08_gdmau.jpg (3664 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 4 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)

  Nhân Kỷ Niệm 50 Năm Chiến Thắng Điện Biên Phủ

Tuong Giap thoi Dien BienGiao Điểm hân hạnh giới thiệu với quý độc giả tác phẩm nghiên cứu sử Việt cận đại mới nhất của Chính Đạo: “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng 1945-1975” (Tập I). Trong tập I này sẽ có 5 nghiên cứu về những vấn nạn lịch sử cận đại Việt Nam, gồm: 1) Jean B. Ngô Đình Diệm (1897-1963), 2) Từ Điện Biên Phủ tới Geneva, 3) Cuộc truất phế Bảo Đại, 4) Mùa Phật đản đẫm máu, 5) “Phiến Cộng” trong dinh Gia Long. Ngoài ra còn có phần phụ chú, 10 phụ bản và 4 phóng đồ.

Phần 1 và 5 đã được website GĐ giới thiệu với độc giả trong năm 2003. Lần này chúng tôi giới thiệu phần 2 - Từ Điện Biên Phủ tới Geneva, và cũng là phần rất quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, đẩy đất nước chúng ta qua một khúc quanh mới, đánh dấu sự chia cách hai miền Nam Bắc và cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn 20 năm... Trang nhà GĐ tháng 4 này, nhân kỷ niệm chặng đường 3 năm hoạt động, chúng tôi quyết định đăng trọn bộ phần 2, và đăng lại phần mở đầu từ tháng 3 và có thêm các phụ chú hình ảnh, bản đồ do GĐ tự ý sưu tầm và chọn lựa.

Nhân đây chúng tôi xin thưa đôi điều, thiên chức của sử gia là đào bới sự thật, bằng phương pháp luận, nghiên cứu sử học để trình bày sự thật lịch sử một cách vô tư và khoa học. Do đó giữa sử gia (hay các nhà nghiên cứu sử học nghiêm túc, nói chung!) và người làm chính trị không phải bao giờ cũng có sự đồng thuận. Nhưng sự thật lịch sử luôn luôn hữu ích cho thế hệ tương lai. Tâm tư và nguyện vọng của tác giả Chính Đạo đã được phơi bày trong phần Dẫn nhậpKết luận. Dù đồng ý với tác giả hay không, chúng ta không thể phủ nhận đây là công trình nghiên cứu sử tim óc và nghiêm túc. Điều chúng tôi muốn nói thẳng là, mong đợi phản ứng và phê phán từ các giới chức liên hệ trong ngành sử học và các thức giả quan tâm tới lịch sử dân tộc Việt Nam cận đại, qua đó chúng tôi sẽ trân trọng lãnh hội những cao kiến của quý vị. Phụ trách web GĐ.


CUỘC THÁNH CHIẾN CHỐNG CỘNG 1945-1975

Chính Đạo

Tập I:

