08_gdmau.jpg (3664 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Trang nghiên cứu & đối thoại tháng 4 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)
 

SÁNG THẾ KÝ ĐỌC BỞI MỘT NGƯỜI VIỆT NAM (Phần hai)

TRUYỆN ABRAHAM

NGUYỄN HOÀI VÂN

BƯỚC VÀO LỊCH SỬ

Nếu phần đầu của Sáng Thế Ký tập trung vào việc diễn tả tâm lý của nhân vật Thiên Chúa, thì trong phần tiếp theo này (kể từ chương 12), trọng tâm được đặt nơi con người. Và nếu những con người được nói đến trong phần trước của Sáng Thế Ký : Adam, Eva, Cain, Abel, hay Noah, đều mang nặng tính huyền thoại, thì kể từ đoạn này, con người thực thụ, con người lịch sử, nhập cuộc. Rời huyền thoại, chúng ta bước vào Lịch Sử…

Ngoài ra, cũng xin nhắc lại là, mặc dù Sáng Thế Ký, cũng như toàn bộ Thánh Kinh, được tôn sùng bởi nhiều tôn giáo, nhưng trong bài này, người viết muốn hoàn toàn lùi ra khỏi truyền thống tôn sùng ấy, và nhìn Sáng Thế Ký đơn thuần như một áng văn kỳ thú, để cùng bạn đọc thưởng thức nó, bàn bạc về nó, như bất cứ tác phẩm văn chương giá trị nào của kho tàng văn hóa nhân loại. Các nhân vật trong áng văn ấy, kể cả Thiên Chúa, đều được phân tích như những nhân vật văn chương, đặc biệt là trên mặt tâm lý. Đọc giả nào không đồng ý với cách làm việc vừa nói, xin lập tức gạt bỏ bài này sang một bên, tuyệt đối đừng đọc nó, và đón nhận sự cúi chào cung kính của người viết. 


Trước ngưỡng cửa Lịch Sử, chúng ta làm quen với con người đầu tiên mang sử tính trong Sáng Thế Ký. Đó là Abram, con của một tộc trưởng du mục tên là Tèrah, nguyên quán ở Our, cách Bagdad ngày nay khoảng 300 cây số về phía đông nam, nhưng sau lại dời đến sinh sống ở Harrân, cách thành Alep thuộc nước Syrie hiện nay khoảng 180 cây số về phía đông bắc. Người ta nghĩ ông sống trong khoảng từ 15 đến 20 thế kỷ trước Công Nguyên. Vợ ông là Sarai. Hai ông bà hiếm muộn không con.  Một hôm, Yahweh nói với ông rằng : « Hãy rời bỏ xứ sở ngươi, gia đình ngươi và nhà của cha ngươi, đi đến một nơi mà ta sẽ chỉ định. Ta sẽ chúc lành cho ngươi và từ ngươi ta sẽ tạo nên một dân tộc lớn » (Gen 12 :1-2 = Sáng Thế Ký chương 12 câu 1 và 2). Thế là Abram từ bỏ quê hương, mang nặng trên vai 75 tuổi đời, dấn thân trên bước đường phiêu lưu mạo hiểm. Không cần phải nói ra, mọi người trong chúng ta, những người Việt lưu vong, cũng đều nhớ lại sự ra đi của mình, một ngày nọ … Tâm trạng của Abram, vào lúc tay sách tay mang, nhìn lại quê hương khuất dần dưới chân trời, rồi biến mất, chỉ còn hình ảnh nhạt nhòa dòng lệ trong tâm thức, không xa lạ gì với chúng ta. Ngoài tùy tùng và gia súc, vợ chồng Abram còn mang theo một người cháu tên là Loth. Lúc họ di chuyển đến xứ Canaan thì Yahweh lại hiện ra, và phán : « Ta sẽ ban cho hậu duệ của ngươi đất nước này » (Gen 12 :7).

            Thêm một lần nữa, chúng ta lai chứng kiến một màn « tái khởi đầu » của Sáng Thế Ký. Khi tạo nên trời đất vũ trụ (xin đọc bài viết trước), Chúa Elohim đã ban cho con người quyền ngự trị trên toàn thể tạo vật. "Vương quốc" của con người là tất cả nơi nào có tạo vật, tức toàn thể trái đất, cộng với tất cả các hành tinh, trên tất cả các thái dương hệ, tại tất cả các giải ngân hà trong vũ trụ, nơi có tạo vật ! Ít nhất là như vậy … Chúa Yahweh, một phiên bản cập nhật ( ?) của Thiên Chúa, thì chỉ cho con người ngự trị trên "vườn địa đàng" Eden, chữ có nghĩa là "lạc thú", với những hạn chế : không được ăn trái của "cây phân biệt tốt xấu" (mệnh lệnh rõ rệt), và trái của "cây trường sinh" (một ý tưởng kín chỉ được Yahweh phát biểu ra sau khi con người đã ăn trái cây phân biệt tốt xấu, trong Gen 3 :22). Trong Sáng Thế Ký, nhân vật Thiên Chúa mang hai sắc thái với hai tên gọi. Trong một số đoạn văn, người ta gọi Thiên Chúa là Elohim (chữ mang số nhiều, có thể dịch là "những Thiên Chúa"), và ở những đoạn khác, có lẽ do những tác giả khác viết ra, theo một truyền thống (truyền khẩu) khác, người ta gọi Thiên Chúa là Yahweh. Có vài khác biệt giữa tâm lý của Yahweh và của Elohim.

            Chính vì con người đã ăn trái của "cây phân biệt tốt xấu" nên mới bị Yahweh đuổi khỏi Eden. Yahweh nói : « Thế là con người đă trở nên như một kẻ trong chúng ta bởi sự hiểu biết tốt xấu. Bây giờ, phải ngăn cản không cho nó vươn tay hái lấy trái cây trường sinh, để ăn trái ấy mà sống mãi mãi ! » (Gen 3 :22) Màn "tái khởi đầu" thứ nhất chính là lúc con người xây dựng lại đời sống của mình ngoài Eden, ngoài "lạc thú" (nghĩa chữ Eden), tức là … trong biển khổ !

