08_gdmau.jpg (3664 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 4 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)
 

      BUSH VÀ CUỘC XÂM CHIẾM IRAQ:

       MỘT NĂM SAU

Trần Chung Ngọc

Courtesy of AllhatNocattle.net     Cuộc xâm lược (Invasion) và chiếm đóng (Occupation) Iraq của Tổng Thống Bush nay đã được một tuổi.  [Invasion và Occupation là những từ chúng ta thấy thường xuyên trên TV và báo chí Mỹ, nói lên thực chất của cuộc chiến tranh Iraq].  Mỹ đã tiêu tốn, theo ước tính, cả trên trăm tỷ đô-la, trong đó có tiền thuế của người dân Mỹ.  Ngoài ra, đã có gần 600 quân nhân Mỹ chết, gần 3000 bị thương.  Số dân Iraq chết không biết chính xác, nhưng có thể lên tới nhiều ngàn người.  Kết quả cuộc xâm chiếm Iraq sau một năm ra sao?  Chúng ta hãy điểm qua vài sự kiện trên xã hội và chính trường Mỹ gần đây.

1.      Phong Trào Chống “Chiến Tranh Iraq Của Bush”Lan Rộng.  [Tin Tổng Hợp]

     Ngày Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2004, tại nhiều nơi trên đất Mỹ đã có những cuộc biểu tình lớn của dân chúng Mỹ chống chiến tranh Iraq.  Người ta đếm được khoảng 250 cuộc biểu tình lớn nhỏ.  Những cuộc biểu tình lớn nhất là ở New York, San Francisco và Chicago.

     Ở San Francisco, nhiều ngàn người trong đó có Hội của những bà nội, bà ngoại cổ võ hòa bình ở  Hayward (Hayward grand-mothers for Peace) đã biểu tình chống cuộc chiến tranh Iraq của Bush.  Cảnh sát đã bắt giữ 82 người về tội làm tắc nghẽn giao thông.

     Ở Chicago, trên 5000 người đã biểu tình, mang nhiều biểu ngữ chống chiến tranh Iraq, đòi chấm dứt cuộc chiến tranh của đế quốc (Stop the Imperialist war), và chống Bush, diễn hành trên vài đường chính ở trung tâm Chicago.  Trái với cuộc biểu tình năm ngoái trong đó cảnh sát đã bắt giữ hơn 900 người, sau đó lại thả, năm nay cảnh sát chỉ bắt giữ có 3 người về tội xung đột với cảnh sát.  Cũng có khoảng 30 người chống biểu tình, mang biểu ngữ ủng hộ Bush và quân đội Mỹ ở Iraq.

     Ở Manhattan, New York, khoảng trên 100000 người đã biểu tình chống chiến tranh Iraq, chật ních 12 dãy phố có hàng rào cảnh sát (12 police-lined blocks), không xảy ra chuyện gì đáng tiếc.

     Các cuộc biểu tình chống chiến tranh Iraq không chỉ ở trên đất Mỹ mà còn xảy ra ở Đức, Hi Lạp, Netherlands, và nhiều quốc gia Âu Châu khác.  Trước đây đã có những cuộc biểu tình chống chiến tranh ở Nhật, Úc, và Ấn Độ.  Vào khoảng 500 người đụng độ với cảnh sát ở ngoài tòa đại sứ Mỹ ở Manila, thủ đô Phi Luật Tân.

     Ngoài các cuộc biểu tình chống chiến tranh, dư luận quần chúng về cuộc chiến tranh Iraq càng ngày càng ngả về phía tiêu cực đối với chính quyền Bush, trước những diễn biến chính trị trong chính quyền Bush và Quốc Tế.  Người dân nay đã biết rõ những luận cứ chính quyền Bush đưa ra để tiến hành cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq là sai lầm và có tính cách lừa dối dư luận.  Người dân cũng biết rõ là cuộc chiến tranh Iraq do Mỹ đơn phương chủ động, bất chấp sự không đồng ý của Liên Hiệp Quốc, không mang lại an ninh hơn cho thế giới, trái lại chỉ làm tăng gia những sự khủng bố, và làm cho Mỹ tự cô lập hóa trên chính trường quốc tế.  Chính Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Donald Rumsfeld cũng phải thú nhận là “càng ngày càng sinh ra những kẻ triệt để ghét Mỹ nhanh hơn là chúng ta có thể bắt giữ hay giết chúng” [Time, March 22, 2004: Rumsfeld: radicals who hate America are being turned out faster than we can arrest or kill them]. 