5 Nghiên Cứu Về Những Vấn Nạn Lịch Sử Cận Đại Việt Nam

                            DẪN NHẬP

Chinh Dao       Điều không ai có thể phủ nhận là một dân tộc muốn vượt tiến, phải nghiền ngẫm những trang quốc sử trung thực của đất nước, dân tộc mình. Dù không ai có thể tắm hai lần dưới cùng một dòng nước, như một triết gia Tây phương đã viết, lịch sử là một gia tài vô tận đóng góp cho sự hưng thịnh và sinh tồn của một dân tộc. Những người cầm quyền và các thế lực chính trị thường ưa thích che dấu sự thực lịch sử, dùng mọi thủ đoạn man trá và ác độc nhất để bẻ cong lịch sử hầu ngu dân, điều-kiện-hóa trí tuệ thanh thiếu niên. Hậu quả là nhiều hơn một lần, người Việt vừa hò hét vừa chĩa súng, xỉa gươm giáo vào ngực nhau mà tàn sát, dù chẳng rõ nguyên do tại sao cần có những cuộc thảm sát phi nghĩa và vô luân ấy. Nhiều hơn một lần, người Việt—dù ở bên này hay bên kia chiến tuyến—đã trở thành nạn nhân của bao nguồn ý thức hệ ngoại lai, tự biến thành những âm binh chịu phù phép, đâm chém bắn giết, cắt cổ mổ bụng người thân mà vẫn ngỡ tưởng mình thánh thiện. Những hệ thống tuyên truyền tinh vi của giới chức cầm quyền và các thế lực khác khiến người Việt bị vong thân, tha hóa, lúc nào cũng sẵn sàng lao vào những “cuộc thánh chiến” do ngoại cường điều khiển. Giai đoạn từ 1945 tới 1975 là giai đoạn tiêu biểu nhất của các cuộc “thánh chiến” được du nhập hay áp đặt lên giang sơn gấm vóc của chúng ta, chặt xương, cắt gân, chia tim xẻ óc dân tộc chúng ta. Bởi thế, gần ba thập niên sau cuộc tương tàn suốt ba mươi năm dài, từ 1945 đến 1975, vẫn còn những lời ngụy biện, những cuộc trao đổi lời nhục mạ, sà-cừ vẫn lầm tưởng là bạc, nọc rắn độc mà cứ thác ngộ là thuốc thánh, nước Tiên, chớp mắt chữa lành được căn bệnh chậm tiến của quê hương và dân tộc.

      Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975 là biên khảo lịch sử mới nhất của tác giả nhằm giải đáp một số vấn nạn, nếu không phải nghi án, lịch sử cận đại. Dựa trên tài liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Cộng, và Việt Nam cùng tài liệu nguyên bản khác thu thập suốt gần ba thập niên qua, tác giả hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc tái dựng lại những trang lịch sử trung thực nhất, không ngả nghiêng tà vạy theo ý thức hệ, tôn giáo hay mục tiêu chính trị giai đoạn của các thế lực nào đó.

      Tập I gồm 5 đoản thiên. Mở đầu là sơ lược tiểu sử Jean Baptiste Ngô Đình Diệm (1897-1963), người được Mỹ giao phó trách nhiệm thiết lập tiền đồn chống Cộng tại Nam Việt Nam, tức Việt Nam Cộng Hòa. Tác giả sẽ công bố những chi tiết mà trước đây, vì nhiều lý do—kể cả việc soạn thảo bộ sách bằng Mỹ ngữ mới hoàn tất, “Mandate of Heavens: Viet-Nam, 1940-1950 [Những “Thiên Mệnh”: Việt Nam, 1940-1950]”—đã tạm giữ cho riêng mình. Đây là nỗ lực xuyên qua những màn hỏa mù tuyên truyền và tự quảng cáo, tái dựng cố Tổng thống Diệm và họ Ngô gần sát nhất với con người đích thực của họ.  Tiếp đó là bài “Từ Điện Biên Phủ tới Geneva,” tóm lược hai biến cố quân sự và chính trị năm 1954 đánh dấu một khúc quanh trọng đại của lịch sử, nhưng rất ít người tường tận. Hai biến cố này chấm dứt cuộc tái xâm lăng của Pháp (1945-1954), và cũng khởi đầu sự can thiệp trực tiếp của Liên bang Mỹ vào Việt Nam (1955-1975). Tài liệu mới giải mật hoặc công bố cho phép tác giả vững tin để tái dựng lại hai biến cố này một cách gần sát sự thực nhất. Độc giả sẽ có dịp tìm hiểu rõ ràng hơn tại sao bỗng đất nước chia đôi theo vĩ tuyến 17. Hay chế độ Quốc Gia Việt Nam của Thủ tướng Diệm có quyền gì hoặc tiếng nói nào trong biến cố lịch sử này chăng? Bài thứ ba, “Cuộc Truất phế Bảo Đại,” trình bày cuộc thay ngôi đổi chủ ở miền Nam năm 1955 trên bối cảnh chính trị nội địa cũng như chiến lược của các cường quốc. Tác giả không đi sâu vào những tiểu tiết như ai phản bội ai, nên hoặc không nên truất phế, mà chỉ tái dựng lại một chuỗi sự việc dưới ánh sáng sử quan và các tài liệu có trong tay (tương đối đã đầy đủ). Bài thứ tư, “Mùa Phật Đản đẫm máu (1963)” bổ túc cho chương đầu của tập Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, nhờ một số tài liệu mới giải mật, kể cả văn khố Liên Hiệp Quốc và Việt Nam (Kho Lưu Trữ Trung Ương II). Kết luận của tác giả là cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963, ít nữa ở giai đoạn đầu, thuần có tính cách tôn giáo, và là phản ứng tự nhiên của phong trào duy tân Phật Giáo từ thập niên 1920. Họ Ngô, vì trốn trách nhiệm và vì muốn chống việc bổ nhiệm Đại sứ Henry Cabot Lodge, đã sử dụng bạo lực, đưa tới sự sụp đổ của chế độ. Bài thứ năm, “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long”, trình bày về hành động và âm mưu ve vãn Hà Nội của họ Ngô, dẫn đến cuộc đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết (hoặc thảm sát, nếu muốn) ba anh em họ Ngô của các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa.

