
PHÚC LÂM
SÁM HỐI (Nhân Đọc Vài
Bài Trên phapthoai.net) Phúc
Lâm Trong bài "Góp thêm vài ý kiến cùng Tỳ
kheo Đồng Trí về bài giảng Bát Kỉnh Pháp", Phúc Lâm có viết: “Phúc
Lâm xin phép được kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí tại
đây.”, Phúc Lâm xin giữ lời, và tiện đây cũng xin kết thúc thảo
luận về Bát Kỉnh Pháp. Phúc Lâm đã
đọc bài “Kết thúc những tản mạn với Phúc Lâm" của Tỳ
Kheo Thích Đồng Trí và không có ý kiến gì thêm. Phúc Lâm chỉ hối hận
là đã chót viết bài "Góp thêm vài ý kiến cùng Tỳ kheo Đồng Trí
về bài giảng Bát Kỉnh Pháp" khiến cho Tỳ Kheo Đồng Trí phải
lên tiếng kết thúc những tản mạn với Phúc Lâm, “chỉ điểm” cho Phúc
Lâm biết là Phúc Lâm “chưa phải là cư sĩ” cho nên đã có những “phản ứng ngắc ngoải trỗi
dậy của một người bội thực”, “không tiêu hóa được
những lời chỉ điểm” phát xuất từ kinh nghiệm tu chứng của
một bậc Thầy như Thầy Đồng Trí, chỉ “quanh quẩn hoài với mấy
kiểu: “góp ý” hay “ dạy đời”, “ thương hại cho các Thầy lầm lạc”” v..v... Đọc những lời “chỉ điểm”
và ngoài chỉ điểm rất cao quý và hữu ích trên, Phúc Lâm xin cúi đầu tâm
lãnh và khẩu phục. Phúc Lâm cúi xin
Thầy Đồng Trí mở lòng đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả, xá tội
cho Phúc Lâm. Phúc Lâm không dám nhận
mình là cư sĩ nữa, chỉ làm một Ưu Bà Tắc thấp kém nhất trong Bốn
Chúng. Nhưng có vài “Phật tử” trên
phapthoai.net lên tiếng phê bình Phúc Lâm, lẽ dĩ nhiên theo tầm nhìn và
trình độ hiểu biết của họ, nên buộc lòng Phúc Lâm phải viết bài
này để làm sáng tỏ lập trường tôn giáo của Phúc Lâm. Thật ra chuyện viết qua viết lại chẳng
đáng gì nhưng có lẽ cũng không phải là vô ích. Một “người học
Phật” có tên là “Im
Lặng Sấm Sét” [có vẻ tự cho mình là Bồ Tát Duy Ma Cật tân thời trên
phapthoai.net] cho rằng dùng những từ "đối thoại",
"góp ý", "phê bình" với Tỳ Kheo Đồng Trí là “cung cách ngạo mạn, sái
phép, vô lễ và thất kính rồi.”, có nghĩa là các tín đồ Phật tử
chỉ có quyền nghe, không có quyền góp ý kiến hay “đối thoại”, và nhất
là không được “phê bình” các Sứ Giả Như Lai. Theo “Bát Kỉnh Pháp” thì các Tỳ Kheo Ni
còn không được quyền phê bình các Tỳ Kheo, huống chi là một Phật tử
thấp kém như Phúc Lâm. Vậy Phúc
Lâm xin sám hối vì đã chót dại, dám ngạo mạn, sái phép và vô lễ với
“bề trên”, như vậy là chưa đủ tư cách là một Phật tử. Từ nay về sau, Phúc Lâm xin chừa, xin tu tỉnh
lại để làm Phật tử chính hiệu, nghĩa là chỉ có quyền đảnh lễ và
tiêu hóa những lời chỉ điểm của bề trên, và nên lấy băng kéo dán bịt
miệng mình lại, để khỏi phạm tội ngạo mạn, sái phép, vô lễ và thất
kính.. Như vậy, đương nhiên Phúc Lâm đành phải bỏ đi Kinh Nền Tảng Đức Tin của Đức Phật
mà nội dung như sau (Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hằng Ngày, Đạo Phật Ngày Nay,
Phật Lịch 2546, trang 98-99):
...Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ
giảng giải về 10 nền tảng của đức tin chân chánh: - Một
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết. - Hai
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống. - Ba
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người
nhắc đến hay tuyên truyền. - Bốn
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong
kinh điển hay sách vở. - Năm
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu
hình. -
Sáu là, chớ vội tin một điều gì,
chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình. - Bảy
là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên
những dữ kiện hời hợt. -
Tám là, chớ vội tin một điều gì,
chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình. - Chín
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và
quyền uy ủng hộ. - Mười
là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền
giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết. Này
các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư
và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận
thấy: "Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói
sáng và được người trí tán thán, nếu sống và thực hiện lời dạy
này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về
dài" thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực
hành theo. Bỏ đi Kinh Nền Tảng
Đức Tin, Phúc Lâm hi vọng sẽ trở thành người có đủ tư cách là Phật
tử hơn, nghĩa là, theo ý của “Im Lặng Sấm Sét” trên phapthoai.net: truyền
thuyết thì phải tin, truyền thống thì phải theo, những gì ghi lại trong
kinh điển hay sách vở thì phải tin, phải tin những lý luận siêu hình thần
thông quảng đại, phải tin những dữ kiện hời hợt, phải tin những gì
các “Sứ Giả Như Lai” tuyên thuyết, kể cả “sứ giả” Chơn Quang , sứ
giả Như Tấn, sứ giả v..v... và v..v.. Mọi quán sát, suy tư và thể nghiệm không
còn cần thiết. Thế thì, chắc là
Phúc Lâm không có duyên với đạo Phật rồi. Phúc Lâm cũng xin nhận
những lời phê bình của ‘người học Phật’ “Im Lặng Sấm Sét” về
Phúc Lâm như “tràn
trề chướng ngại của người tôn sùng thần tượng về khoa học mà chẳng
biết khoa học là gì”
và “Anh ta là
một người ngoại Đạo, đọc chữ nghĩa văn chương không trôi,
không chạy, chưa có lòng tin và hiểu biết căn bản phật pháp”, không chịu “lắng nghe lời khuyên dạy
và chân tình của Thầy Thích Đồng Trí gửi gắm cho mình” và nhất là,
“là
một ma vương núp bóng chánh pháp Phật Đà.” [còn thiếu một cái nón “tay sai cộng
sản” nữa, Phúc Lâm xin thêm cho nó đầy đủ], loại ái ngữ rất quen
thuộc trên phapthoai.net trong vụ “thảo luận” lúc đầu về Bát Kỉnh
Pháp.. Phúc Lâm xin miễn bàn tiếp về
những lời khuyên dạy và chân tình của Thầy Thích Đồng Trí gửi gắm
cho Phúc Lâm. Phúc Lâm xin cám ơn
những điều nhận xét trên trong bài của “người học Phật” dưới chủ đề “Tư cách, đạo đức
của người cư sĩ” trên trang nhà phapthoai.net, với những lời lẽ
rất có tư cách và đạo đức của người học Phật như trên. Chỉ có một điều, “người học Phật”
không hề chứng minh và không thể chứng minh những điều mình viết về
Phúc Lâm. Tất cả chỉ là những “affirmation
gratuite”, những khẳng định vô trách nhiệm, vô căn cứ về cá nhân, thường
được dùng trong chiến thuật “cả vú lấp miệng em” để hạ thấp đối
phương. Phúc Lâm cũng có thể nghe lời
“người học Phật” là “nên sám hối và tìm đến
học hỏi với Thầy Thích Đồng Trí để dần dần tiếp nhận được Trí
Tuệ và Từ Bi của Phật giáo”, nếu có duyên, nhưng xin thú thực
Phúc Lâm vốn là con người rất vô duyên. Trí
tuệ và từ bi của Phật Giáo thì Phúc Lâm đã xin tâm lãnh khẩu phục như
đã viết ở trên. Sau đây, Phúc Lâm muốn
“đối thoại” với Phật tử Từ Thuận, có tên Mỹ là Starsmall (Tinh Tú
Nhỏ hay Sao Nhỏ), qua hai bài viết của Từ Thuận: “Kẻ Không Có
Tóc Nói Người Trọc Đầu” và
“Tinh thần và tư cách học hỏi,
trao đổi Giáo Pháp của người Phật tử”. Thực ra, đọc hai bài này, Phúc Lâm
tôi bật cười và tự nghĩ không biết có nên đối thoại với ông này
hay không, nhưng đã đâm lao thì phải theo lao, đã dính vào chuyện thị phi
rồi thì dính thêm một chút cũng chẳng sao.
Phúc Lâm nghĩ rằng có thể đối thoại, góp ý kiến, phê bình
một Phật tử khác mà không sợ mang tội ngạo mạn, vô lễ, sái phép, có
phải như vậy không? Trong bài “Tinh thần và tư cách học hỏi, trao
đổi Giáo Pháp của người Phật tử” Phật tử Từ Thuận
cho rằng, trong bài viết của Phúc Lâm, Phúc Lâm không được viết Tỳ
Kheo Thích Đồng Trí là Tỳ Kheo, mà phải viết là Thầy. Nhưng Phúc Lâm thấy chẳng có gì là sai
trái khi gọi một Tỳ Kheo là Tỳ Kheo trong một bài viết, ở ngôi thứ ba,
và từ Tỳ Kheo của Phúc Lâm hình như còn nghiêm chỉnh hơn những từ “Kẻ
không có tóc” và “Người trọc đầu” để gọi các Tỳ Kheo của Từ
Thuận. Có vẻ như Từ Thuận
chưa hiểu rõ thế nào là đối thoại. Đối
thoại là trao đổi ý kiến, quan niệm, thảo luận về một số chủ đề
nào đó, thường là giữa hai người. Căn
bản của đối thoại là bình đẳng về phương diện kiến thức, lý luận.
