  thì tất cả đã thay đổi. Lúc đó, nguời vợ nói nhiều thân thương của ông đã từ trần, người con gái yêu quý của ông đã thành gia thất và đã có cả một  bầy con, cuộc chiến Cách Mạng 1776-1783  đánh đuổi quân Anh để  giành lại chủ quyền độc lập đã chấm dứt, và nhân dân Hoa Kỳ đang tiến hành các cuộc bầu cử chọn người lãnh đạo chính quyền. Khi người ta hỏi ông ủng hộ ứng cử viên nào và đảng nào, thì ông ta trả lời một cách rất tự nhiên rằng ông cương quyết trung thành với Anh Hoàng George III (1760-1820), rồi hô khẩu hiệu ủng hộ đế quốc Anh một cách rất tự nhiên, tự nhiên giống như ông Linh-mục Hoàng Quỳnh hô khẩu hiệu “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”. Hành động này của ông  khiến cho mọi người nhìn ông như là một con người bất bình thường vừa khùng khùng, vừa  hài hước giống như một thằng hề, vừa ngu xuẩn, không giống ai cả.

II.- BIẾN TÍN ĐỒ DA TÔ THÀNH NHỮNG NGƯỜI VONG BẢN PHẢN DÂN TỘC

Kế sách trồng người của Giáo Hội La Mã với dã tâm gieo vào đầu óc các trẻ em thơ dại những hạt giống tín lý Ki-tô cùng với những   giáo luật và những lời dạy nặng tính cách bịp bợm và lưu manh để biến người dân miền Nam Việt Nam thành những hạng người ngu dốt, mông muội triền miên trong cõi mộng du, lúc nào cũng mơ màng về nước Chúa. Ngoài ra, trong kế sách trồng người này, Giáo Hội La Mã còn có dã tâm diệt tận gốc, trốc tận rễ "lòng yêu tổ quốc" đã có sẵn trong lòng tín đồ Da-tô và người dân dưới quyền  để   thay thế vào đó bằng “tình yêu Thiến Chúa” mà thực tế là “lòng yêu Giáo Hội La Mã”. Cũng nên biết là   các ông tu sĩ Da-tô thường nhập nhằng đồng hóa Giáo Hội La Mã với Thiên Chúa để rồi nhập nhằng đồng hóa “lòng yêu Giáo Hội” với "lòng yêu Thiên Chúa.”

Tác dụng  của việc làm lưu manh và dã man này đã biến tín đồ Da-tô thành những con người phi dân tộc, những phường vong bản, phản quê hương vì trong thâm tâm họ lúc nào cũng mơ màng nghĩ  đến Giáo Hội La Mã, coi Giáo Hội như là nước Chúa thân thương nhất đời của họ. Cũng vì thế mà hầu hết những tín đồ Da-tô   ngoan đạo người Việt đều có những suy tư, ngôn từ và hành động mất gốc không còn biết gì đến tổ quốc,à quê hương và dân tộc mà vẫn hiêu hiêu tự đắc không biết thế là nhục. Dưới đây là một số trường hợp:

1.-  Ông Da-tô Ngô Đình Diệm tuyên bố với các chính khách Hoa Kỳ một cách rất tự nhiên rằng “Tôi tin tưởng vào quyền lực của Vatican và tôi chống Cộng tích cực” trong một bữa cơm chiều được tổ chức ở  Khách Sạn Mayflower tại thủ đô Washington D.C. vào tháng 10 năm 1950.   Lời tuyên bố vong bản và vọng ngoại một cách cực kỳ ngu xuẩn trên đây của ông Diệm đã khiến cho Tổng Thống Eisenhower lâm vào tình trạng lúng túng, rồi phải đưa ra câu nói “Trong đám mù, thằng chột sẽ làm vua” để biện minh cho việc đưa ông Diệm về Việt Nam cầm quyền khi bị hội đồng chính phủ Hoa Kỳ đặt vấn đề là TẠI SAO lại sử dụng một người vừa ngu dốt vừa vong bản như vậy làm thủ tướng Việt Nam?

Cũng chỉ vì “tin tưởng vào quyền lực của Vatican”, cho nên sau khi được Giáo Hội La Mã và Hoa Kỳ cho về cầm quyền ở miền Nam Việt Nam vào tháng 7 năm 1954, ông Diệm  đã phải làm trọn lời hứa “tuyệt đối trung thành với Giáo Hội” bằng một hành động vô cùng ngọan mục. Đó là hành động tổ chức một buổi đại lễ cực kỳ long trọng, rồi mời vị sứ thần của Tòa Thánh Vatican là Hồng Y Agagianian đến làm chủ lễ để dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã được ngụy trang bằng danh nghĩa ”dâng nước Việt Nam cho Đực Mẹ Vô Nhiễm.[5]

2.- Linh-mục Hoàng Quỳnh đưa ra khẩu hiệu "Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa" để hô hào và kêu gọi giáo dân trong các họ đạo định cư ở Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định và các trại định cư trong các vùng Hố Nai, Tam Hà, Tam Hiệp, Gia Kiệm, Dốc Mơ, Bùi Phát , v.v… phải quyết tâm chiến đấu cho quyền lợi của Giáo Hội La Mã. Sự kiện này  nói lên cái đặc tính vong bản, phản dân tộc của tín đồ Da-tô người Việt. Phải chăng vì thực trạng này mà nhà báo Long Ân đã đưa ra lời nhận xét chua sót về việc đạo Da-tô đã biến tín đồ Da-tô thành hạng người “đã cúi đầu trên bốn chân để từ con người trở về với nguồn gốc con người súc sinh.”? (Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Tòan Thư 1954-1963 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr. 340.

