
Nhân Kỷ Niệm
50 Năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ |
Giao Điểm
hân hạnh giới thiệu với quý độc giả tác phẩm nghiên cứu sử Việt cận
đại mới nhất của Chính Đạo: “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng 1945-1975”
(Tập I). Trong tập I này sẽ có 5 nghiên cứu về những vấn nạn lịch sử
cận đại Việt Nam, gồm: 1) Jean B. Ngô Đình Diệm (1897-1963), 2) Từ Điện
Biên Phủ tới Geneva, 3) Cuộc truất phế Bảo Đại, 4) Mùa Phật đản đẫm
máu, 5) “Phiến Cộng” trong dinh Gia Long. Ngoài ra còn có phần phụ chú,
10 phụ bản và 4 phóng đồ.
Phần 1 và 5 đã được website GĐ
giới thiệu với độc giả trong năm 2003. Lần này chúng tôi giới thiệu
phần 2 - Từ Điện Biên Phủ tới Geneva, và cũng là phần rất quan
trọng, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, đẩy đất nước chúng ta
qua một khúc quanh mới, đánh dấu sự chia cách hai miền Nam Bắc và cuộc
chiến tranh huynh đệ tương tàn 20 năm... Trang nhà GĐ tháng 4 này, nhân kỷ
niệm chặng đường 3 năm hoạt động, chúng tôi quyết định đăng trọn
bộ phần 2, và đăng lại phần mở đầu từ tháng 3 và có thêm các phụ
chú hình ảnh, bản đồ do GĐ tự
Nhân đây chúng tôi xin thưa đôi
điều
CUỘC THÁNH
CHIẾN CHỐNG CỘNG
Chính Đạo
Tập I:
5 Nghiên
Cứu Về Những Vấn Nạn Lịch Sử Cận Đại Việt Nam
Điều không
ai có thể phủ nhận là một dân tộc muốn vượt tiến, phải nghiền ngẫm
những trang quốc sử trung thực của đất nước, dân tộc mình. Dù không
ai có thể tắm hai lần dưới cùng một dòng nước, như một triết gia Tây
phương đã viết, lịch sử là một gia tài vô tận đóng góp cho sự hưng
thịnh và sinh tồn của một dân tộc. Những người cầm quyền và các thế
lực chính trị thường ưa thích che dấu sự thực lịch sử, dùng mọi thủ
đoạn man trá và ác độc nhất để bẻ cong lịch sử hầu ngu dân, điều-kiện-hóa
trí tuệ thanh thiếu niên. Hậu quả là nhiều
hơn một lần, người Việt vừa hò hét vừa
chĩa súng, xỉa gươm giáo vào ngực nhau mà tàn sát, dù chẳng rõ nguyên do
tại sao cần có những cuộc thảm sát phi nghĩa và vô luân ấy. Nhiều hơn
một lần, người Việt—dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến—đã trở
thành nạn nhân của bao nguồn ý thức hệ ngoại lai, tự biến thành những
âm binh chịu phù phép, đâm chém bắn giết, cắt cổ mổ bụng người thân
mà vẫn ngỡ tưởng mình thánh thiện. Những hệ thống tuyên truyền tinh
vi của giới chức cầm quyền và các thế lực khác khiến người Việt bị
vong thân, tha hóa, lúc nào cũng sẵn sàng lao vào những “cuộc thánh chiến”
do ngoại cường điều khiển. Giai đoạn từ 1945 tới 1975 là giai đoạn tiêu
biểu nhất của các cuộc “thánh chiến” được du nhập hay áp đặt lên
giang sơn gấm vóc của chúng ta, chặt xương, cắt gân, chia tim xẻ óc dân
tộc chúng ta. Bởi thế, gần ba thập niên sau cuộc tương tàn suốt ba mươi
năm dài, từ 1945 đến 1975, vẫn còn những lời ngụy biện, những cuộc
trao đổi lời nhục mạ, sà-cừ vẫn lầm tưởng là bạc, nọc rắn độc
mà cứ thác ngộ là thuốc thánh, nước Tiên, chớp mắt chữa lành được
căn bệnh chậm tiến của quê hương và dân tộc.
Cuộc Thánh Chiến Chống
Cộng, 1945-1975
là biên khảo lịch sử mới nhất của tác giả nhằm giải đáp một số
vấn nạn, nếu không phải nghi án, lịch sử cận đại. Dựa trên tài liệu
văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Cộng, và Việt Nam cùng tài liệu nguyên bản
khác thu thập suốt gần ba thập niên qua, tác giả hy vọng sẽ đóng góp
phần nào cho việc tái dựng lại những trang lịch sử trung thực nhất,
không ngả nghiêng tà vạy theo ý thức hệ, tôn giáo hay mục tiêu chính trị
giai đoạn của các thế lực nào đó.
Tập
I gồm 5 đoản thiên. Mở đầu là sơ lược tiểu sử Jean Baptiste Ngô Đình
Diệm (1897-1963), người được Mỹ giao phó trách nhiệm thiết lập tiền
đồn chống Cộng tại Nam Việt Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa. Tác giả sẽ
công bố những chi tiết mà trước đây, vì nhiều lý do—kể cả việc soạn
thảo bộ sách bằng Mỹ ngữ mới hoàn tất,
“Mandate of Heavens: Viet-Nam, 1940-1950 [Những “Thiên Mệnh”: Việt Nam,
1940-1950]”—đã tạm giữ cho riêng mình. Đây là nỗ lực xuyên qua những
màn hỏa mù tuyên truyền và tự quảng cáo, tái dựng cố Tổng thống Diệm
và họ Ngô gần sát nhất với con người đích thực của họ. Tiếp đó là bài “Từ Điện Biên Phủ tới
Geneva,” tóm lược hai biến cố quân sự và chính trị năm 1954 đánh dấu
một khúc quanh trọng đại của lịch sử, nhưng rất ít người tường tận.
Hai biến cố này chấm dứt cuộc tái xâm lăng của Pháp (1945-1954), và cũng
khởi đầu sự can thiệp trực tiếp của Liên bang Mỹ vào Việt Nam
(1955-1975). Tài liệu mới giải mật hoặc công bố cho phép tác giả vững
tin để tái dựng lại hai biến cố này một cách gần sát sự thực nhất.