Tỳ Kheo Thích Đồng Trí viết bài ký tên “Tỳ Kheo Đồng Trí” và Phúc
Lâm góp ý kiến với “Tỳ Kheo Đồng
Trí” trong tinh thần đối thoại là ngạo mạn, sái phép hay sao? Nếu Phúc Lâm, trong cuộc đối thoại trên
các chủ đề, mà gọi Tỳ Kheo Đồng Trí là Thầy thì chuyện đối thoại, góp ý kiến hay phê
bình với “Thầy” mới chính là ngạo mạn và sái phép. Từ Thuận có hiểu
được như vậy không? Từ Thuận có lẽ
không ý thức được điểm tế nhị này. Để
Từ Thuận có thể thấy rõ vấn đề hơn, Phúc Lâm xin cho một thí dụ. Vào năm 1994, Giáo
Hoàng John Paul II của Công Giáo cho xuất bản cuốn “Crossing The Threshold of
Hope”, được môt số tín đồ Công Giáo Việt Nam dịch ra tiếng Việt là
“Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng”. Phản
ứng trước cuốn này, một số người tạm gọi là thuộc giới trí thức
Việt Phê bình Phúc Lâm như
trên, không được gọi Tỳ Kheo Thích Đồng Trí là Tỳ Kheo, mà phải gọi
là Thầy, Từ Thuận làm ra vẻ ta đây rất kính trọng quý Thầy, nhưng chúng
ta hãy đọc vài đoạn trong bài “Kẻ Không Có Tóc Nói Người Trọc Đầu”
để thấy Từ Thuận đã kính trọng và coi “quý Thầy” như thế nào: - “Quí Vị (Kẻ Không
Có Tóc hay Người Trọc Đầu) khi nói lên những suy nghĩ của Quí Vị,
Quí Vị có đưa tay lên sờ đầu mình để nhớ mình là ai ? và mình
đang nói gì không ? Quí Vị đã tranh luận với nhau bằng cái tinh thần Bi
TRí Dũng của một người con Phật chưa ? Bi ? Trí ? Dũng ?” [Phật
tử Từ Thuận đang lên lớp giảng dạy cho quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc,
Người Trọc Đầu) về Bi, Trí, Dũng của Phật Giáo đấy. Từ Thuận đâu có gọi các Thầy là “quý
Thầy” mà chung chung là “quý vị”]. -
Vì sao cùng chung một giàn
mà không dùng những lời ái ngữ để nói cho nhau nghe, sao lại dùng những
xảo ngữ để đã phá khích bát thoá mạ nhau ? với cảm nghĩ của người
thế gian ? há không phải Quí Vị đang làm cái việc " Kẻ trọc đầu
đang sỉ nhục người không tóc ? [Phật tử Từ Thuận đang giảng
Pháp cho quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) trách quý Thầy
không biết dùng ái ngữ mà lại dùng xảo ngữ để thóa mạ nhau đấy.] - Bởi vì Quí Vị là sứ giả
của Như Lai ! Quí Vị phải có nhiệm vụ và trách nhiệm truyền đạt lại
một cách đúng đắng nhất ! chính xác nhất những gì của Đấng Từ phụ
đã dạy cho Quí Vị. [Phật
tử Từ Thuận lên án Quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) là
không làm tròn nhiệm vụ và vô trách nhiệm.
Quý Thầy phải theo học Phật tử Từ Thuận để biết
những gì là đúng đắn nhất, chính xác nhất, của Đức Từ Phụ dạy.] -
Quí Vị phải tin tưởng
tuyệt đối vào những giáo pháp và giới luật của Người, bởi vì trên
người Quí Vị đang mang một Cái Đầu Tròn và Chiếc Áo Vuông ! [Phật tử Từ Thuận dạy quý Thầy
(Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) không được chao đảo, mà phải
tin tưởng tuyệt đối vào những giáo Pháp và giới luật [trong đó có
Bát Kỉnh Pháp] của Người.] - Quí Vị không có cái quyền
được bác bỏ, thay đổi những gì người đã để lại cho chúng ta, càng
không có cái quyền nhận định đúng sai phù hợp hay không phù hợp ? [Phật tử Từ Thuận ra luật cho quý
Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) phải vứt bỏ Kinh Nền
Tảng Đức Tin và nhắm mắt mà tin.] Đọc vài đoạn trích dẫn điển hình
ở trên, chúng ta có thể thấy ngay Phật tử Từ Thuận là một Phật tử
cấp bậc cao như thế nào, trình độ tu học ra sao, và nhất là có chút
nào ngạo mạn, vô lễ, sái phép hay không? Bất
kể ai nghĩ sao thì nghĩ, chứ Phúc Lâm cho là bài “Kẻ Không Có Tóc
Nói Người Trọc Đầu” không thể đọc được và quả là một chuyện
lạ khi nó được xuất hiện trên trang nhà phapthoai.net. Nhưng cũng dễ hiểu thôi, nội dung bài đó
là của một “Phật tử” lên lớp dạy đời các sứ giả Như Lai, chất
vấn về kiến thức, công năng tu tập của Thầy Nhật Từ và rồi đả kích
Thầy v.. v.., nên trang nhà phapthoai.net là chỗ thích hợp nhất để xuất
hiện những bài như vậy. Tôi muốn
đoán mò một điều: Có thể Từ Thuận cũng là một “Thầy” rất nặng
ký trong phapthoai.net, nếu không tại sao một bài như vậy lại có thể
đưa lên trang nhà phapthoai.net. Bởi vậy
cũng chẳng có ai lên tiếng phê bình vì sợ mang tội ngạo mạn, vô lễ,
và sái phép với “Phật tử” Từ Thuận. Nhưng
Phúc Lâm là một Phật tử ngoại đạo, theo nghĩa ngoại phapthoai.net, nên
Phúc Lâm không có lý do gì phải sợ khi đối thoại với Phật tử Từ Thuận. Phật tử Từ Thuận nhiều lần nhắc
đến ba từ Bi, Trí, Dũng trong bài viết của mình, nhưng Phúc Lâm có cảm
tưởng là ông ta chẳng hiểu thế nào là Bi, Trí, Dũng. Lý do dễ hiểu là ông ta thiếu chữ “Trí”
ở trong đầu. Điều này Phúc Lâm có
thể chứng minh dễ dàng trong phần tiếp sau đây, phần nhận xét về bài “Tinh thần và tư cách học hỏi, trao
đổi Giáo Pháp của người Phật tử” của Phật tử Từ
Thuận. Đã viết bài “Kẻ
không có tóc nói người chọc đầu” với vài đoạn điển hình mà
Phúc Lâm vừa trích dẫn ở trên mà Từ Thuận vẫn đủ can đảm để viết
lên câu “Tinh
thần và tư cách học hỏi, trao đổi Giáo Pháp của người Phật tử”
thì kể cũng lạ thật. Với bài này,
Phúc Lâm sẽ không phê bình (Phúc Lâm dùng từ “phê bình” được chứ,
hay là cũng không được phép?) dài dòng, chỉ chua vài nhận xét ngắn sau mỗi
đoạn trích dẫn. - Quý Thầy có thể tự gọi
mình là : Tỳ Kheo nhưng Phật tử không ai dùng từ Tỳ Kheo + Pháp danh để
xưng hô với quý Thầy cả. Phúc Lâm dùng cách xưng hô Tỳ Kheo Đồng Trí,
xin hỏi Phúc Lâm cách xưng hô như vậy là để dành cho người Phật Tử gọi
một Trưởng Tử cuả Như Lai hay sao ?
