
Nguyễn Mạnh Quang VI.- VAI TRÒ CỦA VATICAN TRONG KẾ
SÁCH TRỒNG NGƯỜI Ở MIỀN Căn cứ vào môn Sử Thế Giới bị kiểm soát và cấm đoán, không cho dạy ở trong chương trình học ở bậc trung học, căn cứ vào môn Sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại bị cắt xén và bị bóp méo, căn cứ vào kiến thức của các ông Linh mục và tín đồ Da-tô dạy môn Văn ở Đại Hội Văn Khoa Sàigòn, Đại Học Đà Lạt, Đại Học Huế cũng như phụ trách dạy môn Sử và Công Dân tại các trường trung học trong những năm 1954-1975, căn cứ vào tác phẩm của các ông Linh mục và tín đồ Da-tô viết về những đề tài có liên hệ đến Giáo Hội La Mã và đến lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại cho đến năm 1975, người viết có thể khẳng định rằng, tất cả các ông linh-mục và tín đồ Da-tô được đưa vào giảng dạy ở đại học và trung học ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và tất cả những lớp người đã tiếp nhận sở học của họ tại các trường trung học tại miền Nam trong những năm 1954-1975 đều không được học một chút gì về lịch sử thế giới hay những bước tiến hóa của nhân loại từ thuở hồng hoang cho đến ngày nay. Đây chính là nguyên nhân khiến cho họ không biết một tí gì lịch sử Âu Châu trong thời Trung Cổ, không biết TẠI SAO lại có Phong Trào Đòi Cải Cách Tôn Giáo (1309-1648), không biết TẠI SAO lại có Thời Đại Lý Trí (1500-1789), không biết TẠI SAO lại nẩy sinh ra Thời Đại Cách Mạng Dân Chủ (1603-1815), không biết TẠI SAO chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã phải tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mã và hủy bỏ toàn bộ đặc quyền đặc lợi dành cho Giáo Hội cùng giới tu sĩ Da-tô và giai cấp quý tộc, không biết TẠI SAO chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 phải dùng biện pháp mạnh để trừng trị giới tu sĩ và giáo dân Da-tô ngoan cố đã có hành động phản quốc chống lại nước Pháp trong thời kỳ Cách Mạng 1789-1799. Qua sự
tìm hiểu với nhiều trường trung học tư thục ở Sàigòn và ở một vài
tỉnh ở miền Hậu Giang, qua sự tiếp xúc với rất nhiều người có học
vị đại học, trong đó có rất nhiều người tốt nghiệp trường Quốc
Gia Hành Chánh, với rất nhiều công chức và sĩ quan quân đội, người viết
nhận thấy rằng hầu hết các tu sĩ và tín đồ Da-tô được đưa vào phụ
trách dạy môn Văn, môn Sử và môn Công Dân ở các trường trung học ở
miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và tất cả những học sinh và
sinh viên tiếp nhận sở học ở miền Nam Việt Nam trong thời gian này đều
ở vào tình trạng không hiểu biết lịch sử thế giới và hiểu sai lạc
lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đai như đã nói ở trên. Lý do
rất dễ hiểu: Giáo Hội La Mã đã ra lệnh
cho chính quyền miền “ Đầu niên khóa 1954-55 trong chương trình
Trung Học Đệ Nhất Cấp có thêm môn Lịch- sử Thế-giới dạy trong 4 năm.
Ông Thiên Giang lúc đó dạy sử các lớp đệ lục, đệ ngũ. Tôi bàn với
ông soạn chung bộ sử thế giới càng sớm càng tốt cho học sinh có sách
học, khỏi phải chép "cua"
(cours). Ông đồng ý. Chúng tôi phân công: tôi viết cuốn đầu và cuốn cuối
cho lớp đệ thất và đệ tứ; ông viết hai cuốn giữa cho lớp đệ lục
và đệ ngũ. Chúng tôi bỏ hết công việc khác, viết trong 6 tháng xong;
tôi bỏ vốn ra in; năm 1955 in xong trước kỳ tựu trường tháng chín. Bộ
(Lịch-sử Thế-giới) đó khá chạy, sau tôi nhường cho nhà Khai Trí tái bản.
Một chuyện đáng ghi là vì bộ (sử) đó mà năm 1956 bị một độc giả ở Cần Thơ mạt sát (tôi)
là "đầu óc đầy rác rưởi" chỉ vì chúng tôi nhắc qua đến thuyết của Sự việc chính quyền Ngô Đình Diệm hạn chế, không cho dạy môn sử thế giới từ thời Thượng Cổ cho đến thời Cách Mạng Pháp 1789 và dùng mật vụ theo dõi để đe dọa nhà viết sử Nguyễn Hiến Lê như trên đã khiến cho hồi đó ở Miền Nam Việt Nam không có bộ sách lịch sử thế giới nào cả. Và bất kỳ ai có can đảm dám viết lên những sự thật của lịch sử cũng không thể nào tránh khỏi cảnh bị mật vụ "theo dõi và đe dọa" như trường hợp của học giả Nguyễn Hiến Lê. Những hành động phản tiến hóa, vi phạm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do học hỏi một cách dã man như trên là chủ trương của Giáo Hội mà bất kỳ tín đồ Da-tô nào cũng phải triệt để tuân hành làm theo ý muốn của Giáo Hội khi hoàn cảnh cho phép hay khi có quyền lực như chính quyền Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Ngay cả khi không có quyền lực như ở trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại từ mùa hè năm 1975 cho đến ngày nay, họ cũng làm như vậy. Chúng ta đã từng chứng kiến những người tôn vinh chế độ độc tài Da-tô Ngô Đình Diệm tại Bắc Mỹ, bất chấp cả luật pháp, đã và đang sử dụng bạo lực để đe dọa những người viết sử có ấn phẩm nói lên "sự thật không đẹp trong quá khứ có liên hệ đế Giáo Hội La Mã và chính quyền Ngô Đình Diệm." VII.-
TÁC DỤNG CỦA KẾ SÁCH TRỒNG NGƯỜI CỦA Đối với những lớp người tiếp nhận sở
học ở miền Nam Việt Nam.- Kế sách trồng người và chính sách ngu
dân của Giáo Hội La Mã được các chính quyền miền Nam trong những năm
1954-1975 triệt để thi hành khiến cho những
lớp người tiếp nhận sở học ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ này
không hiểu biết gì về lịch sử thế giới, nhiên hậu, họ không hiểu
được những bước tiến của nhân loại từ thuở hồng hoang cho đến ngày
nay. Do đó, họ không biết gì về bộ mặt thật của Giáo Hội, không biết
gì về bộ mặt thật của bọn Việt gian bán nước cho Liên Minh Xâm Lăng
Pháp – Cũng vì thế mà khi đọc những bản văn sử có liên hệ đến những việc làm bất chính, đại gian đại ác của Giáo Hội La Mã hay của các chính quyền đạo phiệt tay sai của Vatican ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và tại các quốc gia khác, thì họ như trên trời rớt xuống, rồi giẫy nẩy lên và cho rằng “phịa sử”, “nói láo”, “nói xấu Giáo Hội La Mã”, “chống Công Giáo”. Đối với
Giáo Hội La Mã.- Kế sách trồng
người được thi hành song phương với chính sách ngu dân và giáo dục nhồi
sọ của Giáo Hội được La Mã là một
kế sách “nhất tiễn tam tứ điểu” để đạt được 3 tiêu: 1.- Làm cho
người dân dưới quyền trở thành những người vừa dốt nát vừa ngu xuẩn
đúng như ý muốn của Tòa Thánh 2.- Biến những
tín đồ Da-tô thành những người vong bản, phản dân tộc, chỉ biết cúi
đầu vâng lời các đấng bề trên của họ và triệt để tuân hành những
lệnh truyền của Tòa Thánh 3.- Huỷ diệt
