
Lưỡng
đảng đối lập (-thống nhất-) là một đề xuất chính trị khá độc đáo,
nhưng mang tính khả thi trong bối cảnh chính trị hiện nay ở Việt VỀ CÁC PHƯƠNG ÁN THỰC TIỄN CỦA
NỀN DÂN CHỦ LƯỠNG ĐẢNG ĐỐI LẬP – THỐNG NHẤT Trần Nguyễn Dụng I Ai cũng tin khả năng
nhận thức của con người – đó là
một năng lực tự nhiên được hình thành sau hàng vạn năm tiến hóa, còn
được gọi là lương tri. Với lương tri, con người biết phân biệt đúng
– sai, chân – ngụy, tốt – xấu… Tất nhiên là thế. Tuy vậy, thật
là ngây thơ, nếu không hiểu được thành ngữ “quyền lợi làm tối mắt”.
Và cũng ngây thơ biết bao, nếu chúng ta có dịp khảo cứu lịch sử hoặc
gặp trực tiếp những người nào đó, không thể không lắc đầu chán
ngán, buột miệng ra hai chữ: cuồng tín.
Vì quyền lợi trước
mắt và lâu dài, vì sự mê muội mà khoa học thực nghiệm chưa soi sáng đến
tận cùng, không ít người hầu như bất chấp lương tri – năng lực bẩm
sinh về nhận thức. Và người ta đã cố sức biện minh đến mức phải gọi
là ngụy biện. Từ bình diện phổ
quát, chung nhất đó, chúng ta thử nêu lại vấn đề: Chuyên chính, chuyên
chế, độc tài chính trị hay dân chủ đa nguyên đa đảng là chân lí đích
thực và có giá trị vĩnh hằng? Trong bài đặt vấn
đề và bài trả lời, làm rõ về vấn đề này, tôi đã trình bày những
cơ sở triết học, chính trị học và sử học của vấn đề ấy. Thiết
tưởng cũng cần khẳng định lại các ý tưởng chủ đạo và cụ thể
mà tôi may mắn được công bố trên một vài diễn đàn có nhiều độc giả
nhất. Khẳng định, không phủ nhận, không tự bác bỏ về mặt lí luận
và cơ sở lí luận, tôi lại muốn trình bày vấn đề một cách cụ thể
hơn, ở bình diện thực tiễn với những bước đi thích hợp. Không phân vân gì nữa,
lưỡng đảng đối lập trong tính thống nhất là một cơ chế chính trị
tối ưu, có thể làm cốt lõi cho bất kì nền dân chủ nào (dân chủ tư sản
hay dân chủ xã hội chủ nghĩa, với các dạng thức từ “quá độ”,
chuyển tiếp, pha trộn đến đúng nghĩa, đích thực của mỗi loại). Đành rằng có những
nhà chính trị thuộc loại “khôn khéo” thường phát biểu hay công bố
những bài viết, cuốn sách khiến người đọc phải cực lòng mà xếp
vào loại mị dân, bóp méo sự thật, nhưng cũng có những vị lãnh đạo
trong một tình huống nhất định, họ phải nói thật, viết thẳng. Hai chữ “cởi
trói” của Nguyễn Văn Linh, cố tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt
Nam, trong một diễn văn được long trọng đọc tại cuộc gặp gỡ trí thức
tại Tp. HCM., vào năm 1987, và bài phát biểu của một trí thức tham gia
cách mạng đã trải qua các chức vụ quan trọng, từ đỉnh cao là phó chủ
tịch nước, chủ tịch Quốc hội đến một đỉnh thấp hơn là chủ tịch
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – luật sư Nguyễn Hữu Thọ – hồi năm
1988 (1), đã xác nhận sự thể mất dân chủ nghiêm trọng ở nước ta. Tuy
vậy, đến nay, tình trạng đáng buồn vẫn chưa có gì thay đổi về thực
chất: Cơ chế chuyên chế độc đảng vẫn không có gì đổi khác (2). Tôi
nhấn mạnh hai chữ cơ chế. Không còn nghi ngờ
gì nữa, muốn thực sự đổi mới để nâng cao, mở rộng tự do, dân chủ
cho mọi tầng lớp nhân dân, và qua đó, chứng tỏ cho thế giới hôm nay,
cho lịch sử nghìn đời sau về tầm văn hiến chính trị của dân tộc Việt
Nam, không còn cách nào khác là phải tiến hành sự đổi mới cơ chế.