Độc giả sẽ có dịp tìm hiểu rõ ràng hơn tại sao bỗng đất nước
chia đôi theo vĩ tuyến 17. Hay chế độ Quốc Gia Việt Nam của Thủ tướng
Diệm có quyền gì hoặc tiếng nói nào trong biến cố lịch sử này chăng?
Bài thứ ba, “Cuộc Truất phế Bảo Đại,” trình bày cuộc thay ngôi đổi
chủ ở miền Nam năm 1955 trên bối cảnh chính trị nội địa cũng như chiến
lược của các cường quốc. Tác giả không đi sâu vào những tiểu tiết
như ai phản bội ai, nên hoặc không nên truất phế, mà chỉ tái dựng lại
một chuỗi sự việc dưới ánh sáng sử quan và các tài liệu có trong tay
(tương đối đã đầy đủ). Bài thứ tư, “Mùa Phật Đản đẫm máu
(1963)” bổ túc cho chương đầu của tập Tôn
Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967,
nhờ một số tài liệu mới giải mật, kể cả văn khố Liên Hiệp Quốc
và Việt Nam (Kho Lưu Trữ Trung Ương II). Kết luận của tác giả là cuộc
tranh đấu của Phật Giáo năm 1963, ít nữa ở giai đoạn đầu, thuần có
tính cách tôn giáo, và là phản ứng tự nhiên của phong trào duy tân Phật
Giáo từ thập niên 1920. Họ Ngô, vì trốn trách nhiệm và vì muốn chống
việc bổ nhiệm Đại sứ Henry Cabot Lodge, đã sử dụng bạo lực, đưa tới
sự sụp đổ của chế độ. Bài thứ năm, “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long”,
trình bày về hành động và âm mưu ve vãn Hà Nội của họ Ngô, dẫn đến
cuộc đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết (hoặc thảm sát, nếu muốn)
ba anh em họ Ngô của các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa.
Sở dĩ chúng tôi giới
hạn tập sơ thảo này trong những chủ đề cố định, mà chưa khai triển
thành một biên khảo cho toàn giai đoạn 1950-1975 vì một số tài liệu then
chốt vẫn còn thiếu sót, đặc biệt là giai đoạn 1964-1975. Dĩ nhiên, với
những người không thuộc giới nghiên cứu chuyên nghiệp, bất cứ tài liệu
nào hợp với sở thích (như để suy tôn, nhớ ơn hay đả kích, nhục mạ
một tác nhân nào, và kêu gọi toàn dân Việt Nam phải nhất tề đồng xướng
với họ) mới là “tài liệu thật và đúng”. Người nghiên cứu sử
chuyên nghiệp thì khác. Công trình tái dựng lịch sử có những phương pháp,
triết lý và lương tâm nghề nghiệp không thể sao lãng. Thí dụ như không
ai được quyền hài lòng với một tài liệu do mình khám phá ra, hay dựa
trên sự hiểu biết hạn hẹp của mình ở một góc nhỏ bé nào của lịch
sử, hoặc niềm tin và ước muốn riêng tư, rồi nhắm mắt lại để kết
luận, tổng quát hóa cho toàn cảnh. Người nghiên cứu cũng chỉ có mục
đích duy nhất là tái dựng lịch sử bằng những tư liệu có trong tay,
theo phương pháp sử học, dưới sự soi sáng của lương tâm nghề nghiệp.
Vì lý do kỹ thuật,
chúng tôi đặt tất cả phụ chú vào
cuối sách. Những phụ bản được trích đăng theo từng bài và cuối
sách. Đây có lẽ là đóng góp quan trọng nhất của tác giả vì hầu hết
phụ bản đều rút từ các văn khố, lần đầu tiên được công bố, hoặc
từ các thư viện dành riêng cho các nhà nghiên cứu. Với rừng sách trên
thế giới, chẳng ai bận tâm đến một biên khảo không có tài liệu mới,
chỉ nhai lại những nghiên cứu của người khác, và đôi chỗ thêm vào những
lời . . . Kim Thánh Thán, trong khi chưa hề thấy hoặc tham khảo nội dung đích
thực của các tài liệu.
Chúng
tôi không dùng thư mục tham khảo vì muốn tăng số trang cho các phụ bản
cần thiết.
Tác giả muốn dành
biên khảo này để biểu trưng lòng tri ân John R. W. Smail và Richard D. Coy,
hai cố giảng sư đã giúp tác giả vượt qua sạn đạo vào sử học từ
1975 tới 1984. Và không thể không ghi nhận những đóng góp quí báu của một
số đồng nghiệp và thân hữu qua các cuộc trao đổi ý kiến, tư liệu.
Biên khảo này cũng chỉ
có thể hoàn tất nhờ sự tài trợ của nhiều học bổng, đặc biệt là
hai học bổng Fulbright để nghiên cứu tại Pháp trong hai năm 1982-1983 và
1985-1986. Tác giả xin đa tạ sự giúp đỡ nhiệt tình của quí vị Tổng
Giám đốc Văn khố Pháp, Giám đốc văn khố hải ngoại, Trung tướng Giám
đốc Nha Sử học Lục quân Pháp, Linh mục Giám đốc Văn khố Hội truyền
giáo Hải ngoại, Giám đốc văn khố Thư viện Lyndon B. Johnson, cùng các
nhân viên, đã dành cho nhiều dễ dãi trong việc tham khảo, kể cả những
tư liệu chưa giải mật, suốt hơn hai thập niên qua.
Tuy
nhiên, riêng tác giả chịu trách nhiệm mọi khiếm khuyết.