hết những nét cao đẹp trong nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc. 1.- LÀM CHO
NGƯỜI DÂN DƯỚI QUYỀN TRỞ THÀNH VỪA DỐT NÁT VỪA NGU XUẨN Kế sách trồng
người và chính sách ngu dân của Giáo Hội được triệt để thi hành
liên tục ở miền Nam Việt Nam từ năm 1862 cho đến tháng 4 năm 1975 đã
làm cho những lớp người tiếp nhận sở học của họ tại các trường
trung học ở Việt Nam không những
không biết gì về lịch sử thế giới,
không những hiểu sai lạc lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại,
mà còn ở trong tình trạng vô cùng lạc
hậu và hết sức chậm tiến về chính trị. Những lớp người này
vãn còn cho rằng người dân là tôi thần
(subject) của một ông vua (a monarch) nước quân chủ chuyến chế, có nghĩa
vụ phải trung thành với nhà vua của chế độ, không ý thức được các bổn phận và quyền
lợi của một người công dân
(citizen) đối với quốc gia (the
country) theo chế độ cộng hòa dân chủ, rằng mọi người ở trên trái đất
này chỉ là tôi tớ hèn mọn của
Giáo Hội La Mã. Từ khi Cách Mạng Pháp bùng nổ vào năm 1789, người dân tại các nước Âu Châu và Bắc Mỹ đã khai tử chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền lỗi thời, không còn ai muốn ngó tới cái của nợ này nữa. Theo gương các nước Âu Mỹ trên đây, các nước Á Châu như Ấn Độ, Triều Tiên, Trung Hoa, Nam Dương, Miến Điện cũng đã phế bỏ chế độ quân chủ phong kiến lõi thời này từ 1945. Ngay tại Việt, từ giữa thập niên 1920, các đảng phái cách mạng cũng đã có chủ trương vừa đánh đuổi Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican ra khỏi đất nước để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc, vừa phải đào sâu chốn chặt chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền của nhà Nguyễn, cởi mở cho đất nước thoát khỏi cái chế độ chính trị cực kỳ phong kiến và hết sức lạc hậu này để mang lại cho người dân cái quyền làm người được bình đẳng và tự do về chính trị. Đây là chủ trường của Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học. Kể từ đó, không có một đảng phái chính trị hay cách mạng nào còn nghĩ đến việc đưa ra chủ trương phục hồi vương quyền cho nhà Nguyễn hay tôn vinh con cháu nhà Nguyễn lên cầm quyền. Những tưởng
rằng, chế độ quân chủ trung uơng tập
quyền tại Việt Nam đã nằm yên dưới nấm mồ sâu của nó, nhưng rồi đến cuối năm 1945, Giáo Hội La
Mã ra lệnh cho Khâm Mạng Toà Thánh Vatican tại Đông Dương là F. A. Frater
Antoninus Drapier và tên cựu Linh-mục Thierry d’ Argenlieu (đang nắm giữ
chức vụ Cao Ủy Đông Dương (17/8/1945 –15/3/1947) cho khai quật
nó lên, dựng lại cái xác chết của một chế độ chính trị lỗi thời đã thới rữa này để phục hồi
vương quyền cho nhà Nguyễn bằng cách đưa ông Bảo Đại trở lại ngôi vị của một
ông vua bù nhìn như những năm trước ngày 19/8/1945 (có thể
nói là ngày 25/8/1945, ngày ông ta chính thức tuyên bố thoái vị). Sự kiện
này được sách sử ghi lại rõ ràng. Sách
Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 viết: "Ngày 28/12/1945: HUẾ: Tổng Giám Mục
Antoni Drapier, đại diện Roma, tuyên bố: "Gia đình Bảo Đại là gia đình thân Pháp bậc
nhất trong dân chúng Việt Nam (la plus francophile de tois les annmites) và theo ý
ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3 (À mon avis,il
serait avantageux pour le calm de rétablir le Roi comme chef régulier avant le 9 mars;
DOM [aix], CP 125). DRAPIER cũng đưa ra giải pháp là có thể sau đó sẽ cho Bảo
Long kế vị, và Và sử gia
Joseph Buttinger ghi nhận trong cuốn “Từ khi
ly khai với Việt Minh vào tháng 3 năm 1946, Bảo Đại tới Hồng Kông cư ngụ. Tháng Giêng năm 1947,
ông ta được viên đặc sứ của d’ Argenlieu muốn dùng ông ta để chống
lại Việt Minh. Kể từ đó, và đặc biệt là sau khi Cao Ủy Baollaert tới Sàigòn nhậm chức, những người đưa tin và bọn Việt gian xưa
kia đã từng cộng tác với giặc Pháp tìm đến Hông Kông….” (“Bao Dai had
been residing in Rồi sau đó
Cao Ủy Đông Dương Emile Bollaert (15/3/1947-11/10/1948) cho ra đời cái gọi là “Giải
Pháp Bảo Đại”, rồi cho ra đời ra cái gọi là “chính quyền Quốc Gia” và bảo rằng của “người
Việt quốc gia chân chính” vào
ngày 5/6/1948. Có chính quyền mà không có lá cờ làm biểu tượng thì trơ
trẽn quá! Vì thế Tòa Thánh Vatican mới ra lệnh cho Linh-mục Trần Hữu
Thanh sáng chế ra “lá cờ vàng ba sọc
đỏ” làm biểu tượng cho cái gọi là
“chính nghĩa Quốc Gia”
của “người Việt Quốc Gia” rồi
cuỗm bài hát “Tiếng Gọi Thanh Niên” của nhạc
sĩ Lưu Hữu Phước làm Quốc Ca. (Xin xem lại Chương 49 trong Phần III nói về
Giải Pháp Bảo Đại và Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.) Sự thật lịch
sử rõ ràng là như vậy. Nhưng tín đồ
Da-tô và những lớp người tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân và
giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội, không có đủ khả năng thông minh nhìn
ra dã tâm thâm độc này của Liên Minh Xâm Lăng Pháp – Vatican. Cho nên, họ
vẫn còn cố bám víu lấy ông vua bù nhìn cuối cùng của triều đình Huế
để tôn vinh lên ông ta làm nhà lãnh đạo cho một chế độ chính trị mà
họ cho rằng tốt đẹp với cái nhãn hiệu
“chính quyền quốc gia” “có chính
nghĩa quốc gia” của “những người
quốc gia chân chính” như trên. Họ không
biết hay cần biết đến sự kiện là
đối với dân tộc Việt Nam, nhà Nguyễn
đã mất hết chính nghĩa, không còn tư
cách ở lại ngôi vị lãnh đạo đất nước (vì
đã ký Thỏa Hiệp Nhâm Tuất 1862
nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ , rồi đến các Thoả Hiệp
Giáp Tuất 1874, Qúi Mùi 1883 và Giáp Thân 1884 dâng cả nước Việt Nam cho
Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican), họ cũng không biết hay không cần biết đến
tư cách của cá nhân ông Bảo Đại mà
các nhà viết sử gọi ông ta là “playboy”: “Tiếp xúc với Bảo Đại vào mùa xuân năm
1957, người Pháp đã không biết về khả năng
chính trị đã ngủ yên của
ông ta và chưng hửng khi thấy “tên ăn chơi đàng điếm” này, nếu có
quan tâm đến chính trị, liệu rằng ông ta có thể trở thành một kế hoạch
gia đường đường chính chính cương quyết vượt trội hơn được các đối
thủ của ông ta hay sao.” (In approaching him in the spring of 1947, the French
were ignorarnt of Bao Dai’s dormant political abilities and atonished to se that the “playboy,”
if he cared, could himself turn to a schemer, determined to outwit his opponents.”