3.- Ông Da-tô Nguyễn Văn Chức, một người đã từng hành nghế luật sư nhiều năm ở Sàigòn và đã từng được cho làm thượng nghị sĩ trong cái quốc hội bù nhìn ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30/4/1975, không biết xấu hổ khi viết ra những lời lẽ siêu quái đản dưới đây:

Vì vậy, nếu trong công cuộc loại trừ bạo quyền cộng sản, tôn giáo tại Việt Nam là động lực vận hành và thúc đẩy, thì trong công cuộc phục hưng con người sau khi xóa bỏ chế độ cộng sản, tôn giáo tại Việt Nam sẽ là nhân tố chủ đạo, chỉ đạo và quyết định. Riêng về phía Thiên Chúa Giáo, quyển Thánh Kinh sẽ là cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con ngườiđạo lý tại Việt Nam.[6]

Qua đọan văn trên đây, chúng ta thấy ông Da-tô Nguyên Văn Chức có 3 điều không biết vĩ đại. Ba điều không biết này là:

A.- Không biết rằng từ khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào tháng 7 năm 1789, cao trào cách mạng của nhân dân thế giới mà phần lớn là các dân tộc có kinh nghiệm đau thương với Giáo Hội La Mã đã liên tục đòi hỏi “phải tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”. Hiện nay, hầu như tất cả các quốc gia theo chế độ dân chủ tự do ở Âu Châu cũng như ở Bắc Mỹ và nhiều nước khác đều có điều khỏan này ghi vào trong hiến pháp của nước họ.

B.- Không biết rằng quyển Kinh Thánh Ki-tô (cả hai quyền Cựu Ước và Tân Ước) đầy dẫy những chuyện hoang đường, phi nhân bản, phản khoa học, đầy dẫy những chuyện loạn luân, dâm lòan, đầy dẫy nhưng chuyện ác độc và tàn ngược. Điển hình nhất là ông Chúa Cha Jehovah vô cùng   hung dữ, cực kỳ bạo ngược, hết sức ác độc, đầy lòng ganh ghét, đố kị, tị hiềm, và ông  Chúa Con Jesus  thì mang căn bệnh hợm hĩnh, khoác lác, khoe khoang, phách lối, nói  dối như cuội, nói láo lòi cả đuôi ra cho mọi người nhìn thấy  như đã trình bày khá đầy ở trong tiểu mục nói về “ông Lê Hữu Mục” ở trên, và ở nơi Chương 3, Phần I trong bộ sách này. Một quyển kinh thánh ghê tởm như vậy mà ông Nguyễn Văn Chức lại thiết tha mong mỏi được “dùng làm cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt Nam.”. Nếu chẳng may mà xẩy ra như vậy, con người và nền đạo lý của Việt Nam sẽ là cái gì, nếu không phải cái đạo lý “Tòa Thánh (Vatican) đánh rắm cũng khen thơm” như ông Giáo-sư Nguyễn Văn Trung kể lại trong bài viết “Một Số Tình Hình Đặc Biệt  Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.”  Nhiều tác giả, Tại Sao Không Theo Đạo Chúa Tuyển Tập 2 (Spring, TX: Ban Nghiên Cứu Đạo Giáo. 1998, tr 115-125.

C.- Không biết rằng có tới khoảng 95% dân Việt Nam không phải là tín đồ Da-tô. Nếu quyển thánh kinh Ki-tô  được “dùng làm cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và nền đạo lý…”  thì chỉ được dùng để “phục hưng con người và nền đạo lý” của nhóm thiểu số tín đồ Da-tô người Việt thôi chứ. Ông Da-tô Nguyễn Văn Chức lấy tư cách gì để đòi dùng quyển kinh thánh đầy những chuyện xấu xa ghê tởm  để phục hưng con người và nền đạo lý tại Việt Nam?

Nếu một người dốt nát chưa học hết lớp 3 tiểu học và trí óc đần độn ngu si mà viết đọan văn như trên thì có thể không ai để ý hay quan tâm đến làm gì. Nhưng ông Da-tô Nguyễn Văn Chức vốn là một cựu luật sư đã hành nghề thày cãi trong nhiều năm ở Sàigòn trước ngày 30/4/1975, đã từng là cựu thượng nghi sĩ giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp Định Chế trong Thượng Nghị Viện của chính quyền Saigòn cho đến ngày gánh hát miền Nam Việt Nam tàn cuộc, và cũng đã từng  là Tổng Thư Ký Liên Đòan Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, mà lại viết những điều cực kỳ ngu xuẩn như trên thì quả thật là một vấn đề khiến cho chúng ta phải suy nghĩ về sự hiểu biết và kiến thức của những ông Da-tô người Việt được gọi là trí thức, có học vị đại học và đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 hay trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã!

Lời lẽ trên đây của ông Da-tô Nguyễn Văn Chức cho chúng thấy cái thực trạng về trình độ kiến thức tổng quát của ông ta quả thật không bằng một em bé học hết lớp 9 bậc trung học ở Hoa Kỳ, và cũng cho chúng thấy cái tinh thần lệ thuộc Vatican và cái bản chất vong bản phản dân tộc của ông ta nói riềng và tín đồ Da-tô ngoan đạo người Việt nói chung.