[Vậy thì từ
nay Phúc Lâm xin gọi quý Thầy bằng “Kẻ không có tóc” hay “Người trọc
đầu”. Nghe có vẻ thanh nhã hơn là từ
Tỳ Kheo, có phải không?] - Phúc Lâm có biết Quí Thầy
là ai không ?
là Người đại diện cho Đức Thế Tôn mang giáo pháp đến với chúng
sanh ! Dù thế nào đi chăng nưã chúng ta những người học Phật cũng nên
tôn kính họ [Nếu Phúc
Lâm đã tu được như một Thiền Sư khi xưa thì Phúc Lâm sẽ quát lên vài
tiếng: “Biết để làm gì?” Nhưng
Phúc Lâm vốn vẫn còn là một Phật tử thấp kém, đọc chữ nghĩa văn
chương không trôi, không chạy, nên Phúc Lâm xin thưa là Phúc Lâm mới học
được vài từ của Phật tử Từ Thuận gọi quý Thầy: “Kẻ không có tóc” hay “Người trọc
đầu”. Phúc Lâm cũng nhớ là đã đọc được của “Thầy” Như Tấn, Người đại diện cho Đức Thế Tôn
mang giáo pháp đến Thầy Nhật Từ với những đoạn văn như sau: “là ma quân đầu thai vào
Phật pháp để phá hoại, … vào đạo, chắc là để tìm lợi dưỡng, bằng
hình thức tu sĩ, … nhận nhiệm vụ của Đảng Cộng sản, của ma quân,
đưa ra những sách lược nhằm tiêu huỷ Phật pháp . . . là hạng nhất xiển
đề đối với Tam bảo” [nguyên văn của thầy Như Tấn trong
phapthoai.net]. Phúc Lâm cũng nhớ đã đọc
chuyện có 6 vị Tỳ Kheo vén quần lên để khêu gợi Tỳ Kheo Ni, và Đức
Phật đã dạy các Tỳ Kheo Ni không cần phải tôn kính những Tỳ Kheo như
vậy. Lý thuyết và thực tế có thể khác nhau một trời một vực. Không phải Thầy nào cũng là Thầy. Đồng nhất hóa những điều không thể đồng
nhất được là chuyện không người nào có trí làm.] - Đọc suốt bài văn của Phúc
Lâm tôi có cảm giác đang nghe những lời nói cuả một bậc trưởng thượng
nói chuyện với Thầy Đồng Trí chứ không phải là một Phật Tử. [Xin Phật tử Từ Thuận hãy nêu
ra những đoạn nào trong bài của Phúc Lâm chứng tỏ lời của Phúc Lâm
là lời nói của một bậc trưởng thượng nói chuyện với Thầy Đồng
Trí? Phúc Lâm chỉ luận trên các chủ đề, và khi đưa ra một điều nào
đều có phần lập luận tiếp theo để chứng minh. Nếu ai không đồng ý thì cứ việc dùng
lý luận để phản bác những luận cứ của Phúc Lâm. Đó là tinh thần đối thoại. Nhưng đọc bài “Kẻ Không Có Tóc
Nói Người Trọc Đầu” của Phật tử Từ Thuận, qua vài đoạn điển
hình nêu ở trên, thì Phúc Lâm lại thấy rõ là Phật tử Từ Thuận đã
lên tiếng trách mắng quý Thầy nhiều điều lắm. Từ Thuận hãy đọc kỹ lại bài của
mình đi, một Phật tử có thể lên lớp “quý Thầy” như vậy được không? Phúc Lâm chưa hề thốt ra một lời nào
vô lễ như Từ Thuận viết. Nếu có,
hãy nêu ra để chứng minh đi] - "Phúc Lâm cho rằng mình
bày tỏ ý kiến như vậy cũng đủ rồi, không cần thiết phải dấn thân
thêm vào vòng thị phi làm chi cho mất thì giờ. “ Phần trích dẫn như trên biểu lộ cách
lối nói chuyện tự cao xem thường người đối thoại và công chúng,
không có trách nhiệm trước lời nói cuả mình cuả Phúc Lâm, vì Phúc Lâm
nói xong thì tuyên bố không nói chuyện với Thầy Đồng Trí nưã, chẳng
phải là vô trách nhiệm thì là gì? Phúc Lâm cho rằng những gì mình nghĩ
mình nhìn là đúng hoàn toàn sao ? Công chúng đọc muốn nghĩ sao thì nghĩ,
còn người đối thoại của mình thì không xứng đáng để mình tiếp chuyện
nưã hay sao ? Thân phận Phúc Lâm cao quí cỡ nào ? [Phúc Lâm xin nhắc lại đoạn của
Phúc Lâm cho đầy đủ: “Trong một cuộc đối thoại trí thức, khi đã
đi ra ngoài những tiêu chuẩn của đối thoại, thì đối thoại trở nên
vô ích. Cho nên, Phúc Lâm xin phép được
kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí tại đây. Phúc Lâm cho rằng mình bày tỏ ý kiến như
vậy cũng đủ rồi, không cần thiết phải dấn thân thêm vào vòng thị
phi làm chi cho mất thì giờ.” Tiêu
chuẩn của một cuộc đối thoại trí thức là không bao giờ viết ra