Houston
15.2.2004
CHÍNH ĐẠO
TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỚI GENEVA
Trong lịch
sử cận đại Việt, hai biến cố nổi bật lên như dấu mốc hệ trọng,
của khúc quanh dòng lịch sử Việt. Đó là chiến thắng Điện Biên Phủ của
Việt Minh ngày 7/5/1954, và việc ký kết Hiệp định Đình Chiến Geneva [Giơ-neo-vơ]
ngày 20-21/7/1954 giữa Pháp và Việt Minh, chấm dứt cuộc tái xâm lăng của
Pháp (1945-1956). Nhưng hai biến cố này cũng đồng thời khởi đầu việc
Liên bang Mỹ trực tiếp can thiệp vào Việt Nam, thiết lập nên hai thực
thể chính trị phía Bắc và Nam vĩ tuyến 17, dẫn đến cuộc can thiệp bằng
quân sự của Mỹ từ 1965 tới 1973, thường được biết như “trận chiến
ở hải ngoại dài nhất trong lịch sử Mỹ.”(1)
Đã có nhiều nghiên
cứu giá trị về hai biến cố trên, bằng nhiều loại ngôn ngữ. Trong thập
niên 1980-1990, do sự giải mật một số tài liệu của hai Đảng Cộng Sản
Việt Nam [CSVN] và Cộng Sản Trung Hoa [CSTH], (2) cùng những tài liệu văn khố
Mỹ, Bri-tên và Pháp, các học giả đã tái dựng khá trung thực hai biến cố
trên. (3)
Bài viết
này, ngoài những tư liệu đã công bố, dựa theo một số tư liệu nguyên
bản Việt và văn khố Pháp, Mỹ khác, nhằm tái dựng lại hai biến cố
Điện Biên Phủ và Hiệp ước Geneva trong ánh sáng khách quan lịch sử. (4)
I. ĐIỆN
BIÊN PHỦ
Điện Biên Phủ còn
có tên là Mường Then (mường trời, mường các thần thánh), Mường Theng,
hay Mường Thanh, ở về phía Tây Nam Lai Châu, cách biên giới Lào-Việt khoảng
8 cây số. Đây là vựa lúa và thuốc phiện của miền Tây Bắc. Nó cũng là
điểm gặp gỡ của hệ thống đường mòn từ Hoa Nam xuống Bắc Trung bộ,
và từ Lào qua Lai Châu, Sơn La. Thung lũng này dài 18 cây số, rộng từ 6 tới
8 cây số, vây quanh bằng núi rừng trùng điệp. Một con sông nhỏ, Nam Yun
(Nậm Rốm), một chi nhánh của sông Mekong (sông Khung hay Cửu Long), chảy
xuôi theo hướng Bắc Nam, chia thung lũng làm hai. Khí hậu chỉ có hai mùa:
khô và mưa. Mùa khô từ tháng 10 tới tháng 5 nhật lịch (tức tháng chín lịch
Thái). Dân Thái ở dưới đồng bằng, sống bằng nghề nông. Dân Mèo sống
trên núi, trồng thuốc phiện.
Năm 1886, vua Hàm Nghi
phong cho Đèo Văn Chương (tức Trí), Tri phủ Điện Biên, làm Tuyên phủ sứ,
vì có công kháng chiến chống Pháp. Phái đoàn Auguste Pavie Pháp đã đến
đây vào năm 1887, nhưng phải tới đầu năm 1888 mới tìm cách tiếp xúc
được với Đèo Văn Trí, cố thuyết phục Trí bỏ rơi phong trào kháng
Pháp của Hàm Nghi. Nhưng phải tới
chuyến đi thứ hai vào vùng 16 châu Thái từ tháng 3/1888 tới tháng 1/1889,
Pavie mới thu phục được các tù trưởng thiểu số chấp nhận sự bảo hộ
của Pháp từ năm 1890. Năm 1891, đặt vào Đạo quan binh thứ tư [4ème Territoire militaire]. Dưới thời
Pháp thuộc, người Pháp đặt tại đây một viên chức hành chính, lo việc
sản xuất và vận chuyển thuốc phiện. Năm 1939, một phi trường nhỏ được
thiết lập. Từ 1945 tới 1947, Điện Biên Phủ nhiều lần đổi chủ. Sau
chiến dịch Meigo (9-10/3/1945), tàn quân
Pháp rút về đây hy vọng phát động một cuộc chiến kháng Nhật. Nhưng
chưa đầy hai tháng sau, ngày 6/5/1945, tất cả tàn quân Pháp của Sabattier
và Alessandri phải rút chạy qua Vân Nam.
Các Tướng
lãnh Nhật muốn biến Điện Biên Phủ thành một căn cứ kháng chiến chống
Đồng Minh, nhưng hai quả bom nguyên tử trên đất Nhật vào thượng tuần
tháng 8/1945 khiến Nhật phải đầu hàng không điều kiện.
Từ tháng 9/1945, quân
đội Tưởng Giới Thạch qua Đông Dương giải giới quân Nhật ở phía Bắc
vĩ tuyến 16. Quan tướng của Lư Hán khó thể bỏ qua Điện Biên Phủ và số
lượng thuốc phiện thô sản xuất tại đây. Mặc dù Pháp bí mật dàn xếp
cho đạo quân của Marcel Le Page cùng gia đình Đèo Văn Long trở lại vùng
Lai Châu [Mương La], các quan tướng Tưởng lưu lại Điện Biên Phủ cho tới
hết mùa thuốc phiện 1946 mới triệt thoái.
Từ mùa Thu 1953, Điện
Biên trở thành một vị trí quyết đấu giữa tân Tổng Tư lệnh Pháp,
Henri-Eugène Navarre, và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các cố vấn Trung Cộng.
Cuộc quyết đấu này là một “tai nạn” hơn “điểm hẹn lịch sử.”
A. BỐI
CẢNH CHÍNH TRỊ-QUÂN SỰ:
Thời
gian này, dư luận Pháp đang mong muốn tìm lối thoát khỏi bãi lầy Đông Dương
trong danh dự. Cuộc chiến đã kéo dài 8 năm. Lực lượng chính qui của Việt
Minh đã tăng lên tới 6 đại (sư) đoàn, kể cả một đại đoàn pháo
binh-phòng không (351). Các đại đơn vị này được Trung Cộng huấn luyện
và trang bị. Cố vấn Trung Cộng—do La Quí Ba và Vi Quốc Thanh cầm đầu—lên
tới gần 300 người bố trí từ quân ủy
trung ương xuống các sư đoàn. Từ năm 1951, cố vấn Trung Cộng thi hành một
loạt những cuộc chỉnh quân, chỉnh phong, về chính trị cũng như quân sự.
Những đơn vị địa phương, du kích (dân quân) ngày một gia tăng, đặc biệt
là tại miền Bắc.
Do áp lực của Đại
đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng), kế hoạch bình định của Pháp và Quốc
Gia Việt Nam [QGVN] bị bẻ gãy từng mảng. Các vùng lãnh thổ do Việt Minh
kiểm soát gồm nhiều mật khu hầu như bất khả xâm phạm: vùng thượng
du Bắc Việt, vùng Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh (Liên Khu IV), vùng Quảng
Ngãi-Qui Nhơn-Tuy Hòa (Liên Khu V), vùng Tây Ninh-Gia Định (chiến khu C, D), vùng
Đồng Tháp Mười, vùng U Minh-Cà Mau. Việt Minh thường tuyên bố đã kiểm
soát được 3/4 lãnh thổ. Pháp chỉ còn kiểm soát được các thành phố,
tỉnh lỵ và quận lỵ cùng những trục lộ giao thông nối liền chúng với
nhau. Phần chính phủ QGVN do Quốc trưởng Bảo Đại (1949-1955) cầm đầu
chỉ mờ nhạt trên bối cảnh cuộc chiến ngày một gia tăng cường độ.