[4]
Những quan
niệm và hành động chính trị này của họ không khác gì những quan niệm
và chính trị của nhân vật tiểu thuyết Rip
Van Wrinkle trong một chuyện vui của người Hoa Kỳ. Chuyện rằng, nhân vật
này khi lạc vào rừng sâu ngủ một giấc dài 20 năm, khi trở về nhà ở
Halifax, New York, thì tất cả đã thay
đổi. Lúc đó, nguời vợ nói nhiều thân thương của ông đã từ trần,
người con gái yêu quý của ông đã thành gia thất và đã có cả một bầy con, cuộc chiến Cách Mạng 1776-1783 đánh đuổi quân Anh để giành lại chủ quyền độc lập đã chấm
dứt, và nhân dân Hoa Kỳ đang tiến hành các cuộc bầu cử chọn người lãnh
đạo chính quyền. Khi người ta hỏi ông ủng hộ ứng cử viên nào và đảng
nào, thì ông ta trả lời một cách rất tự nhiên rằng ông cương quyết
trung thành với Anh Hoàng George III (1760-1820), rồi hô khẩu hiệu ủng hộ
đế quốc Anh một cách rất tự nhiên, tự nhiên giống như ông Linh-mục
Hoàng Quỳnh hô khẩu hiệu “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”.
Hành động này của ông khiến cho mọi
người nhìn ông như là một con người bất bình thường vừa khùng khùng,
vừa hài hước giống như một thằng
hề, vừa ngu xuẩn, không giống ai cả. II.- BIẾN
TÍN ĐỒ DA TÔ THÀNH Kế sách trồng
người của Giáo Hội La Mã với dã tâm gieo vào đầu óc các trẻ em thơ dại
những hạt giống tín lý Ki-tô cùng với những
giáo luật và những lời dạy nặng tính cách bịp bợm và lưu
manh để biến người dân miền Nam Việt Nam thành những hạng người ngu dốt,
mông muội triền miên trong cõi mộng du, lúc nào cũng mơ màng về nước Chúa.
Ngoài ra, trong kế sách trồng người này, Giáo Hội La Mã còn có dã tâm diệt
tận gốc, trốc tận rễ "lòng yêu tổ
quốc" đã có sẵn trong lòng tín đồ Da-tô và người dân dưới
quyền để
thay thế vào đó bằng “tình
yêu Thiến Chúa” mà thực tế là “lòng
yêu Giáo Hội La Mã”. Cũng nên biết là
các ông tu sĩ Da-tô thường nhập nhằng đồng hóa Giáo Hội La
Mã với Thiên Chúa để rồi nhập nhằng đồng hóa “lòng yêu Giáo Hội” với "lòng yêu Thiên Chúa.” Tác dụng của
việc làm lưu manh và dã man này đã biến tín đồ Da-tô thành những con người
phi dân tộc, những phường vong bản, phản quê hương vì trong thâm tâm họ
lúc nào cũng mơ màng nghĩ đến Giáo Hội
La Mã, coi Giáo Hội như là nước Chúa thân thương nhất đời của họ.
Cũng vì thế mà hầu hết những tín đồ Da-tô
ngoan đạo người Việt đều có những suy tư, ngôn từ và
hành động mất gốc không còn biết gì đến tổ quốc,à quê hương và
dân tộc mà vẫn hiêu hiêu tự đắc không biết thế là nhục. Dưới đây
là một số trường hợp: 1.- Ông Da-tô Ngô Đình Diệm tuyên bố với
các chính khách Hoa Kỳ một cách rất tự nhiên rằng “Tôi tin tưởng vào quyền lực của Vatican
và tôi chống Cộng tích cực” trong một bữa cơm chiều được tổ
chức ở Khách Sạn Mayflower tại thủ
đô Washington D.C. vào tháng 10 năm 1950. Lời
tuyên bố vong bản và vọng ngoại một cách cực kỳ ngu xuẩn trên đây của
ông Diệm đã khiến cho Tổng Thống Eisenhower lâm vào tình trạng lúng
túng, rồi phải đưa ra câu nói “Trong
đám mù, thằng chột sẽ làm vua” để biện minh cho việc đưa ông
Diệm về Việt Nam cầm quyền khi bị hội đồng chính phủ Hoa Kỳ đặt vấn
đề là TẠI SAO lại sử dụng một người vừa ngu dốt vừa vong bản như
vậy làm thủ tướng Việt Nam? Cũng chỉ vì
“tin tưởng vào quyền lực của Vatican”,
cho nên sau khi được Giáo Hội La Mã và Hoa Kỳ cho về cầm quyền ở miền
Nam Việt Nam vào tháng 7 năm 1954, ông Diệm đã
phải làm trọn lời hứa “tuyệt đối
trung thành với Giáo Hội” bằng một hành động vô cùng ngọan mục.