ngoài chủ đề, đoán mò về cá nhân người mình đối thoại, và tuyệt
đối không được nói đến cha mẹ anh em họ hàng hay thầy giáo của người
ta. Vì Tỳ Kheo Đồng Trí đã phạm phải
lỗi lầm nghiêm trọng là lôi thầy giáo lớp 5, lớp 6 của Phúc Lâm vào
vòng tranh luận, bất kể là về sau đã biện giải hay ngụy biện ngoài ngữ
cảnh (out of context) như thế nào, đối với Phúc Lâm là không thể chấp
nhận, nên Phúc Lâm cảm thấy tiếp tục cuộc đối thoại là vô ích, và
Phúc Lâm xin đơn phương rút lui, xin phép
được kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí. Phúc Lâm không muốn tiếp tục tranh luận
với Tỳ kheo Đồng Trí, chỉ có vậy thôi.] - Thầy Đồng Trí đã làm
gì khiến Phúc Lâm phải phê bình ? Thầy đã Phỉ báng Phật Pháp ? hay Phá
Hoại ? hay phạm giới luật ? hay đánh mất tư cách cuả một người tu
sĩ, Chưa có mà [Phúc Lâm không biết gì về đời
tư của Tỳ Kheo Đồng Trí, mà dù có biết cũng không bao giờ nêu ra trong
một bài đối thoại trên các chủ đề. Phúc
Lâm góp ý kiến vì trong lãnh vực học thuật, Phúc Lâm có nhiều điểm không
đồng ý với Tỳ Kheo Đồng Trí. Còn
Phúc Lâm phê bình là vì Tỳ Kheo Đồng Trí không có quyền lôi thầy giáo
dạy lớp 5, lớp 6 của Phúc Lâm vào vòng tranh luận. Đối với Phúc Lâm, đây là điều không
thể chấp nhận trong một cuộc đối thoại trí thức, bất kể người đối
thoại là ai, Tỳ Kheo Đồng Trí không ra ngoại lệ.] - Phúc Lâm dám phán những
câu thật tự tin rằng : “Thật vậy, Đức Phật đơn giản chỉ là Bậc
Tỉnh Thức", "Vấn đề không
phải là “Phật Pháp đúng là Phật Pháp” không còn giá trị hay cần phải
thay đổi trong thời đại ngày nay mà chỉ là chúng ta cần phải tháo gỡ
những lớp sơn phết nằm trong kinh điển Phật Giáo để cho Chánh Pháp hiển
lộ như là Chánh Pháp” Phúc Lâm viết: “Đức
Phật đơn giản chỉ là Bậc Tỉnh Thức" thì đâu có gì là sai? Sau đây Phúc Lâm xin trích dẫn một
đoạn trong cuốn Đường Xưa Mây Trắng của Thiền Sư Nhất Hạnh,
tuy Phúc Lâm biết có một số người trong phapthoai.net thường phát dị ứng
với tên Nhất Hạnh: Siddhatta cười: -
Được chứ, các con có thể gọi đạo
của ta là đạo tỉnh thức. Ta cũng
ưa cách gọi ấy của các con lắm. Sujata chắp tay xin
phép nói: -
Còn Thầy là người tỉnh thức, đã
biết sống tỉnh thức và sẽ đi dạy đạo tỉnh thức cho mọi người. Vậy chúng con có thể gọi Thầy là Người
Tỉnh Thức được không? Siddhatta gật đầu: -
Các con đặt tên cho ta như vậy ta bằng
lòng lắm. Cứ gọi ta là Người Tỉnh
Thức. Cách gọi ấy đơn sơ và
thân mật. Mắt của Sujata
sáng lên. Cô bé nói: - Tỉnh Thức nói
theo tiếng Magadhi là budh. Người Tỉnh
Thức nói theo tiếng Magadhi là Buddha. Vậy
từ nay chúng con gọi Thầy là Bụt. Vậy Buddha = Phật = Bậc Tỉnh Thức,
đơn giản là vậy đó. Có vẻ như Từ
Thuận không hiểu rằng “Tỉnh Thức” đã bao gồm mọi khía cạnh giác
ngộ của Đức Phật nên Từ Thuận cho rằng như thế chưa đủ. Phúc Lâm xin đặt một câu hỏi đơn giản
với Từ Thuận: - những gì Đức Phật đã nói ra hay những gì Ngài đã
biểu hiện – chưa đủ để cho chúng ta tu tập để đạt tới Giác Ngộ
hay sao? Hay là chúng ta còn phải tin
vào một con đường Đức Phật hóa ra trong hư không và đi thiền hành
trên đó, hay là tin vào thần thông của Đức Phật hàng ngày lên cung trời
Đao Lợi thuyết Pháp cho Mẹ rồi lại trở về trái đất để tóm tắt
bài giảng trong ngày cho Xá Lợi Phất v..v… và v..v.. thì mới có thể đạt
tới giác ngộ. Thần thông, Tam Minh và
Lục Thông của Đức Phật giúp gì cho Phật tử như Từ Thuận, hay cho bất
cứ Phật tử nào, trong bước đường tu tập Phật Pháp?. Do Thiền định, Đức Phật có thể đạt
được Tam Minh, Lục Thông, nhưng những thần thông như lên cung trời Đao Lợi
thuyết Pháp, hay hóa ra một con đường trên hư không, hoặc những chuyện