      Sở dĩ chúng tôi giới hạn tập sơ thảo này trong những chủ đề cố định, mà chưa khai triển thành một biên khảo cho toàn giai đoạn 1950-1975 vì một số tài liệu then chốt vẫn còn thiếu sót, đặc biệt là giai đoạn 1964-1975. Dĩ nhiên, với những người không thuộc giới nghiên cứu chuyên nghiệp, bất cứ tài liệu nào hợp với sở thích (như để suy tôn, nhớ ơn hay đả kích, nhục mạ một tác nhân nào, và kêu gọi toàn dân Việt Nam phải nhất tề đồng xướng với họ) mới là “tài liệu thật và đúng”. Người nghiên cứu sử chuyên nghiệp thì khác. Công trình tái dựng lịch sử có những phương pháp, triết lý và lương tâm nghề nghiệp không thể sao lãng. Thí dụ như không ai được quyền hài lòng với một tài liệu do mình khám phá ra, hay dựa trên sự hiểu biết hạn hẹp của mình ở một góc nhỏ bé nào của lịch sử, hoặc niềm tin và ước muốn riêng tư, rồi nhắm mắt lại để kết luận, tổng quát hóa cho toàn cảnh. Người nghiên cứu cũng chỉ có mục đích duy nhất là tái dựng lịch sử bằng những tư liệu có trong tay, theo phương pháp sử học, dưới sự soi sáng của lương tâm nghề nghiệp.

      Vì lý do kỹ thuật, chúng tôi  đặt tất cả phụ chú vào cuối sách. Những phụ bản được trích đăng theo từng bài và cuối sách. Đây có lẽ là đóng góp quan trọng nhất của tác giả vì hầu hết phụ bản đều rút từ các văn khố, lần đầu tiên được công bố, hoặc từ các thư viện dành riêng cho các nhà nghiên cứu. Với rừng sách trên thế giới, chẳng ai bận tâm đến một biên khảo không có tài liệu mới, chỉ nhai lại những nghiên cứu của người khác, và đôi chỗ thêm vào những lời . . . Kim Thánh Thán, trong khi chưa hề thấy hoặc tham khảo nội dung đích thực của các tài liệu.

Chúng tôi không dùng thư mục tham khảo vì muốn tăng số trang cho các phụ bản cần thiết.

      Tác giả muốn dành biên khảo này để biểu trưng lòng tri ân John R. W. Smail và Richard D. Coy, hai cố giảng sư đã giúp tác giả vượt qua sạn đạo vào sử học từ 1975 tới 1984. Và không thể không ghi nhận những đóng góp quí báu của một số đồng nghiệp và thân hữu qua các cuộc trao đổi ý kiến, tư liệu.

