giaodiem copyright
posted: 08.3.2006

     PHÚC LÂM   SÁM HỐI

(Nhân Đọc Vài Bài Trên phapthoai.net)

Phúc Lâm

Trong bài "Góp thêm vài ý kiến cùng Tỳ kheo Đồng Trí về bài giảng Bát Kỉnh Pháp", Phúc Lâm có viết: “Phúc Lâm xin phép được kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí tại đây.”, Phúc Lâm xin giữ lời, và tiện đây cũng xin kết thúc thảo luận về Bát Kỉnh Pháp.  Phúc Lâm đã đọc bài “Kết thúc những tản mạn với Phúc Lâm" của Tỳ Kheo Thích Đồng Trí và không có ý kiến gì thêm. Phúc Lâm chỉ hối hận là đã chót viết bài "Góp thêm vài ý kiến cùng Tỳ kheo Đồng Trí về bài giảng Bát Kỉnh Pháp" khiến cho Tỳ Kheo Đồng Trí phải lên tiếng kết thúc những tản mạn với Phúc Lâm, “chỉ điểm” cho Phúc Lâm biết là Phúc Lâm “chưa phải là cư sĩ” cho nên đã có những “phản ứng ngắc ngoải trỗi dậy của một người bội thực”, “không tiêu hóa được những lời chỉ điểm” phát xuất từ kinh nghiệm tu chứng của một bậc Thầy như Thầy Đồng Trí, chỉ “quanh quẩn hoài với mấy kiểu: “góp ý” hay “ dạy đời”, “ thương hại cho các Thầy lầm lạc” v..v... Đọc những lời “chỉ điểm” và ngoài chỉ điểm rất cao quý và hữu ích trên, Phúc Lâm xin cúi đầu tâm lãnh và khẩu phục.  Phúc Lâm cúi xin Thầy Đồng Trí mở lòng đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả, xá tội cho Phúc Lâm.  Phúc Lâm không dám nhận mình là cư sĩ nữa, chỉ làm một Ưu Bà Tắc thấp kém nhất trong Bốn Chúng.

Nhưng có vài “Phật tử” trên phapthoai.net lên tiếng phê bình Phúc Lâm, lẽ dĩ nhiên theo tầm nhìn và trình độ hiểu biết của họ, nên buộc lòng Phúc Lâm phải viết bài này để làm sáng tỏ lập trường tôn giáo của Phúc Lâm.  Thật ra chuyện viết qua viết lại chẳng đáng gì nhưng có lẽ cũng không phải là vô ích.

Một “người học Phật” có tên là “Im Lặng Sấm Sét” [có vẻ tự cho mình là Bồ Tát Duy Ma Cật tân thời trên phapthoai.net] cho rằng dùng những từ "đối thoại", "góp ý", "phê bình" với Tỳ Kheo Đồng Trí là cung cách ngạo mạn, sái phép, vô lễ và thất kính rồi.”, có nghĩa là các tín đồ Phật tử chỉ có quyền nghe, không có quyền góp ý kiến hay “đối thoại”, và nhất là không được “phê bình” các Sứ Giả Như Lai.  Theo “Bát Kỉnh Pháp” thì các Tỳ Kheo Ni còn không được quyền phê bình các Tỳ Kheo, huống chi là một Phật tử thấp kém như Phúc Lâm.   Vậy Phúc Lâm xin sám hối vì đã chót dại, dám ngạo mạn, sái phép và vô lễ với “bề trên”, như vậy là chưa đủ tư cách là một Phật tử.  Từ nay về sau, Phúc Lâm xin chừa, xin tu tỉnh lại để làm Phật tử chính hiệu, nghĩa là chỉ có quyền đảnh lễ và tiêu hóa những lời chỉ điểm của bề trên, và nên lấy băng kéo dán bịt miệng mình lại, để khỏi phạm tội ngạo mạn, sái phép, vô lễ và thất kính..  Như vậy,  đương nhiên Phúc Lâm đành phải bỏ đi  Kinh Nền Tảng Đức Tin của Đức Phật mà nội dung như sau (Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hằng Ngày, Đạo Phật Ngày Nay, Phật Lịch 2546, trang 98-99):

   ...Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về 10 nền tảng của đức tin chân chánh:

-    Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

-     Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

-     Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

-     Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.

-     Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.

-     Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.

-     Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

-     Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

-    Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

-     Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

   Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: "Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán, nếu sống và thực hiện lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài" thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.

Bỏ đi Kinh Nền Tảng Đức Tin, Phúc Lâm hi vọng sẽ trở thành người có đủ tư cách là Phật tử hơn, nghĩa là, theo ý của “Im Lặng Sấm Sét” trên phapthoai.net: truyền thuyết thì phải tin, truyền thống thì phải theo, những gì ghi lại trong kinh điển hay sách vở thì phải tin, phải tin những lý luận siêu hình thần thông quảng đại, phải tin những dữ kiện hời hợt, phải tin những gì các “Sứ Giả Như Lai” tuyên thuyết, kể cả “sứ giả” Chơn Quang , sứ giả Như Tấn, sứ giả v..v... và  v..v..  Mọi quán sát, suy tư và thể nghiệm không còn cần thiết.  Thế thì, chắc là Phúc Lâm không có duyên với đạo Phật rồi.

Phúc Lâm cũng xin nhận những lời phê bình của ‘người học Phật’ “Im Lặng Sấm Sét” về Phúc Lâm như “tràn trề chướng ngại của người tôn sùng thần tượng về khoa học mà chẳng biết khoa học là g씓Anh ta là một người ngoại Đạo, đọc chữ nghĩa văn chương không trôi, không chạy, chưa có lòng tin và hiểu biết căn bản phật pháp”, không chịu “lắng nghe lời khuyên dạy và chân tình của Thầy Thích Đồng Trí gửi gắm cho mình” và nhất là,   “là một ma vương núp bóng chánh pháp Phật Đà.” [còn thiếu một cái nón “tay sai cộng sản” nữa, Phúc Lâm xin thêm cho nó đầy đủ], loại ái ngữ rất quen thuộc trên phapthoai.net trong vụ “thảo luận” lúc đầu về Bát Kỉnh Pháp..  Phúc Lâm xin miễn bàn tiếp về những lời khuyên dạy và chân tình của Thầy Thích Đồng Trí gửi gắm cho Phúc Lâm.