như Tượng Phật biết đi, biết nghe thì Phúc Lâm cho rằng khó có thể tin
được. Phúc Lâm không hề ngăn cản bất cứ ai muốn tin vào những chuyện
như vậy. Phúc Lâm cho rằng, tin những
chuyện như vậy chưa chắc đã là Phật tử, và không tin chưa chắc đã không phải là Phật tử. Có lẽ đã nhận ra những chuyện thần
thông không giúp ích gì cho việc tu tập trong Phật Giáo, nên trong cuốn Đường
Xưa Mấy Trắng, Thiền Sư Nhất Hạnh đã viết: “Tác giả đã cố
ý không nhắc tới những phép thần thông mà kinh sách thường hay xử dụng
để tô điểm cho cuộc đời của Bụt, những phép thần thông
mà chính Bụt đã khuyên môn đệ không nên để thì giờ và tâm lực vào
chuyện luyện tập và xử dụng.” - Tại sao Phúc Lâm lại có
thể dùng quan điểm cuả cá nhân mình để khẳng định là không nên tin
hoàn toàn vào kinh điển và cần loại bỏ những điều không phù hợp
trong thời đại ngày nay. Phải gạn lọc thế nào để có thể phù hợp
khi nói chuyện với trí thức Phương Tây ? [Có nhiều lý do để
Phúc Lâm đưa ra quan điểm như trên. Trong
bài “Góp Thêm Ý Kiến…” Phúc
Lâm có trích dẫn một tài liệu của Tỳ Kheo Abhinyana. Abhinyana là một vị
Tỳ kheo người Anh, sinh ra trong một gia đình Ki-tô Giáo nhưng rồi trở thành
một Tỳ Kheo Phật Giáo, thuộc truyền thống Nam Tông Phật Giáo. Ngài đã đi hoằng pháp hơn 35 năm qua ở
hơn 40 quốc gia, trong đó có các trại tỵ nạn Việt Nam vùng Đông Nam Á
sau năm 1975. Hiện Tỳ Kheo đang sống tại
Úc. Tỳ Kheo Abhinyana có viết trong cuốn
“Because I Care”, trang 93, như sau về Kinh điển Phật Giáo: “Qua hơn 2500 năm từ khi Đức Phật tịch
diệt, con người có thừa đủ thời gian và cơ hội để sửa đổi Kinh
Điển Phật Giáo, và chúng ta quả thật là ngây thơ nếu cho rằng những gì
mà chúng ta thấy trong Kinh sách ngày nay đúng là những lời Đức Phật nói. Chúng ta có dám cho rằng Kinh sách Phật
Giáo không có điều gì sai lầm hay không, trong khi ngày nay, một số học
giả nghiên cứu về Kinh Thánh Ki-Tô Giáo đã nói rằng trong đó có trên
170000 điều sai lầm.” (There has been plenty of time and opportunity, over the
2500 years and more since Gotama Buddha passed away, to tamper with the scriptures, and we
would be quite naïve as to suppose that what we find in the books today is exactly what
the Buddha said! Dare we suppose that the
Buddhist Scriptures are error-free when it is said now, by some scholars of the Christian
Bible, that there are over 170000 errors in that book?).
Tỳ kheo cũng còn viết, trang 92 : “Lớn lên như một Cơ-Đốc
nhân, về sau tôi đã khước từ, không chấp nhận Ki-tô Giáo, với những
huyền thoại kỳ lạ của nó, nhưng tôi chưa từng, và sẽ không bao giờ
chấp nhận những huyền thoại trong Phật Giáo để thay thế cho những huyền
thoại của Ki-tô Giáo” (Brought up as a Christian, I later rejected
Christianity, with its fanciful myths, but I did not, and will not, accept Buddhist myths
as a substitute). Trong cuốn sách tiếng
Việt: “Về Với Thực Tại: Cẩm Nang Cho Người Hoài Nghi”, một tác
phẩm chỉ để biếu chứ không bán, gồm nhiều bài viết ngắn rất có
giá trị, phản ánh quan điểm trên, Tỳ Kheo Abhinyana có viết trong bài “Chánh
Yếu Và Không Chánh Yếu” như
sau: “Tất cả các tôn giáo đều có yếu
tố phép lạ, và đạo Phật không tránh khỏi điều ấy. Có nhiều chuyện kể về cuộc đời Đức
Phật thật không thể tin được, chẳng hạn như Thái Tử tất-Đạt-Đa, lúc
vừa sinh ra – theo truyền thuyết -- Ngài
đưa một tay chỉ trời và tay kia chỉ đất và nói: “Thiên thượng Thiên
hạ, duy Ngã độc tôn. Đây là kiếp
cuối cùng của Ta, Ta sẽ vượt qua Bể Sinh Tử”. Người ta còn cho rằng Ngài bước bảy bước,