4.- Ông Da-tô Nguyễn Mậu cũng viết những ngôn từ quái đản ngoài sức tưởng tượng của một người bình thường, không mắc bệnh tâm thần. Dưới đây là ngôn từ của ông Nguyễn Mậu:

Vấn đề được nêu lên ở đây với tất cả mạo muội và run sợ vì có thể bị xem  như là vô lễ phạm thượng. Chúng tôi trông vào sự độ lượng của hàng giáo  phẩm cũng như hy vọng rằng sự trưởng thành của giáo dân ở thời đại này  sẽ giúp thật nhiều cho sự thể hiện lý tưởng Ki tô hữu.” [7] 

Nực cười nhất là suốt trong chiều dài lich sử cận và hiện đại của nước ta, khi  lao vào làm những hành động ghê tởm hết sức man rợ như tàn sát những người đồng hương thuộc các tín ngưỡng khác, cướp của, đốt nhà, đốt chùa, phá đình, phá miếu, hãm hiếp đàn bà  con gái, giết người, mổ bụng, phanh ngực nạn nhân lấy gan đem nướng và lấy mật hòa với rượu, rồi ngồi nhậu hả hê với nhau  (xem lại Chương 50, Phần III trong bộ sách này), thì họ KHÔNG RUN SỢ! Ấy thế mà khi phải trình bày một vấn đề gì với các đấng bề trên của họ, thì họ lại RUN SỢ và coi là "VÔ LỄ, là "PHẠM THƯỢNG."  Tác hại của kế sách trồng người và độc kế ngu dân  của Giáo Hội La Mã đã biến tín đồ Da-tô người Việt thành hạng người quái đản như vậy!

5.- Ông Giám-mục Nguyễn Văn Thuận lớn tiếng tuyên bố với tín đồ Da-tô người Việt ở Giáo Phận Orange County vào ngày 15/3/2001 rằng “Vatican không nói, mà làm. Làm ra sao thì cứ nhớ lại biến cố Đông Âu thì rõ,[8] mà không biết tuyên bố như vậy là vong bản phản quốc!

6.-  Ông Linh-mục Trịnh Văn Phát viết:

“Trong suốt thời gian ở Việt Nam tôi đã suy nghĩ và tự hỏi mình phải làm  gì cho quê hương và Giáo Hội. Giúp quê hương không phải là bổn phận trực  tiếp của tôi, nhưng tôi có bổn phận với giáo hội vì tôi là người của giáo  hội và được đào tạo để sau này phục vụ cho giáo hội. Có nhiều anh em yêu  cầu tôi về giúp cho địa phận, tôi thẳng thắn trả lời tôi không có tự do   chọn lựa, tôi được huấn luyện để phục vụ theo nhu cầu của giáo hội.”[9]

Đoạn văn trên đây cho chúng ta thấy rằng, tất cả các linh mục được huấn luyện là để phục vụ Giáo Hội. Trong thời cận và hiện đại, Giáo Hội cấu kết với đế quốc thực dân xâm lược Pháp đánh chiếm và thống trị Việt Nam, các ông linh mục Việt Nam vì “phải phục vụ Giáo Hội”, cho nên không những chính bản thân họ đã triệt để tuân hành lệnh truyền của Giáo Hội chống lại tổ quốc Việt Nam, mà còn đem cả xóm đạo dưới quyền quản nhiệm của họ đi đánh phá các lực lượng kháng chiến của nhân dân ta “để phục vụ theo nhu cầu của Giáo Hội.” Trường hợp ông Linh-mục Trần Lục đã nói ở trên là một trong hàng ngàn trường hợp đã xẩy ra ở Việt Nam từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975.

7.- Ông Da-tô  Petrus Trương Vĩnh Ký viết thư thỉnh cầu vị chỉ huy đạo quân thập ác của nước Pháp còn nằm ở ngoài khơi Việt Nam  gấp rút tiến đánh Việt Nam. Lá thư này được ghi lại trong sách Các Vua Cuối Nhà Nguyễn 1883-1945 -Tập 1 với nguyên văn như sau:

"Tháng 3/1859, Petrus Key viết "Grand Chef et Vous Tous, très honorables officers de la flotte francaise": Ayez pitié de nous; Ayez pitié de nous. Vous êtes nos libérateurs et la main des ennemis nous a touchés! Hala! The wearer knows very well where the shoe pincheth. Nous savons aussi que qui trop embrasse mal étreint; Et cependant nos souffrances nous poussent à invoquer votre puissance et à vous exposer du fond du coeur tout ce que je vient de soumettre à votre prudence et à votre sagesse."[10]

8.- Các ông Da-tô Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh, Lý Tòng Bá, v.v...,  hùa nhau thành lập cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa Foundation viết thư gửi Liên Hiệp Quốc yêu cầu cơ quan này dùng quyền lực tái lập tình trạng chia đôi đất nước Việt Nam thân thương của chúng ta để thành lập chế độ đạo phiệt Da-tô làm tay sai cho Giáo Hội La Mã  với danh xưng tàng hình là Việt Nam Cộng Hòa giống như thời "chế độ Diệm" (1954--1963) và "chế độ Diệm không Diệm" (1967-1975.[11] 