Nhưng muốn đổi mới cơ chế độc đảng chính trị sang lưỡng đảng đối
lập – thống nhất, trước hết phải nghiên cứu lí luận và thực tiễn
ở các nước đã và đang hiện hữu cơ chế ấy. Nói theo cụm từ thường
dùng trong vài thập niên qua, đó là “đổi mới tư duy”, và cả cụm từ vốn có từ ngàn xưa: “thực sự
cầu thị” (thực mục sở thị). Sau đó, phải vận dụng sáng tạo vào
tình hình nước ta theo những bước đi cụ thể, thích hợp. Từ nghìn xưa đến
nay, dân tộc ta chưa thật sự có một nền dân chủ đúng nghĩa. Trước
1885, nước ta là một nước quân chủ phong kiến kiểu trung ương tập quyền.
Từ 1885 đến 1945, cả dân tộc phải sống dưới chế độ thực dân nửa
phong kiến. Từ 1945 đến 1954, về cơ bản vẫn là đan xen hai hình thái:
hình thái dân chủ tập trung xã hội chủ nghĩa kiểu Nga – Xô-viết và
hình thái thực dân, phong kiến, tả đạo câu kết. Từ 1954 đến 1975, Miền
Bắc nước ta xây dựng một thể chế chính trị mà ở Liên Xô có nhiều
trí thức vẫn gọi là “chủ nghĩa xã hội trại lính”; đồng thời ở
Miền Nam, dưới chế độ Mỹ – ngụy – tả đạo, từ một thể chế độc
tài Thiên Chúa giáo trị, gia đình trị (đệ nhất cộng hòa), sau nhiều cuộc
đảo chính, “thay ngựa”, lại chuyển tiếp sang thể chế dân chủ tư sản
mà chóp bu và cốt cán vẫn là ngụy tả Thiên Chúa giáo (đệ nhị cộng hòa).
Miền Bắc chưa hề biết đến thứ dân chủ đa nguyên đa đảng bao giờ.
Miền Nam có trải qua, nhưng thực chất thể chế đa nguyên đa đảng tại
Miền Nam là do Mỹ – Mỹ vừa ban phát, vừa áp đặt một nền dân chủ,
tự do tư sản kiểu Mỹ với các dạng suy đồi vốn xa lạ về văn hóa
cho Miền Nam. Thêm vào đó, Mỹ lại ủng hộ suốt gần 21 năm một lực
lượng mà bản chất của nó là phản quốc, phản quốc từ 1858 đến thuở
bấy giờ (1954 – 1975). Do đó, nền dân chủ tự do tư sản ở Miền Nam,
nhìn chung, cũng chỉ là một sản phẩm dở người dở ngợm, mặc dù phải
công bằng mà nhận định là nhân dân Miền Nam, trong những năm, Như vậy, trong thực
tế lịch sử, nước ta chưa từng trải qua nền dân chủ đa nguyên đa đảng
lành mạnh, đích thực. Do đó, tư duy của hầu hết các tầng lớp, từ
lãnh đạo, trí thức cho đến công nông, đều là phong kiến pha trộn với
tính chất “xã hội chủ nghĩa trại lính” (Miền Bắc) hoặc
ngán ngẫm dân chủ đa nguyên đa đảng kiểu “dân chửi” (Miền
Nam). Lớp người mới
trưởng thành hoặc mới sinh ra sau 1975, trên cả hai Miền ( Từ đó, việc nêu
lên phương châm “đổi mới tư duy” từ 1985 ở nước ta là hoàn toàn
có cơ sở lịch sử – xã hội. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, đó chỉ
là đổi mới về kinh tế và phần nào trên lĩnh vực, Một nguyên nhân
khác là do sự lo sợ mất địa vị quan chức, nói chung là đặc quyền đặc
lợi về chính trị hiện có ở tầng lớp cán bộ thân Nga, thân Trung Quốc,
ở các gia đình Miền Bắc có người tham gia nghĩa vụ quân sự chống Mỹ.