Phúc Lâm xin cám ơn những điều nhận xét trên trong bài của “người học Phật”  dưới chủ đề “Tư cách, đạo đức của người cư sĩ” trên trang nhà phapthoai.net, với những lời lẽ rất có tư cách và đạo đức của người học Phật như trên.  Chỉ có một điều, “người học Phật” không hề chứng minh và không thể chứng minh những điều mình viết về Phúc Lâm.  Tất cả chỉ là những “affirmation gratuite”, những khẳng định vô trách nhiệm, vô căn cứ về cá nhân, thường được dùng trong chiến thuật “cả vú lấp miệng em” để hạ thấp đối phương.  Phúc Lâm cũng có thể nghe lời “người học Phật” là “nên sám hối và tìm đến học hỏi với Thầy Thích Đồng Trí để dần dần tiếp nhận được Trí Tuệ và Từ Bi của Phật giáo”, nếu có duyên, nhưng xin thú thực Phúc Lâm vốn là con người rất vô duyên.  Trí tuệ và từ bi của Phật Giáo thì Phúc Lâm đã xin tâm lãnh khẩu phục như đã viết ở trên. 

Sau đây, Phúc Lâm muốn “đối thoại” với Phật tử Từ Thuận, có tên Mỹ là Starsmall (Tinh Tú Nhỏ hay Sao Nhỏ), qua hai bài viết của Từ Thuận: “Kẻ Không Có Tóc Nói Người Trọc Đầu”  Tinh thần và tư cách học hỏi, trao đổi Giáo Pháp của người Phật tử”.  Thực ra, đọc hai bài này, Phúc Lâm tôi bật cười và tự nghĩ không biết có nên đối thoại với ông này hay không, nhưng đã đâm lao thì phải theo lao, đã dính vào chuyện thị phi rồi thì dính thêm một chút cũng chẳng sao.   Phúc Lâm nghĩ rằng có thể đối thoại, góp ý kiến, phê bình một Phật tử khác mà không sợ mang tội ngạo mạn, vô lễ, sái phép, có phải như vậy không? 

Trong bài Tinh thần và tư cách học hỏi, trao đổi Giáo Pháp của người Phật tửPhật tử Từ Thuận cho rằng, trong bài viết của Phúc Lâm, Phúc Lâm không được viết Tỳ Kheo Thích Đồng Trí là Tỳ Kheo, mà phải viết là Thầy.  Nhưng Phúc Lâm thấy chẳng có gì là sai trái khi gọi một Tỳ Kheo là Tỳ Kheo trong một bài viết, ở ngôi thứ ba, và từ Tỳ Kheo của Phúc Lâm hình như còn nghiêm chỉnh hơn những từ “Kẻ không có tóc” và “Người trọc đầu” để gọi các Tỳ Kheo của Từ Thuận.    Có vẻ như Từ Thuận chưa hiểu rõ thế nào là đối thoại.  Đối thoại là trao đổi ý kiến, quan niệm, thảo luận về một số chủ đề nào đó, thường là giữa hai người.  Căn bản của đối thoại là bình đẳng về phương diện kiến thức, lý luận. Tỳ Kheo Thích Đồng Trí viết bài ký tên “Tỳ Kheo Đồng Trí” và Phúc Lâm  góp ý kiến với “Tỳ Kheo Đồng Trí” trong tinh thần đối thoại là ngạo mạn, sái phép hay sao?  Nếu Phúc Lâm, trong cuộc đối thoại trên các chủ đề, mà gọi Tỳ Kheo Đồng Trí là Thầy thì  chuyện đối thoại, góp ý kiến hay phê bình với “Thầy” mới chính là ngạo mạn và sái phép. Từ Thuận có hiểu được như vậy không?  Từ Thuận có lẽ không ý thức được điểm tế nhị này.  Để Từ Thuận có thể thấy rõ vấn đề hơn, Phúc Lâm xin cho một thí dụ. 

Vào năm 1994, Giáo Hoàng John Paul II của Công Giáo cho xuất bản cuốn “Crossing The Threshold of Hope”, được môt số tín đồ Công Giáo Việt Nam dịch ra tiếng Việt là “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng”.  Phản ứng trước cuốn này, một số người tạm gọi là thuộc giới trí thức Việt Nam, đã cho xuất bản cuốn “Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao-Lồ II”.  “Đối thoại với Giáo Hoàng?”, với đại diện của Chúa Giê-su trên trần?, nghe như là một cú sốc đối với các con chiên.  Nhưng trong cuốn “Đối Thoại…”, một tác giả là Lý Khôi Việt đã khẳng định là ông ta đối thoại với tác giả của một cuốn sách trong đó có những sai lầm viết về Phật Giáo.  Đây là tinh thần thảo luận, đối thoại trong giới trí thức. . Và đây là một vấn đề rất bình thường trong giới trí thức, không có biệt lệ.   Tác giả một cuốn sách, một bài viết, bất kể là ai, ở địa vị nào, phải nghĩ rằng mình đang đặt trước sự phán xét và phê bình của giới độc giả về tác phẩm của mình. Xin đừng ngộ nhận là “trí thức” chỉ dành cho Tây phương.  Phúc Lâm chưa bao giờ viết cụm từ “trí thức Tây phương”.  Phúc Lâm thường nói đến cụm từ “đối thoại trí thức” nghĩa là đối thoại trong tinh thần của giới trí thức, của giới hiểu biết, trong đó có những tiêu chuẩn về đối thoại, và dĩ nhiên điều này không là đặc quyền của Tây phương.

Phê bình Phúc Lâm như trên, không được gọi Tỳ Kheo Thích Đồng Trí là Tỳ Kheo, mà phải gọi là Thầy, Từ Thuận làm ra vẻ ta đây rất kính trọng quý Thầy, nhưng chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài “Kẻ Không Có Tóc Nói Người Trọc Đầu” để thấy Từ Thuận đã kính trọng và coi “quý Thầy” như thế nào: 

-     Quí Vị (Kẻ Không Có Tóc hay Người Trọc Đầu) khi nói lên những suy nghĩ của Quí Vị, Quí Vị có đưa tay lên sờ đầu mình để nhớ mình là ai ? và mình đang nói gì không ? Quí Vị đã tranh luận với nhau bằng cái tinh thần Bi TRí Dũng của một người con Phật chưa ? Bi ? Trí ? Dũng ?”  [Phật tử Từ Thuận đang lên lớp giảng dạy cho quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) về Bi, Trí, Dũng của Phật Giáo đấy.  Từ Thuận đâu có gọi các Thầy là “quý Thầy” mà chung chung là “quý vị”].