9.- Kế sách trồng người cùng với độc kế ngu dân của Giáo Hội La Mã được thi hành ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đã làm cho hầu hết những lớp người miền Nam Việt Nam tiếp nhận sở học của họ trong thời kỳ này mất hết khả năng lý trí để nhìn ra những cụm từchính quyền quốc gia”,chính nghĩa quốc gia”, “người Việt quốc gia” và “lá cờ vàng ba sọc đỏ” chỉ là một thứ phó sản của chính sách chia để trị dùng người Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân dân thuộc các tôn giáo khác do Giáo Hội La Mã chủ trương. Những cụm từ này được Giáo Hội La Mã sử dụng làm nước sơn che phủ cho cái bản chất Việt gian phản quốc của những người   mang quốc tịch Vatican,  mang quốc tịch Pháp cùng với những thành phần cựu quan lại, những phần tử thuộc các gia đình phú hào và nhóm tiểu tư sản đô thị mang căn bệnh “trưởng giả học làm sang” bị cuốn hút vào chính quyền Bảo Đại và đạo quân người Việt đánh thuê  cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican trong những năm 1945-1954. Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ trong Chương 49, Phần III trong bộ sách này.  

10.- Kinh khủng hơn nữa là kế sách trồng người và độc kế ngu dân của Giáo Hội La Mã đã làm cho tín đồ Da-tô người Việt không biết gì về quyền hành của một quốc gia độc lập, cho nên họ đã coi Toà Thánh Vatican như là một thế lực siêu quyền lực và có quyền quyết định tất cả mọi vấn đề ở Việt Nam hiện nay. Lời lẽ của một tín đồ Da-tô người Việt có tên là Sarah-Anne Nguyen trong bức thỉnh nguyện thư   phổ biến trên các diễn đàn điện thư vào ngày 16 tháng 1 năm 2006 và những người ký tên vào bản thỉnh nguyện thư quái đản này nói lên tình trạng cực kỳ ngu dốt của họ. Dưới đây là nguyên văn phần quan trọng nhất của nguyên văn bản thỉnh nguyện thư ngu dốt này:

From: Viet Si" <vietsi2002@yahoo.com>

To: hoinghi@egroups.com

Date: Mon, 16 Jan 2006 18:01:09 -0800 (PST)

From: Sarah-Anne Nguyen sarahanne_nguyen@yahoo.com

Subject: CONG DONG NGUOI VIET TREN TOAN THE GIOI KY TEN HO TRO THINH NGUYEN THU KINH GUI TOA THANH (DANH SACH CAP NHAT TINH DEN NGAY 16/6/2006)
To: sarahanne_nguyen@yahoo.com

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TRÊN TOÀN THẾ GIỚI KÝ TÊN HỔ TRỢ THỈNH NGUYỆN THƯ KÍNH GỬI TÒA THÁNH XIN ĐỔI TÊN TGP/TPHCM TRỞ LẠI TÊN TGP/SG

Cuộc Vận Động Chữ Ký của người Công Giáo Việt Nam và những người không phải là Công Giáo muốn hỗ trợ cho Thỉnh Nguyện Thư kính xin Toà Thánh đổi tên TGP/TPHCM trở lại tên TGP/SG, được bắt đầu từ ngày 23 tháng 11 năm 2005.
Chúng tôi, xin phép thay mặt các thành viên trong Ban Vận Động Chữ Ký, chân thành cảm tạ quý vị lãnh đạo tôn giáo trong và ngoài nước, quý cơ quan truyền thông, quý đồng bào trong và
ngoài nước đã mạnh mẽ hưởng ứng tham gia ký tên hổ trợ cho Thỉnh Nguyện Thư….
Tạm tổng kết tính đến ngày 16/1/2006 lúc 6:56:42PM gồm có: 4236 chữ ký.
Con số chữ ký sẽ được cập nhật và phổ biến đến quý vị và các bạn vào mỗi thứ Hai hằng tuần.

Kính mời quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quý đồng bào trong và ngoài nước không phân biệt tôn giáo đồng ý ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư kính xin Toà Thánh đổi tên TGP/TPHCM trở lại tên TGP/SG…”

Thiển nghĩ rằng 4236 chữ ký của 4236 người Việt Nam đã  tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã ở Việt Nam từ năm 1954 trở về trước hay ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, cho nên họ mới suy nghĩ và hành động một cách cực kỳ ngu xuẩn như vậy. Chả trách nào suốt trong chiều lịch sử, từ khi được Giáo Hội cấy vào đầu óc họ cái mớ tín lý Ki-tô láo khoét khiến cho họ bị mê hoặc bởi cái bánh vẽ thiên đường, họ luôn luôn hành động theo lệnh truyền của Giáo Hội để chống tại tổ quốc và dân tộc Việt Nam ta. Sự kiện ông Ngô Đình Diệm tuyên bố rằng ông “tin tưởng vào quyền lực của Vatican và chống Cộng một cách cực lực là một trong những bằng chứng hùng hồn nói lên cái tác dụng tai hại của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Gíao Hội La Mã tại Việt Nam.