     Sau đây là vài quan điểm của người dân đối với cuộc chiến tranh Iraq.

a.          Ý  kiến của Randy Broderick ở New Jersey:  “Sự chiếm đóng Iraq đang đi đến chỗ thất bại vì nhiều người Iraq vô tội đã bị giết, nhiều quốc gia khác đang nhìn Mỹ với đôi mắt nghi ngờ, và cuộc tấn công Iraq chỉ tạo thêm những cuộc khủng bố trên đất Mỹ.  Cuối cùng, họ [quân khủng bố] cảm thấy họ phải trả đũa.  Và cách họ đánh lại chúng ta là khủng bố.  Do đó bất cứ hành động nào của chúng ta có tác dụng khuyến khích chuyện này là một chính sách dở ẹt (bad policy), một sai lầm đưa đến thất bại hoàn toàn (a disastrous mistake).  Tổng Thống Bush chưa từng đưa ra một vụ nào có tính cách thuyết phục để biện minh cho cuộc xâm lược Iraq (President Bush never made a convincing case to justify the invasion of Iraq).”

b.        Ý Kiến Của Kyle Ward, con của một ông Trung Tá Không Quân hồi hưu: Tôi đã có   ý nghi ngờ khi ngoại trưởng Colin Powel ra trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nói rằng Saddam Hussein có vũ khí hóa học và sinh học và đang xúc tiến sự chế tạo vũ khí nguyên tử.  Và bây giờ, tôi không tin là Hussein có bất cứ loại vũ khí giết người hàng loạt nào. “Tôi không tin rằng họ (Iraq) có bất cứ cái gì có thể đe dọa chúng ta.   Tôi nghĩ rằng vào một thời điểm nào đó, Hoa Kỳ cũng biết như vậy, và tất cả đã chỉ là nói láo, nói láo, nói láo.” (I don’t think they had anything.. I think that at a point in time, the United States knew that too, and it has been lies, lies, lies.)

c.        Ý Kiến Của William Newmann, Giáo sư khoa chính trị học tại đại học Virginia Commonwealth: “Tôi nghĩ rằng chính quyền đã lạc dẫn dư luận quần chúng Mỹ.. Chính quyền đã lấy nhiều những tin tức và phân tích tình báo không chắc chắn trong đó có chứa những từ như “có thể” (might), hay “có khả năng” (potentially) và diễn giải chúng như là “chắc chắn” (definitely).”

d.        Ý Kiến Của Ivan Eland, Giám Đốc Trung Tâm Hòa Bình Và Tự Do ở Oakland: “Tuy hầu hết các cơ quan tình báo nghĩ rằng Iraq có những vũ khí hóa học và sinh học, chính quyền Bush đã thổi phồng quá lố sự đe dọa của những Vũ Khí Giết Người Hàng Loạt (WMD) của Iraq.”

e.        Ý Kiến Của Donald Snow, Giáo sư khoa chính trị học, đại học Alabama, chuyên gia về quân sự và khủng bố: “Trong vài trường hợp, những khẳng định về những Vũ Khí Giết Người Hàng Loạt (WMD) có ý lạc dẫn quần chúng, nhưng về trường hợp của hầu hết những người trực tiếp dưới quyền của Phó Tổng Thống và trong Tòa Nhà 5 Góc (Pentagon) – hai nơi ngự trị bởi những người bảo thủ - họ đều là những người sống trong ảo tưởng (self-delusion)”

f.          Ý Kiến Của Peter Kirchheimer:   “Chúng ta không đi khắp nơi, xâm lược những quốc gia nào mà chúng ta không ưa lãnh tụ của họ... Chúng ta có thể thấy rằng, cuối cùng, chúng ta đã thay thế Saddam Hussein bằng một chế độ cũng tồi tệ như vậy hay tồi tệ hơn” (You don’t go around invading places because you don’t like their leader.. And we may find that, in the end, we’ve replaced Saddam Hussein with a regime that is just as bad or even worse)