-      Vì sao cùng chung một giàn mà không dùng những lời ái ngữ để nói cho nhau nghe, sao lại dùng những xảo ngữ để đã phá khích bát thoá mạ nhau ? với cảm nghĩ của người thế gian ? há không phải Quí Vị đang làm cái việc " Kẻ trọc đầu đang sỉ nhục người không tóc ? [Phật tử Từ Thuận đang giảng Pháp cho quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) trách quý Thầy không biết dùng ái ngữ mà lại dùng xảo ngữ để thóa mạ nhau đấy.]

-     Bởi vì Quí Vị là sứ giả của Như Lai ! Quí Vị phải có nhiệm vụ và trách nhiệm truyền đạt lại một cách đúng đắng nhất ! chính xác nhất những gì của Đấng Từ phụ đã dạy cho Quí Vị.  [Phật tử Từ Thuận lên án Quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) là không làm tròn nhiệm vụ và vô trách nhiệm.   Quý Thầy phải theo học Phật tử Từ Thuận để biết những gì là đúng đắn nhất, chính xác nhất, của Đức Từ Phụ dạy.]

-      Quí Vị phải tin tưởng tuyệt đối vào những giáo pháp và giới luật của Người, bởi vì trên người Quí Vị đang mang một Cái Đầu Tròn và Chiếc Áo Vuông !  [Phật tử Từ Thuận dạy quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) không được chao đảo, mà phải tin tưởng tuyệt đối vào những giáo Pháp và giới luật [trong đó có Bát Kỉnh Pháp] của Người.]

-     Quí Vị không có cái quyền được bác bỏ, thay đổi những gì người đã để lại cho chúng ta, càng không có cái quyền nhận định đúng sai phù hợp hay không phù hợp ?  [Phật tử Từ Thuận ra luật cho quý Thầy (Kẻ Không Có Tóc, Người Trọc Đầu) phải vứt bỏ Kinh Nền Tảng Đức Tin và nhắm mắt mà tin.]

Đọc vài đoạn trích dẫn điển hình ở trên, chúng ta có thể thấy ngay Phật tử Từ Thuận là một Phật tử cấp bậc cao như thế nào, trình độ tu học ra sao, và nhất là có chút nào ngạo mạn, vô lễ, sái phép hay không?  Bất kể ai nghĩ sao thì nghĩ, chứ Phúc Lâm cho là bài “Kẻ Không Có Tóc Nói Người Trọc Đầu” không thể đọc được và quả là một chuyện lạ khi nó được xuất hiện trên trang nhà phapthoai.net.  Nhưng cũng dễ hiểu thôi, nội dung bài đó là của một “Phật tử” lên lớp dạy đời các sứ giả Như Lai, chất vấn về kiến thức, công năng tu tập của Thầy Nhật Từ và rồi đả kích Thầy v.. v.., nên trang nhà phapthoai.net là chỗ thích hợp nhất để xuất hiện những bài như vậy.  Tôi muốn đoán mò một điều: Có thể Từ Thuận cũng là một “Thầy” rất nặng ký trong phapthoai.net, nếu không tại sao một bài như vậy lại có thể đưa lên trang nhà phapthoai.net.  Bởi vậy cũng chẳng có ai lên tiếng phê bình vì sợ mang tội ngạo mạn, vô lễ, và sái phép với “Phật tử” Từ Thuận.  Nhưng Phúc Lâm là một Phật tử ngoại đạo, theo nghĩa ngoại phapthoai.net, nên Phúc Lâm không có lý do gì phải sợ khi đối thoại với Phật tử Từ Thuận.   Phật tử Từ Thuận nhiều lần nhắc đến ba từ Bi, Trí, Dũng trong bài viết của mình, nhưng Phúc Lâm có cảm tưởng là ông ta chẳng hiểu thế nào là Bi, Trí, Dũng.  Lý do dễ hiểu là ông ta thiếu chữ “Trí” ở trong đầu.  Điều này Phúc Lâm có thể chứng minh dễ dàng trong phần tiếp sau đây, phần nhận xét về bài Tinh thần và tư cách học hỏi, trao đổi Giáo Pháp của người Phật tửcủa Phật tử Từ Thuận.

Đã viết bài “Kẻ không có tóc nói người chọc đầu” với vài đoạn điển hình mà Phúc Lâm vừa trích dẫn ở trên mà Từ Thuận vẫn đủ can đảm để viết lên câu Tinh thần và tư cách học hỏi, trao đổi Giáo Pháp của người Phật tử thì kể cũng lạ thật.  Với bài này, Phúc Lâm sẽ không phê bình (Phúc Lâm dùng từ “phê bình” được chứ, hay là cũng không được phép?) dài dòng, chỉ chua vài nhận xét ngắn sau mỗi đoạn trích dẫn.

-  Quý Thầy có thể tự gọi mình là : Tỳ Kheo nhưng Phật tử không ai dùng từ Tỳ Kheo + Pháp danh để xưng hô với quý Thầy cả. Phúc Lâm dùng cách xưng hô Tỳ Kheo Đồng Trí, xin hỏi Phúc Lâm cách xưng hô như vậy là để dành cho người Phật Tử gọi một Trưởng Tử cuả Như Lai hay sao ?   [Vậy thì từ nay Phúc Lâm xin gọi quý Thầy bằng “Kẻ không có tóc” hay “Người trọc đầu”.  Nghe có vẻ thanh nhã hơn là từ Tỳ Kheo, có phải không?]

-  Phúc Lâm có biết Quí Thầy là ai không ? là Người đại diện cho Đức Thế Tôn mang giáo pháp đến với chúng sanh ! Dù thế nào đi chăng nưã chúng ta những người học Phật cũng nên tôn kính họ [Nếu Phúc Lâm đã tu được như một Thiền Sư khi xưa thì Phúc Lâm sẽ quát lên vài tiếng: “Biết để làm gì?”  Nhưng Phúc Lâm vốn vẫn còn là một Phật tử thấp kém, đọc chữ nghĩa văn chương không trôi, không chạy, nên Phúc Lâm xin thưa là Phúc Lâm mới học được vài từ của Phật tử Từ Thuận gọi quý Thầy:  “Kẻ không có tóc” hay “Người trọc đầu”. Phúc Lâm cũng nhớ là đã đọc được của “Thầy” Như Tấn,  Người đại diện cho Đức Thế Tôn mang giáo pháp đến Thầy Nhật Từ với những đoạn văn như sau: “là ma quân đầu thai vào Phật pháp để phá hoại, … vào đạo, chắc là để tìm lợi dưỡng, bằng hình thức tu sĩ, … nhận nhiệm vụ của Đảng Cộng sản, của ma quân, đưa ra những sách lược nhằm tiêu huỷ Phật pháp . . . là hạng nhất xiển đề đối với Tam bảo[nguyên văn của thầy Như Tấn trong phapthoai.net].  Phúc Lâm cũng nhớ đã đọc chuyện có 6 vị Tỳ Kheo vén quần lên để khêu gợi Tỳ Kheo Ni, và Đức Phật đã dạy các Tỳ Kheo Ni không cần phải tôn kính những Tỳ Kheo như vậy. Lý thuyết và thực tế có thể khác nhau một trời một vực.  Không phải Thầy nào cũng là Thầy.  Đồng nhất hóa những điều không thể đồng nhất được là chuyện không người nào có trí làm.]