Nhìn chung về mặt
đồng đại và nhìn xuyên suốt về mặt lịch đại, phải đau buồn thấy
rằng, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, dân tộc Việt Nam ta chưa thật sự
trải nghiệm, thụ hưởng tự do dân chủ đúng nghĩa, do đó lực ì
bảo thủ còn nặng. Tuy nhiên, nền tự
do, dân chủ chân chính vẫn là nguyện vọng, yêu cầu bức thiết. Bất chấp
mọi cách biện minh cho nền chuyên chính độc đảng, cơ chế đa nguyên lưỡng
đảng vẫn có giá trị vượt trội về mặt lí luận (đã bàn luận ở
bài viết khác) và cả trong thực tiễn. II Bài viết này, ở phần
thứ hai, sẽ đề xuất những phác họa về các dạng thức có tính thực
tiễn cho cơ chế lưỡng đảng đối lập – thống nhất. Chúng ta có thể
hình dung những viễn cảnh như sau: 1. Chấp nhận và
đưa vào hiến pháp, luật pháp sự hiện diện của các cá nhân tự nguyện
đối lập chính kiến với Đảng CSVN. và Nhà nước CHXHCN. VN.. Hiến pháp,
luật pháp quy định rõ những điều khoản cụ thể, trong đó có việc
nhìn nhận tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước
của những nhân vật đối lập, bất đồng chính kiến ấy, và cả trách
nhiệm bảo vệ họ; con em họ không bị phân biệt đối xử theo “chủ
nghĩa lí lịch”. 2. Chấp nhận có sự
tồn tại với những họat động chính trị, xã hội ôn hòa, không trang bị
vũ khí, với tính hợp pháp, hợp hiến của một chính đảng đối lập,
phi vô sản. Chính đảng này có quyền mở văn phòng tại các địa phương
từ cấp huyện trở lên; có quyền tổ chức một số tòa soạn, phát hành
một số báo chí (in giấy và điện tử). Điều này sẽ tránh được một
hạn chế của đảng cộng sản là không thể cho phép đảng viên làm kinh
tế tư nhân tư bản chủ nghĩa, không thể kết nạp những người tư sản
hoặc những người không thích hợp với hệ ý thức, cương lĩnh của đảng
cộng sản (như tín đồ Phật giáo chẳng hạn). Tất nhiên, chính đảng
phi vô sản này không được tranh giành quyền lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, mặc dù các đảng viên của chính đảng đối lập đó có
quyền ứng cử vào những chức vụ dân cử (Quốc hội, hội đồng nhân
dân các cấp) với sự giới hạn tỉ lệ nhất định (3). Tất nhiên, chủ
nghĩa lí lịch tam đại, tam tộc cũng không nên đặt ra ở trường hợp này
đối với con cháu những đảng viên chính đảng đối lập phi cộng sản. 3. Chấp nhận sự tồn
tại song hành của lưỡng đảng và chỉ lưỡng đảng mà thôi (không nên
có đảng thứ ba). Đó là Đảng Cộng sản Việt Nam và một chính đảng dân
tộc chủ nghĩa rộng mở do Phật giáo Việt Nam và đại bộ phận dân lương
(thờ kính tổ tiên, anh hùng dân tộc) hậu thuẫn, ủng hộ (xem đó là
chính đảng của mình). Cơ chế lưỡng đảng được thực thi với tính hợp
pháp, hợp hiến của nó. Đây là một dạng thức tinh giản cơ chế đa đảng
của tuyệt đại đa số các nước trên thế giới, kể cả các nước thuộc
Liên Xô cũ và Đông Âu cũ. Tất nhiên vấn đề đấu tranh bằng bạo lực
(vũ khí) không được đặt ra trong trong quan hệ đối lập – thống nhất
của lưỡng đảng. Cũng cần khẳng định nhắc lại là ở nước ta, đa
đảng chỉ có nghĩa là lưỡng đảng và chỉ lưỡng đảng mà thôi, để
tránh sự lộn xộn, xáo trộn vô ích (một cường quốc như Hoa Kỳ cũng hầu
như chỉ tồn tại lưỡng đảng và cả hai đảng Cộng hòa, Dân chủ đều
là tư sản cực hữu). Trong ba phương án,
phương án 3 là khó thực hiện nhất. Trước hết, từ 1954 đến 1975, trên
toàn Miền Bắc, và từ 1975 đến nay (2006), trên toàn lãnh thổ nước ta,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức một hệ thống Đảng lồng vào hệ
thống Nhà nước và thậm chí lồng Đảng vào hệ thống các đoàn thể
xã hội khác thành một hệ thống chuyên chế tuyệt đối, gọi là toàn trị,
cực quyền. Đây là mô thức xã hội nếu không kể chế độ phát xít,
thì chưa từng có trong lịch sử loài người. Mà đã như thế thì không thể
có lưỡng đảng song hành (cụ thể là một cơ quan không thể có hai chi bộ
hoặc hai đảng bộ của hai chính đảng song hành đối lập – thống nhất).