Chẳng những Pháp không muốn trao trả độc lập thực sự mà cũng rất e
dè trong việc tổ chức và huấn luyện quân đội QGVN. (5)
Sở dĩ Pháp còn cầm
cự được là nhờ viện trợ Mỹ. Mục tiêu chiến lược của Mỹ nhằm
biến Đông Dương thành một tiền đồn chống Cộng, ngăn cản sự bành trướng
của Trung Cộng xuống vùng Đông Nam Á—vựa lúa của Á châu, và cũng đồng
thời nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên dồi dào cho thị trường thế
giới. Nhưng viện trợ Mỹ có những thắt trói của nó. Mỹ áp lực Pháp
phải trao trả dần độc lập thực sự cho chế độ QGVN cũng như quyền tự
trị cho quân đội. Mục tiêu giành độc lập khỏi tay Pháp của người Việt
không Cộng Sản được chuyển hướng dần thành cuộc “thánh chiến Chống
Cộng” [an anti-Communist crusade]
trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga. Nòng cốt của cuộc thánh
chiến này là chỉ thị của Khâm sứ Antonin Drapier từ năm 1947, và nhất
là Thánh lệnh của Giáo hoàng Pius XII ngày 15/7/1949. Tuy nhiên, mãi tới cuối
năm 1951, Giám mục Lê Hữu Từ và hai giáo phận Bùi Chu-Phát Diệm mới
chính thức “chống Cộng.” Sự thay đổi lập trường này, theo De Lattre
de Tassigny, là do chuyến thăm Vatican ngày 15/10/1951 của ông ta. Pius XII không
chỉ ban phép lành cho quân viễn chinh Pháp, mà còn bổ nhiệm một Linh mục
gốc Ireland [Ái Nhĩ Lan], John Dooley, làm Khâm sứ.(6)
Nhưng
Pháp—một quốc gia theo chính sách đại nghị, và có nền chính trị đa
nguyên—chỉ muốn “thánh chiến chống Cộng” nếu cuộc thánh chiến ấy
giúp bảo vệ quyền lợi thực dân, kinh tế và văn hóa của Pháp. Niềm tự
hào quốc gia và chủng tộc khiến Pháp tiếp tục cuộc chiến, trong khi dư
luận ngày một nghiêng về việc kết thúc chiến tranh. Nhiều cá nhân đã
lên tiếng gọi cuộc chiến Đông Dương là cuộc chiến tranh bẩn thỉu [la sale guerre] của tư bản và quân phiệt,
và hô hào đòi thương thuyết với Việt Minh. Trong khi đó, cuộc chiến Đông
Dương cũng bắt đầu kích động những mầm mống chống đối bằng vũ lực
ở các thuộc địa Bắc Phi, như Algérie, Maroc, v.. v... Ngay những chính
khách Pháp thân Mỹ và cực hữu nhất cũng đi đến kết luận rằng
thương thuyết là giải pháp duy nhất. Từ
tháng 7/1953, một số người đã nghiêng về ý định dùng Trung Cộng và
Liên sô Nga làm trung gian hòa giải. Ngày 29/7/1953, chẳng hạn, Tổng Ủy
viên Maurice Dejean nói với Đại sứ Heath rằng có thể đạt một giải pháp
chính trị cho Đông Dương qua Trung Cộng.(7)
B. KẾ
HOẠCH LANIEL-NAVARRE:
Kế hoạch Navarre thoạt
tiên được gọi là kế hoạch “Letourneau-Navarre,” và rồi “Laniel-Navarre.”
Đại
Tướng Henri-Eugène Navarre được cựu Thủ tướng René Mayer và Thống chế
Alphonse Juin, Tổng Tham mưu trưởng, chọn làm Tổng Tư lệnh quân viễn
chinh Pháp, thay thế Raoul Salan từ ngày 28/5/1953. Quan điểm chiến lược của
Navarre là tập trung lực lượng viễn chinh Pháp thành những “quả đấm mạnh,”
lưu động, nhằm truy kích và tiêu diệt các đơn vị chính qui Việt Minh, tạo
thế chủ động chiến trường, bẻ gãy xương sống Việt Minh trong mùa
khô 1954-1955. Việc lưu giữ đồn bót và bình định sẽ được giao dần
cho chính phủ và quân đội QGVN.
Tháng 3/1953, Jean
Letourneau trao cho Mỹ dự thảo đầu tiên của Navarre. Mục tiêu hàng đầu
của Navarre là bình định phía Nam vĩ tuyến 18 (đèo Ngang), và tạm thời
duy trì tình trạng hiện hữu ở miền Bắc, tức bảo vệ vùng châu thổ
sông Hồng và Thượng Lào (trục Luang Prabang-Cánh Đồng Chum [Plaine de
Jars]). Đồng thời, xây dựng lực lượng tổng trừ bị chiến lược.