-  Đọc suốt bài văn của Phúc Lâm tôi có cảm giác đang nghe những lời nói cuả một bậc trưởng thượng nói chuyện với Thầy Đồng Trí chứ không phải là một Phật Tử. [Xin Phật tử Từ Thuận hãy nêu ra những đoạn nào trong bài của Phúc Lâm chứng tỏ lời của Phúc Lâm là lời nói của một bậc trưởng thượng nói chuyện với Thầy Đồng Trí? Phúc Lâm chỉ luận trên các chủ đề, và khi đưa ra một điều nào đều có phần lập luận tiếp theo để chứng minh.  Nếu ai không đồng ý thì cứ việc dùng lý luận để phản bác những luận cứ của Phúc Lâm.  Đó là tinh thần đối thoại.  Nhưng đọc bài “Kẻ Không Có Tóc Nói Người Trọc Đầu” của Phật tử Từ Thuận, qua vài đoạn điển hình nêu ở trên, thì Phúc Lâm lại thấy rõ là Phật tử Từ Thuận đã lên tiếng trách mắng quý Thầy nhiều điều lắm.  Từ Thuận hãy đọc kỹ lại bài của mình đi, một Phật tử có thể lên lớp “quý Thầy” như vậy được không?  Phúc Lâm chưa hề thốt ra một lời nào vô lễ như Từ Thuận viết.  Nếu có, hãy nêu ra để chứng minh đi]

-  "Phúc Lâm cho rằng mình bày tỏ ý kiến như vậy cũng đủ rồi, không cần thiết phải dấn thân thêm vào vòng thị phi làm chi cho mất thì giờ. “  Phần trích dẫn như trên biểu lộ cách lối nói chuyện tự cao xem thường người đối thoại và công chúng, không có trách nhiệm trước lời nói cuả mình cuả Phúc Lâm, vì Phúc Lâm nói xong thì tuyên bố không nói chuyện với Thầy Đồng Trí nưã, chẳng phải là vô trách nhiệm thì là gì? Phúc Lâm cho rằng những gì mình nghĩ mình nhìn là đúng hoàn toàn sao ? Công chúng đọc muốn nghĩ sao thì nghĩ, còn người đối thoại của mình thì không xứng đáng để mình tiếp chuyện nưã hay sao ? Thân phận Phúc Lâm cao quí cỡ nào ? [Phúc Lâm xin nhắc lại đoạn của Phúc Lâm cho đầy đủ: “Trong một cuộc đối thoại trí thức, khi đã đi ra ngoài những tiêu chuẩn của đối thoại, thì đối thoại trở nên vô ích.  Cho nên, Phúc Lâm xin phép được kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí tại đây.  Phúc Lâm cho rằng mình bày tỏ ý kiến như vậy cũng đủ rồi, không cần thiết phải dấn thân thêm vào vòng thị phi làm chi cho mất thì giờ.”  Tiêu chuẩn của một cuộc đối thoại trí thức là không bao giờ viết ra ngoài chủ đề, đoán mò về cá nhân người mình đối thoại, và tuyệt đối không được nói đến cha mẹ anh em họ hàng hay thầy giáo của người ta.  Vì Tỳ Kheo Đồng Trí đã phạm phải lỗi lầm nghiêm trọng là lôi thầy giáo lớp 5, lớp 6 của Phúc Lâm vào vòng tranh luận, bất kể là về sau đã biện giải hay ngụy biện ngoài ngữ cảnh (out of context) như thế nào, đối với Phúc Lâm là không thể chấp nhận, nên Phúc Lâm cảm thấy tiếp tục cuộc đối thoại là vô ích, và Phúc Lâm xin đơn phương rút lui, xin  phép được kết thúc cuộc đối thoại với Tỳ Kheo Đồng Trí.  Phúc Lâm không muốn tiếp tục tranh luận với Tỳ kheo Đồng Trí, chỉ có vậy thôi.]

-  Thầy Đồng Trí đã làm gì khiến Phúc Lâm phải phê bình ? Thầy đã Phỉ báng Phật Pháp ? hay Phá Hoại ? hay phạm giới luật ? hay đánh mất tư cách cuả một người tu sĩ, Chưa có mà [Phúc Lâm không biết gì về đời tư của Tỳ Kheo Đồng Trí, mà dù có biết cũng không bao giờ nêu ra trong một bài đối thoại trên các chủ đề.  Phúc Lâm góp ý kiến vì trong lãnh vực học thuật, Phúc Lâm có nhiều điểm không đồng ý với Tỳ Kheo Đồng Trí.  Còn Phúc Lâm phê bình là vì Tỳ Kheo Đồng Trí không có quyền lôi thầy giáo dạy lớp 5, lớp 6 của Phúc Lâm vào vòng tranh luận.  Đối với Phúc Lâm, đây là điều không thể chấp nhận trong một cuộc đối thoại trí thức, bất kể người đối thoại là ai, Tỳ Kheo Đồng Trí không ra ngoại lệ.]