11.- Tác dụng của kế hoạch trồng người của Giáo Hội La Mã tại Đông Dương  còn thể hiện ra trong các ấn phẩm về lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại của các tác giả đã tiếp nhận sở học của họ trong thời  Liên Minh Pháp – Vatican thống trị Việt Nam 1885-1954, và ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Với tình trạng không biết gì về lịch sử thế giới, không biết gì về lịch sử Giáo Hội La Mã, không biết gì về việc Tòa Thánh Vatican đã ba lần vận động Pháp cấu kết với Vatican và xuất quân đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị, cùng chia nhau khai thác tài nguyên của đất nước, và cùng đè đâu cỡi cổ nhân dân ta, không biết gì về việc Vatican đã dẫn ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman chạy chọt với các nhân vật có thế lực trong chính quyền Hoa Kỳ cùng với Vatican làm áp lực với chính quyền Pháp và Quốc Trường Bảo Đại đưa ông ta về cầm quyền ở Việt Nam, không biết gì về sự kiện trong gần hai ngàn năm qua Giáo Hội La Mã đã có những hành động tội ác trùng trùng như hang chục rặng Hy Mã Lạp Sơn, một số các ông trí thức nửa vời đã lanh chanh nhẩy rào vào lãnh vực viết sử làm chuyện “múa rìu qua mắt thợ” với dã tâm chạy tội và bênh vực cho Giáo Hội La Mã trong những việc làm bất chính và đại gian đại ác  chống lại tổ quốc Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay và cũng là chạy tội cho bọn Việt gian mang quốc tịch Vatican trong những việc làm phản quốc của họ từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày 30/4/1975.

Đây là trường hợp của các tác giả có  tác phẩm  có liên hệ đến lịch sử Việt Nam như Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (1991) của Linh-mục Vũ Đình Hoạt, Việt Nam Chính Sử (1992) của cựu luật-sư Nguyễn Văn Chức, Những Bí Ẩn Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam (1994) và Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam (1999) của Lữ Giang, Bên Giòng Lịch Sử của Linh-mục Cao Văn Luận, Việt Nam Huyết Lệ Sử (1996) của Cao Thế Dung, Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1996) của Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Đức, Những Huyền Thoại & Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm (1998) của Vĩnh Phúc, Ngô Đình Diệm: Nỗ Lực Hòa Bình Dang Dở (1989) của Nguyễn Văn Châu, Việt Nam Giáo Sử của Linh-mục Phan Phát Huồn (1965), Việt Nam: Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản - Tập I (2002) của nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Dương Diên Nghị, Nguyễn Châu, Lương Văn Toàn, Lê Hữu Phú và Hoàng Đức Phương, Tổ Quốc Ăn Năn (2001) của Nguyễn Gia Kiểng, Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê (1998) của Minh Võ, Việt Nam Mất Lỗi Tại Ai? (1993) của Nguyễn Đức Chiểu, Việt Nam 1945-1995 -Tập I (2004) của Lê Xuân Khoa, Khi Đồng Minh Tháo Chạy (2005) của Tiến-sĩ Nguyễn Tiến Hưng, v.v… 

3.- HỦY DIỆT HẾT NHỮNG NÉT CAO ĐẸP TRONG NẾP SỐNG VĂN HÓA CỔ TRUYỀN

Ngoài tác dụng biến tín đồ Da-tô người Việt thành những hạng người vong bản, phản quốc như trên, kế sách trồng người   cùng với chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã còn có tác dụng hủy diệt hết tất cả những nếp sống cao đẹp trong đời sống văn hóa cổ truyền của dân tộc vốn đã có sẵn ở trong tâm tư của  mọi người dân Việt theo quy luật di truyền và quy luật thấm nhiễm bởi môi sinh “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Nhưng khi đã trở thành tín đồ Da-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã, thì những nét đặc thù cao đẹp này ở trong tim óc của họ  đã bị huỷ diệt hoàn toàn. Tình trạng này cũng đã lan truyền sang những người không phải là tín đồ Da-tô thuộc các thành phần có quyền lợi gắn chặt với chính quyền Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican hay gắn liền với các chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975.  Thực vậy, quan sát và tìm hiểu những cung cách hành xử của những người này ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và ở hải ngoại từ mùa hè năm 1975 cho đến nay, chúng ta thấy rằng kế sách trồng người và độc kế ngu dân của Giáo Hội được triệt để thi hành ở Việt Nam đã:

1.- Biến con người Việt Nam thực tế,  đầy những tính người, chỉ biết  lo cho con người ở cõi đời nay “Tôi chỉ là người theo một nghĩa rất người, và thực tại đắp xây đời thực tại” (không nhớ tên tác giả), và đối với thế giới thần linh thì “kính nhi viễn chithành con nguời bị mê hoặc, rơi vào cõi mộng du, lúc nào cũng mơ màng tới cõi thiên đường qua cái cửa ải Vatican. Sự kiện này được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi lại trong tác phẩm Xóm Đạo của ông với nguyền văn như sau:

 Toàn trại này, dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được thể hiện qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ lần thứ nhất, họ đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu tiên khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa, đúng giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì, dù đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu nguyện. Tối về, cơm  nước xong lại vội vã đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đình đều tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ đến Chúa. Ăn củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ cũng ngồi lên lần tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là thánh giá Chúa trao cho mình gánh vác! Niềm tin mãnh liệt như thế, cho nên chẳng lạ gì….”[12]       

Với thực trạng này, họ đã  trở thành một hạng người nô lệ cho bọn lưu manh buôn thần bán thánh khoác áo chùng đen và nghiễm nhiên biến thành con người vong bản,  phản dân tộc, phản quê hương để rồi đến khi chết cũng vẫn còn bị chúng lừa bịp phải trả tiền cho dịch vụ vẩy vài giọt nước lã pha dầu, miệng đọc mấy lời nhảm nhí và nói láo rằng như vậy là linh hồn của kẻ chết sẽ được lên thiên đường thẳng ro ro. 