            Con người sinh sôi nảy nở mạnh mẽ, tức tranh đoạt quyền ban sự sống của Thiên Chúa. Qua Cain, con người cũng dành quyền tước đoạt sự sống của Ngài (Cain giết Abel, "phát minh" ra người chết đầu tiên). Uy quyền trên sự sống là khi có thể ban phát, và tước đoạt sự sống. Có sự cạnh tranh hiển nhiên trên lãnh vực ấy giữa con người và Thiên Chúa. Đến Gen 6 :6, thì Thiên Chúa phát biểu nỗi ân hận đã làm nên con người. Ngài liền dùng Đại Hồng Thủy, một trận lụt vĩ đại, để tiêu diệt toàn bộ loài người và loài vật, có lẽ trừ tôm cá (!), và trừ gia đình Noah cũng như các súc vật mà ông này đem được vào trong chiếc tàu của ông ta. Sau Đại Hồng Thủy, là màn tái khởi đầu thứ hai. Thiên Chúa  lại ra lệnh cho con người sinh sôi nảy nở đầy mặt đất (của hành tinh này và mọi hành tinh khác …), cho phép con người ăn thịt súc vật (trước đó chỉ ăn rau quả) và cấm làm đổ máu người khác (Gen 9 :1-6). Sau bạo Lực kinh khủng của Đại Hồng Thủy, việc "giết để ăn" không còn quan trọng nữa, tuy nhiên, quyền tước đoạt sự sống của con người phải trở về với Thiên Chúa. Một thỏa ước được đặt ra giữa Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa lấy lại quyền giết người, nhưng sẽ chỉ giết "ai làm đổ máu người khác", chứ không tổ chức giết người tập thể như trong vụ Đại Hồng Thủy nữa. Elohim đặt cái cầu vòng lên nền trời để làm chứng cho lời thề này. Tuy nhiên, con người vẫn là con người, tức hình ảnh của Chúa (Gen 1 :27), và Thiên Chúa lại không bằng lòng với con người ! Nhưng lời hứa còn đó, và cái cầu vòng kia vẫn mãi hiện ra mỗi khi mưa bão lụt lội : Thiên Chúa không còn có  thể tái diễn màn Đại Hồng Thủy được nữa… Chúng ta có thể tưởng tượng lần này Thiên Chúa đứng trước hai mối ân hận : ân hận đã làm nên con người (hình ảnh của Thiên Chúa !) như trong Gen 6 :6, và ân hận đã tuyên hứa không tiêu diệt loài người như Ngài đã từng làm với Đại Hồng Thủy một cách tương đối hiệu quả (“tương đối” vì vẫn còn sót Noah và gia đình ông, như thể Thiên Chúa không thể hoàn toàn xóa đi  được hình ảnh của Ngài, tức cái Ý Thức đối diện với chính Ý Thức của Ngài, mà không thế thì tự Ngài bị biến vào hư không …).

Phải làm sao bây giờ ? Có một phương cách : đó là gây dựng nên một dân tộc, rồi chăm sóc cho dân tộc ấy, cho dân tộc ấy “sinh sôi nảy nở đầy mặt đất” (của hành tinh này và mọi hành tinh khác !), như đã từng dự tính với Adam lúc tạo thiên lập địa và với Noah sau Đại Hồng Thủy. Ngoài dân tộc được chọn ra, Thiên Chúa lờ đi mọi con người khác, mà Ngài không thể giết bỏ, vì đã lỡ giao ước. Đó là ý nghĩa của màn tái khởi đầu thứ ba trong Sáng Thế Ký.

Tuy nhiên, như đã nói, khác với hai lần trước, màn “tái khởi đầu” thứ ba này diễn ra trước thềm Lịch Sử, với những con người có sử tính, những con người hiện thực. Câu chuyện ở đây không còn là chuyện của Thiên Chúa, mà là những viên gạch thần thánh xây dựng Lịch Sử của Israel. Nếu trong đoạn trước của Sáng Thế Ký, “Thiên Chúa chính là tâm hồn bạn, Thần Khí của Ngài là hơi thở bạn, và cuộc đời Ngài là sự tuyệt vọng của bạn”, thì ở đây, Abram, và những con người mà bạn sẽ có dịp làm quen, không là ai khác hơn là chính bạn trong đời sống thực tế, với những ưu tư thực tế, những thắc mắc và những giả định về thực tại, tức những con người trong giòng Lịch Sử.

Trở lại câu chuyện. Thiên Chúa hứa cho Abram một hậu duệ cực kỳ đông đúc để làm thành một dân tộc vĩ đại. Nhưng, Ngài đã từng tuyên bố điều này với Noah (“hãy sản sinh và phát triển tràn ngập mặt đất” Gen 9 :1), và trước đó, trong đoạn tạo thiên lập địa, với con người đầu tiên (Gen 1 :28). Phải chăng lời hứa này là thừa thãi, không cần thiết ? Dù sao, cần ghi nhận là những lời tuyên bố sinh sôi nảy nở  trước đó là những mệnh lệnh, trong khi ở đây, là một lời hứa, một giao kết. Vợ chồng Abram hiếm muộn. Hai ông bà không thể hy vọng có được con đàn cháu đống nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa.

GIÁN ĐOẠN GIAO KÈO

Thế là Abram cất bước ra đi, 75 tuổi đời chồng chất trên vai … Xứ Canaan, nơi ông định cư, bị đói kém, ông phải di tản sang Ai Cập. Nơi đây ông bảo Sarai, vợ ông, phải tự nhận là em gái ông, để người Ai Cập thấy bà sinh đẹp, sẽ không làm hại ông để cưỡng đoạt bà, mà ngược lại sẽ ưu đãi ông. Một thái độ khó hiểu. Quả nhiên, Vua Ai Cập Pharaon thấy Sarai đẹp lộng lẫy, dù lúc ấy bà đã 65 xuân xanh (!). Pharaon liền lấy bà làm thiếp, và ban phát nhiều của cải cho Abram. Phải chăng Abram chỉ lo sợ cho mạng sống của mình, hay chỉ ham muốn của cải của người Ai Cập ?  Phản ứng của Abram phải chăng phản ảnh tâm lý của mọi người lưu vong khi đến một chân trời xa lạ ?  Có thể chúng ta, trên bước đường ly hương cũng đã từng có những tư tưởng nhượng bộ đối với người bản xứ như Abram ?  Tuy nhiên, phải công nhận thái độ của Abram là quá đáng, nhất là đối với một người đã được Chúa chọn, được Chúa chúc lành và hứa ban cho một hậu duệ đông đúc để làm nên một dân tộc lớn. Vì thế, không thể tránh được câu hỏi : Abram có thực sự tin tin tưởng nơi Thiên Chúa hay không ?  Hoặc giả giao ước giữa Thiên Chúa và Abram quá nặng nề đối với ông ? 

Abram phải sống đời lưu vong để đổi lấy một hậu duệ đông đúc, tức là phải hy sinh hiện tại cho tương lai. Như mọi dự án lớn của con người !   Người Việt chúng ta đã từng quá biết thế nào là gian khổ đấu tranh cho một ngày mai tươi sáng, cho sự hình thành của một chủ nghĩa, một thiên đường… Abram, trên đường lưu lạc, đến nơi Đất Hứa, lại gặp đói kém, phải tiếp tục lê bước lang thang, không còn muốn “đấu tranh gian khổ” nữa. Đem Sarai cho Pharaon, là một hình thức gián đoạn giao kèo với Thiên Chúa. Ngài hứa cho vợ chồng tôi con đàn cháu đống, thì đây, tôi không thèm nữa, tôi đem vợ tôi tặng cho Pharaon ! Tức là lời hứa của Ngài, tôi liệng thùng rác. Vào thùng rác luôn cả “gian khổ đấu tranh” lẫn “ngày mai tươi sáng” !