Navarre hy vọng rằng từ năm 1954 sẽ lấy lại thế chủ động chiến trường
ở miền Bắc đèo Ngang.(8) Kế hoạch Navarre gồm có việc tăng thêm 59,600
binh sĩ QGVN năm 1953, 76,000 năm 1954, và 20,000 năm 1955, và lên tới 331,650
vào tháng 1/1956. Navarre còn xin tăng viện hai hay ba sư Pháp, thành lập 27
chiến đoàn cơ động [groupement mobile],
bốn sư đoàn QĐQGVN cùng 84 tiểu đoàn Khinh Quân.(9)
Ngày 16/6/1953, sau hơn
một tháng viếng thăm các chiến trường, Navarre triệu tập một phiên họp
các Tư lệnh vùng tại Sài Gòn để thảo luận về dự thảo kế hoạch mùa
khô 1953-1954. Tại Bắc Việt, từ mùa Hè 1953, Navarre sẽ tạo thế chủ động
bằng những cuộc hành quân Biệt kích, đột nhập hậu phương của Việt
Minh. Từ ngày 15/9, sẽ mở những cuộc tấn công ngăn chặn các âm mưu quân
sự của Việt Minh, đánh vào hậu phương và bên sườn các đơn vị chủ
lực. Navarre cũng sẽ di tản các đơn vị chủ lực tại những nơi xét
không cần thiết, và xúc tiến việc bình định. Lập các quân đoàn tác
chiến bằng cách gom các tiểu đoàn thành trung đoàn, trung đoàn thành sư
đoàn. Tuy nhiên, vẫn duy trì các đơn vị trừ bị. Ngoài ra, tiếp tục huấn
luyện và tổ chức các đơn vị Quốc Gia Liên Hiệp, tập cho họ quen tác
chiến và được hưởng nhiều tự trị hơn. Navarre muốn triệt thoái căn
cứ Na Sản, một cứ điểm quân sự ở phía Tây Bắc, đã bị hai đại
đoàn Việt Minh vây hãm và nhiều lần tấn công trong chiến dịch mùa Khô
1952-1953. Trung tướng René Cogny, Tư lệnh Bắc Việt, đề nghị lập thêm một
cứ điểm ở Mương Then (Điện Biên Phủ) và dời thủ phủ của Liên bang
Thái tự trị [ZANO] từ Lai Châu về đây. (10)
Tháng 6/1953, chính phủ
Mayer bị đổ. Joseph Laniel (6/1953-6/1954) lên thay. Thời gian này, cuộc chiến
Triều Tiên (1950-1953) đã tạm ngưng tiếng súng; Mỹ và Trung Cộng đồng
ý ngồi vào bàn hội nghị Panmunjon (Bàn Môn Điếm). Ngày 27/7/1953, hai phe
lâm chiến ký Hiệp ước đình chiến Panmunjon. Triều Tiên tạm thời chia
làm hai nước, ranh giới là vĩ tuyến 38.
Dưới mắt
các chiến lược gia Pháp, Bắc Kinh sẽ rảnh tay hơn trong việc trợ giúp
Việt Minh. Hơn nữa, đa số chính khách đều kết luận rằng Pháp chẳng
còn lối giải quyết nào hơn thương thuyết. Ngay trong nội các Laniel, một
số Bộ trưởng muốn thảo luận trực tiếp với Hồ Chí Minh; một số muốn
Mỹ trực tiếp tài trợ hoàn toàn cuộc chiến, đổi lấy việc Pháp tham
gia cộng đồng phòng thủ Âu châu [communauté
européenne de défense hay CED]; một số lại muốn dùng CED để áp lực
Liên sô Nga hầu giải quyết cuộc chiến. Một số khác nữa muốn thương
thuyết với Bắc Kinh, trao đổi việc chấm dứt chiến tranh bằng viện trợ
kinh tế cho Trung Cộng. (11)
Laniel chủ trương không
bỏ rơi Đông Dương, và phải thương thuyết trên thế mạnh, sau khi Pháp
giành được thế chủ động trên chiến trường. Laniel trông cậy Mỹ gia
tăng viện trợ để chống lại khuynh hướng thương thuyết tức khắc, và
bằng mọi giá.(12)
Ngày 3/7/1953—đúng
ngày Laniel tuyên bố kiện toàn nền
độc lập của QGVN để tạo kích xúc tâm lý (13)—Navarre về nước, vận
động cho kế hoạch quân sự 1953-1954. Ngày 24/7, Navarre ra điều trần trước
Hội Đồng Quốc Phòng. Tuy nhiên, Laniel chỉ tăng viện cho Navarre được 10
tiểu đoàn tác chiến, kể cả một tiểu đoàn đang tham chiến tại Triều
Tiên. (14)
Ngoài
ra, Laniel cũng cho Navarre biết ý định tìm cách ngưng bắn như trường hợp
Triều Tiên, và Navarre không cần bảo vệ Thượng Lào.
Kế hoạch “Letourneau-Navarre”
được cải danh thành “Laniel-Navarre” khi Laniel xin thêm 400 triệu Mỹ Kim
viện trợ cho năm 1954. Về quân viện Mỹ, không gặp trở ngại. Ngày 12/7,
Ngoại trưởng Dulles chấp thuận trên nguyên tắc với Bidault.(15) Ngày 30/7,
Quốc Hội Mỹ biểu quyết quân viện thêm 150 tỉ francs (400 triệu MK) cho tài khoá 1953-1954 như
Laniel yêu cầu. (16)
Ngày
5/8, BNG Mỹ biện minh cho việc thêm quân viện như sau: nội các Laniel là
“chính phủ Pháp cuối cùng còn muốn
tiếp tục cuộc chiến Đông Dương,” việc mất Đông Dương “rất quan
trọng [critical] cho nền an ninh Mỹ”;
nếu Cộng Sản kiểm soát Đông Dương sẽ làm nguy hiểm “nguồn cung cấp
nguyên liệu thô quan trọng [vital raw material
sources];” sẽ khiến các quốc gia Đông Nam Á giảm niềm tin vào sự
lãnh đạo của phương Tây; gây khó khăn và tốn kém cho việc phòng thủ
Philippines, Đài Loan va Nhật軠và khiến việc
xây dựng kinh tế Nhật thêm phức tạp. “Nếu Pháp quyết định rút lui,
Mỹ phải suy xét rất kỹ là có nên thay thế hay chăng [If the French actually decided to withdraw, the US
would have to consider most seriously whether to take over in this area].” (17)
Tại
Đông Dương, trong tháng 7/1953, Pháp tung ra một loạt tấn công chớp nhoáng
vào hậu phương của Việt Minh. Ngày 17/7, ba tiểu đoàn Dù nhảy xuống
phía Bắc Lạng Sơn, rồi rút về hướng Đình Lập-Tiên Yên (Hành quân Hirondelle [Chim Én hay Nhạn]). Ngày 28/7, Tướng
LeBlanc mở cuộc hành quân Camargue, truy
đánh Trung đoàn 95 tại vùng Quảng Trị-Thừa Thiên.