     Trên đây chỉ là vài ý kiến điển hình của người dân Mỹ, những người có lương tri và đầu óc, không vì lòng ái quốc mù quáng mà ủng hộ tất cả những gì chính quyền Bush làm.  Còn nhiều nhận định khác về Bush trên nhiều khía cạnh, thí dụ như tôn giáo, cho rằng Bush là một “tổng thống tin vào Phúc Âm nhất trong lịch sử Hoa Kỳ” (the most evangelical president in American history), hay triết lý  chính trị   kiểu “các ông hoặc theo chúng tôi, hoặc chống chúng tôi” (you’re either with us or you’re against us); và với ảo tưởng “Bush giới thiệu nước Mỹ với thế giới – và cho chính nước Mỹ - như là một quốc gia gương mẫu và là nhà xuất cảng một món hàng phổ quát, món hàng dân chủ Mỹ, sang Afghanistan, Trung Đông, Haiti - khắp mọi nơi trên thế giới” (Newsweek March 15, 2004: Bush is presenting America to the world – and, inescapably, to itself- as an exemplar and exporter of a universal good, liberal democracy, and Bush believes it can be exported to Afghanistan, the Middle East, Haiti - everywhere) v..v..  [Có lẽ Bush chưa hề đọc Noam Chomsky, Samuel Huntington v..v.. và không hề biết thế giới đã đánh giá Mỹ như thế nào.]

2.      Những Sự Kiện Chính Trị.

     Một năm sau khi Tổng Thống Bush phát động cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq, giới truyền thông đã đưa ra nhiều nhận định về cuộc chiến ở Iraq và hậu quả của nó. Đa số nhận định không lấy gì làm lạc quan, và viễn tượng về một cuộc sa lầy của Mỹ có vẻ như đã thành hình.  Tình trạng Iraq không lấy gì làm khả quan: các hoạt động xã hội trở nên tồi tệ vì chiến tranh; lính Mỹ vẫn tiếp tục chết hàng ngày; khủng bố tiếp tục gia tăng; dân lành tiếp tục chết oan vì khủng bố và phản ứng bừa bãi vì hoảng sợ của lính Mỹ; người dân Iraq càng ngày càng bất mãn.

     Về chính trị, Tổng Thống Bush bị nhiều vố nặng làm giảm uy tín của ông không ít và dồn ông ta vào thế tự vệ trong cuộc tranh cử với John Kerry. 

1.                 Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ Bush và Thủ Tướng Anh Tony Blair, cho rằng những lời nói láo của họ đã dẫn đến cuộc chiến ở Iraq, và không có lý do gì để tấn công Saddam Hussein (Chicago Tribune, March 23, 2004: Carter blasts Bush, says “lies” led to war, strongly criticized Bush and Tony Blair, saying there was no reason to attack Saddam Hussein).  Carter nói với tờ Independent:  “Cuộc chiến đó dựa trên những lời nói láo và diễn giải sai lầm từ London và Washington, khẳng định sai lầm là Saddam Hussein có trách nhiệm trong vụ tấn công 9/11, khẳng định sai lầm là Iraq có Vũ Khí Giết Người Hàng Loạt” (That was a war based on lies and misinterpretation from London and from Washington, claiming falsely that Saddam Hussein was responsible for the 9/11 attacks, claimimg falsely that Iraq had WMD.)