.- Biến con người Việt Nam khiêm tốn, nhũn nhặn (bất sỉ hạ vấn), lúc nào cũng mở rộng tâm hồn để học hỏi (tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư), biết rõ cái biết của mình chỉ là một hạt  muối trong đại dương (Sơn hữu ngoại sơn),  (Thiên hữu ngoại thiên) và (cao nhân tất hữu cao nhân trị) thành con người tự cao tự đại, hợm hĩnh, “mục hạ vô nhân” tự phong là dân Chúa, tự cho là được Chúa Chọn rồi khinh rẻ những người thuộc các tôn giáo khác như một thứ người mọi rợ, dã man. 

3.- Biến con người Việt Nam  hiền lành, thật thà, chất phác (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân) con người đầy lòng  nhân ái (thương người như thể thương thân), (tứ hải gia huynh đệ) thành con người lố bịch, trịch thương, hung hăng, háo chiến, háo sát, coi những người khác tôn giáo như rơm như rác, rồi tìm đủ mọi  mánh mung để chèn ép và cưỡng bách người ta phải theo đạo Da-tô một cách vô cùng  nham nhở, hết sức trâng tráo và cực kỳ trắng trợn.

4.- Biến con người Việt Nam hiếu hòa, tương thân tương ái, nhường nhịn lẫn nhau, chín bỏ làm mười, dĩ hòa vi quý, thuận thảo với mọi người, kính trên nhường dưới, lượng cả bao dong thành con người gian tham, bốc hốt, vơ vào, tham danh, hám lợi, thèm khát quyền lực, rồi sinh lòng đố kị , kèn cựa, ghen ghét với  lẫn nhau,  xun xoe nịnh bợ người trên, khinh rẻ người dưới, làm oai, làm phách, hống hách, phách lối với người lạ, và chèn ép những người lép vế thế cô. Sự kiện được Giáo-sư Nguyễn Văn Trung nói rõ trong bài viết “Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” đăng trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa? Tuyển Tập 2 với nguyên văn như sau:

Điểm lại tình hình của Giáo Hội Việt Nam, có những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Thực vậy, chuyên giáo dân bị coi như cỏ rác là chuyện thường ngày ở huyện. Chuyện đau lòng hơn cả là chuyện các chủ chăn chơi nhau thay vì chơi với nhau ngày càng phơi trần ra. Sự sa đọa trong Giáo Hội ngày càng tăng thêm….”

Ai có dịp gần gũi các giám mục Vỉệt Nam đều có chung nhận xét rằng về mặt cá nhân, các ngài có vẻ đạo mạo, cởi mở, dễ mến, trừ một ít vị tỏ ra cao ngạo, khép kín quan liêu. Nhưng trong lề lối làm việc của các giám mục thường rất độc tài, độc đoán. Trong đối xử thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thương bề dưới, ganh tị và kèn cựa với đồng liêu để lập công với Tòa Thánh. Những điểm nổi bật nhất là tiền hậu bất nhất, việc làm không đi đôi với lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham phú phụ bần, vô cùng sợ hãi Tòa Thánh, đến nỗi có những linh mục nói rằng “Tòa Thánh đánh rắm cũng khen thơm!”…

“Ngày nay các giám mục chơi nhau, không cần phải vạch áo xem lưng, bàn dân thiên hạ đều biết rõ, nhất là giữa các giám mục chánh và giám mục phó. Đức Tổng Giám Mục Phillippê Nguyễn Kim Điền chơi Đức Tổng Giám Mục Phó Stêphanô Nguyễn Như Thể ra sao hồ sơ còn đó, buộc Đức Cha Thể phải “từ chức vì sự hiệp nhất trong Giáo Hội” (hiệp nhất hay là hèn nhát?) Nhiều người biết Đức Cha Phaolô Bùi Chu Tạo chơi Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến, thậm chí có đơn phụ nữ tố cáo Đức Cha Yến gởi sang Tòa Thánh, và việc Đức Cha Tạo bàn tính với Đức Hồng Y buộc Đức Cha Yến từ chức. Bà con giáo dân Vinh ở miền Nam biết rõ Đức Cha Phêrô Trần Xuân Hạp đã chơi Đức Cha Phaolô Cao Đình Tuyên phải ngậm đắng nuốt cay như thế nào. Đức Cha Andrê Nguyễn Văn Nam và Đức Cha Phó G.B Phạm minh Mẫn (bây giờ là hồng y - NMQ) mâu thuẫn với nhau ra sao đã có nhiều giai thoại. Chuyện Đức Cha Alexis Phan Văn Lộc và Đức Cha Phó Phêrô Trần Thanh Chung choảng nhau đã nổi tiếng sang đến tận Tòa Thánh. Đức Cha Phao lô Nguyễn Minh Nhật đối xử với Đức Cha phụ tá Tôma Nguyễn Văn Trâm thua cả giáo dân tay chân thân tín của Đức Cha Nhật làm nhiều linh mục Xuân Lộc phải ngao ngán. Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ “trường kỳ khống chế” Đức Cha G.B. Bùi Tuần ra sao, xin miễn bàn. Dẫu sao, Đức Cha Tuần cũng sắp sử mừng 25 năm giám mục phó dưới sự canh chừng cẩn mật của Đức Cha Ngữ, kẻo Đức Cha Tuần lầm đường lạc lối, sa chước cám dỗ làm Tổng Biên Tập cho báo Công Giáo và Dân Tộc.