-  Phúc Lâm dám phán những câu thật tự tin rằng : “Thật vậy, Đức Phật đơn giản chỉ là Bậc Tỉnh Thức",  "Vấn đề không phải là “Phật Pháp đúng là Phật Pháp” không còn giá trị hay cần phải thay đổi trong thời đại ngày nay mà chỉ là chúng ta cần phải tháo gỡ những lớp sơn phết nằm trong kinh điển Phật Giáo để cho Chánh Pháp hiển lộ như là Chánh Pháp”
Phúc Lâm dùng cụm từ Đức Phật “đơn giản chỉ là Bậc Tỉnh Thức” là đang tỏ ra xem thường Đức Từ Phụ, “đơn giản” nghĩa là gì , Ngài là Bậc Tỉnh Thức – đúng nhưng chưa đủ - những gì Ngài đã nói ra hay những gì Ngài đã biểu hiện không phải là tất cả những gì Ngài có hay đạt được.
[Phúc Lâm lại phải nhắc lại cho đầy đủ câu viết của Phúc Lâm, vì Từ Thuận đã cố ý cắt đi đoạn bổ túc quan trọng: Đức Phật đơn giản chỉ là Bậc Tỉnh Thức.  Người đã hiểu và thấy được những điều mà chúng ta không hiểu không thấy, và đã chỉ đường khai mở cho chúng ta hội nhập vào cái thấy biết của Đức Phật (Khai thị hội nhập Phật tri kiến).  Đây là cốt tủy của Phật Giáo, có mục đích giúp cho con người thấy và biết vạn Pháp chúng thực là như vậy (Như thực tri kiến) và từ đó hi vọng có thể chấm dứt được những phiền não mà nguồn gốc là vô minh.  Còn những truyền thuyết, tương truyền đều không giúp ích gì được cho vấn đề tu tập Phật Pháp, nếu không muốn nói là chỉ khiến cho con người mê hoặc trong những chuyện khó có thể tin trong thời đại ngày nay.”]

Phúc Lâm viết: “Đức Phật đơn giản chỉ là Bậc Tỉnh Thức" thì đâu có gì là sai?   Sau đây Phúc Lâm xin trích dẫn một đoạn trong cuốn Đường Xưa Mây Trắng của Thiền Sư Nhất Hạnh, tuy Phúc Lâm biết có một số người trong phapthoai.net thường phát dị ứng với tên Nhất Hạnh:

Siddhatta cười:

-       Được chứ, các con có thể gọi đạo của ta là đạo tỉnh thức.  Ta cũng ưa cách gọi ấy của các con lắm.

Sujata chắp tay xin phép nói:

-      Còn Thầy là người tỉnh thức, đã biết sống tỉnh thức và sẽ đi dạy đạo tỉnh thức cho mọi người.  Vậy chúng con có thể gọi Thầy là Người Tỉnh Thức được không?

Siddhatta gật đầu:

-       Các con đặt tên cho ta như vậy ta bằng lòng lắm.  Cứ gọi ta là Người Tỉnh Thức.  Cách gọi ấy đơn sơ và thân mật.

Mắt của Sujata sáng lên.  Cô bé nói:

- Tỉnh Thức nói theo tiếng Magadhi là budh.  Người Tỉnh Thức nói theo tiếng Magadhi là Buddha.  Vậy từ nay chúng con gọi Thầy là Bụt.

Vậy Buddha = Phật = Bậc Tỉnh Thức, đơn giản là vậy đó.  Có vẻ như Từ Thuận không hiểu rằng “Tỉnh Thức” đã bao gồm mọi khía cạnh giác ngộ của Đức Phật nên Từ Thuận cho rằng như thế chưa đủ.  Phúc Lâm xin đặt một câu hỏi đơn giản với Từ Thuận: - những gì Đức Phật đã nói ra hay những gì Ngài đã biểu hiện – chưa đủ để cho chúng ta tu tập để đạt tới Giác Ngộ hay sao?  Hay là chúng ta còn phải tin vào một con đường Đức Phật hóa ra trong hư không và đi thiền hành trên đó, hay là tin vào thần thông của Đức Phật hàng ngày lên cung trời Đao Lợi thuyết Pháp cho Mẹ rồi lại trở về trái đất để tóm tắt bài giảng trong ngày cho Xá Lợi Phất v..v… và v..v.. thì mới có thể đạt tới giác ngộ.  Thần thông, Tam Minh và Lục Thông của Đức Phật giúp gì cho Phật tử như Từ Thuận, hay cho bất cứ Phật tử nào, trong bước đường tu tập Phật Pháp?.  Do Thiền định, Đức Phật có thể đạt được Tam Minh, Lục Thông, nhưng những thần thông như lên cung trời Đao Lợi thuyết Pháp, hay hóa ra một con đường trên hư không, hoặc những chuyện như Tượng Phật biết đi, biết nghe thì Phúc Lâm cho rằng khó có thể tin được. Phúc Lâm không hề ngăn cản bất cứ ai muốn tin vào những chuyện như vậy.  Phúc Lâm cho rằng, tin những chuyện như vậy chưa chắc đã là Phật tử, và không tin chưa chắc đã  không phải là Phật tử.  Có lẽ đã nhận ra những chuyện thần thông không giúp ích gì cho việc tu tập trong Phật Giáo, nên trong cuốn Đường Xưa Mấy Trắng, Thiền Sư Nhất Hạnh đã viết: “Tác giả đã cố ý không nhắc tới những phép thần thông mà kinh sách thường hay xử dụng để tô điểm cho cuộc đời của Bụt, những phép thần thông mà chính Bụt đã khuyên môn đệ không nên để thì giờ và tâm lực vào chuyện luyện tập và xử dụng.”

-  Tại sao Phúc Lâm lại có thể dùng quan điểm cuả cá nhân mình để khẳng định là không nên tin hoàn toàn vào kinh điển và cần loại bỏ những điều không phù hợp trong thời đại ngày nay. Phải gạn lọc thế nào để có thể phù hợp khi nói chuyện với trí thức Phương Tây ?