SỨ MẠNG LỊCH SỬ

Tuy nhiên, không phải muốn gián đoạn giao kèo với Thiên Chúa lúc nào cũng được. Thiên Chúa giáng trên đầu chú Pharaon vô tội vạ kia và giòng tộc (càng vô tội vạ) của chú này, những hình phạt nặng nề. Đến khi chú ta hiểu ra tự sự thì chú lập tức hoàn trả Sarai lại cho nguyên chủ. Giao kèo lại được tiếp tục. Abram rời Ai Cập với nhiều của cải, trở về xứ Canaan, vùng Đất Hứa. Người ta không khỏi liên tưởng đến câu chuyện Pharaon cầm giữ dân Do Thái, nhiều năm sau đó, trong sách Lưu Đày. Trong truyện này, không những Pharaon và giòng tộc ông bị Chúa phạt, mà toàn dân Ai Cập cũng phải chịu những tai họa thảm khốc, để rốt cuộc, Dân Chúa thoát khỏi Ai Cập đi về Đất Hứa. Ai Cập thường bị gắn liền với sự gián đoạn giao kèo với Thiên Chúa. Trong sách Lưu Đày, dân Do Thái khi sang lập nghiệp ở Ai Cập đã quên đi lời giao ước giữa Thiên Chúa với Abram và hoàn toàn không muốn rời khỏi Ai Cập nữa, cho đến khi Moshe làm nảy sinh trở lại một ý thức lịch sử  trong đấu óc họ. Mâu thuẫn giữa Ai Cập và Thiên Chúa, cũng như mâu thuẫn giữa một xã hội không có tham vọng nào khác hơn là sự trường tồn của chính mình (như xã hội Tư Bản – Kinh Tế Thị Trường hiện tại) và một xã hội tự đặt mình trên một con đường Lịch Sử, với một sứ mạng Lịch Sử, với ý thức về một khởi điểm và một kết cuộc của Lịch Sử.

Người du mục có quan niệm thời gian khác với dân định cư. Dân định cư, như người Ai Cập, nhìn thời gian 4 mùa luân chuyển như một chu kỳ, hết cấy lại gặt, hết gặt lại cấy, buôn buôn bán bán ngày lại qua ngày tương tự như nhau, trong khi dân du mục, như Abram, và như dân Do Thái sau đó, quan niệm thời gian như một cuộc hành trình, có điểm khởi đầu, ở đây là lúc giao ước với Chúa , và có điểm đến, là Đất Chúa Hứa. Thời gian giữa hai điểm ấy, mang một màu sắc hy vọng, một năng lực luôn hướng tới một cái gì hoàn toàn mới, hoàn toàn đoạn tuyệt với hiện tại, thay vì chỉ là sự lập lại của hiện tại. Khái niệm thời gian như một đường thẳng (thay vì là một chu kỳ) chính là đóng góp nền tảng của văn hoá Do Thái vào sự suy tư của nhân loại. Để nhiều năm sau, Hegel, rồi Marx cũng sẽ đi trên cùng dấu vết đó …

KHOÁC CHIẾN Y

Quay lại Canaan, Abram trở thành giàu có, cũng như Loth, cháu ông. Hai người chia tay nhau. Loth bỏ đi sinh sống trong lưu vực sông Jourdain, đến tận thành Sodome. Ở Gen 13 :4, Yahweh lại xuất hiện và hứa cho Abram tất cả đất đai mà ông nhìn thấy (lúc ấy thuộc những dân tộc khác), và hậu duệ của ông sẽ nhiều như các hạt bụi trên mặt đất. Đó là lần thứ ba Chúa lập lại lời hứa với Abram. Tiếp theo đó, Abram tham dự một cuộc chiến tranh, và chiến thắng. Một vị Vua địa phương và cũng là một “Giáo Sĩ của Thiên Chúa” tên là Melkisedeq, chúc phúc cho Abram nhân danh “Thiên Chúa, đấng tạo thành trời đất”.

Đây là lần đầu tiên người ta đọc thấy trong truyện của Abram, tức trong "Lịch Sử", khái niệm một Thiên Chúa tạo nên trời đất. Chúng ta biết chuyện tạo thiên lập địa, vì chúng ta có sách Sáng Thế Ký trong tay, hoặc ít ra cũng có tờ Thế Kỷ 21 số Tết 2004. Abram không có may mắn đó. Abram có thực sự ý thức vị Thần đã ba lần hứa cho ông và hậu duệ của ông một tương lai rực rỡ kia, chính là Đấng tạo nên trời đất hay không ?

Nhiều người, trong đó có Freud, cho rằng khái niệm một Chúa duy nhất tạo nên mọi sự mọi vật trong tư tưởng Do Thái chỉ bắt đầu hiện hữu từ Moshe, qua ảnh hưởng của một trường phái tôn giáo Ai Cập thời đó. Người ta tìm thấy trong Thánh Kinh, Thánh Vịnh 104, những câu văn trùng hợp gần như từng chữ, với bài “Vịnh Mặt Trời” của Pharaon Akhenaton, một vị vua đã quảng bá tư tưởng một Thiên Chúa tạo thiên lập địa duy nhất, tại Ai Cập vào thế kỷ 14 trước Công Nguyên. Xin nhắc lại : Sáng Thế Ký được viết khoảng 5-6 thế kỷ trước Công Nguyên.

Mặt khác cũng có thể tự hỏi trong trận chiến mà Abram vừa đại thắng, có sự tham gia của Thiên Chúa hay không ?  Nhiều yếu tố cho thấy câu trả lời là có. Thứ nhất, Melkisedeq đã nói rất rõ khi chúc lành cho Abram, rằng  : « Thiên Chúa tối cao đã giao nạp các địch thủ của ông vào tay ông » (Gen 14 :20). Thêm vào đó, khi chia của cải của kẻ bại trận, sự kiện Abram từ chối mọi chiến lợi phẩm, như thể ông đã tuyên hứa với Thiên Chúa điều đó (Gen 14 :22), gợi ý rằng Abram đã được sự tiếp tay của Thiên Chúa để chiến thắng, với một số điều kiện. Chưa hết, sau trận chiến, Abram nằm mộng thấy Chúa hiện ra nói với ông : « Đừng sợ, ta là tấm mộc che chở ngươi » (Gen 15 :1). Điều đáng chú ý là ý tưởng một Thiên Chúa tạo nên trời đất được nêu lên ngay khi chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa trong một vai trò mới, vai trò của một chiến tướng.