      Biên khảo này cũng chỉ có thể hoàn tất nhờ sự tài trợ của nhiều học bổng, đặc biệt là hai học bổng Fulbright để nghiên cứu tại Pháp trong hai năm 1982-1983 và 1985-1986. Tác giả xin đa tạ sự giúp đỡ nhiệt tình của quí vị Tổng Giám đốc Văn khố Pháp, Giám đốc văn khố hải ngoại, Trung tướng Giám đốc Nha Sử học Lục quân Pháp, Linh mục Giám đốc Văn khố Hội truyền giáo Hải ngoại, Giám đốc văn khố Thư viện Lyndon B. Johnson, cùng các nhân viên, đã dành cho nhiều dễ dãi trong việc tham khảo, kể cả những tư liệu chưa giải mật, suốt hơn hai thập niên qua.

Tuy nhiên, riêng tác giả chịu trách nhiệm mọi khiếm khuyết.

Houston 15.2.2004

CHÍNH ĐẠO

                                           TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỚI GENEVA

      Trong lịch sử cận đại Việt, hai biến cố nổi bật lên như dấu mốc hệ trọng, của khúc quanh dòng lịch sử Việt. Đó là chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Minh ngày 7/5/1954, và việc ký kết Hiệp định Đình Chiến Geneva [Giơ-neo-vơ] ngày 20-21/7/1954 giữa Pháp và Việt Minh, chấm dứt cuộc tái xâm lăng của Pháp (1945-1956). Nhưng hai biến cố này cũng đồng thời khởi đầu việc Liên bang Mỹ trực tiếp can thiệp vào Việt Nam, thiết lập nên hai thực thể chính trị phía Bắc và Nam vĩ tuyến 17, dẫn đến cuộc can thiệp bằng quân sự của Mỹ từ 1965 tới 1973, thường được biết như “trận chiến ở hải ngoại dài nhất trong lịch sử Mỹ.”(1)

      Đã có nhiều nghiên cứu giá trị về hai biến cố trên, bằng nhiều loại ngôn ngữ. Trong thập niên 1980-1990, do sự giải mật một số tài liệu của hai Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] và Cộng Sản Trung Hoa [CSTH], (2) cùng những tài liệu văn khố Mỹ, Bri-tên và Pháp, các học giả đã tái dựng khá trung thực hai biến cố trên. (3)

Bài viết này, ngoài những tư liệu đã công bố, dựa theo một số tư liệu nguyên bản Việt và văn khố Pháp, Mỹ khác, nhằm tái dựng lại hai biến cố Điện Biên Phủ và Hiệp ước Geneva trong ánh sáng khách quan lịch sử. (4)

I. ĐIỆN BIÊN PHỦ

Dien Bien Phu      Điện Biên Phủ còn có tên là Mường Then (mường trời, mường các thần thánh), Mường Theng, hay Mường Thanh, ở về phía Tây Nam Lai Châu, cách biên giới Lào-Việt khoảng 8 cây số. Đây là vựa lúa và thuốc phiện của miền Tây Bắc. Nó cũng là điểm gặp gỡ của hệ thống đường mòn từ Hoa Nam xuống Bắc Trung bộ, và từ Lào qua Lai Châu, Sơn La. Thung lũng này dài 18 cây số, rộng từ 6 tới 8 cây số, vây quanh bằng núi rừng trùng điệp. Một con sông nhỏ, Nam Yun (Nậm Rốm), một chi nhánh của sông Mekong (sông Khung hay Cửu Long), chảy xuôi theo hướng Bắc Nam, chia thung lũng làm hai. Khí hậu chỉ có hai mùa: khô và mưa. Mùa khô từ tháng 10 tới tháng 5 nhật lịch (tức tháng chín lịch Thái). Dân Thái ở dưới đồng bằng, sống bằng nghề nông. Dân Mèo sống trên núi, trồng thuốc phiện.