[Có nhiều lý do để Phúc Lâm đưa ra quan điểm như trên.  Trong bài “Góp Thêm Ý Kiến…”  Phúc Lâm có trích dẫn một tài liệu của Tỳ Kheo Abhinyana. Abhinyana là một vị Tỳ kheo người Anh, sinh ra trong một gia đình Ki-tô Giáo nhưng rồi trở thành một Tỳ Kheo Phật Giáo, thuộc truyền thống Nam Tông Phật Giáo.  Ngài đã đi hoằng pháp hơn 35 năm qua ở hơn 40 quốc gia, trong đó có các trại tỵ nạn Việt Nam vùng Đông Nam Á sau năm 1975.  Hiện Tỳ Kheo đang sống tại Úc.  Tỳ Kheo Abhinyana có viết trong cuốn “Because I Care”, trang 93, như sau về Kinh điển Phật Giáo:  “Qua hơn 2500 năm từ khi Đức Phật tịch diệt, con người có thừa đủ thời gian và cơ hội để sửa đổi Kinh Điển Phật Giáo, và chúng ta quả thật là ngây thơ nếu cho rằng những gì mà chúng ta thấy trong Kinh sách ngày nay đúng là những lời Đức Phật nói.  Chúng ta có dám cho rằng Kinh sách Phật Giáo không có điều gì sai lầm hay không, trong khi ngày nay, một số học giả nghiên cứu về Kinh Thánh Ki-Tô Giáo đã nói rằng trong đó có trên 170000 điều sai lầm.” (There has been plenty of time and opportunity, over the 2500 years and more since Gotama Buddha passed away, to tamper with the scriptures, and we would be quite naïve as to suppose that what we find in the books today is exactly what the Buddha said!  Dare we suppose that the Buddhist Scriptures are error-free when it is said now, by some scholars of the Christian Bible, that there are over 170000 errors in that book?).   Tỳ kheo cũng còn viết, trang 92 : “Lớn lên như một Cơ-Đốc nhân, về sau tôi đã khước từ, không chấp nhận Ki-tô Giáo, với những huyền thoại kỳ lạ của nó, nhưng tôi chưa từng, và sẽ không bao giờ chấp nhận những huyền thoại trong Phật Giáo để thay thế cho những huyền thoại của Ki-tô Giáo” (Brought up as a Christian, I later rejected Christianity, with its fanciful myths, but I did not, and will not, accept Buddhist myths as a substitute).  Trong cuốn sách tiếng Việt: “Về Với Thực Tại: Cẩm Nang Cho Người Hoài Nghi”, một tác phẩm chỉ để biếu chứ không bán, gồm nhiều bài viết ngắn rất có giá trị, phản ánh quan điểm trên, Tỳ Kheo Abhinyana có viết trong bài “Chánh Yếu Và Không Chánh Yếu”  như sau:

Tất cả các tôn giáo đều có yếu tố phép lạ, và đạo Phật không tránh khỏi điều ấy.  Có nhiều chuyện kể về cuộc đời Đức Phật thật không thể tin được, chẳng hạn như Thái Tử tất-Đạt-Đa, lúc vừa sinh ra – theo truyền thuyết --  Ngài đưa một tay chỉ trời và tay kia chỉ đất và nói: “Thiên thượng Thiên hạ, duy Ngã độc tôn.  Đây là kiếp cuối cùng của Ta, Ta sẽ vượt qua Bể Sinh Tử”.  Người ta còn cho rằng Ngài bước bảy bước, và mỗi bước chân, một bông sen nở ra.

Có nhiều người tin rằng những chuyện như vậy thực sự xảy ra, nhưng hình như khó có chuyện ấy.  Nhiều phần những điều như vậy được thêm thắt sau này, bởi những kẻ có nhiều lòng tin hơn trí tuệ, để tán dương Đức Phật – để “tô son đánh bóng”.  Theo như câu nói gán cho Thái Tử lúc mới sanh: “Duy Ngã độc tôn” (Có Ta là hơn hết), làm như có vẻ ích kỷ đối với một người mà sau này công bố một đời sống khiêm tốn, đơn giản và quên cái tôi – ngay cả việc cho rằng cậu bé đã có thể đi và nói sau khi sanh ra chỉ vài phút. [Thật ra, có nhiều cách giải thích về truyền thuyết trên và về  từ “Ngã” trong câu nói này nhưng ra ngoài ý chính của Tỳ Kheo Abhinyana trong bài này nên không thích hợp đưa ra ở đây. PL.]  Tuy nhiên, trong Phật Giáo, những chuyện như thế không được xem là trọng, và Phật Giáo cũng chẳng vì thế mà đứng vững hay đổ nhào; Phật Giáo được đặt trên các nền tảng vững chắc hơn là những truyền thuyết và phép lạ mà ngày nay không thể nào kiểm chứng được.

Chúng ta phải hiểu rằng Đạo Phật có hai phần: phần của quá khứ với nhiều chuyện không thể thử bằng kinh nghiệm cá nhân, và vài điều mà tính chất xác thật đáng ngờ vực, giống câu chuyện trên; và một phần của hiện tại, đó là Pháp mà người ta có thể thực chứng cho chính mình, và đạt được kết quả từ đấy, cũng như Đức Phật đã nói chúng ta nên: “Thử Giáo Pháp của ta như người thợ kim hoàn thử vàng vậy.”  Các Giáo Pháp này không đòi hỏi niềm tin, nhưng “chỉ để cho người khôn ngoan hiền triết tự hiểu một mình mà thôi.”

Vì vậy, con đường tìm hiểu Phật Pháp của người học Phật ngày nay là phải tìm ra tính nhất quán trong những lời Phật dạy.  Gạn lọc ra những gì không phù hợp với Chánh Pháp chính là kiếm ra các nền tảng vững chắc của Phật Giáo hơn là những truyền thuyết và thần thông, phép lạ mà ngày nay không thể nào kiểm chứng được, khoan nói là có phù hợp với những sự kiện của khoa học hay không.]

-  Phúc Lâm lại còn lấy những luận chứng cuả khoa học để chứng minh kinh điển ghi chép không đúng không đáng tin cậy, thuộc về tín ngưỡng.   Nếu tôi cũng dùng luận chứng khoa học để chứng minh ngược lại vấn đề mà Phúc Lâm nói là không đúng thì sao?

[Viết như trên là Từ Thuận cố ý xuyên tạc và chụp mũ Phúc Lâm.   Phúc Lâm chưa từng dùng “luận chứng của khoa học để chứng minh kinh điển ghi chép không đúng, không đáng tin cậy, thuộc về tín ngưỡng”.  Kinh điển Phật Giáo gồm ba Tạng Kinh, Luật, Luận, nhưng không phải tất cả những điều mà ngày nay chúng ta đọc trong đó đều là những lời Đức Phật dạy.   Trong Kinh điển Phật Giáo có những điều thêm thắt về sau và truy nguyên ra không phải là do chính Đức Phật nói.  Đây là vấn đề rất rõ ràng đối với những người đã nghiên cứu về Kinh điển Phật Giáo.  Những kết quả của khoa học không phải là những luận chứng khoa học, mà là những sự kiện khoa học.  Không phân biệt được giữa luận chứng và sự kiện thì không nên nói gì về khoa học.   Tôi có cảm tưởng là Từ Thuận không phải là người thuộc lãnh vực khoa học.  Thật vậy, chúng ta hãy đọc tiếp vài điều Từ Thuận viết về khoa học]  

-  Phúc Lâm nên nhớ một điều tất cả những thành tựu khoa học trên thế giới này cũng chỉ là phương tiện phục vụ cuộc sống của loài người.