Thật vậy, có mâu thuẫn giữa vai trò “Thiên Chúa của mọi người”, sau này đưa đến khái niệm "Cha chung muôn loài", với vai trò của một chiến tướng, giúp phe này đánh bại phe kia. Có lẽ vì thế mà trong mạch văn, ở thời điểm này, một số tác giả đã cảm thấy cần phải minh xác : mặc dầu Thiên Chúa đã khoác y giáp của một chiến tướng, ngài vẫn là Chúa của mọi người mọi vật ? Thêm vào đó, điều này được tuyên xưng bởi Melkisedeq “Giáo Sĩ của Thiên Chúa" nhưng lại không thuộc “Dân Chúa”. Quan điểm "Chúa của riêng Dân Ngài”, lờ đi mọi người khác, có vẻ như bị phản đối. Sáng Thế Ký không được viết lên từ một quan điểm đồng nhất. Tư tưởng “Chúa của mọi người” đã đôi lúc hé lộ nơi đây ?

MỘT DÂN CHÚA THỨ HAI ?

Trong Gen 15 :1, Yahweh cũng nói với Abram : « phần thưởng của ngươi sẽ được nhân lên gấp bội phần ». Và Abram đáp lại : « Lạy Chúa, Ngài ban thưởng cho tôi như thế làm gì, tôi sẽ chết đi mà không có con cháu nối dõi (…) một kẻ nào đó trong bộ lạc của tôi sẽ thừa hưởng của cải mà tôi để lại » (Gen 15 :2,3). Mặc dù vừa được Chúa giúp chiến thắng, Abram có vẻ không mấy tin tưởng vào Ngài. Sau toan tính dứt đoạn giao kèo với Chúa khi đem vợ mình tặng cho Pharaon, đây là lần đầu tiên Abram nói thẳng với Chúa sự nghi ngờ của mình. Phản ứng của Yahweh là một màn diễn giảng tràng giang đại hải những điều Ngài đã hứa cho Abram. Diễn văn của Yahweh kéo dài từ Gen 15 :4 cho đến Gen 15 :19, tổng cộng 16 câu, lồng trong một nghi thức tế lễ rườm rà được tô điểm bởi một vài phép lạ và vài câu tiên tri. Không thấy nói Abram có được thuyết phục bởi diễn văn của Yahweh hay không … Đó là lần thứ tư Yahweh lập lại lời hứa của mình.

Mười năm trôi qua, Abram vẫn không có con. Sarai đem một tỳ nữ người Ai Cập của mình tên là Hagar, cho ăn nằm với Abram. Bà này thụ thai và sanh ra Ismael. Tựu trung, Sarai lập lại điều mà Abram đã làm khi ông đem bà hiến cho Vua Pharaon của Ai Cập. Ở đây, đến lượt Sarai phá vỡ sự giao kết với Thiên Chúa. Sự kiện Hagar là người Ai Cập mang ít nhất là hai ý nghĩa. Thứ nhất, điều này lập lại mâu thuẫn Thiên Chúa – Ai Cập, mà ta sẽ còn nhiều lần chứng kiến. Thứ hai, Ismael vì có mẹ là người Ai Cập, nên thuộc về ngoại tộc, không nằm trong “giao kèo” đã ký kết với Thiên Chúa. Ngày nay, trên nguyên tắc, người Do Thái vẫn coi một người là người Do Thái do ở mẹ người ấy là Do Thái.

Trong lúc Hagar mang thai thì Sarai ghen tức, hành hạ bà, khiến bà phải bỏ trốn vào sa mạc. Thiên Thần Yahweh hiện ra nói với bà : « Ta sẽ cho ngươi thật nhiều con cháu, không thể đếm hết được » (Gen 16 :10). Thiên Thần cũng dặn Hagar quay về với Sarai và phục tùng bà. Cần hiểu là trong lối hành văn của Sáng Thế Ký, chữ “Thiên Thần” (ange) chỉ sự biểu hiện của Thiên Chúa dưới một hình dạng giống con người. Thiên Thần Yahweh không phải là một sứ giả, mà chính là Yahweh thị hiện ra. Vì thế, Thiên Thần nói “Ta sẽ” chứ không nói “Yahweh sẽ”, và trong Gen 16 :13, Hagar kêu tên Yahweh là “đấng vừa phán bảo” mình, chứ không phải là “đấng vừa sai ai đó” đến nói chuyện với bà. Ở một đoạn sau, với Abram, Chúa hứa thêm cho Ismael « sẽ sản sanh ra 12 đấng quân vương và một dân tộc lớn » (Gen 17 :20), một giao ước rất gần với giao ước mà Chúa đã cam kết với Abram. Vấn đề này có một quan hệ Lịch Sử trọng đại. Người Ả Rập, hậu duệ của Ismael, tự coi như chính họ kế thừa giao ước giữa Thiên Chúa và Abram, vì Ismael là con trưởng và vì Thiên Chúa đã lập lại giao ước này với mẹ Ismael. Phải chăng hậu quả của những giao ước lang bang này vẫn còn kéo dài cho đến ngày hôm nay ? Và chúng ta không thể không tự hỏi : tai sao Thiên Chúa lại làm điều đó ? Ngài muốn có hai, hay có một "Dân Chúa" ?  Ngài chọn thêm một "Dân Chúa thứ hai" để ngộ nhỡ Dân Chúa đầu tiên "chạy" không tốt ?  Hay Ngài không tin tưởng ở vợ chồng Abram ?  Dễ hiểu, chính vợ chồng Abram cũng đã bày tỏ nỗi ngờ vực đối với Ngài... Hay là Ngài muốn trừng phạt Sarai ?  Hay, như ta đã nhiều lần cảm thấy trong Sáng Thế Ký, chính Thiên Chúa cũng chưa rõ mình muốn cái gì ?

Thiên Chúa vốn dĩ là một nhân vật không có quá khứ, đang dần dần học hỏi kinh nghiệm, nên một thái độ dọ dẫm tìm tòi, là một điều rất hợp lý. Cho đến đây, Ngài cư xử như một đứa bé : điều gì không vừa ý thì Ngài gạt đi, hoặc phá hủy. Trong câu chuyện này, đứa bé đã lớn lên, đã có chút ý thức về tương quan xã hội, đã hiểu ra là hủy diệt không phải bao giờ cũng là giải pháp … Thật ra, Thiên Chúa có thể tức giận hơn nhiều, vì việc làm của Sarai, đã giúp cho Abram có con, chính là phỗng tay trên Ngài  một cách trắng trợn. Trên nguyên tắc, Abram chỉ có được hậu duệ nối dõi nhờ vào quyền phép của Chúa. Nhưng thay vì để Chúa ban cho Abram một người con, Sarai lại quyết định "ban" cho Abram người tớ gái của mình, và qua người tớ gái bà này, bà đã "ban" một đứa con đầu lòng cho Abram. Có lẽ Thiên Chúa đã không ngờ trước được phản ứng này của Sarai, và Ngài cũng đã phản ứng một cách bộc phát.