2.                 Chúng ta biết rằng, vào tháng 1, 2004, “David Kay, người của Bush, cầm đầu toán đi săn lùng các vũ khí giết người hàng loạt ở Iraq, đã phúc trình là Iraq không hề có các vũ khí sinh học và hóa học mà Bush đã khẳng định là có” (Chicago Tribune March 19, 2004: David Kay, Bush’s top weapons hunter in Iraq, reported in January that Iraq didn’t have the biological and chemical weapons Bush claimed it did) và tuyên bố “Chúng ta sai lầm hết” (We are all wrong).  Chúng ta cũng biết, Hans Blix, người đứng đầu Cơ Quan Năng Lượng Nguyên Tử Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc và cũng là người đứng đầu toán thanh tra Liên Hiệp Quốc về vũ khí giết người hàng loạt ở Iraq, sau 6 tháng tìm kiếm, đã trở về với hai bàn tay trắng.  Sau đó, Blix viết cuốn “Disarming Iraq” mô tả những cố gắng của mình để chống lại những áp lực từ Phó Tổng Thống Dick Cheney và các viên chức khác trong chính quyền Bush.  Theo nhận định của Blix:  “Tổng thống Bush đã đánh giá quá thấp sự ủng hộ của Liên Hiệp Quốc khi ông ta đơn phương đi vào cuộc chiến Iraq mà không có sự chấp thuận của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc.” (President Bush greatly underestimated the importance of UN backing when he went to war in Iraq without Security Council endorsement); “Chính quyền Bush đã cản trở hoạt động của toán thanh tra vũ khí theo hai cách: nặng tay dùng áp lực chính trị và cung cấp những manh mối không chính xác đã chứng tỏ chỉ làm phí thời gian tìm kiếm”  (The Bush administration hampered the inspection team’s work in two ways: by applying heavy-handed political pressure and by providing inaccurate leads that proved a waste of time.)  Kết quả cuộc xâm lược Iraq, theo Blix, không làm cho thế giới an toàn hơn (The world is not safer). Ông hỏi: “Làm sao mà thế giới có thể an toàn hơn với những gì đã xẩy ra ở Baghdad và Madrid?” (How can the world be safer with what has happened in Baghdad and Madrid.)