Đó là hành động tổ chức một buổi đại lễ cực kỳ long trọng, rồi
mời vị sứ thần của Tòa Thánh Vatican là Hồng Y Agagianian đến làm chủ
lễ để dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã được ngụy trang bằng
danh nghĩa ”dâng nước Việt Nam cho Đực Mẹ
Vô Nhiễm.”[5]
2.- Linh-mục
Hoàng Quỳnh đưa ra khẩu hiệu "Thà
mất nước, chứ không thà mất Chúa" để hô hào và kêu gọi
giáo dân trong các họ đạo định cư ở Sàigòn, Chợ Lớn, Gia Định và
các trại định cư trong các vùng Hố Nai, Tam Hà, Tam Hiệp, Gia Kiệm, Dốc
Mơ, Bùi Phát , v.v… phải quyết tâm chiến đấu cho quyền lợi của Giáo
Hội La Mã. Sự kiện này nói lên cái
đặc tính vong bản, phản dân tộc của tín đồ Da-tô người Việt. Phải
chăng vì thực trạng này mà nhà báo Long Ân đã đưa ra lời nhận xét chua
sót về việc đạo Da-tô đã biến tín đồ Da-tô thành hạng người “đã cúi đầu trên bốn chân để từ con
người trở về với nguồn gốc con người súc sinh.”? (Nguyễn Mạnh
Quang, Việt 3.- Ông Da-tô Nguyễn Văn Chức, một người đã từng hành nghế luật sư nhiều năm ở Sàigòn và đã từng được cho làm thượng nghị sĩ trong cái quốc hội bù nhìn ở miền Nam Việt Nam trước ngày 30/4/1975, không biết xấu hổ khi viết ra những lời lẽ siêu quái đản dưới đây: “Vì vậy, nếu trong công cuộc loại trừ bạo
quyền cộng sản, tôn giáo tại Việt Nam là động lực vận hành và thúc
đẩy, thì trong công cuộc phục hưng con người sau khi xóa bỏ chế độ cộng
sản, tôn giáo tại Việt Nam sẽ là nhân tố chủ đạo, chỉ đạo và
quyết định. Riêng về phía Thiên Chúa Giáo, quyển Thánh Kinh sẽ là
cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt
Nam.” [6] Qua đọan
văn trên đây, chúng ta thấy ông Da-tô Nguyên Văn Chức có 3 điều không biết vĩ đại. Ba điều không
biết này là: A.- Không biết rằng từ khi Cách Mạng Pháp
bùng nổ vào tháng 7 năm 1789, cao trào cách mạng của nhân dân thế giới
mà phần lớn là các dân tộc có kinh nghiệm đau thương với Giáo Hội La
Mã đã liên tục đòi hỏi “phải tách rời
tôn giáo ra khỏi chính quyền”. Hiện nay, hầu như tất cả các quốc
gia theo chế độ dân chủ tự do ở Âu Châu cũng như ở Bắc Mỹ và nhiều
nước khác đều có điều khỏan này ghi vào trong hiến pháp của nước họ. B.- Không
biết rằng quyển Kinh Thánh Ki-tô (cả hai quyền
Cựu Ước và Tân Ước) đầy dẫy
những chuyện hoang đường, phi nhân bản, phản khoa học, đầy dẫy những
chuyện loạn luân, dâm lòan, đầy dẫy nhưng chuyện ác độc và tàn ngược.
Điển hình nhất là ông Chúa Cha Jehovah vô cùng
hung dữ, cực kỳ bạo ngược, hết sức ác độc, đầy lòng
ganh ghét, đố kị, tị hiềm, và ông Chúa
Con Jesus thì mang căn bệnh hợm hĩnh,
khoác lác, khoe khoang, phách lối, nói dối
như cuội, nói láo lòi cả đuôi ra cho mọi người nhìn thấy như đã trình bày khá đầy ở trong tiểu
mục nói về “ông Lê Hữu Mục” ở trên, và ở nơi Chương 3, Phần I
trong bộ sách này. Một quyển kinh thánh ghê tởm như vậy mà ông Nguyễn Văn
Chức lại thiết tha mong mỏi được “dùng
làm cẩm nang trong sứ mạng phục hưng con người và đạo lý tại Việt C.- Không biết rằng có tới khoảng 95% dân
Việt Nếu một người
dốt nát chưa học hết lớp 3 tiểu học và trí óc đần độn ngu si mà viết
đọan văn như trên thì có thể không ai để ý hay quan tâm đến làm gì.
Nhưng ông Da-tô Nguyễn Văn Chức vốn là một cựu luật sư đã hành nghề
thày cãi trong nhiều năm ở Sàigòn trước ngày 30/4/1975, đã từng là cựu
thượng nghi sĩ giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp Định Chế trong
Thượng Nghị Viện của chính quyền Saigòn cho đến ngày gánh hát miền
Nam Việt Nam tàn cuộc, và cũng đã từng là
Tổng Thư Ký Liên Đòan Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, mà lại viết những
điều cực kỳ ngu xuẩn như trên thì quả thật là một vấn đề khiến
cho chúng ta phải suy nghĩ về sự hiểu biết và kiến thức của những
ông Da-tô người Việt được gọi là trí thức, có học vị đại học và
đã từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền miền Nam Việt
Nam trong những năm 1954-1975 hay trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La
Mã! Lời lẽ
trên đây của ông Da-tô Nguyễn Văn Chức cho chúng thấy cái thực trạng về
trình độ kiến thức tổng quát của ông ta quả thật không bằng một em
bé học hết lớp 9 bậc trung học ở Hoa Kỳ, và cũng cho chúng thấy cái
tinh thần lệ thuộc Vatican và cái bản chất vong bản phản dân tộc của
ông ta nói riềng và tín đồ Da-tô ngoan đạo người Việt nói chung. 4.- Ông
Da-tô Nguyễn Mậu cũng viết những ngôn từ quái đản ngoài sức tưởng
tượng của một người bình thường, không mắc bệnh tâm thần. Dưới đây
là ngôn từ của ông Nguyễn Mậu: ”Vấn đề được nêu lên ở đây với tất cả
mạo muội và run sợ vì có thể bị
xem như là vô lễ phạm thượng. Chúng tôi trông vào
sự độ lượng của hàng giáo phẩm cũng
như hy vọng rằng sự trưởng thành của giáo dân ở thời đại này sẽ giúp thật nhiều cho sự thể hiện lý
tưởng Ki tô hữu.” [7] Nực cười
nhất là suốt trong chiều dài lich sử cận và hiện đại của nước ta,
khi lao vào làm những hành động ghê tởm
hết sức man rợ như tàn sát những người đồng hương thuộc các tín ngưỡng
khác, cướp của, đốt nhà, đốt chùa, phá đình, phá miếu, hãm hiếp đàn
bà con gái, giết người, mổ bụng,
phanh ngực nạn nhân lấy gan đem nướng và lấy mật hòa với rượu, rồi
ngồi nhậu hả hê với nhau (xem lại
Chương 50, Phần III trong bộ sách này), thì họ KHÔNG RUN SỢ! Ấy thế mà
khi phải trình bày một vấn đề gì với các đấng bề trên của họ,
thì họ lại RUN SỢ và coi là "VÔ LỄ, là "PHẠM THƯỢNG."