ĐẠI NGHI TÌNH VÀ ĐẠI TÍN TÂM

Rồi thời gian lại trôi qua. Abram đã 99 tuổi. Cái ký ức gần bách tuế của ông có còn nhớ lời giao kết khi xưa với Thiên Chúa lúc ông vừa 75 mùa xuân nữa hay không ?  Đã bao năm ông không còn nghe nói đến Chúa ... Rồi bất chợt Chúa hiện đến với ông. « Ta là Đấng Quyền Phép (El Saddai) ! », Chúa mạnh mẽ tuyên bố như vậy khi mở đầu câu chuyện (Gen 17 :1). Tại sao lại phải tự xưng mình như thế ?  Chúa sợ Abram không còn nhớ mình là ai ?  Chúa cần phải trấn áp tinh thần Abram sau 20 năm không gặp lại ?

Liền sau đó lại là một màn diễn văn tràng giang đại hải, lần này dài tới 20 câu (Gen 17 :1-22), lập lại thêm một lần thứ năm những giao kết đã được tuyên phán, tuy có "nâng cấp" chút đỉnh : Abram sẽ được Chúa cho trở thành "thủy tổ của vô số quốc gia" (lập lại 2 lần), "trong con cháu ông sẽ có những vị quân vương", và hậu duệ của ông sẽ nhiều đến mức "cùng cực" (lập lại 2 lần). Thiên Chúa cũng đổi tên Abram thành Abraham, có nghĩa là "cha của muôn người" và Sarai thì từ nay trở thành Sara (nghĩa là người đàn bà quý phái, công chúa). Quan trọng hơn, Chúa đặt ra lễ cắt da quy đầu như dấu chỉ của sự giao ước với Ngài. Trong bài viết trước, tôi đã bàn về ý nghĩa của việc này nên chỉ xin nhắc lại sơ qua : Thiên Chúa một mặt ra lệnh cho con người sinh sôi nảy nở, nhưng sự sinh sôi nảy nở ấy lại lấn áp một quyền hạn quan trọng của Ngài, đó là quyền ban sự sống. Nay, qua Abraham và những nam nhân trong bộ lạc ông cùng với tất cả hậu duệ của họ, Thiên Chúa đòi hỏi phải dâng nạp một phần dương vật cho Chúa, như một sự phục tùng đối với Chúa trên mặt tình dục.

Trước màn trình diễn của Thiên Chúa, Abraham cũng phản ứng một cách rất nặng "kịch tính". Ộng ngã xuống úp mặt xuống đất, và nghe Chúa diễn thuyết. Tuy nhiên, dưới khuôn mặt áp xuống đất của Abraham, là một nụ cười diễu cợt và chua chát (Gen 17 :17) : « làm sao một ông già 100 tuổi lại có thể có con, và một bà cụ 90 niên như bà Sara nhà tôi cách chi mà còn sanh đẻ được nữa ? », bài kệ "Đại nghi đại ngộ, Tiểu nghi tiểu ngộ, Bất nghi bất ngộ" chắc là có thể ứng vào trường hợp của ông này đây !

Có thể nghĩ rằng cái Đại Nghi Tình mà Abraham bày tỏ ra một cách càng ngày càng trắng trợn, che dấu một Đại Tín Tâm trong chiều sâu của tâm thức ông ?   Thật vậy, hễ Tin là phảI có Nghi. Không có sự nghi ngờ, thì không thể có Niềm Tin. Bạn không thể nói đến "Niềm Tin" vào sự hiện hữu của tờ Thế Kỷ 21 đang nằm trong tay bạn. Vì bạn không có chút nghi ngờ nào về sự hiện hữu ấy. Nhưng tin rằng Pháp Quốc sẽ thắng giải túc cầu thế giới lần tới, là một Niềm Tin, vì đồng thời trong lòng bạn đầy nghi ngờ. Tin vào Thiên Chúa cũng vậy. Đức Ky Tô trước khi lìa đời trên Thập Tự Giá cũng phát biểu mối Đai Nghi Tình qua câu : « Chúa ơi ! Chúa ơi ! Tại sao Chúa đã bỏ tôi ? »  Đây là dấu chỉ Ngài thực sự là một con người (mặc dù cũng là Thiên Chúa), với đầy đủ các đặc tính của con người, chứ không phải chỉ là một vị Chúa hóa trang giả bộ làm người.

PHÁP THÂN VÀ HÓA THÂN

Một ngày nọ, Abraham đang ngồi trước căn lều của mình thì Thiên Chúa hiện đến dưới hình dạng ba người đàn ông. Ba người. Tại sao Thiên Chúa lại không thể hóa thân thành ba người ? Trong Kinh Thủ Lang Nghiêm, Phật ngồi trong ngôi Tịnh Xá, trên đỉnh đầu phóng ngọn Vô Úy Quang Minh, trong đó có Hóa Thân Phật ngự trên tòa sen thuyết chú, cùng với Nhục Thân và Pháp Thân, là ba Thân Phật. Tại sao không ?

Thật ra, vấn đề “Hình Tướng” của Thiên Chúa đặt ra như sau : Chúng ta kế thừa hình ảnh của chúng ta từ cha mẹ chúng ta, và xa hơn nữa, từ tổ tiên của chúng ta. Thiên Chúa không có cha mẹ, tổ tiên, vậy làm sao Ngài có được một hình ảnh ? Giả sử Ngài có hình ảnh, thì hình ảnh ấy có nhiều hy vọng không thể diễn bày được. Vì thế, trong truyền thống Do Thái, và cả Hồi Giáo, không ai được hình dung ra hình ảnh Thiên Chúa (xem Exode 34 :17). Những sự thị hiện ra của Thiên Chúa vấp phải vấn đề lý thuyết này, nên mới có nhu cầu đặt ra “Thiên Thần” như những "hóa thân" của Thiên Chúa để khi cần, thì "Pháp Thân" Chúa có thể tùy duyên mà thị hiện ra với con người qua các “hóa thân” ấy mà không trái với lý thuyết hình ảnh Chúa không thể diễn bày được.

Dần dần, trong những đoạn sau này của Thánh Kinh, Thiên Thần mới mang một ý nghĩa tự thân, và mới thực sự trở thành những Sứ Giả, khác biệt hoàn toàn với Thiên Chúa. Ở đây, Abraham quỳ mọp trước ba người đàn ông và gọi họ là "Chúa" (Seigneur), số ít, chứ không phải là "các ông Chúa" hay “quý Thiên Thần”. Để diễn tả những gì ba người đàn ông này nói, tác giả Sáng Thế Ký khi thì ghi "họ nói" (Gen 18 :9), liền sau đó lại bảo "Chúa nói tiếp" (Gen 18 :10), cho thấy "ba người đàn ông" và "Chúa" là một cá thể.