Chuyện các giám mục chơi nhau kể nghìn lẻ một đêm không dứt, nên nhiều linh mục chánh, phó cũng đã noi guơng chơi nhau sát ván ra sao, bà con các xứ đạo đều biết, nhất là các chị em Con Đức Mẹ, không dám nêu thêm ở đây, kẻo ố danh sự đạo… Giêsu, Maria, lạy Chúa tôi, bọn phá đạo nói xấu các Đức Cha! Không đâu! Nói thật đấy. Lời Chúa phán sự thật sẽ giải thoát chúng ta. Các giám mục, linh mục hãy thành thật thương nhau cho giáo dân được nhờ. Hãy làm gương sống theo lời răn dạy của Chúa. Không thương yêu nhau thì yêu thương kẻ thù thế quái nào được? Cứ rao giảng như vậy là láo toét và bịp bợm!”[13]

5.- Biến con người Việt Nam  chân chất, mộc mạc, thật thà “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe – Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất trithành con người huênh hoang khoác lác, nói láo và lươn lẹo còn hơn cả thằng cuội. Đây là những trường hợp đã được trình bày trước đây như trường hợp của các ông Ngô Đình Diệm, ông Lê Hữu Mục, ông Nguyễn Văn Chức và các tác giả có những ấn phẩm lịch sử như đã nói ở trên. Đây cũng là trường hợp của các ông tu sĩ Ki-tô, những người dám ngang nhiên đem những chuyện ở trong thế giới thần với những bánh vẽ thiên đường cực kỳ hoang tưởng  kể cho người dưới đất nghe mà cứ làm như là chính mình vừa mới từ trên đó trở về thế gian này.

6.- Biến con người Việt Nam với truyền thống “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, “Sống chết với non sông”, con người “khóc cười theo mệnh nước”, và “chết vì tổ quốc chết, cái chết vinh quang,” thành con người “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”;

7.- Biến con người hiên ngang “Phú qúy bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” trong nền văn hóa cổ truyền của dân ta thành những hạng người hèn hạ đến nỗi làm cả những chuyện ghê tởm như phủ phục gục mặt xuống hôn hít  bàn chân của Giáo Hoàng[14],  phủ phục gục mặt xuống hôn hít giầy dép của các nhà truyền giáo[15], và hôn hít nhẫn của các ông giám mục mà không biết đó là những hành động mất hết liêm sỉ.

Người Việt Nam ta có thành ngữ, “nằm đất nhà chị bán hương còn hơn nằm gường nhà chị bán mắm”. Trong xã hội văn minh, phòng ngủ và nhất là cái giường ngủ là nơi sạch sẽ và không thể để cho có mùi hôi thối hay xú uế phảng phất ở trong đó. Nhưng trong gia đình nhà chị bán mắm, mắm chai, mắm hũ, mắm thùng, đủ các loại mắm chứa chất đầy nhà, chứa lan sang cả phòng ngủ. Tình trạng này khiến cho mọi người trong gia đình chị ngày nào cũng như ngày nào và ngày cũng như đêm đều ở chung với mắm, thét rồi mọi người trong gia đình chị bán mắm không còn cảm thấy khó chịu với mùi hôi thối của nước mắm. Cái khứu giác của mọi người trong gia đình chị bán mắm đã mất hết khả năng nhận ra cái mùi nước mắm.

Trước tháng 8 năm 1945, ở miền Bắc, có một số người làm nghề mũ xung. Nghề này là nghề đi lượm phân người và phân chó ở ngoài đường gom lại trong một cái sọt có quai xách, khi đầy sọt thì đem về chất thành đống, rồi đem bán cho người ta bón cây. Những người trồng thuốc lào ưa thích mua loại phân này để bón cây thuốc lào. Vì cả ngày và hàng ngày ở bên cạnh loại phân này, mùi phân người và phân chó quyện vào quần áo, đầu tóc và thân thể của những người làm cái nghề này. Dù cho mỗi chiều tối, họ đều tắm gội rất kỹ, cái mùi đặc biệt này vẫn còn lưu luyến bám chặt lấy quần áo, thân thể và đầu tóc của họ, rồi toát ra để hiến dâng cho những người chung quanh. Đối với những người làm cái nghề này, họ không cảm thấy cái mùi hôi đặc biệt vừa thối vừa khẳm vô cùng khó chịu này. Nhưng đối với những người khác, nếu đến bên cạnh họ, thì không thể nào khứng nổi cái mùi đặc biệt này toát ra từ nơi đầu tóc và thân thể của họ.

Tương tự như vậy, tín đồ Da-tô và những người thuộc các tôn giáo khác theo học các trường đạo hay trường dòng không cảm thấy hay không nhìn ra  cái cung cách xưng hô quái đản đến lợm giọng của tin đồ đối với các ông chức sắc trong đạo Da-tô và cái hành động phủ phục gục mặt xuống hôn hít bàn chân của Giáo Hoàng, hôn hít  giầy dép của các nhà truyền giáo và hôn hít chiếc nhẫn của một ông giám mục là hành động mất liêm sỉ. Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì họ đã sống trong cái môi trường này quá lâu và trở thành quá quen với thuộc với những tục lệ văn hóa ghê tởm như trên. Vì thế, họ mới cho đó chỉ là những tục lệ và hành động rất bình thường trong xã hội Da-tô, không có gì lạ cả. Nhưng đối với đại khối người Việt theo tam giáo cổ truyền, những hành động này quả thật là mất liêm sỉ và ghê tởm đến tột cùng của ghê tởm. Chính vì vậy mà những người còn có lương tâm và nghĩa khí nhất định không bao giờ làm chuyện ghê tởm như vậy, dù cho có bị rơi và tình trạng  mất công ăn việc làm.  Đây là trường hợp của cụ Vương Hồng Sển và được chính cụ kể lại như sau:

Lần thứ nhất, tôi gặp mặt quốc lão, là nhơn nhóm họp tại dinh ông tổng trưởng đặc trách văn hóa Trương Công Cừu để bàn về cách thức thành lập hội "Bác Cổ Thần Kinh" do Giám Mục chủ xướng, và hôm ấy là ngày 16/2/1963.