Ngày
2/8, Navarre trở lại Sài Gòn. Sáu ngày sau, Thứ Bảy, 8/8, Pháp bắt đầu rút
khỏi Na Sản bằng phi cơ [cho đến ngày 13/8]. Không quân Pháp cũng di tản
10,000 người Thái, tức khoảng 1,800 gia đình.(18) Việc triệt thoái bằng cầu
không vận này không gặp sức phản kháng nào của Việt Minh. Mặc dù Quân
ủy trung ương Việt Minh đã chọn Na Sản làm một trong những mục tiêu
chính của chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, thời gian này các đơn vị đang
trải qua giai đoan chính huấn quân sự cũng như chỉnh phong chính trị (tinh
thần đấu tranh giai cấp). (19)
Trong tháng 8/1953,
Navarre còn mở hai cuộc hành quân lớn ở châu thổ sông Hồng. Ngày 13/8,
Pháp tảo thanh vùng Tri Lễ, Ước Lễ, khoảng 17 cây số Nam tỉnh lị Hà
Đông. Từ năm 1952, vùng này trở thành mật khu của Việt Minh, đe dọa khu
Đồng Quan. Ngày Thứ Sáu, 28/8, Pháp mở chiến dịch Claude [cho tới ngày 15/9/1953], tảo thanh
vùng Tiên Lãng (10 cây số Nam Hải Phòng. Tuy nhiên, ngay sau khi quân Pháp
rút lui, VM chiếm lại các căn cứ. Ngày 15/10, Pháp lại mở chiến dịch Mouette [Hải
Âu, cho tới ngày 6/11]. Sử dụng 22 tiểu đoàn đánh vùng Rịa / Nho
Quan, Tây Nam tỉnh Ninh Bình. Các tiểu đoàn được kết hợp thành hai sư
đoàn nhẹ, do Đại tá Christian de Castries và Vanuxem chỉ huy. Việt Minh sử
dụng đại đoàn 320 chống trả. Ngày 27/10, hai bên chạm súng nặng. Ngày
6/11, Navarre cho lệnh chấm dứt hành quân. (20)
Cùng ngày 15/10/1953, Pháp mở cuộc hành quân Pélican [Con bồ nông] ở vùng duyên hải Thanh Hóa. Hôm sau, đổ bộ 500 quân xuống Lạch Trường, rồi rút lui.
Theo Tướng John W. O’Daniel—người được Navarre đích
thân cho xem kế hoạch Thu Đông 1953-1954 ngày 29/6/1953—chính phủ Pháp
không thực hiện đúng những gì đã ký kết với Mỹ: (a) Pháp không có những
kế hoạch tổng quát cho cuộc tấn công mùa Thu 1953 ngoài những cuộc hành
quân giới hạn nhằm khiến quân địch bất ngờ [keep the enemy off balance]; (b) việc cải tổ
các đơn vị thành Trung đoàn và Sư đoàn vẫn còn trong giai đoạn thiết kế
[planning stages]; (c) không khẩn trương
huấn luyện các sĩ quan cao cấp Việt và tham mưu, (d) việc tổ chức Bộ
chỉ huy huấn luyện đang gap “khó khăn chính trị;” (e) việc tổ chức lực
lượng thủy bộ chưa quá giai đoạn thiết kế.” Do đó Đô đốc Arthur
Radford, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đề nghị phải có điều kiện
cho việc tăng quân viện: Pháp cần chứng tỏ hành động ở Đông Dương,
và tiếp tục chấp nhận và hành động theo cố vấn của Mỹ. Và các cấp
của Pháp phải yểm trợ và nỗ lực thực hiện kế hoạch Navarre. (21)
Kế hoạch nòng cốt
của Navarre trong mùa khô 1953 là mặt trận Tây Bắc Bắc Việt và Thượng
Lào. Có những dấu hiệu cho thấy các đơn vị chủ lực của Việt Minh
đang di chuyển về hướng Lai Châu, đặc biệt là hai Đại đoàn 316 (từ
Thanh Hóa) và 308. Điều này chứng tỏ mục tiêu chiến lược của Việt
Minh trong dịp Đông Xuân 1953-1954 là vùng Tây Bắc và Thượng Lào hơn vùng
châu thổ Bắc Việt.
C. CHIẾN
DỊCH CASTOR:
Ý
định tái chiếm Điện Biên làm điểm tiếp vận cho các đơn vị Thái chống
Cộng đã được Raoul Salan đưa ra từ ngày 30/12/1952.(22) Trước đó một
tháng, ngày 30/11, một tiểu đoàn Lào mới di tản khỏi Mương Then. Khoảng
13,000 dân cư ở lại, lọt vào vòng kiểm soát của Việt Minh. Trung đoàn
148 độc lập của Việt Minh đã có mặt trong khu vực này từ chiến dịch
Đông Xuân 1952-1953. Trong tháng 11-12/1952, Trung đoàn 148 tham gia cuộc vây
hãm Na Sản, cách Điện Biên khoảng 70 dặm (110 km) về phía Bắc. Bộ Chỉ
huy Trung đoàn và Tiểu đoàn 900 đang có mặt tại Điện Biên. Ngày
7/1/1953, Ban Tham mưu của Salan đã thảo kế hoạch tái chiếm Điện Biên.
Tuy nhiên, vì tình hình suy thoái ở miền Bắc, chưa có cơ hội thực hiện.
Ngày 25/5, tức ba ngày trước khi bàn giao cho Navarre, Salan vẫn nhấn mạnh vào sự cần thiết
tái chiếm Điện Biên.
Như đã lược nhắc,
ngày 16/6, chính Trung tướng Cogny, Tư lệnh miền Bắc, đề nghị tái chiếm
Điện Biên làm thủ phủ Liên bang
Thái tự trị. Sau khi Navarre thuyết trình trước Hội đồng Quốc Phòng
ngày 24/7/1953, hôm sau, 25/7, Ban Tham mưu của Navarre soạn chỉ thị số 563 về
kế hoạch chiếm Điện Biên để ngăn chặn việc quân Việt Minh tiến qua
Thượng Lào. (23)
Tuy nhiên, trong tháng
8/1953 nỗ lực của Pháp tại Bắc Việt là cuộc di tản bằng hàng không
khỏi Na Sản 9,000 binh sĩ Pháp và thân nhân. Mãi tới ngày 2/11, Phụ tá
Hành quân của Navarre mới ra chỉ thị (số 852) về hệ thống chỉ huy chiến
dịch Castor, dự trù sẽ bắt đầu từ
ngày 15 tới 20/11/1953, nhưng không thể chậm hơn ngày 1/12/1953. Hai ngày sau,
4/11, Ban Tham Mưu của Cogny viết Tờ trình phản đối chỉ thị chiếm Điện
Biên, vì nơi đây sẽ trở thành “máy nghiền các tiểu đoàn.” Ngày
này, Cogny thư cho Navarre phản đối.(24) Dẫu vậy, ngày 11 và 12/11/1953,
Cogny vẫn chỉ thị cho các đơn vị thi hành kế hoạch hành quân Castor.