Tác hại của kế sách trồng người và độc
kế ngu dân của Giáo Hội La Mã đã biến
tín đồ Da-tô người Việt thành hạng người quái đản như vậy! 5.- Ông
Giám-mục Nguyễn Văn Thuận lớn tiếng tuyên bố với tín đồ Da-tô người
Việt ở 6.- Ông Linh-mục Trịnh Văn Phát viết: “Trong suốt thời gian ở Việt Đoạn văn
trên đây cho chúng ta thấy rằng, tất cả các linh mục được huấn luyện
là để phục vụ Giáo Hội. Trong thời cận và hiện đại, Giáo Hội cấu
kết với đế quốc thực dân xâm lược Pháp đánh chiếm và thống trị
Việt Nam, các ông linh mục Việt Nam vì “phải
phục vụ Giáo Hội”, cho nên không những chính bản thân họ đã triệt để tuân hành lệnh truyền của
Giáo Hội chống lại tổ quốc Việt Nam, mà còn đem cả xóm đạo dưới
quyền quản nhiệm của họ đi đánh phá các lực lượng kháng chiến của
nhân dân ta “để phục vụ theo nhu cầu của
Giáo Hội.” Trường hợp ông Linh-mục Trần Lục đã nói ở trên là một
trong hàng ngàn trường hợp đã xẩy ra ở Việt 7.-
Ông Da-tô Petrus Trương Vĩnh Ký viết
thư thỉnh cầu vị chỉ huy đạo quân thập ác của nước Pháp còn nằm
ở ngoài khơi Việt "Tháng 3/1859, Petrus Key viết "Grand Chef et
Vous Tous, très honorables officers de la flotte francaise": Ayez pitié de nous;
Ayez pitié de nous. Vous êtes nos libérateurs et la main des ennemis nous a touchés!
Hala! The wearer knows very well where the shoe pincheth. Nous savons aussi que qui trop
embrasse mal étreint; Et cependant nos souffrances nous poussent à invoquer votre
puissance et à vous exposer du fond du coeur tout ce que je vient de soumettre à votre
prudence et à votre sagesse."[10]
8.- Các ông
Da-tô Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Văn Canh, Lý Tòng Bá, v.v..., hùa nhau thành lập cái gọi là Việt Nam Cộng
Hòa Foundation viết thư gửi Liên Hiệp Quốc yêu cầu cơ quan này dùng quyền
lực tái lập tình trạng chia đôi đất nước Việt Nam thân thương của
chúng ta để thành lập chế độ đạo phiệt Da-tô làm tay sai cho Giáo Hội
La Mã với danh xưng tàng hình là Việt Nam Cộng Hòa giống
như thời "chế độ Diệm"
(1954--1963) và "chế độ Diệm không Diệm"
(1967-1975.[11] 9.- Kế sách
trồng người cùng với độc kế ngu dân của Giáo Hội La Mã được thi hành
ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đã làm cho hầu hết những lớp
người miền Nam Việt Nam tiếp nhận sở học của họ trong thời kỳ này mất hết khả năng lý trí để nhìn ra những cụm từ “chính quyền quốc gia”, “chính nghĩa quốc gia”, “người Việt quốc gia” và “lá cờ vàng ba sọc đỏ” chỉ là một thứ phó sản của chính sách chia để trị dùng người
Việt đánh người Việt và dùng tín đồ Da-tô cai trị đại khối nhân
dân thuộc các tôn giáo khác do Giáo Hội La Mã chủ trương. Những cụm
từ này được Giáo Hội La Mã sử dụng làm nước sơn che phủ cho cái bản
chất Việt gian phản quốc của những người
mang quốc tịch Vatican, mang
quốc tịch Pháp cùng với những thành phần cựu quan lại, những phần tử
thuộc các gia đình phú hào và nhóm tiểu tư sản đô thị mang căn bệnh
“trưởng giả học làm sang” bị cuốn hút vào chính quyền Bảo Đại và
đạo quân người Việt đánh thuê cho
Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican trong những năm
1945-1954. Vấn đề này đã được trình bày đầy đủ trong Chương 49, Phần
III trong bộ sách này. 10.- Kinh khủng
hơn nữa là kế sách trồng người và độc kế ngu dân của Giáo Hội La
Mã đã làm cho tín đồ Da-tô người Việt không biết gì về quyền hành của
một quốc gia độc lập, cho nên họ đã coi Toà Thánh Vatican như là một
thế lực siêu quyền lực và có quyền quyết định tất cả mọi vấn đề
ở Việt Nam hiện nay. Lời lẽ của một tín đồ Da-tô người Việt có
tên là Sarah-Anne Nguyen trong bức thỉnh nguyện thư
phổ biến trên các diễn đàn điện thư vào ngày 16 tháng 1 năm
2006 và những người ký tên vào bản thỉnh nguyện thư quái đản này nói
lên tình trạng cực kỳ ngu dốt của họ. Dưới đây là nguyên văn phần
quan trọng nhất của nguyên văn bản thỉnh nguyện thư ngu dốt này: From: Viet
Si" <vietsi2002@yahoo.com> To:
hoinghi@egroups.com Date: Mon, 16
Jan 2006 18:01:09 -0800 (PST) From:
Sarah-Anne Nguyen sarahanne_nguyen@yahoo.com Subject: CONG
DONG NGUOI VIET TREN TOAN THE GIOI KY TEN HO TRO THINH NGUYEN THU KINH GUI TOA THANH (DANH
SACH CAP NHAT TINH DEN NGAY 16/6/2006) CỘNG
ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TRÊN TOÀN THẾ GIỚI KÝ TÊN HỔ TRỢ THỈNH NGUYỆN THƯ
KÍNH GỬI TÒA THÁNH XIN ĐỔI TÊN TGP/TPHCM TRỞ LẠI TÊN TGP/SG Cuộc Vận
Động Chữ Ký của người Công Giáo Việt Nam và những người không phải
là Công Giáo muốn hỗ trợ cho Thỉnh Nguyện Thư kính xin Toà Thánh đổi tên
TGP/TPHCM trở lại tên TGP/SG, được bắt đầu từ ngày 23 tháng 11 năm
2005. Kính mời
quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, quý đồng bào trong và ngoài nước
không phân biệt tôn giáo đồng ý ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư kính xin
Toà Thánh đổi tên TGP/TPHCM trở lại tên TGP/SG…” Thiển nghĩ
rằng 4236 chữ ký của 4236 người Việt Nam đã tiếp nhận sở học qua chính sách ngu dân
và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã ở Việt Nam từ năm 1954 trở về
trước hay ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, cho nên họ mới
suy nghĩ và hành động một cách cực kỳ ngu xuẩn như vậy. Chả trách nào suốt trong chiều lịch sử,