Phải chăng, khi đã thực hiện cơ chế lưỡng đảng, phải đồng thời
ban bố một điều khoản thuộc về hiến pháp, pháp luật là không có sự
hoạt động đảng phái trong các cơ quan hành pháp (gồm cả an ninh, quân đội),
tư pháp, lập pháp. Các hoạt động của hai chính đảng là thuộc về lĩnh
vực bên ngoài 3 hệ thống hành pháp, tư pháp và lập pháp ấy. Một điều
khó khăn khác nữa, là Đảng Cộng sản Việt Các phương án trên,
theo tiên liệu của người viết, sẽ gây sự khó hiểu đối với những
người chưa có ý niệm hay chưa từng trải nghiệm thực tiễn trong cơ chế
đa nguyên đa đảng (vì họ đã quen với nếp nghĩ vốn hằn sâu trong thâm
thức về nền chuyên chính toàn trị của hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây, tại Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cu Ba hiện
thời); hoặc cũng sẽ gây kích ứng với những người Việt sống ở hải
ngoại (Việt kiều vốn quen sống trong thực tiễn đa nguyên đa đảng của
hàng trăm nước trên thế giới hiện nay). III Người viết bài
này hoàn toàn đồng ý với các bài viết của các tác giả Trần Xuân An,
Nguyễn (Sài Gòn) và các tác giả khác (các ông Nguyễn Quang A, Trần Mạnh
Hảo, Lê Quốc Quân, Nguyễn Tiến Trung…) cùng rất nhiều các độc giả
khác đã đăng bài hoặc tham gia thảo luận trên BBCVietnamese.com
hoặc trên giaodiem.com, trong tháng 3-2006 vừa qua, về mặt lí luận.
Bài viết này chỉ là một số đề xuất về phương diện thực tiễn với
sự lưu ý về tính khả thi cũng như sự khó khăn sẽ gặp phải trong tiến
trình thực hiện của các phương án. Dẫu sao, tôi vẫn rất
yêu thích một danh ngôn của Voltaire: “Mặc dù khác quan điểm của bạn,
nhưng tôi vẫn đấu tranh đến chết để bạn được phát biểu ý kiến của
chính bạn”. Khổ nỗi, cũng như Trần Xuân An, Nguyễn (Sài Gòn), tôi
chỉ yêu thích chứ chưa đủ dũng cảm để học tập, sống, chiến đấu
theo danh ngôn ấy (chứ không phải theo Voltaire, tác giả danh ngôn). Tôi chỉ
là một người cầm bút với ước vọng duy nhất là lập ngôn và chỉ duy
nhất lập ngôn bằng các trước tác của mình. Xin được ngưỡng mộ
các nhà bất đồng chính kiến quyết dấn thân trên con đường lập công
(chính trị) và các vị chân tu lập đức nhưng luôn hậu thuẫn cho chính
nghĩa tự do, dân chủ đích thực trong công cuộc đổi mới của dân tộc.
(1) BBCVietnamese.com: trích
đoạn bài phát biểu của luật sư Nguyễn Hữu Thọ đọc tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam TP. HCM năm 1988, do Võ Linh Hà ghi, trong cuốn “Luật sư Nguyễn
Hữu Thọ gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với cách mạng” - NXB
Chính Trị Quốc Gia – 1996: “Dân chủ không thể
có bằng sự ban ơn”: (2) Hai chính đảng Dân
chủ và Xã hội bị giải thể vào năm 1988, ngay dưới thời Nguyễn Văn
Linh đang giữ chức tổng bí thư Đảng CSVN.. Hẳn ông Nguyễn Văn Linh và Bộ
Chính trị thời bấy giờ chỉ chấp nhận nới lỏng cho tự do dân chủ
trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến văn hóa, nhưng cũng lường
trước “nguy cơ” là hai đảng Dân chủ và Xã hội, vốn là hai chính đảng
của giới tư sản và trí thức, sẽ “chớp lấy thời cơ” Đổi mới để
giành quyền lãnh đạo, nên cả hai chính đảng “tầm gửi” ấy cũng tuyên
bố “hết nhiệm vụ lịch sử”! (3) Đúng nguyên tắc
lí luận: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân làm chủ với sự
phân biệt rạch ròi (quyền lực phân lập: Đảng không làm thay Nhà nước
và Quốc hội).
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com