và mỗi bước chân, một bông sen nở ra. Có nhiều người tin rằng những chuyện
như vậy thực sự xảy ra, nhưng hình như khó có chuyện ấy. Nhiều phần những điều như vậy được
thêm thắt sau này, bởi những kẻ có nhiều lòng tin hơn trí tuệ, để tán
dương Đức Phật – để “tô son đánh bóng”. Theo như câu nói gán cho Thái Tử lúc mới
sanh: “Duy Ngã độc tôn” (Có Ta là hơn hết), làm như có vẻ ích kỷ đối
với một người mà sau này công bố một đời sống khiêm tốn, đơn giản
và quên cái tôi – ngay cả việc cho rằng cậu bé đã có thể đi và nói
sau khi sanh ra chỉ vài phút. [Thật ra, có nhiều cách giải thích
về truyền thuyết trên và về từ “Ngã”
trong câu nói này nhưng ra ngoài ý chính của Tỳ Kheo Abhinyana trong bài này
nên không thích hợp đưa ra ở đây. PL.] Tuy
nhiên, trong Phật Giáo, những chuyện như thế không được xem là trọng,
và Phật Giáo cũng chẳng vì thế mà đứng vững hay đổ nhào; Phật
Giáo được đặt trên các nền tảng vững chắc hơn là những truyền thuyết
và phép lạ mà ngày nay không thể nào kiểm chứng được. Chúng ta phải hiểu rằng Đạo Phật
có hai phần: phần của quá khứ với nhiều chuyện không thể thử bằng
kinh nghiệm cá nhân, và vài điều mà tính chất xác thật đáng ngờ vực,
giống câu chuyện trên; và một phần của hiện tại, đó là Pháp mà người
ta có thể thực chứng cho chính mình, và đạt được kết quả từ đấy,
cũng như Đức Phật đã nói chúng ta nên: “Thử Giáo Pháp của ta như người
thợ kim hoàn thử vàng vậy.” Các
Giáo Pháp này không đòi hỏi niềm tin, nhưng “chỉ để cho người khôn
ngoan hiền triết tự hiểu một mình mà thôi.” Vì vậy, con đường
tìm hiểu Phật Pháp của người học Phật ngày nay là phải tìm ra tính nhất
quán trong những lời Phật dạy. Gạn
lọc ra những gì không phù hợp với Chánh Pháp chính là kiếm ra các nền
tảng vững chắc của Phật Giáo hơn là những truyền thuyết và thần
thông, phép lạ mà ngày nay không thể nào kiểm chứng được, khoan nói là
có phù hợp với những sự kiện của khoa học hay không.] - Phúc Lâm lại còn lấy những
luận chứng cuả khoa học để chứng minh kinh điển ghi chép không đúng
không đáng tin cậy, thuộc về tín ngưỡng.
Nếu tôi cũng dùng luận chứng khoa học để chứng minh ngược
lại vấn đề mà Phúc Lâm nói là không đúng thì sao? [Viết như trên là Từ
Thuận cố ý xuyên tạc và chụp mũ Phúc Lâm.
Phúc Lâm chưa từng dùng “luận chứng của khoa học để chứng
minh kinh điển ghi chép không đúng, không đáng tin cậy, thuộc về tín ngưỡng”. Kinh điển Phật Giáo gồm ba Tạng Kinh, Luật,
Luận, nhưng không phải tất cả những điều mà ngày nay chúng ta đọc
trong đó đều là những lời Đức Phật dạy.
Trong Kinh điển Phật Giáo có những điều thêm thắt về sau
và truy nguyên ra không phải là do chính Đức Phật nói. Đây là vấn đề rất rõ ràng đối với
những người đã nghiên cứu về Kinh điển Phật Giáo. Những kết quả của khoa học không phải
là những luận chứng khoa học, mà là những sự kiện khoa học. Không phân biệt được giữa luận chứng
và sự kiện thì không nên nói gì về khoa học.
Tôi có cảm tưởng là Từ Thuận không phải là người thuộc
lãnh vực khoa học. Thật vậy, chúng
ta hãy đọc tiếp vài điều Từ Thuận viết về khoa học] - Phúc Lâm nên nhớ một điều
tất cả những thành tựu khoa học trên thế giới này cũng chỉ là phương
tiện phục vụ cuộc sống của loài người. [Không hẳn vậy, phục vụ cuộc sống
của con người chỉ là một phần của những áp dụng khoa học và thường
có hai mặt. Thật vậy, những vũ khí
giết người hàng loạt như bom nguyên tử, vũ khí sinh hóa v..v.. phục vụ
cuộc sống của loài người như thế nào. Con
người dùng những kiến thức khoa học để phục vụ hay hủy diệt con
người và môi sinh là do con người, không phải là lỗi của khoa học.