từ khi được Giáo Hội cấy vào đầu óc họ cái mớ tín lý Ki-tô láo
khoét khiến cho họ bị mê hoặc bởi cái bánh vẽ thiên đường, họ luôn
luôn hành động theo lệnh truyền của Giáo Hội để chống tại tổ quốc
và dân tộc Việt 11.- Tác dụng
của kế hoạch trồng người của Giáo Hội La Mã tại Đông Dương còn thể hiện ra trong các ấn phẩm về lịch
sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại của các tác giả đã tiếp nhận
sở học của họ trong thời Liên Minh
Pháp – Vatican thống trị Việt Nam 1885-1954, và ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1954-1975. Với tình trạng không biết gì về lịch sử thế giới,
không biết gì về lịch sử Giáo Hội
La Mã, không biết gì về việc Tòa
Thánh Vatican đã ba lần vận động Pháp cấu kết với Vatican và xuất
quân đánh chiếm Việt Nam để cùng thống trị, cùng chia nhau khai thác tài
nguyên của đất nước, và cùng đè đâu cỡi cổ nhân dân ta, không biết gì về việc Vatican đã dẫn
ông Ngô Đình Diệm sang Mỹ giao cho Hồng Y Francis Spellman chạy chọt với
các nhân vật có thế lực trong chính quyền Hoa Kỳ cùng với Vatican làm
áp lực với chính quyền Pháp và Quốc Trường Bảo Đại đưa ông ta về
cầm quyền ở Việt Nam, không biết gì
về sự kiện trong gần hai ngàn năm qua Giáo Hội La Mã đã có những hành
động tội ác trùng trùng như hang chục rặng Hy Mã Lạp Sơn, một số các ông trí thức nửa vời đã
lanh chanh nhẩy rào vào lãnh vực viết sử làm chuyện “múa rìu qua mắt thợ” với dã tâm chạy
tội và bênh vực cho Giáo Hội La Mã trong những việc làm bất chính và đại
gian đại ác chống lại tổ quốc Việt
Nam từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay và cũng là chạy tội cho bọn Việt
gian mang quốc tịch Vatican trong những việc làm phản quốc của họ từ giữa
thế kỷ 19 cho đến ngày 30/4/1975. Đây là trường
hợp của các tác giả có tác phẩm có liên hệ đến lịch sử Việt Nam như
Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan (1991) của Linh-mục Vũ Đình Hoạt, Việt
Nam Chính Sử (1992) của cựu luật-sư Nguyễn Văn Chức, Những Bí Ẩn Đàng
Sau Các Cuộc Thánh Chiến Tại Việt Nam (1994) và Những Bí Ẩn Lịch Sử Đàng
Sau Cuộc Chiến Việt Nam (1999) của Lữ Giang, Bên Giòng Lịch Sử của
Linh-mục Cao Văn Luận, Việt Nam Huyết Lệ Sử (1996) của Cao Thế Dung, Những
Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1996) của Hoàng Ngọc
Thành và Thân Thị Nhân Đức, Những Huyền Thoại & Sự Thật Về Chế
Độ Ngô Đình Diệm (1998) của Vĩnh Phúc, Ngô Đình Diệm: Nỗ Lực Hòa
Bình Dang Dở (1989) của Nguyễn Văn Châu, Việt Nam Giáo Sử của Linh-mục
Phan Phát Huồn (1965), Việt Nam: Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia - Cộng Sản - Tập
I (2002) của nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Dương Diên Nghị, Nguyễn Châu, Lương
Văn Toàn, Lê Hữu Phú và Hoàng Đức Phương, Tổ Quốc Ăn Năn (2001) của
Nguyễn Gia Kiểng, Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê (1998) của Minh Võ, Việt
Nam Mất Lỗi Tại Ai? (1993) của Nguyễn Đức Chiểu, Việt 3.- HỦY DIỆT HẾT NHỮNG NÉT CAO ĐẸP TRONG NẾP SỐNG VĂN HÓA CỔ TRUYỀN Ngoài
tác dụng biến tín đồ Da-tô người
Việt thành những hạng người vong bản,
phản quốc như trên, kế sách trồng người
cùng với chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội
La Mã còn có tác dụng hủy diệt hết tất cả những nếp sống cao đẹp
trong đời sống văn hóa cổ truyền của dân tộc vốn đã có sẵn ở
trong tâm tư của mọi người dân Việt
theo quy luật di truyền và quy luật thấm nhiễm bởi môi sinh “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Nhưng
khi đã trở thành tín đồ Da-tô ngoan đạo của Giáo Hội La Mã, thì những
nét đặc thù cao đẹp này ở trong tim óc của họ đã bị huỷ diệt hoàn toàn. Tình trạng
này cũng đã lan truyền sang những người không phải là tín đồ Da-tô thuộc
các thành phần có quyền lợi gắn chặt với chính quyền Liên Minh Xâm Lược
Pháp – Vatican hay gắn liền với các chế độ đạo phiệt Da-tô ở miền
Nam Việt 1.- Biến con người Việt Nam thực tế, đầy những tính người, chỉ biết lo cho con người ở cõi đời nay “Tôi chỉ là người theo một nghĩa rất
người, và thực tại đắp xây đời thực tại” (không nhớ tên tác
giả), và đối với thế giới thần linh thì “kính nhi viễn chi” thành con nguời bị
mê hoặc, rơi vào cõi mộng du, lúc nào cũng mơ màng tới cõi thiên đường
qua cái cửa ải Vatican. Sự kiện này được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn
ghi lại trong tác phẩm Xóm Đạo của ông với nguyền văn như sau: “Toàn trại
này, dường như ai cũng sùng đạo như nhau, và sự sùng đạo ấy được
thể hiện qua việc cầu nguyện và đi lễ. Buổi sáng, năm giờ chuông đổ
lần thứ nhất, họ đã lục tục đánh thức cả nhà cùng dậy. Việc đầu
tiên khi chưa bước chân xuống đất, là phải làm dấu thánh giá và đọc
vài kinh nhật tụng. Sau đó, đánh răng rửa mặt, thay quần áo đi lễ. Trên
đường đến nhà thờ, họ không bỏ phí thì giờ, lấy tràng hạt ra vừa
lần chuỗi vừa cầu xin. Vào nhà thờ đọc kinh chung cả tiếng đồng hồ
rồi mới tham dự thánh lễ mà dường như vẫn chưa thấy đủ, họ còn
quì nán lại đọc kinh thêm cho đến lúc tới giờ đi làm. Buổi trưa, đúng
giờ ngọ, chuông nhà thờ lại cất lên, nhắc họ dù đang làm gì, dù
đang ở đâu, cũng phải tạm ngưng tay để làm dấu thánh giá và cầu nguyện.