Thứ Bảy, 14/11,
Navarre ra lệnh hành quân cuối cùng về Điện Biên. Cogny và Đại tá
Boucher de Crèvecoeur, Tư lệnh Lào, được lệnh phối hợp hành quân. Hôm
sau, 15/11, Ban Tham mưu của Navarre báo động về sự hiện diện tại vùng
Tây Bắc của Đại đoàn 316—đại đơn vị này có 2 trung đoàn 174 và 176
tuyển mộ từ các sắc tộc trong khu Thái tự trị. Hai ngày sau, 17/11, khi Bộ
trưởng Các Quốc Gia Liên Kết Marc Jacquet, cùng Navarre, Maurice Dejean và Thủ
tướng Nguyễn Văn Tâm tới thăm Hà Nội, đích thân Cogny trình bày về chiến
dịch "Castor" sắp tới. Jacquet
không hề phản đối hay bận tâm báo cáo về Paris. Điều này chứng tỏ
các cấp chỉ huy Pháp không ngại đương đầu với Việt Minh tại Điện
Biên. Họ vững tin ở khả năng không vận của Pháp, và sự khó khăn của
Việt Minh về tiếp vận cũng như hỏa lực tại một trận địa cách hậu
cứ trên 500 cây số rừng núi. (25)
Thứ Sáu, 20/11, Chiến
dịch Castor bắt đầu. Tướng Jean
Gilles chỉ huy sáu tiểu đoàn Dù, kể cả Tiểu đoàn 5 Dù Việt Nam, nhảy
xuống Điện Biên trong ba ngày 20-23/11. Các đơn vị truyền tin, thiết giáp,
pháo binh, công binh cũng được thả dù hay không vận tới trận địa.
D. TRIỆT
THOÁI LAI CHÂU:
Từ ngày 4/11, Pháp
quyết định bỏ Lai Châu (Mường La), và di tản chính phủ Thái tự trị của
Đèo Văn Long xuống Điện Biên Phủ. Ngày 13/11, Cogny thông báo cho Chỉ huy
trưởng Lai Châu, Trung tá Trancart, biết chi tiết cuộc Hành quân "Pollux" này. Binh đoàn lưu động
Thái số 1 (GMPT 1) của Đại úy Bordier lập tức di chuyển từ Lai Châu xuống
Điện Biên, nhưng bị Trung đoàn 148 chận đánh và khuấy nhiễu dọc đường.
Ngày 22/11, một cánh quân Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù (II/1 RCP) phải rời Điện
Biên lên đón. Hôm sau, 23/11, Liên đoàn Thái lưu động 1 bắt tay được Tiểu đoàn 1 Dù (II/1 RCP)
ở phía Bắc Điện Biên khoảng 7 cây số. Từ ngày này, cờ Thái tự trị—ngôi
sao đỏ 16 cánh trên nền xanh da trời, trắng, xanh da trời—phất phới khắp
thung lũng. (26)
Ngày Thứ
Bảy, 28/11, Navarre bay ra Hà Nội. Cogny đề nghị tấn công hậu cứ Việt
Minh vì các đại đoàn 304, 312 và 351 đang hướng về Tây Bắc, nhưng
Navarre không chấp thuận. Hôm sau, Navarre cùng Cogny tới thị sát Điện Biên.
Đại tá Christian de Castries, một sĩ quan Kị binh từng theo Navarre nhiều
năm, được chọn làm Tư lệnh cứ điểm chiến lược Tây Bắc này. Trước
sự tập trung đông đảo của quân Việt Minh, ngày 30/11, Cogny ra chỉ thị
tổ chức phòng thủ Điện Biên lâu dài. Ba ngày sau, 3/12, phần nào do lời
nghị hòa của Hồ Chí Minh ngày 29/11, Navarre cho lệnh de Castries giữ Điện
Biên bằng mọi giá. Chiến dịch Castor cải danh thành Mặt trận Tây Bắc
[GONO]. (27)
E. MẶT
TRẬN THƯỢNG LÀO:
Ngày Thứ Tư, 25/11,
Đại tá Boucher de Crèvecoeur, Tư lệnh Lào, mở chiến dịch Ardèche, tung 6 tiểu đoàn đánh chiếm Mường
Ngòi, Mường Khoa (Thượng Lào). Mục đích nhằm xây dựng một hành lang
chiến lược dài theo sông Nam Ou [Nậm U] nối liền Luang Prabang với Điện
Biên.
Ngày
3/12, Pháp cũng mở cuộc hành quân Regate
từ Điện Biên xuống, và Luang Prabang lên, hợp điểm ở Sop Nao. Liên đoàn
GAP 2 của Trung tá Langlais tới Sop Nao không gặp trở ngại, nhưng trên đường
về, phải vượt rừng núi trở lại Điện
Biên vì Trung đoàn 148 VM đang bám sát. Hành lang chiến lược nối liền với
Luang Prabang, dọc theo sông Nậm U, để di tản Điện Biên khi cần thiết hầu
như trở
thành ảo vọng vào dịp Giáng Sinh 1953. (28)
Ghi chú:
1. Xem,
chẳng hạn, George C. Herring, America’s
Longest War: The United States and Viet-Nam, 1950-1975 (New York: John Wisley &
Sons, 1978).
2. Xem, Cộng
Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam [CHXHCNVN], Sự
thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua (Hà Nội: Sự Thật,
1979); Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam
(Hà Nội: NXB QĐND, 1996); Lê Trọng Tấn, Từ
Đồng Quan đến Điện Biên, Đỗ Thận ghi (Hà Nội: NXB QĐND, 1994); Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ: Điểm hẹn lịch sử, Hữu
Mai viết (Hà Nội: NXB QĐND, 2001); Idem., Điện
Biên Phủ (Hà Nội: NXB CTQG, 1994).
3. Hai
biên khảo xuất sắc sử dụng tài liệu Trung Cộng là Quang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel
Hill, Univ. of North Carolina Press, 2000); Chen Jian, “China and the First Indochina
War, 1950-54;” China Quarterly (Aug. 1993),
pp. 105-110. Trong số những tác giả sử dụng tài liệu văn khố lục quân
Pháp, tác phẩm xuất sắc nhất là Bernard B. Fall, Hell in A Very Small Place: The Siege of Dien Bien
Phu [Địa ngục trong một nơi rất nhỏ bé: Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ]
(New York: Vantage Books, 1966,1968).