Phúc Lâm hiểu rõ mục đích của khoa học và tôn giáo khác nhau. Khoa học chính yếu là tìm hiểu và giải
thích sự vật ở trong vũ trụ là như thế nào, nghĩa là giúp cho sự phát
triển toàn bộ kiến thức của con người về thế giới vật chất. Và những kết quả của khoa học không có
tính cách tuyệt đối. Khoa học vẫn
còn ở trong quá trình tiến hóa, và sẵn sàng bỏ đi hay thay thế, hoàn chỉnh
hơn những điều không còn đúng. Trái
lại, trong Phật Giáo có những chân lý ngàn đời không thay đổi, thí dụ
như thuyết vô thường, vô ngã v..v.. Phật
Giáo là con đường tu tập tâm linh để cho con người tiến tới những cảnh
giới cao hơn, và cứu cánh chung cùng là giác ngộ. Như vậy, khoa học và Phật Giáo hành hoạt
trên hai bình diện khác nhau, có thể hỗ trợ cho nhau phần nào nhưng không
thể thay thế nhau. Vì vậy, những người toan tính dùng khoa học để “chứng
minh” hoặc phủ bác kinh điển Phật Giáo là những người chưa hiểu rõ
khoa học cũng như Phật Giáo, dù rằng phương pháp quán sát, suy nghiệm và
chứng nghiệm trong khoa học và trong Phật
Giáo có nhiều điểm giống nhau. Phúc
Lâm không phải là một người như vậy. Tuy
nhiên, trong khoa học có những định luật phổ quát trong thế giới vật
chất mà Phật Giáo, hay bất cứ tôn giáo nào, không thể vi phạm. Thí dụ, định luật về vạn vật hấp dẫn
do - Biết bao nhiêu người phải
chấp nhận lý giải là con người được sanh ra ở vườn điạ đàng từ
Adam và Eva bởi vì khoa học cũng không có cách chứng minh được một cách
xác thật con người từ đâu mà có. Tôi chỉ đưa ra một dẫn chứng hết
sức bình thường như thế để cho Phúc Lâm thấy câu nói cuả Phúc Lâm thật
sự bị tà kiến về kinh điển Phật Giáo khi cho rằng cái gì khoa học
không chứng minh được hoặc con người không thể cảm nhận bằng sáu
giác quan thì không thể tin và không có thật. [Điều mà biết bao nhiêu người chấp
nhận không có nghĩa là điều đó đúng. Ngày
nay, trừ những tín đồ Ki-tô kém hiểu biết, chuyện Adam và Eva chỉ là một
huyền thoại của người Do Thái khi xưa. Rất
có thể là khoa học chưa chứng minh được những chi tiết về sự hình
thành của con người, nhưng khoa học đã dứt khoát bác bỏ huyền thoại về
Adam và Eva. Theo Kinh Thánh của Ki-tô
Giáo thì Adam được tạo ra từ đất sét, và Eva được tạo ra từ một cái
xương sườn của Adam, cách đây trong khoảng từ 6 đến 10 ngàn năm. Khoa vũ trụ học ngày nay đã biết tuổi của vũ trụ là khoảng 15 tỷ năm, và Thái Dương
Hệ đã hình thành từ 5 tỷ năm, và trái đất có tuổi khoảng 4 tỷ rưỡi
năm. Thuyết Tiến Hóa của Darwin và những
khoa học gia sau Darwin đã chứng tỏ là con người hình thành là do sự tiến
hóa từ các sinh thể ban khai mà ra. Cũng
vì vậy mà Giáo hoàng John Paul II cũng phải thừa nhận rằng con người có
thể không phải do Thượng đế sáng tạo ra nhất thời mà là do một quá
trình tiến hóa lâu dài. Vậy dẫn chứng
của Từ Thuận đưa ra bắt nguồn từ sự kém hiểu biết về thực chất
Ki-tô Giáo cũng như về khoa học chứ chẳng có liên quan gì đến cái mà Từ
Thuận cho là tà kiến về Kinh điển Phật Giáo của Phúc Lâm. Phúc Lâm chưa bao giờ khẳng định là cái
gì khoa học không chứng minh được hoặc con người không thể cảm nhận
bằng sáu giác quan thì không thể tin và không có thật. Phúc Lâm chỉ cho rằng, với kiến thức của
con người ngày nay về vũ trụ, nhân sinh, và khoa học, có những điều khó
có thể tin được vì không có cách nào giải thích được cho hợp lý.] - Cũng xin nói thêm với
Phúc Lâm là Phật Giáo ra đời không phải chỉ để dành riêng nói chuyện
với trí thức Phương Tây đâu nhé ! Phật Giáo là dành cho tất cả chúng
sanh trong đó bao gồm cả súc vật và côn trùng, không chỉ có con người.
Phúc Lâm cho rằng nói chuyện về thần thông nói chuyện với trí thức phương
Tây và trí thức trẻ Việt là họ không tin. Phúc Lâm luôn luôn khẳng định
vấn đề trong cái nhìn cuả cá nhân, sao có thể khẳng định rằng trí thức
trẻ Việt không tin ? [Phật Giáo không dành riêng cho giới
trí thức phương Tây, nhưng không thể loại
những trí thức phương Tây ra ngoài.
Phúc Lâm thường đi lễ Chùa trong những ngày lễ chính, và đã
nói chuyện nhiều với giới trẻ Việt - Cũng nên nhớ rằng trong tất
cả các môn khoa học cơ sở đầu tiên để con người khám phá điều dựa
trên những truyền thuyết và giả thuyết, từ những truyền thuyết đó
mà con người tìm tòi và khám phá để hình thành những học thuyết của
khoa học vì không có lửa làm sao có khói. [Khoa học không bao
giờ dựa trên những truyền thuyết. Khoa
học dựa vào sự quan sát, suy nghiệm, thí nghiệm rồi từ đó mới đặt
ra giả thuyết. Bước sau cùng là chứng
minh giả thuyết đó là đúng, và giả thuyết đó đã trở thành một sự
kiện khoa học. Thuyết vạn vật hấp
dẫn là một thí dụ. - Phúc Lâm nghĩ thảo
luận sơ sơ vài điều như trên với Phật tử Từ Thuận cũng đủ vui rồi. Phúc Lâm bận lắm nên xin chấm dứt tại
đây và coi như là kết thúc cuộc đối thoại.
Phúc Lâm không muốn làm phiền trang nhà Giao Điểm thêm nữa.
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com