      Năm 1886, vua Hàm Nghi phong cho Đèo Văn Chương (tức Trí), Tri phủ Điện Biên, làm Tuyên phủ sứ, vì có công kháng chiến chống Pháp. Phái đoàn Auguste Pavie Pháp đã đến đây vào năm 1887, nhưng phải tới đầu năm 1888 mới tìm cách tiếp xúc được với Đèo Văn Trí, cố thuyết phục Trí bỏ rơi phong trào kháng Pháp của Hàm Nghi.  Nhưng phải tới chuyến đi thứ hai vào vùng 16 châu Thái từ tháng 3/1888 tới tháng 1/1889, Pavie mới thu phục được các tù trưởng thiểu số chấp nhận sự bảo hộ của Pháp từ năm 1890. Năm 1891, đặt vào Đạo quan binh thứ tư [4ème Territoire militaire]. Dưới thời Pháp thuộc, người Pháp đặt tại đây một viên chức hành chính, lo việc sản xuất và vận chuyển thuốc phiện. Năm 1939, một phi trường nhỏ được thiết lập. Từ 1945 tới 1947, Điện Biên Phủ nhiều lần đổi chủ. Sau chiến dịch Meigo (9-10/3/1945), tàn quân Pháp rút về đây hy vọng phát động một cuộc chiến kháng Nhật. Nhưng chưa đầy hai tháng sau, ngày 6/5/1945, tất cả tàn quân Pháp của Sabattier và Alessandri phải rút chạy qua Vân Nam.

Các Tướng lãnh Nhật muốn biến Điện Biên Phủ thành một căn cứ kháng chiến chống Đồng Minh, nhưng hai quả bom nguyên tử trên đất Nhật vào thượng tuần tháng 8/1945 khiến Nhật phải đầu hàng không điều kiện.

      Từ tháng 9/1945, quân đội Tưởng Giới Thạch qua Đông Dương giải giới quân Nhật ở phía Bắc vĩ tuyến 16. Quan tướng của Lư Hán khó thể bỏ qua Điện Biên Phủ và số lượng thuốc phiện thô sản xuất tại đây. Mặc dù Pháp bí mật dàn xếp cho đạo quân của Marcel Le Page cùng gia đình Đèo Văn Long trở lại vùng Lai Châu [Mương La], các quan tướng Tưởng lưu lại Điện Biên Phủ cho tới hết mùa thuốc phiện 1946 mới triệt thoái.

      Từ mùa Thu 1953, Điện Biên trở thành một vị trí quyết đấu giữa tân Tổng Tư lệnh Pháp, Henri-Eugène Navarre, và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các cố vấn Trung Cộng. Cuộc quyết đấu này là một “tai nạn” hơn “điểm hẹn lịch sử.”

A. BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ-QUÂN SỰ:

      Thời gian này, dư luận Pháp đang mong muốn tìm lối thoát khỏi bãi lầy Đông Dương trong danh dự. Cuộc chiến đã kéo dài 8 năm. Lực lượng chính qui của Việt Minh đã tăng lên tới 6 đại (sư) đoàn, kể cả một đại đoàn pháo binh-phòng không (351). Các đại đơn vị này được Trung Cộng huấn luyện và trang bị. Cố vấn Trung Cộng—do La Quí Ba và Vi Quốc Thanh cầm đầu—lên tới gần 300 người bố trí từ quân ủy trung ương xuống các sư đoàn. Từ năm 1951, cố vấn Trung Cộng thi hành một loạt những cuộc chỉnh quân, chỉnh phong, về chính trị cũng như quân sự. Những đơn vị địa phương, du kích (dân quân) ngày một gia tăng, đặc biệt là tại miền Bắc.