3.                 Nhưng vố nặng cho Bush hơn cả là sự xuất bản mới đây của cuốn Against All Enemies: Inside America’s War On Terrorism của Richard Clarke, một chuyên gia chống khủng bố cao cấp đã từng phục vụ trong 4 triều đại tổng thống, từ Reagan, Bush Cha, cho tới Clinton và Bush Con.  Cuốn sách này đã phần nào vô hiệu hóa những hình ảnh một “anh hùng Texas chống khủng bố” mà Bush đưa lên, lợi dụng biến cố 9/11, để tranh cử.  Clarke lên án tổng thống Bush không coi vấn đề chống khủng bố là cấp thiết trước khi xảy ra vụ 9/11 ở New York.  (I believe the Bush administration, in the first eight months, considered terrorism an important issue but not an urgent issue).  Cuốn sách cũng cho biết, Bush và bộ tham mưu cao cấp của ông nhất định đánh Iraq tuy rằng không có một bằng cớ nào chứng tỏ Iraq liên hệ đến cuộc khủng bố 9/11 của Osama Bin Laden.  Trong cuộc điều trần trước Ủy Ban Điều Tra Biến Cố 9/11, Richard Clarke cho biết ngay sau ngày 9/11/2001, Bush và Rumsfeld đã quyết định đánh Iraq bất kể là Clarke đã cho biết là Iraq không có dính líu gì vào vụ 9/11.  Vào ngày 12 tháng 9, 2001, Bush kéo riêng Clark và một vài nhân viên khác ra và ra lệnh phải kiếm bằng được vai trò của Iraq trong vụ tấn công 9/11 (Clarke said Bush pulled him and a few others into a side office and demanded that Clarke determine what role Iraq played in the attacks); “Với một thái độ rất bắt buộc, Bush rõ ràng là muốn chúng tôi phải trở lại để phúc trình là Iraq đứng đàng sau biến cố 9/11, vì họ đã có dự tính làm gì đó đối với Iraq từ trước khi vào tòa Bạch Ốc” (The president, in a very intimading way, left us – me and my staff – with the clear implication that he wanted us to come back with the word that there was an Iraqi hand behind 9/11 because they had been planning to do some ting about Iraq from before the time they came into office).  Clarke cũng còn nói ông ta “cảm thấy đau lòng khi thấy Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld và Phụ Tá Paul Wolfowitz  đã lợi dụng tấn thảm kịch quốc gia (9/11) để đẩy mạnh dự kiến về Iraq” (I realized with almost a sharp pain that Defense Secretary Donald Rumsfeld and hid deputy Paul Wolfowitz were going to take advantage of this national tragedy to promote their agenda about Iraq).  Clarke thổ lộ với Ngoại Trưởng Colin Powell là “đánh Iraq trong khi Iraq không liên hệ gì tới cuộc tấn công 9/11 cũng như chúng ta đi xâm lược Mexico sau khi Nhật Bản oanh tạc chúng ta ở Trân Châu Cảng” (Attacking Iraq, which had no connection to the deadly attacks (9/11) would have been like our invading Mexico after the Japanese attacked us at Pearl Harbor).  Clarke coi cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq là “không cần thiết và tốn kém” (unnecessary and costly) và “phá ngầm rất nhiều cuộc chiến chống khủng bố” (greatly undermine the war on terror).  Clarke cũng còn chĩ trích Cố Vấn An Ninh Quốc Gia (National Security Adviser) của Bush, Condoleezza Rice, là đã “đánh bóng khả năng giáo khoa và làm việc trong chính quyền của mình trong những năm dưới thời Reagan như là một chuyên gia về Nga Sô Viết và Chiến Tranh Lạnh, nhưng chưa bao giờ nghe đến Al Qaeda khi về Washington phục vụ cho Bush.” (He suggested that Condoleezza Rice, who burnished her academic and governement credentials during the Reagan years as an expert on the Soviet Union and Cold War, had never heard of Al Qaeda when she returned to Washington to serve Bush).  Tưởng chúng ta cũng nên biết, vào tháng 1, 2004, Paul O’Neil, Bộ Trưởng Tài Chánh của Bush, cũng đã tiết lộ nhiều tài liệu, trong đó có một số tài liệu mật, cho Ron Suskind để viết cuốn The Price of Loyalty trong đó chỉ trích chính sách của Bush đối với khủng bố và Iraq.  Paul O’Neil lên án “Bush và những phụ tá của ông lên cầm quyền, đặt kế hoạch hạ bệ Hussein và dùng biến cố 9/11 để biện minh cho cuộc tấn công Iraq.” (Bush and his aides took office planning to oust Hussein and used the 9/11 attacks to justify the military attack).  Không lạ gì, phản ứng trước những cáo trạng của Clarke, bộ tham mưu của Bush và Rice đã mở một chiến dịch để hạ uy tín của Clarke, đưa ra bằng chứng là Clarke đã mâu thuẫn với nội dung một văn kiện của chính Clarke vào năm 2002 khen ngợi chính sách chống khủng bố của Bush.  Nhưng Clarke đã giảng cho người chất vấn trong Ủy Ban một bài học về chính trị ở Washington khác với sự thật như thế nào.  Sự thật ra sao, chúng ta còn phải chờ phúc trình kết toán sự việc của Ủy Ban Điều Tra Biến Cố 9/11, nhưng hiện nay cuốn sách của Richard Clarke thuộc loại bán chạy nhất, và rất nổi tiếng.

4.                 Ngoài môi trường chính trị Mỹ, cuộc đặt bom trên một chuyến tầu làm 201 người chết và 1200 người bị thương ở Madrid, thủ đô Tây Ban Nha, không chỉ gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho Tây Ban Nha mà còn đưa đến một hậu quả chính trị liên quan đến cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq của Mỹ.  Ngoài nước Anh ra, ở Âu Châu, Tây Ban Nha, dưới quyền của Thủ Tướng thân Mỹ Jose Maria Aznar, là đồng minh số 1 của Mỹ, đã gửi quân sang Iraq tham chiến cùng Mỹ, bất kể là 90% dân chúng Tây Ban Nha phản đối.   Hậu quả đầu tiên của cuộc đặt bom khủng bố trên là sau đó chỉ có 3 ngày, đến kỳ bầu cử, người dân đã loại Aznar và chọn Jose Luis Rodriguez Zapatero làm Thủ Tướng.  Zapatero tuyên bố cuộc chiến tranh ở Iraq là “một sự thất bại lớn cho chúng ta” (a disaster for us) và hứa sẽ rút quân Tây Ban Nha về trước ngày 1 tháng 7, 2004. Đây là một sự sụp đổ ý chí của một đồng minh cốt yếu của Mỹ trong cuộc chiến tranh của Bush chống khủng bố mà tác dụng của nó chỉ cổ võ thêm những kẻ cực đoan Hồi Giáo (a collapse of will by a key US ally in President Bush’s “war on terrorism” that will only encourage Islamic extremists). Sự thắng cử của Zapatero, theo Brian Hallett ở Madrid, là “một sự thắng lợi đưa ra một thông điệp rõ ràng cho những người bảo thủ đã dùng những lời nói láo và lừa dối để đưa chúng ta vào một cuộc chiến tranh mà chúng ta không muốn” (a victory that sends a clear message to the conservatives who used lies and deception to lead us in a war that we didn’t want) vì đó là “chiến tranh của các ông, chúng tôi chết” (vuestra guerra, nuestros muertos = your war, our dead).