[Không hẳn vậy, phục vụ cuộc sống của con người chỉ là một phần của những áp dụng khoa học và thường có hai mặt.  Thật vậy, những vũ khí giết người hàng loạt như bom nguyên tử, vũ khí sinh hóa v..v.. phục vụ cuộc sống của loài người như thế nào.  Con người dùng những kiến thức khoa học để phục vụ hay hủy diệt con người và môi sinh là do con người, không phải là lỗi của khoa học. Phúc Lâm hiểu rõ mục đích của khoa học và tôn giáo khác nhau.  Khoa học chính yếu là tìm hiểu và giải thích sự vật ở trong vũ trụ là như thế nào, nghĩa là giúp cho sự phát triển toàn bộ kiến thức của con người về thế giới vật chất.  Và những kết quả của khoa học không có tính cách tuyệt đối.  Khoa học vẫn còn ở trong quá trình tiến hóa, và sẵn sàng bỏ đi hay thay thế, hoàn chỉnh hơn những điều không còn đúng.  Trái lại, trong Phật Giáo có những chân lý ngàn đời không thay đổi, thí dụ như thuyết vô thường, vô ngã v..v..  Phật Giáo là con đường tu tập tâm linh để cho con người tiến tới những cảnh giới cao hơn, và cứu cánh chung cùng là giác ngộ.  Như vậy, khoa học và Phật Giáo hành hoạt trên hai bình diện khác nhau, có thể hỗ trợ cho nhau phần nào nhưng không thể thay thế nhau. Vì vậy, những người toan tính dùng khoa học để “chứng minh” hoặc phủ bác kinh điển Phật Giáo là những người chưa hiểu rõ khoa học cũng như Phật Giáo, dù rằng phương pháp quán sát, suy nghiệm và chứng nghiệm trong khoa học và trong  Phật Giáo có nhiều điểm giống nhau.  Phúc Lâm không phải là một người như vậy.  Tuy nhiên, trong khoa học có những định luật phổ quát trong thế giới vật chất mà Phật Giáo, hay bất cứ tôn giáo nào, không thể vi phạm.  Thí dụ, định luật về vạn vật hấp dẫn do Newton khám phá ra.  Không có một thần thông nào cho phép con người nhảy lên cao rồi có thể đứng lơ lửng trên không mà không rơi xuống đất.  Không có thần thông nào cho phép con người có thể sống trên thượng thượng tầng không khí nơi đó nhiệt độ rất thấp và không khí rất loãng gần như chân không, trừ phi được ngồi trong một phi thuyền không gian.  Trong 2000 năm nay, người Ki Tô Giáo tin rằng Chúa Giê-su, sau khi sống lại, đã bay lên thiên đường ngồi bên tay phải Thượng Đế.  Nhưng rồi, rốt cuộc, Giáo Hoàng John Paul II cũng phải tuyên bố là không làm gì có thiên đường, thiên đường không phải là một nơi chốn vật chất trên các tầng mây.  Giáo hoàng tuyên bố như vậy, nhưng có tín đồ thì lại chê ông ta là sai.  Cách đây ít năm, trong một cuộc họp bạn, tôi có nhắc đến lời tuyên bố trên của Giáo Hoàng John Paul II, nhưng có một bà bạn theo Công Giáo lên tiếng ngay: “Ông ấy sai rồi, có thiên đường chứ sao không có”.  Vậy sự thực khoa học và đức tin thuộc hai lãnh vực khác nhau. 

-  Biết bao nhiêu người phải chấp nhận lý giải là con người được sanh ra ở vườn điạ đàng từ Adam và Eva bởi vì khoa học cũng không có cách chứng minh được một cách xác thật con người từ đâu mà có. Tôi chỉ đưa ra một dẫn chứng hết sức bình thường như thế để cho Phúc Lâm thấy câu nói cuả Phúc Lâm thật sự bị tà kiến về kinh điển Phật Giáo khi cho rằng cái gì khoa học không chứng minh được hoặc con người không thể cảm nhận bằng sáu giác quan thì không thể tin và không có thật.

[Điều mà biết bao nhiêu người chấp nhận không có nghĩa là điều đó đúng.  Ngày nay, trừ những tín đồ Ki-tô kém hiểu biết, chuyện Adam và Eva chỉ là một huyền thoại của người Do Thái khi xưa.  Rất có thể là khoa học chưa chứng minh được những chi tiết về sự hình thành của con người, nhưng khoa học đã dứt khoát bác bỏ huyền thoại về Adam và Eva.  Theo Kinh Thánh của Ki-tô Giáo thì Adam được tạo ra từ đất sét, và Eva được tạo ra từ một cái xương sườn của Adam, cách đây trong khoảng từ 6 đến 10 ngàn năm.  Khoa vũ trụ học ngày nay đã biết tuổi của  vũ trụ là khoảng 15 tỷ năm, và Thái Dương Hệ đã hình thành từ 5 tỷ năm, và trái đất có tuổi khoảng 4 tỷ rưỡi năm.  Thuyết Tiến Hóa của Darwin và những khoa học gia sau Darwin đã chứng tỏ là con người hình thành là do sự tiến hóa từ các sinh thể ban khai mà ra.  Cũng vì vậy mà Giáo hoàng John Paul II cũng phải thừa nhận rằng con người có thể không phải do Thượng đế sáng tạo ra nhất thời mà là do một quá trình tiến hóa lâu dài.  Vậy dẫn chứng của Từ Thuận đưa ra bắt nguồn từ sự kém hiểu biết về thực chất Ki-tô Giáo cũng như về khoa học chứ chẳng có liên quan gì đến cái mà Từ Thuận cho là tà kiến về Kinh điển Phật Giáo của Phúc Lâm.  Phúc Lâm chưa bao giờ khẳng định là cái gì khoa học không chứng minh được hoặc con người không thể cảm nhận bằng sáu giác quan thì không thể tin và không có thật.  Phúc Lâm chỉ cho rằng, với kiến thức của con người ngày nay về vũ trụ, nhân sinh, và khoa học, có những điều khó có thể tin được vì không có cách nào giải thích được cho hợp lý.]

-  Cũng xin nói thêm với Phúc Lâm là Phật Giáo ra đời không phải chỉ để dành riêng nói chuyện với trí thức Phương Tây đâu nhé ! Phật Giáo là dành cho tất cả chúng sanh trong đó bao gồm cả súc vật và côn trùng, không chỉ có con người. Phúc Lâm cho rằng nói chuyện về thần thông nói chuyện với trí thức phương Tây và trí thức trẻ Việt là họ không tin. Phúc Lâm luôn luôn khẳng định vấn đề trong cái nhìn cuả cá nhân, sao có thể khẳng định rằng trí thức trẻ Việt không tin ?