      Do áp lực của Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng), kế hoạch bình định của Pháp và Quốc Gia Việt Nam [QGVN] bị bẻ gãy từng mảng. Các vùng lãnh thổ do Việt Minh kiểm soát gồm nhiều mật khu hầu như bất khả xâm phạm: vùng thượng du Bắc Việt, vùng Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh (Liên Khu IV), vùng Quảng Ngãi-Qui Nhơn-Tuy Hòa (Liên Khu V), vùng Tây Ninh-Gia Định (chiến khu C, D), vùng Đồng Tháp Mười, vùng U Minh-Cà Mau. Việt Minh thường tuyên bố đã kiểm soát được 3/4 lãnh thổ. Pháp chỉ còn kiểm soát được các thành phố, tỉnh lỵ và quận lỵ cùng những trục lộ giao thông nối liền chúng với nhau. Phần chính phủ QGVN do Quốc trưởng Bảo Đại (1949-1955) cầm đầu chỉ mờ nhạt trên bối cảnh cuộc chiến ngày một gia tăng cường độ. Chẳng những Pháp không muốn trao trả độc lập thực sự mà cũng rất e dè trong việc tổ chức và huấn luyện quân đội QGVN. (5)

      Sở dĩ Pháp còn cầm cự được là nhờ viện trợ Mỹ. Mục tiêu chiến lược của Mỹ nhằm biến Đông Dương thành một tiền đồn chống Cộng, ngăn cản sự bành trướng của Trung Cộng xuống vùng Đông Nam Á—vựa lúa của Á châu, và cũng đồng thời nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên dồi dào cho thị trường thế giới. Nhưng viện trợ Mỹ có những thắt trói của nó. Mỹ áp lực Pháp phải trao trả dần độc lập thực sự cho chế độ QGVN cũng như quyền tự trị cho quân đội. Mục tiêu giành độc lập khỏi tay Pháp của người Việt không Cộng Sản được chuyển hướng dần thành cuộc “thánh chiến Chống Cộng” [an anti-Communist crusade] trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga. Nòng cốt của cuộc thánh chiến này là chỉ thị của Khâm sứ Antonin Drapier từ năm 1947, và nhất là Thánh lệnh của Giáo hoàng Pius XII ngày 15/7/1949. Tuy nhiên, mãi tới cuối năm 1951, Giám mục Lê Hữu Từ và hai giáo phận Bùi Chu-Phát Diệm mới chính thức “chống Cộng.” Sự thay đổi lập trường này, theo De Lattre de Tassigny, là do chuyến thăm Vatican ngày 15/10/1951 của ông ta. Pius XII không chỉ ban phép lành cho quân viễn chinh Pháp, mà còn bổ nhiệm một Linh mục gốc Ireland [Ái Nhĩ Lan], John Dooley, làm Khâm sứ.(6)

      Nhưng Pháp—một quốc gia theo chính sách đại nghị, và có nền chính trị đa nguyên—chỉ muốn “thánh chiến chống Cộng” nếu cuộc thánh chiến ấy giúp bảo vệ quyền lợi thực dân, kinh tế và văn hóa của Pháp. Niềm tự hào quốc gia và chủng tộc khiến Pháp tiếp tục cuộc chiến, trong khi dư luận ngày một nghiêng về việc kết thúc chiến tranh. Nhiều cá nhân đã lên tiếng gọi cuộc chiến Đông Dương là cuộc chiến tranh bẩn thỉu [la sale guerre] của tư bản và quân phiệt, và hô hào đòi thương thuyết với Việt Minh. Trong khi đó, cuộc chiến Đông Dương cũng bắt đầu kích động những mầm mống chống đối bằng vũ lực ở các thuộc địa Bắc Phi, như Algérie, Maroc, v.. v... Ngay những chính khách Pháp thân Mỹ và cực hữu nhất cũng đi đến kết luận rằng thương thuyết là giải pháp duy nhất. Từ tháng 7/1953, một số người đã nghiêng về ý định dùng Trung Cộng và Liên sô Nga làm trung gian hòa giải. Ngày 29/7/1953, chẳng hạn, Tổng Ủy viên Maurice Dejean nói với Đại sứ Heath rằng có thể đạt một giải pháp chính trị cho Đông Dương qua Trung Cộng.(7)

B. KẾ HOẠCH LANIEL-NAVARRE:

      Kế hoạch Navarre thoạt tiên được gọi là kế hoạch “Letourneau-Navarre,” và rồi “Laniel-Navarre.”