4. Tư liệu
chính chúng tôi sử dụng gồm SHAT (Vincennes), Indochine, 10H 179 [“Fiche de
Renseignements,” 3ème Bureau], 246-248; Edmond Chabani, “Notes sur l’histoire des
hauts pays du Nord-Ouest Vietnam (Lau chau, 25 mai 1951); Ibid., 10H 1040; Ibid., 1K 233
[Tư liệu Ely], cartons 1, 39, 40; US Department of Defense, US-Vietnam Relations, 1945-1967, 12 tập
(Washington, DC: GPO, 1971), Bk 9; US Department of State, Foreign Relations of the United States [FRUS], vol
XVI, Geneva; và Great Britain, House of Commons, Documents relating
to the discussion of Korea and Indo-China at the Geneva Conference. " Miscellaneous No.16 (1954) ", Cmd. 9186.
5. Theo
Thủ tướng Tâm ngày 9/11/1953, trên tổng số 21,063,543 dân, chính phủ QGVN
kiểm soát hoặc bán kiểm soát được 39.8%, tức 8,388,693 người. Chia ra
như sau: (1) Kiểm soát hoàn toàn được 6,431,453 người (30.5%): Bắc,
1,642,560 / 10,298,337 (15.9%); Trung, 1,552,000 / 6,466,800 (24%); và, Nam, 3,236,893 /
4,298,406 (75.3%); (2) Số dân sôi đậu: Bắc, 1,449,583 (14.1%); Nam, 507,657
(11.8%); (3) Số dân do VM kiểm soát hoàn toàn lên tới 12,676,513 người
(60.2%), chia ra như sau: Bắc: 7,207,857 (70%); Trung: 4,914,800 (76%); Nam: 553,856
(12.9%); Tờ trình ngày 9/11/1953, Ban Tham Mưu Đặc Biệt; SHAT (Vincennes), 10H
243, 254.
6. Xem
Pierre Darcourt, De Lattre au Vietnam (Paris: La
Table Ronde, 1965), tr. 257-265.
7. FRUS, 1952-1954, XIII:705.
8.
Henri-Eugène Navare, Agonie de l’Indochine
(tr. 67); Fall. Hell, 1968:ix; Giáp, Điện Biên Phủ, 2001:17-18; Tấn
1994:279-280.
9. Ngày 31/12/1953, QĐQGVN có 198,020 người,
chia ra 151,020 chính qui và 47,000 phụ lực; VNCH, Bộ TTM, Quân sử, IV, 1972:196.
10. The Pentagon Papers (Gravel) 1971, I:496; Fall, Hell, 1968:31-32.
11. Jean Chauvel, “L’Armistice de Genève;” Historia (Paris), hors série No. 25 (1972), tr.
146.
12. CĐ 2110, 30/11/1953, Dillon gui BNG; FRUS, 1952-1954, XIII: 887-888. Mỹ đã viện trợ
cho Pháp tại Đông Dương 568 triệu MK năm 1953 (33% tổng số chiến phí) và
dự trù 1.313 tỉ MK cho năm 1954 (61% tổng số chiến phí. The Pentagon Papers
(Gravel) 1971, I:408. Từ 1950 tới 31/3/1954, Mỹ đã viện trợ 785 triệu MK cho
quân viễn chinh Pháp và quân đội ba QGLK; Ibid., I:498.
13. Ngoại
trưởng Bidault không hài lòng với quyết định trao độc lập hoàn toàn
cho Việt Nam. FRUS, 1952-1954, XIII:706-9.
14. FRUS, 1952-1954, XIII:704.
15. Ngày
21/7/1953, nhật báo Le Monde tiết lộ nội
dung buổi mật đàm giữa Bidault và Dulles ngày 12/7/1953 tại Oat-shinh-tân.
16. FRUS, 1952-1954, XIII:701-703.
17. Báo
cáo của BNG ngày 5/8/1953 để sử dụng cho phiên họp NSC ngày 6/8/1953; The Pentagon Papers (Gravel) 1971, I:405-407
[Tài liệu 16]).
18. Có
tài liệu ghi từ ngày 7 tới 12/8/1953; 10H 282.
19.
Giáp, Điện Biên Phủ, 2001:12-14. Theo Lê
Trọng Tấn, các đơn vị Việt Minh đang qua đợt chỉnh quân từ tháng
6/1953. Ngày 7/8, tiến hành chỉnh quân chính trị; Tấn 1994:272-273. Tấn từng
đi lính Không quân Pháp, đá bóng cho đội Avionton (?); Ibid., 1994:273.
20. Giáp,
Điện Biên Phủ, 2001:31-39. Ngày
4/11/1953, Nixon thăm các đơn vị đang tham dự cuộc hành quân Mouette. Theo Pháp, Sư đoàn 320 VM thiệt hại
trên 20% quân số ; FRUS, 1952-1954, XIII:860.
21. Phiếu
trình [Memorandum] của Radford ngày 28/8/1953; The
Pentagon Papers (Gravel) 1971, I:411.
22. Ngày
30/12/1952 Salan ra chỉ thị số 40, cho lệnh tái chiếm Điện Biên Phủ ngày
10/1/1953; Fall, Hell, 1968:25.
23. Fall
, Hell, 1968:33.
24. Fall, Hell, 1968:35-36. Thủ tướng Laniel cho rằng đây chỉ là sự phản kháng chiếu lệ để tránh trách nhiệm뮼o:p>
25. Ngày
6/11/1953, Tướng O'Daniel thăm Đông Dương [cho tới ngày 15/11]. Sau những buổi
bàn thảo với Navarre, hoàn toàn ủng hộ kế hoạch Navarre. Ngày 20/11,
Navarre xin Heath thêm phi cơ vận tải C-47. Ngày 23/11, Mỹ đồng ý gửi thêm
25 phi cơ C-47 trước ngày 12/12/1953. Đây là quà tặng cho Laniel và Bidault trước
khi Hội nghị Bermuda khai mạc ngày 4/12/1953; FRUS, 1952-1954, XIII:882-3.
26. SHAT
(Vincennes), 10H 179; Fall, Hell, 1968:19-20.
27. Fall,
Hell, 1968:39-40.
28. Fall,
Hell, 1968:73-76.
In ra @
Modified by Web Giaodiem
CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net