[Phật Giáo không dành riêng cho giới trí thức phương Tây, nhưng không thể loại   những trí thức phương Tây ra ngoài.   Phúc Lâm thường đi lễ Chùa trong những ngày lễ chính, và đã nói chuyện nhiều với giới trẻ Việt Nam.  Thú thực, có những đoạn kinh đọc lên làm cho bọn trẻ và cả Phúc Lâm đều ngơ ngác, và có nhiều người trẻ đã đề nghị là nên rút ngắn, giản lược bớt kinh điển, chỉ tập trung vào những đoạn cốt yếu giúp cho Phật tử tu học mà thôi.  Đây là một vấn đề quan trọng nếu Phật Giáo muốn phát triển, nhưng không thể thảo luận ở đây được.]

-  Cũng nên nhớ rằng trong tất cả các môn khoa học cơ sở đầu tiên để con người khám phá điều dựa trên những truyền thuyết và giả thuyết, từ những truyền thuyết đó mà con người tìm tòi và khám phá để hình thành những học thuyết của khoa học vì không có lửa làm sao có khói.

[Khoa học không bao giờ dựa trên những truyền thuyết.  Khoa học dựa vào sự quan sát, suy nghiệm, thí nghiệm rồi từ đó mới đặt ra giả thuyết.  Bước sau cùng là chứng minh giả thuyết đó là đúng, và giả thuyết đó đã trở thành một sự kiện khoa học.  Thuyết vạn vật hấp dẫn là một thí dụ.  Newton thấy quả táo rơi, chứ không phải là quả táo mà Adam và Eva ăn theo truyền thuyết,  mà nghĩ ra thuyết vạn vật hấp dẫn.  Thuyết Tiến Hóa là một thí dụ khác.  Qua sự quan sát tỉ mỉ của Darwin trong một chuyến du hành trên chiếc tàu Beagle, Darwin đưa ra thuyết Tiến Hóa.  Sau đó thuyết Tiến Hóa được kiểm chứng trong những bộ môn khoa học mà chính Darwin cũng không biết đến.  Do đó ngày nay thuyết Tiến Hóa đã không còn là một thuyết nữa mà là một sự kiện.   Nguồn gốc con người đã rõ ràng tuy còn vài chi tiết chưa giải đáp được thỏa đáng.  Cũng vì vậy mà Adam và Eva chỉ còn hiện hữu trong đầu óc của một số người đặc biệt trong số hơn 6 tỷ người trên thế giới.   Từ Thuận thử nêu ra một truyền thuyết nào mà từ đó trở thành một học thuyết khoa học xem sao.]

-  Chư Thiên ở đâu ? có ai thấy chưa ? Cung trời Đao Lợi nằm ở đâu ? V..V.. đại loại là những câu hỏi mà Phúc Lâm cho là huyền thoại không đáng tin ấy, nếu là tôi thì tôi sẻ trả lời cho giới trí thức phương tây một cách bình thản và tự tin như vầy: “ Những điều mà tôi nói với quí vị là những điều cao xa vi diệu mà chính bản thân tôi cũng chưa có tư cách để nhìn thấy được bởi vì tôi chưa tu rốt ráo, nhưng nếu tôi hành trì đúng những gì trong kinh điển dạy quyết lòng tu tập nhất định sẻ có một ngày tôi sẻ thấy cung trời Đao Lợi, Chư Thiên v..v.. và còn nhiều điều phi thường khác nữa, những điều này chúng ta không nên cho là tín ngưỡng, chúng ta vẫn còn là một con người bình thường còn vướng mắc thế gian phàm tục quá nhiều nên chúng ta chưa thể nhìn thấy được những điều đó.  [Từ Thuận mà trả lời như trên không sợ người ta cười cho hay sao?  Bởi vì đó không phải là câu trả lời câu người ta hỏi.   Người ta hỏi một câu, ông trả lời là chính ông cũng không biết, nhưng rồi lại bảo người ta cứ tin như ông và chịu khó tu tập như ông đi rồi sẽ biết. Người ta cũng chẳng biết là ông tu tập như thế nào, theo môn phái nào: Tịnh độ? Thiền? Mật tông? Hoa nghiêm? Thiên Thai? Nam Tông? Bắc Tông?  v..v.. Phật Giáo có thiên kinh vạn quyển, biết bao giờ ông mới theo được đúng những gì trong kinh điển dạy? và có chắc là theo đúng hay không, có gì bảo đảm là đúng? Quanh đi quẩn lại cũng chẳng phải là vấn đề hiểu biết mà chỉ là vấn đề tin.   Chẳng có ai cấm mình tin cả nhưng mang cái tin của mình ra để mà thuyết phục người khác thì có vẻ là khó mà có thể thành công.  Nếu là tôi thì tôi sẽ trả lời đại khái như sau:  “Này nhé, Kinh sách giải thích rằng: Cung Trời Đao Lợi là Tầng Trời thứ hai trong sáu tầng trời ở cõi dục.  Đao Lợi là tiếng Phạn, dịch là “tam thập tam” nghĩa là ba mươi ba.   Tầng trời này ở tại núi Tu Di nơi đó chia làm 33 nước trời, 32 nước ở bốn phương xung quanh, mỗi phương 8 nước; chính giữa là Thiện Kiến thành, cung của trời Đế Thích, vị trời này quyền thống nhiếp cả 33 nước.  Đương thời đó Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngự tại cung trời này mà thuyết Pháp trong 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7).  [Nguồn:  Kinh Địa Tạng, Thích Trí Tịnh dịch,  Tịnh Xá Minh Đăng Quang, Westminster, CA., 1989, trang 209].  Vậy ông cứ ngồi yên mà tưởng tượng đi, ông sẽ thấy tất cả những gì ông muốn thấy.  Đừng có hỏi tôi gì thêm, vì tôi cũng chỉ biết có vậy thôi.  Muốn hỏi gì thêm hãy đi kiếm những bậc đại trí như ông Từ Thuận mà hỏi.”

Phúc Lâm nghĩ thảo luận sơ sơ vài điều như trên với Phật tử Từ Thuận cũng đủ vui rồi.  Phúc Lâm bận lắm nên xin chấm dứt tại đây và coi như là kết thúc cuộc đối thoại.   Phúc Lâm không muốn làm phiền trang nhà Giao Điểm thêm nữa.

 

© Copyright 2006 giaodiem.com

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com