Khi quốc lão bước vào phòng, các ông có mặt, đều quỳ hôn chiếc nhẫn, lần lượt hết người này đến người kia. Đến lượt tôi, tôi quýnh quá, không làm như vậy được và đánh liều, tôi đứng ngay mình và nắm tay quốc lão gục gặc, vì chưa quì hôn nhẫn. Tôi vẫn biết mình làm như vậy có thể bị sa thải, nhưng thà mất chén cơm còn hơn là mất phẩm giá... Trong khi tôi bắt tay không quì, quốc lão ngừng lại day mắt ngó tôi chăm chăm. May thời lúc ấy ông Trương Công Cừu lẹ miệng giới thiệu bằng một câu tiếng Pháp: "Mr. Sển conservateur du musée". Quốc lão hừ một tiếng rồi tiếp tục đưa tay cho người khác hôn.” [16]

8.- Biến con người Việt Nam với hào khí “thông minh nhất nam tử, yếu vi thiên hạ kỳ”, con người “xuống đông tĩnh, lên đoài đoài tan  thành còn người hèn nhát khiếp đảm khi phải nói chuyện với các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã thì run sợ và coi là vô lễ phạm thượng như cung cách của  ông Da-tô Nguyễn Mậu  đã nói ở trên.

Những thói quen văn hóa vong bản, phản quốc, phản dân tộc,   hèn hạ và mất hết liêm sỉ trong đạo Da-tô trên đây cũng được truyền bá sang những người thuộc các giai cấp quan lại, phú hào và tiểu tư sản mắc căn bệnh trưởng giả học làm sang  trong xã hội Việt Nam ta vào thời bấy giờ. Những người này dựa vào quyền lực vả ảnh hưởng của liên minh Xâm Lược Pháp – Vatican và các chính quyền đạo phiệt ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975  mới có được địa vị khá giả trong thời bấy giờ. Vì thế mà họ tỏ ra hài lòng với chính quyền bảo hộ, hài lòng với các chính quyền đạo phiệt Da-tô ở miền Nam rồi thốt ra lời nịnh bợ đạo Da-tô bằng câu nói “đạo Ki-tô cũng là đạo day người ta làm điều tốt lành và không được làm những việc độc ác xấu xa” mà không cần biết những rặng núi tội ác của “cái tôn giáo ác ôn” này trùng trùng như hàng chục rặng Hy Mã Lạp Sơn  khiến cho Giáo Hoàng John Paul II  phải cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng tại Quảng Trường Peter vào ngày 12/3/2000 để chính Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican đứng ra cáo thú tội ác với cả Chúa Cha  Jehovah và Chúa Con Jesus mà hàng trăm triệu nhân dân thế giới đều được chứng kiến qua các màn ảnh truyền hình.

Tình trạng cuồng tín của những tín đồ Da-tô người Việt và tình trạng dốt nát của những người thốt ra câu nói “đạo Ki-tô cũng là đạo day người ta làm điều tốt lành và không được làm những việc độc ác xấu xa”  đã khiến cho các bậc thức giả thường ưu tư vắt óc tìm ra một phương cách hay một kế sách trồng người để biến cải con người đê tiện, hèn hạ và ngu dốt đến độ  không phân biệt được thiện – ác, trắng – đen  (coi đạo Ki-tô cũng giống như đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão) thành người con người biết sử dụng lý trí để “cách vật trí tri”, để bảo toàn cái tính thiện bẩm sinh (Nhân chi sơ, tính bản thiện) giữ vững lòng ngay thẳng và cái dũng của kẻ sĩ Đông Phương “ngẩng mặt lên không thẹn với trời, cúi mặt xuống không hổ với đất, nhìn thẳng vào mặt mọi người mà không ngượng ngùng, và khi  nghĩ lại những việc đã  làm mà  thấy lương tâm  thanh thản.”

Chú thích:


[1] Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi (California, Văn Nghệ, 1986, trang 99-101.

[2] Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 (Tập A: 1939-1946) (Houston, TX: Văn Hóa, 1997), tr 295.

[3] Joseph Buttinger, Vietnam: A Political History (New York:Frederick A Praeger, 1968), p. 288.

[4] Joseph Buttinger, Ibid., p. 289.

[5] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 126-127.

[6] Chu Văn Trình, Thái Vân & Trần Quang Anh, Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II - Tập 1 (Mt.  Dora, FL:Ban Tu Thư Tự Lực, 1994,  tr. 10.

[7] Nguyễn Mậu: "Thời Sự Trong Tuần"  Chính Nghĩa - Bộ Mới Số 251 [San Jose, California] ngày  03/12/1994.

[8] Vi Anh.  Vatican làm, không nói.” Việt Báo Miền Nam số 305, Ngày 14/7/2001: A1 + A6.

[9] Trịnh Văn Phát. “Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi.”