ANH HÙNG THIÊN AN MÔN

Nội dung câu chuyện, đầu tiên là thông báo Sara sẽ sanh một con trai. Sara cười thầm (như Abraham), nhưng Chúa biết được, có vẻ giận, và trước sự chất vấn của Chúa, Sara chối quanh : « tôi đâu có cười hồi nào đâu ? » (Gen 18 :15). Tiếp đó là màn lập lại giao kèo, lần thứ sáu (!), cũng với một chút "nâng cấp" : « con cháu Abraham sẽ trở thành "một dân tộc được chúc lành (tùng phục ?) bởi mọi dân tộc trên thế giới » (Gen 18 :18). Sau hết Chúa cho biết sẽ hủy diệt thành Sodome ! Liền khi ấy, chúng ta thấy con người thật của Abraham lộ ra. Ông "đứng trước Thiên Chúa" và “bước lại gần Ngài”, trong một tư thế ngăn cản, và nói, một cách gần như vô lễ : « Phải chăng ông sẽ giết cả người ngay lành lẫn kẻ tội lỗi ? (...) Hãy từ bỏ lối cư xử ấy ! (...) Hãy từ bỏ nó ! Vị Chúa tể của toàn Mặt Đất có thể cư xử bất công như vậy sao ? » (Gen 18 :23-25).

Cụ già 100 tuổi có vẻ như muốn răn dạy Đấng Tối Cao, đầy quyền năng nhưng với một tâm lý còn quá non trẻ. Con người già đi, nhưng Thiên Chúa không già… Sự trưởng thành của Thiên Chúa trong Thánh Kinh là một tiến trình rất chậm chạp. Hình ảnh Abraham đứng trước Thiên Chúa để can ngăn một toan tính diệt chủng làm liên tưởng đến người sinh viên Trung Hoa đứng trước hàng chiến xa tiến vào đàn áp cuộc nổi dậy Thiên An Môn. Hình ảnh của một anh hùng ! Abraham, người đã nuốt nhục đem vợ mình dâng cho Pharaon, hóa ra, không phải là người hèn nhát.

SÁCH NHIỄU TÌNH DỤC THIÊN CHÚA !

Khỏi nói cũng biết là Sodome sẽ bị tiêu hủy. Vì sao ?  Vì "tội lỗi". Không thấy nói rõ tội gì. Sự biện minh cho việc tận diệt Sodome gần như đến cùng một lúc với thời điểm Chúa ra tay. Câu chuyện như sau : Hai vị Thiên Thần đến dùng bữa trong nhà của Loth, cháu của Abraham, trong thành Sodome. Đang ăn thì toàn thể dân chúng Sodome (Sáng Thế Ký nhấn mạnh ở chỗ "toàn thể", không thiếu một ai, từ già tới trẻ - Gen 19 :4), kéo tới, đòi hãm hiếp các vị Thiên Thần này (Gen 19 :5) ! Loth đề nghị giao cho dân chúng Sodome hai người con gái còn trinh nguyên của ông để họ tha cho hai vị Thiên Thần. Dân chúng Sodome không chịu, mắng Loth là "tên di dân", và hành hung Loth. Thật ra, hai vị Thiên Thần đến để hủy diệt Sodome (Gen 19 :13), và khi đến Sodome, họ liền thành công trong việc chứng minh là "toàn thể" dân chúng trong thành này "tội lỗi". Không có người ngay lành ở Sodome để Chúa giết oan như Abraham đã trách móc ở đoạn trên.  “Toàn thể” dân Sodome muốn hãm hiếp Thiên Thần Chúa, và, trong ý nghĩa Thiên Thần Chúa là "hóa thân" của chính Chúa, có thể hiểu là họ đòi "sách nhiễu tình dục" chính Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng tạo thành Trời Đất Vạn Vật !

Mặt khác, câu chuyện Sodome cũng gợi lên vấn đề đồng tính luyến ái và cho biết quan điểm của tác giả Sáng Thế Ký về vấn đề này (chữ "sodomisation" ngày nay vẫn dùng để chỉ một cách làm tình của những người đồng tính luyến ái, vốn thường bị các nhà đạo đức lên án như phản tự nhiên). Quan trọng hơn nữa, vượt ngoài các vấn đề "đạo đúc" hay "tự nhiên", vẫn là sự tranh chấp quyền hành giữa con người và Thiên Chúa. Sodome biểu tượng cho con người tự cho mình quyền làm tình như họ muốn, kể cả với chính Thiên Chúa, nếu có dịp ! Sau khi vừa bắt con người Abraham quy phục mình trên phương diện tình dục qua nghi thức cắt bì, Chúa liền phải giải quyết một cuộc nổi loạn dục tính vĩ đại của những con người khác ...

LOẠN LUÂN

Sẵn bàn về những chuyện yêu đương bị lên án, Sáng Thế Ký chuyển ngay sang vấn đề loạn luân. Loth, vợ ông với hai con gái được Chúa cứu khỏi Sodome. Bà vợ Loth nuối tiếc nhìn lại phía sau, bị hóa thành tượng muối. (“Phật Học Tinh Hoa” của Nguyễn Duy Cần có kể câu chuyện con người bằng muối luôn thắc mắc về bản ngã của mình, cho đến khi gặp nước biển, liền tan vào đại dương ...) Còn lại Loth dẫn hai con gái ra đi, ghé thành Coar (chữ Coar có nghĩa là "vô nghĩa", như thể của cải mà Loth vừa bỏ mất, cũng như sự hùng mạnh, huy hoàng của Sodome, tất cả đều "vô nghĩa"). Sau đó, ba người trốn lên núi sống trong một hang đá. Tại đây, để cho có người nối dõi tông đường, hai cô con gái của Loth đã cho cha mình uống rượu rồi giao hợp với ông, thụ thai, và sanh ra các giống dân Moabite và Ammonite. Nếu Loth đã đem hai đứa con gái trinh nguyên của mình dâng cho dân "bản xứ" (như Abraham đã làm ở Ai Cập với vợ ông), thì nay, hai cô bé ấy dẫn ông vào vòng loạn luân, như thể la một sự cải lại ý muốn tận diệt của Thiên Chúa, một sự trả thù hay không chấp nhận định mệnh.