Thay Đoạn Kết.- 

     Qua sự phân tích của các chuyên gia về cuộc chiến tranh Iraq thì rõ ràng là dân chúng Mỹ đã bị lôi vào một cuộc chiến không cần thiết và tốn kém.  Những lý do chính quyền Bush đưa ra để xâm lược và chiếm đóng Iraq hiển nhiên là không có tính cách thuyết phục, vì không có bằng chứng nào chứng tỏ Iraq có liên hệ đến biến cố 9/11, hay có những vũ khí giết người hàng loạt, hoặc có chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử, cũng như không có bằng chứng nào chứng tỏ Iraq có thể đe dọa an ninh Mỹ trong tương lai.  Cố vấn An Ninh Condoleezza Rice của Bush thường nhắc đến sự kiện Saddam Hussein đã từng mưu sát Bush Cha như là một lý do để cho Mỹ phải quan tâm đến Iraq, làm cho người ta có thể nghĩ rằng một trong những lý do Bush Con tấn công Iraq là để trả đũa cho bố.  Dư luận cũng không gạt bỏ một lý do khác là Mỹ muốn nắm kho dầu hỏa lớn thứ nhì trên thế giới, do đó nhiều người biểu tình phản đối chiến tranh đã giơ lên biểu ngữ “Không Đổi Máu Lấy Dầu” (No Blood For Oil).  Nhưng còn một lý do khác mà nhiều nhà phân tích đã nêu ra: đó là lý do tôn giáo trong tâm cảnh của Bush.  Theo George F. Will, một bình luận gia của tờ Newsweek, thì đó là tâm cảnh “Mỹ là quốc gia được God  (lẽ dĩ nhiên là God của Ki Tô Giáo hay nói đúng hơn là God của Tin Lành), chọn:  Mỹ là một dân tộc có giao ước với God, là một Israel mới” (a sense of “chosenness” – Americans as a “covenanted people,” America as a New Israel).  Nhưng Giáo sư Clifford Orwin ở đại học Toronto cho rằng nước Mỹ là một nước bị ngập trong tôn giáo – với quá nhiều tôn giáo – (with America awash in so much religion – and so many religions -) cho nên “nói về God (của Ki Tô Giáo) chỉ là một món ăn vô vị: những sự sùng tín thuộc chính quyền trở thành quá nhạt nhẽo” (the God-talk is thin, homogenized gruel: official pieties must become even more vapid).  Thật vậy, gần đây một người Mỹ “vô thần” ở California đã kiện lên Tối Cao Pháp Viện đòi bỏ từ  “under God” mà các học sinh tiểu học trong tiểu bang phải tuyên xưng trung thành với một quốc gia “under God”, và cũng có người kiện Bộ Trưởng Tài Chánh đòi bỏ cụm từ “In God We Trust” trên những tờ giấy bạc và đồng tiền Mỹ. [Tôi xin đề nghị cứ giữ nguyên hai cụm từ “Under God” và “In God We Trust”, hay bất cứ khi nào nói đến God, nhưng phải thêm vào đàng sau God cụm từ “But Which One?” cho tất cả mọi người đều cười vui vẻ.  Thí dụ:  “One Nation Under God (But Which One?) hay  “In God We Trust (But Which One?) hay “God (But Which One?) Bless America” v.. v..  TCN]