Tối về, cơm nước xong lại vội vã
đến nhà thờ. Và khoảng 9 giờ tối, trước khi đi ngủ, mọi gia đình đều
tụ tập trước bàn thờ để đọc thêm một loạt kinh nữa trước khi lên
giường! Nói chung, một ngày không biết bao nhiêu lần nhớ đến Chúa. Ăn
củ khoai cũng làm dấu thánh giá. Nửa đêm mất ngủ cũng ngồi lên lần
tràng hạt! Vui cũng cám ơn Chúa, mà buồn cũng coi là thánh giá Chúa trao
cho mình gánh vác! Niềm
tin mãnh liệt như thế, cho nên chẳng lạ gì….”[12] Với thực trạng này, họ đã trở thành một hạng người nô lệ cho bọn lưu manh buôn thần bán thánh khoác áo chùng đen và nghiễm nhiên biến thành con người vong bản, phản dân tộc, phản quê hương để rồi đến khi chết cũng vẫn còn bị chúng lừa bịp phải trả tiền cho dịch vụ vẩy vài giọt nước lã pha dầu, miệng đọc mấy lời nhảm nhí và nói láo rằng như vậy là linh hồn của kẻ chết sẽ được lên thiên đường thẳng ro ro. .- Biến con người Việt Nam khiêm tốn, nhũn nhặn (bất sỉ hạ vấn), lúc nào cũng mở rộng tâm hồn để học hỏi (tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư), biết rõ cái biết của mình chỉ là một hạt muối trong đại dương (Sơn hữu ngoại sơn), (Thiên hữu ngoại thiên) và (cao nhân tất hữu cao nhân trị) thành con người tự cao tự đại, hợm hĩnh, “mục hạ vô nhân” tự phong là dân Chúa, tự cho là được Chúa Chọn rồi khinh rẻ những người thuộc các tôn giáo khác như một thứ người mọi rợ, dã man. 3.- Biến
con người Việt Nam hiền lành, thật
thà, chất phác (kỷ sở bất dục, vật thi
ư nhân) con người đầy lòng nhân
ái (thương người như thể thương thân),
(tứ hải gia huynh đệ) thành con
người lố bịch, trịch thương, hung hăng, háo chiến, háo sát, coi những
người khác tôn giáo như rơm như rác, rồi tìm đủ mọi mánh mung để chèn ép và cưỡng bách người
ta phải theo đạo Da-tô một cách vô cùng nham
nhở, hết sức trâng tráo và cực kỳ trắng trợn. 4.- Biến con người Việt Nam hiếu hòa, tương thân tương ái, nhường nhịn lẫn nhau, chín bỏ làm mười, dĩ hòa vi quý, thuận thảo với mọi người, kính trên nhường dưới, lượng cả bao dong thành con người gian tham, bốc hốt, vơ vào, tham danh, hám lợi, thèm khát quyền lực, rồi sinh lòng đố kị , kèn cựa, ghen ghét với lẫn nhau, xun xoe nịnh bợ người trên, khinh rẻ người dưới, làm oai, làm phách, hống hách, phách lối với người lạ, và chèn ép những người lép vế thế cô. Sự kiện được Giáo-sư Nguyễn Văn Trung nói rõ trong bài viết “Một Số Tình Hình Đặc Biệt Của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” đăng trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa? Tuyển Tập 2 với nguyên văn như sau: “Điểm lại tình hình của Giáo Hội Việt Nam,
có những điều trông thấy mà đau đớn lòng. Thực vậy, chuyên giáo dân
bị coi như cỏ rác là chuyện thường ngày ở huyện. Chuyện đau lòng hơn
cả là chuyện các chủ chăn chơi nhau thay vì chơi với nhau ngày càng phơi
trần ra. Sự sa đọa trong Giáo Hội ngày càng tăng thêm….” “Ai có dịp gần gũi các giám mục Vỉệt “Ngày nay các giám mục chơi nhau, không
cần phải vạch áo xem lưng, bàn dân thiên hạ đều biết rõ, nhất là giữa
các giám mục chánh và giám mục phó. Đức Tổng Giám Mục Phillippê Nguyễn
Kim Điền chơi Đức Tổng Giám Mục Phó Stêphanô Nguyễn Như Thể ra
sao hồ sơ còn đó, buộc Đức Cha Thể phải “từ chức vì sự hiệp nhất
trong Giáo Hội” (hiệp nhất hay là hèn nhát?) Nhiều người biết Đức
Cha Phaolô Bùi Chu Tạo chơi Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến, thậm chí
có đơn phụ nữ tố cáo Đức Cha Yến gởi sang Tòa Thánh, và việc Đức
Cha Tạo bàn tính với Đức Hồng Y buộc Đức Cha Yến từ chức. Bà con
giáo dân Vinh ở miền Chuyện
các giám mục chơi nhau kể nghìn lẻ một đêm không dứt, nên nhiều
linh mục chánh, phó cũng đã noi guơng chơi nhau sát ván ra sao, bà con
các xứ đạo đều biết, nhất là các chị em Con Đức Mẹ, không dám nêu
thêm ở đây, kẻo ố danh sự đạo… Giêsu, Maria, lạy Chúa tôi, bọn phá
đạo nói xấu các Đức Cha! Không đâu! Nói thật đấy. Lời Chúa phán sự
thật sẽ giải thoát chúng ta. Các giám mục, linh mục hãy thành thật thương
nhau cho giáo dân được nhờ. Hãy làm gương sống theo lời răn dạy của
Chúa. Không thương yêu nhau thì yêu thương kẻ thù thế quái nào được? Cứ
rao giảng như vậy là láo toét và bịp bợm!”[13]
5.- Biến
con người Việt 6.- Biến
con người Việt Nam với truyền thống “quốc
gia hưng vong, thất phu hữu trách”, “Sống
chết với non sông”, con người “khóc
cười theo mệnh nước”, và “chết
vì tổ quốc chết, cái chết vinh quang,” thành con người “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”; 7.- Biến
con người hiên ngang “Phú qúy bất năng dâm,
bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” trong nền văn hóa cổ
truyền của dân ta thành những hạng người hèn hạ đến nỗi làm cả
những chuyện ghê tởm như phủ phục gục mặt xuống hôn hít bàn chân của Giáo Hoàng[14], phủ phục gục mặt xuống hôn hít giầy
dép của các nhà truyền giáo[15],
và hôn hít nhẫn của các ông giám mục mà không biết đó là những hành
động mất hết liêm sỉ. Người Việt
Trước tháng 8 năm 1945, ở miền Bắc, có một số người làm nghề mũ xung. Nghề này là nghề đi lượm phân người và phân chó ở ngoài đường gom lại trong một cái sọt có quai xách, khi đầy sọt thì đem về chất thành đống, rồi đem bán cho người ta bón cây. Những người trồng thuốc lào ưa thích mua loại phân này để bón cây thuốc lào. Vì cả ngày và hàng ngày ở bên cạnh loại phân này, mùi phân người và phân chó quyện vào quần áo, đầu tóc và thân thể của những người làm cái nghề này. Dù cho mỗi chiều tối, họ đều tắm gội rất kỹ, cái mùi đặc biệt này vẫn còn lưu luyến bám chặt lấy quần áo, thân thể và đầu tóc của họ, rồi toát ra để hiến dâng cho những người chung quanh. Đối với những người làm cái nghề này, họ không cảm thấy cái mùi hôi đặc biệt vừa thối vừa khẳm vô cùng khó chịu này. Nhưng đối với những người khác, nếu đến bên cạnh họ, thì không thể nào khứng nổi cái mùi đặc biệt này toát ra từ nơi đầu tóc và thân thể của họ. Tương tự
như vậy, tín đồ Da-tô và những người thuộc các tôn giáo khác theo học
các trường đạo hay trường dòng không
cảm thấy hay không nhìn ra cái cung cách xưng hô quái đản đến lợm
giọng của tin đồ đối với các ông chức sắc trong đạo Da-tô và cái
hành động phủ phục gục mặt xuống hôn hít bàn chân của Giáo Hoàng,
hôn hít giầy dép của các nhà truyền
giáo và hôn hít chiếc nhẫn của một ông giám mục là hành động mất liêm sỉ. Sở dĩ có tình
trạng như vậy là vì họ đã sống trong cái môi trường này quá lâu và
trở thành quá quen với thuộc với những tục lệ văn hóa ghê tởm như trên.