Chúng ta cũng thấy Sáng Thế Ký không phải chỉ là một quyển sách tôn giáo. Sáng Thế Ký cũng nêu lên những vấn nạn rất thực tế trong đầu óc của người Do Thái : Do đâu mà dân Moabite và Ammonite bị các dân khác kỳ thị ?  Vì đâu có những tượng muối dọc Biển Chết ?  Vì sao những thành phố trên lưu vực sông Jourdain đã bị thiên tai tiêu hủy ?  Rồi vấn đề đồng tính luyến ái, vấn đề đa thê, vấn đề thừa kế giữa nhiều giòng con, vấn đề hiếm muộn, vấn đề chia tách một bộ lạc (Loth tách khỏi bộ lạc Abram), vấn đề liên minh với dân bản xứ và giải quyết tranh chấp với họ (Gen 21 :22-34), sự nhẫn nhục cần thiết của người di dân, sự mâu thuẫn giữa dân định cư trồng trọt và du mục chăn nuôi (chuyện Cain và Abel), rồi tại sao con người lại nói nhiều thứ tiếng và phân tán khắp mặt đất (chuyện tháp Babel), ý nghĩa của những trận lụt vĩ đại và làm sao người ta lại sống sót được sau đó ?   Israel từ đâu ra ?  v.v...

Thậm chi một số tục lệ buôn bán của người Semites cũng được bàn đến, như lúc Sara qua đời, Abraham mua một mảnh đất để chôn bà. Người bán nói đại ý rằng : nghĩa tử nghĩa tận, xin biếu đất cho ông, không có vấn đề mua bán. Tuy nhiên trong câu chuyện khách sáo, lại "tình cờ" cho biết trị giá của thửa ruộng, kiểu "xá gì một mảnh đất 400 đồng vàng đối với mối thân tình của ông với tôi ?". Thế là khổ chủ hiểu ý liền lòi tiền ra ! Mảnh đất này hiện ở Hebron, nơi có "Mồ Tổ Phụ", nay vẫn là đề tài tranh chấp gay gắt giữa người Do Thái và người Ả Rập (Abraham, con và cháu ông là Isaac và Jacob đều sẽ được mai táng nơi đây). Mảnh đất nói trên cũng là mảnh đất đầu tiên trên đó Abraham thực sự có chủ quyền trên lãnh thổ mà Thiên Chúa đã hứa cho ông. Nhưng đó là chuyện về sau.

GIẢI QUYẾT GỌN GÀNG

Phần Abraham, sau khi chứng kiến sự hủy diệt của Sodome, ông làm gì ?  Một phản ứng rất lạ : ông đem Sara tặng cho Abimelek, Vua xứ Guerar, nói bà là em gái ông ! Y hệt như với Pharaon ! Một ám ảnh ?  Có thể nhìn thấy ở đây một sự phản đối, một cuộc nổi loạn gián tiếp đối với Thiên Chúa. Sự kiện Abraham tỏ thái độ chống đối ngay sau khi chứng kiến Sodome bị Chúa hủy diệt, mặc dù mọi nỗ lực can ngăn của ông, cho thấy liên hệ giữa hai câu chuyện. Nhưng, để nhìn thấy một nguyên do quan trọng hơn có lẽ phải nhìn ngược lên một đoạn nữa, đoạn Abraham bị Chúa bắt phải cắt da quy đầu, phải phục tùng Chúa về tình dục, trong chính phần nhạy cảm nhất của thân xác mình. Chúng ta nhớ lại là thái độ của người dân Sodome, trong bản chất, chính là phản đối lại sự phục tùng Chúa về tình dục…

Lần trước gặp Abraham, Chúa nói năm sau Sara sẽ sanh con trai, sẽ được đặt tên là Isaac. Lúc đem Sara hiến cho Abimelek, Abraham có nhớ điều đó không ?  Trước một lời hứa được lập lại sáu lần, trong suốt 25 năm trường không được thực hiện chút nào, bạn nghĩ sao ?  Đừng quên là Abraham đã bách tuế, và Sara gần chín mươi ... Rốt cuộc Thiên Chúa phạt gia đình Abimelek, rồi, lần này dưới dạng Elohim, Ngài hiện ra bảo Abimelek phải trả  Sara lại cho Abraham, và mọi việc được giải quyết.

Càng được giải quyết gọn gàng hơn nữa khi Sara thụ thai, và sanh ra Isaac (Yischaq, nghĩa là "nó cười", nhắc chuyên Sara cười khi nghe Chúa nói bà sẽ thụ thai ở tuổi 90). Mặt khác, Ismael và Hagar bị Sara đuổi vào sa mạc. Khi họ gần chết khát, thì được Chúa cứu, sau cho ra dân Ả Rập ... Bên cạnh Abraham chỉ còn lại Isaac. Isaac lớn lên, để chứng kiến màn đối nghịch cuối cùng giữa Abraham và Thiên Chúa.

LÀM MỘT VỚI CHÚA

Chúa (Elohim) gọi : "Abraham !" Abraham trả lời "Tôi đây !", lời duy nhất Abraham nói với Chúa trong suốt lần gặp gỡ này. Chúa ra lệnh cho Abraham đem Isaac giết đi để tế lễ Ngài. Người đã từng đứng trước Thiên Chúa chống lại cuộc thảm sát thành Sodome, nay hoàn toàn im lặng, không một lời phản kháng, mặc dù nạn nhân sẽ bị sát hại chính là đứa con nhỏ dại của mình. Abraham lẳng lặng sửa soạn cuộc tế lễ, và sau ba ngày đường, dẫn Isaac lên ngọn núi mà Chúa đã chỉ định. Ông bảo hai kẻ tùy tùng : « Hãy dừng lại đây với con lừa, tôi dắt đứa trẻ, lên trên kia thờ phượng Chúa, rồi chúng tôi sẽ cùng trở về với các anh ». Abraham nói dối, hay ông tin tưởng rằng ông sẽ cùng với đứa bé trở về ?  Isaac gọi : "Cha ơi !". Abraham trả lời "Cha đây". Khi Isaac hỏi con vật để tề lễ đâu ?  thì Abraham nói : « Chúa sẽ biết tìm ra con vật tế lễ ». Câu này dành cho Isaac hay cho Chúa ?

Ta thoáng thấy một tia lửa trong tâm hồn Abraham. Rồi Abraham lập bàn thờ, chất củi, trói Isaac, đặt lên trên, và giơ tay cầm lấy con dao ... Thiên Thần Yahweh (ở đây Elohim đổi thành Yahweh), kêu : « Abraham! Abraham! ». Abraham trả lời gọn ghẽ : « Tôi đây ! ».