     Điều nhận xét trên của Giáo sư Clifford Will cũng phù hợp với quan điểm của cựu nữ tu Karen Armstrong, một chuyên gia khảo cứu về các nền văn hóa Hồi Giáo, Ki Tô, Do Thái và Phật Giáo, tác giả nhiều cuốn sách nổi tiếng có giá trị giáo khoa như “A History of God”, “The Battle for God”, “In the Beginning” v..v.., và cuốn sách mới nhất: “Cái Cầu Thang Xoáy Ốc: Cuộc Leo Của Tôi Ra Khỏi Sự Tăm Tối” (The Spiral Staircase: My Climb Out of Darkness) viết về cuộc đời của bà trong một nữ tu viện gần 10 năm, và sau đó đã bỏ tu để trở thành một học giả, thoát ra khỏi cảnh nhồi sọ tăm tối trong nữ tu viện Ca Tô Rô Ma mà bà ta cho là không đáp ứng đầy đủ nhu cầu tìm hiểu của bà (freed of the burden of inedaquacy).  Tất cả những điều bà ta học trong tu viện về đức tin (faith), về Thánh Kinh (Scripture), luận cứ bảo vệ giáo hội (apologetics), thần học (theology) và lịch sử giáo hội (church history) chẳng qua chỉ là “một sự bày đặt của các nhà thần học nhiều thế kỷ sau cái chết của Giê-su ở Jerusalem” (a fabrication by theologians cnturies after the death of Christ in Jerusalem).

     Karen Armstrong rất thất vọng về ngôn từ tôn giáo hẹp hòi mà Tổng thống Bush dùng sau biến cố 9/11 và luôn dùng những từ “thiện” và “ác” như bị mắc bệnh kinh niên. (His chronic use of the words “good” and “evil”.)  Bà ta cho rằng khi dùng những nhãn hiệu “thiện” và “ác” như vậy, Tổng thống Bush đã đi vào cùng một lý tưởng như Osama bin Laden (Such labeling “is buying into the same ideology as Osama bin Laden”)  Bà ta nói: “Ông ta (Bush) cũng chia thế giới làm hai phe, thiện và ác.  Chúng ta không muốn cổ vũ kiểu suy nghĩ phân cực như vậy.  Bảo bất cứ người nào mà chúng ta không ưa là “ác” có nghĩa là chúng ta không bao giờ phải xem xét lại những cách xử sự của chính chúng ta.  Tôi vững tin là phải để God ra ngoài chính trị.  Tôn giáo được coi là có mục đích gạt bỏ cái ngã.  Và những chính trị gia, nói một cách nhẹ nhàng, không được biết đến như là những người có tinh thần vô ngã.  God đã được dùng trong một khẩu hiệu một cách quá dễ dàng.” (He also divides the world into two camps, into good and evil.   You don’t want to encourage this kind of polarizing thinking.  To say that anyone we don’t like is “evil” means we never have to examine our own behavior.  I believe quite firmly that God should be kept out of politics.  Religion is supposed to be about the divestment of ego, about getting rid of ego.  And politicians are not known for their selflessness – to put it midly.  God is too easily made a slogan).

     Có một số người Việt lên tiếng ủng hộ cuộc xâm lược và chiếm đóng Iraq của Tổng thống Bush, không phải vì nó chính đáng, mà vì họ nghĩ rằng, sau Iraq sẽ đến lượt Việt Nam, như chúng ta có thể đọc trên vài tờ lá cải và cả ở trên Internet.  Những người này là ai, chúng ta có thể đoán ra được.  Họ có cùng tâm cảnh với những người đã từng lên tiếng: “Cha đã tiên phong góp phần giải phóng quê hương Cha, và tiếp đến sẽ là quê hương chúng con”.  Nhưng điều chắc là họ có một điểm chung: rất “i-tờ-rít” về chính trị quốc tế  và có đầu óc thuộc loại “oxymoron”.

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net