Vì thế, họ mới cho đó chỉ là những tục lệ và hành động rất bình
thường trong xã hội Da-tô, không có gì lạ cả. Nhưng đối
với đại khối người Việt theo tam giáo cổ truyền, những hành động này
quả thật là mất liêm sỉ và ghê tởm đến tột cùng của ghê tởm.
Chính vì vậy mà những người còn có lương tâm và nghĩa khí nhất định
không bao giờ làm chuyện ghê tởm như vậy, dù cho có bị rơi và tình trạng mất công ăn việc làm. Đây là trường hợp của cụ Vương Hồng
Sển và được chính cụ kể lại như sau: Lần thứ
nhất, tôi gặp mặt quốc lão, là nhơn nhóm họp tại dinh ông tổng trưởng
đặc trách văn hóa Trương Công Cừu để bàn về cách thức thành lập hội
"Bác Cổ Thần Kinh" do Giám Mục chủ xướng, và hôm ấy là ngày
16/2/1963. Khi quốc
lão bước vào phòng, các ông có mặt, đều quỳ hôn chiếc nhẫn, lần lượt
hết người này đến người kia. Đến lượt tôi, tôi quýnh quá, không
làm như vậy được và đánh liều, tôi đứng ngay mình và nắm tay quốc
lão gục gặc, vì chưa quì hôn nhẫn. Tôi
vẫn biết mình làm như vậy có thể bị sa thải, nhưng thà mất chén cơm
còn hơn là mất phẩm giá... Trong khi tôi bắt tay không quì, quốc lão
ngừng lại day mắt ngó tôi chăm chăm. May thời lúc ấy ông Trương Công Cừu
lẹ miệng giới thiệu bằng một câu tiếng Pháp: "Mr. Sển conservateur
du musée". Quốc lão hừ một tiếng rồi tiếp tục đưa tay cho người
khác hôn.” [16]
8.- Biến
con người Việt Nam với hào khí “thông
minh nhất nam tử, yếu vi thiên hạ kỳ”, con người “xuống đông tĩnh, lên đoài đoài tan” thành còn người hèn nhát khiếp đảm
khi phải nói chuyện với các đấng bề trên trong hệ thống quyền lực của
Giáo Hội La Mã thì run sợ và coi là vô lễ phạm thượng như cung cách của ông Da-tô Nguyễn Mậu đã nói ở trên. Những thói
quen văn hóa vong bản, phản quốc, phản dân tộc,
hèn hạ và mất hết liêm sỉ trong đạo Da-tô trên đây cũng
được truyền bá sang những người thuộc các giai cấp quan lại, phú hào
và tiểu tư sản mắc căn bệnh trưởng giả học làm sang trong xã hội Việt Nam ta vào thời bấy giờ.
Những người này dựa vào quyền lực vả ảnh hưởng của liên minh Xâm Lược
Pháp – Vatican và các chính quyền đạo phiệt ở miền Nam Việt Nam trong
những năm 1954-1975 mới có được địa
vị khá giả trong thời bấy giờ. Vì thế mà họ tỏ ra hài lòng với
chính quyền bảo hộ, hài lòng với các chính quyền đạo phiệt Da-tô ở
miền Nam rồi thốt ra lời nịnh bợ đạo Da-tô bằng câu nói “đạo Ki-tô cũng là đạo day người ta làm điều
tốt lành và không được làm những việc độc ác xấu xa” mà không
cần biết những rặng núi tội ác của “cái tôn giáo ác ôn” này trùng
trùng như hàng chục rặng Hy Mã Lạp Sơn khiến
cho Giáo Hoàng John Paul II phải cho tổ
chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng tại Quảng Trường Peter vào
ngày 12/3/2000 để chính Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo
triều Vatican đứng ra cáo thú tội ác với cả Chúa Cha Jehovah và Chúa Con Jesus mà hàng trăm triệu
nhân dân thế giới đều được chứng kiến qua các màn ảnh truyền hình.
Tình trạng
cuồng tín của những tín đồ Da-tô người Việt và tình trạng dốt nát
của những người thốt ra câu nói “đạo
Ki-tô cũng là đạo day người ta làm điều tốt lành và không được làm
những việc độc ác xấu xa” đã
khiến cho các bậc thức giả thường ưu tư vắt óc tìm ra một phương cách
hay một kế sách trồng người để biến cải con người đê tiện, hèn
hạ và ngu dốt đến độ không phân
biệt được thiện – ác, trắng – đen (coi
đạo Ki-tô cũng giống như đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão) thành người con người biết sử dụng
lý trí để “cách vật trí tri”, để bảo toàn cái tính thiện bẩm sinh
(Nhân chi sơ, tính bản thiện) giữ vững lòng ngay thẳng và cái dũng của
kẻ sĩ Đông Phương “ngẩng mặt lên
không thẹn với trời, cúi mặt xuống không hổ với đất, nhìn thẳng
vào mặt mọi người mà không ngượng ngùng, và khi nghĩ lại những việc đã làm mà thấy
lương tâm thanh thản.” Chú thích: [1]
Nguyễn Hiến Lê, Đời Viết Văn Của Tôi
( [2]
Chính Đạo, Việt [3] Joseph Buttinger, [4]
Joseph Buttinger, Ibid., p. 289. [5] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 126-127. [6] Chu Văn Trình, Thái Vân & Trần Quang Anh, Việt Nam Với
Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II - Tập 1 (Mt. [7]
Nguyễn Mậu: "Thời Sự Trong Tuần" Chính
Nghĩa - Bộ Mới Số 251 [ [8] Vi Anh. “ [9] Trịnh Văn Phát. “Cảm Nghĩ Một Chuyến Đi.” |