Trong tiếng Việt, khi có ai gọi, ta có thể nói : Tôi đây, con đây, cha, anh, hay em đây". Nhưng trong ngôn ngữ của Thánh Kinh, ở đây, chỉ có một câu trả lời, dịch ra Pháp văn là "me voici !". Abraham trả lời như vậy ba lần : với Elohim, rồi với Isaac, và sau cùng với Yahweh. Một cách hành văn rất khéo, vẽ lên được sự đối nghịch trong lòng Abraham giữa một bên là “Elohim – Yahweh” và bên kia là Isaac. Câu "tôi đây" dùng để trả lời Chúa có một vẻ gì cộc lốc, tựa hồ vô lễ, trái hẳn với thái độ của Abraham trong những lần tiếp xúc trước.

Ta còn nhớ Abraham  ngã xấp mặt xuống đất trong Gen 17 :3, hay trong Gen 18 :3-8, ông tất tả chạy kêu Sara và đày tớ làm tiệc thiết đãi Chúa (dưới dạng 3 người đàn ông). Ở đây chỉ có "tôi đây !" Lúc Elohim gọi ông, Abraham vẫn chưa biết Ngài muốn gì cơ mà !  Tại sao lại có sự lạnh lùng ấy ? Thêm vào đó, Chúa đã cho Abraham một người con trai nối dõi, Abraham phải biết ơn, hay ít ra là bằng lòng với Chúa chứ ? Khi trả lời Isaac, Abraham thêm : "con của cha". Nét trìu mến làm tăng thêm vẻ lạnh lùng của câu trả lời với Chúa. Rốt cuộc, Yahweh ngăn không cho Abraham giết Isaac, rồi lập lại, lần thứ bảy, những lời giao kết với ông và hậu duệ của ông. Chúng ta còn nhớ (đọc bài trước) ý nghĩa biểu tượng của con số bảy … Nhưng Abraham có thực sự định giết Isaac hay không ? Có lẽ Abraham đã đoán trước phản ứng của Chúa. Ông đã nói « Chúa sẽ biết tìm ra con vật tế lễ ». Và phải chăng chính vì Abraham đã biết Chúa quá rõ, nên ông không còn cần phải khách sáo với Ngài nữa ?

Chúng ta có thể giả sử như vậy, khi đọc đến Gen 24, khi Abraham gọi người đày tớ trung thành nhất và ra lệnh cho ông này trở về nguyên quán của mình tìm một thiếu nữ  trong bộ tộc về làm vợ cho Isaac. Người đày tớ thắc mắc : thế nhỡ người con gái ấy không chịu theo tôi thì sao ?  Abraham trả lời : « Chúa sẽ cho Thiên Thần của Ngài đi trước ngươi, và ở đấy (quê cũ của Abraham), ngươi sẽ đem một người vợ về cho con ta ». Ơ hay ! Abraham ra lệnh cho người đày tớ hay cho Chúa ?  Làm sao Abraham quả quyết  được Chúa sẽ làm gì ?

Phải chăng Abraham và Chúa đã trở nên một ?  Nếu Thiên Chúa đã đến với Abraham, thì Abraham cũng đã  đi con đường ngược lại, và từ thái độ ngăn cách, "ngã xấp mặt xuống đất", đã biết nhìn ra rằng : tâm hồn của Thiên Chúa, bản chất của Thiên Chúa, thật ra rất giống mình, thật ra không xa lạ với cái bản chất của chính mình. Phải đợi đến Đức Ky Tô, trong Tân Ước, quan điểm này mới được tuyên dương ra một cách rõ ràng :  « Con cầu nguyện cho tất cả những ai tin nơi con, để tất cả trở thành Một. Cũng như Cha, thưa Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha, và họ cũng ở trong chúng ta » (Gioan 20-21).

            Con người Abraham ở trong Chúa và Chúa ở trong con người Abraham. Người ta thường nói Do Thái Giáo là tôn giáo "mặc khải", tức khởi đầu từ sự kiện Thiên Chúa đến với con người. Có thực vậy không ?  Như một người Đông Á, tôi phải tự hỏi cái thực thể Thiên Chúa đã hiển lộ ra với Abraham ấy, có thực sự ở ngoài tâm hồn ông hay không ?  Có thực là Chúa tìm đến ông hay chính ông tìm Chúa trong ông ?  Như con người Phục Hy « trên xem văn trời, dưới xét lý đất, giữa khảo sát tình trạng vạn vật » (Chu Dịch-Phan Bội Châu), Abraham đi tìm nguyên lý của sự vật quanh ông, của trời của đất, của con người, của xã hội...

Giả sử có một Thiên Chúa tạo thành mọi sự ? Nếu thế, thì Thiên Chúa ấy ra sao ?  Sẽ nói gì với tôi ?  Tôi sẽ có thể chờ đợi gì ở Ngài ?

Đó là khởi sự cuộc hành trình của Abraham, một cuộc hành trình nội tâm trước khi là một chuyến ra đi của người du mục. Cuộc hành trình ấy mang một màu sắc hy vọng mãnh liệt. Nếu có một Thiên Chúa thực sự như tôi nghĩ, toàn năng và là đấng tao nên mọi sự mọi vật, thì mọi chuyện trong cuộc đời này sẽ không thể tiếp tục như vậy được. Tương lai phải là một trạng thái hoàn toàn khác, hoàn toàn đoạn tuyệt với hiện tại ! Tương lai là Nước Chúa huy hoàng, không thể là hiện tại nối dài, một hiện tại hèn kém. Nhưng trong niềm hy vọng mãnh liệt ấy, cũng có nghi ngờ khắc khoải, và tuyệt vọng vô bờ.

Nếu tôi lầm lẫn... Nếu Chúa chỉ là ước vọng hão huyền của tôi, chỉ là hiện thân của dục vọng, của ngạo mạn, của kiêu căng ("ta là đấng Quyền Phép"   (Gen 17 :1), của những thù hận, oán hờn, của những ganh ghét, nhỏ mọn, những tham lam, ích kỷ, của tôi, thế thì ... mọi sự sụp đổ ! Tương lai sẽ là kinh hoàng, như thành Sodome bị hủy diệt, xã hội sẽ rối loạn, nhân tình sẽ đảo điên như Loth ăn nằm với con gái mình, sẽ bất công như Hagar và Ismael bị đuổi vào sa mạc, sẽ hèn hạ như Abraham phải hai lần dâng vợ cho người quyền thế, sẽ tàn nhẫn như người cha phải giết chính đứa con thơ của mình ...

Lúc ông lìa đời, ở tuổi 175, sau khi tục huyền với Quetoura và sanh thêm sáu người con (Gen 25 :2), Abraham có vẻ như đã trở lại đời sống của một con người bình thường. Những đối kháng mãnh liệt trong nội tâm ông không còn nữa. Có lẽ ông đã hiểu Thiên Chúa, đã HỢP NHẤT với Ngài. Abraham ở trong Chúa và Chúa ở trong Abraham ...

NGUYỄN HOÀI VÂN - 12 tháng 2 năm 2004

      Source: Tp San Thế K 21 s 179


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net