Đại Tướng Henri-Eugène Navarre được cựu Thủ tướng René Mayer và Thống chế Alphonse Juin, Tổng Tham mưu trưởng, chọn làm Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp, thay thế Raoul Salan từ ngày 28/5/1953. Quan điểm chiến lược của Navarre là tập trung lực lượng viễn chinh Pháp thành những “quả đấm mạnh,” lưu động, nhằm truy kích và tiêu diệt các đơn vị chính qui Việt Minh, tạo thế chủ động chiến trường, bẻ gãy xương sống Việt Minh trong mùa khô 1954-1955. Việc lưu giữ đồn bót và bình định sẽ được giao dần cho chính phủ và quân đội QGVN.

      Tháng 3/1953, Jean Letourneau trao cho Mỹ dự thảo đầu tiên của Navarre. Mục tiêu hàng đầu của Navarre là bình định phía Nam vĩ tuyến 18 (đèo Ngang), và tạm thời duy trì tình trạng hiện hữu ở miền Bắc, tức bảo vệ vùng châu thổ sông Hồng và Thượng Lào (trục Luang Prabang-Cánh Đồng Chum [Plaine de Jars]). Đồng thời, xây dựng lực lượng tổng trừ bị chiến lược. Navarre hy vọng rằng từ năm 1954 sẽ lấy lại thế chủ động chiến trường ở miền Bắc đèo Ngang.(8) Kế hoạch Navarre gồm có việc tăng thêm 59,600 binh sĩ QGVN năm 1953, 76,000 năm 1954, và 20,000 năm 1955, và lên tới 331,650 vào tháng 1/1956. Navarre còn xin tăng viện hai hay ba sư Pháp, thành lập 27 chiến đoàn cơ động [groupement mobile], bốn sư đoàn QĐQGVN cùng 84 tiểu đoàn Khinh Quân.(9)

      Ngày 16/6/1953, sau hơn một tháng viếng thăm các chiến trường, Navarre triệu tập một phiên họp các Tư lệnh vùng tại Sài Gòn để thảo luận về dự thảo kế hoạch mùa khô 1953-1954. Tại Bắc Việt, từ mùa Hè 1953, Navarre sẽ tạo thế chủ động bằng những cuộc hành quân Biệt kích, đột nhập hậu phương của Việt Minh. Từ ngày 15/9, sẽ mở những cuộc tấn công ngăn chặn các âm mưu quân sự của Việt Minh, đánh vào hậu phương và bên sườn các đơn vị chủ lực. Navarre cũng sẽ di tản các đơn vị chủ lực tại những nơi xét không cần thiết, và xúc tiến việc bình định. Lập các quân đoàn tác chiến bằng cách gom các tiểu đoàn thành trung đoàn, trung đoàn thành sư đoàn. Tuy nhiên, vẫn duy trì các đơn vị trừ bị. Ngoài ra, tiếp tục huấn luyện và tổ chức các đơn vị Quốc Gia Liên Hiệp, tập cho họ quen tác chiến và được hưởng nhiều tự trị hơn. Navarre muốn triệt thoái căn cứ Na Sản, một cứ điểm quân sự ở phía Tây Bắc, đã bị hai đại đoàn Việt Minh vây hãm và nhiều lần tấn công trong chiến dịch mùa Khô 1952-1953. Trung tướng René Cogny, Tư lệnh Bắc Việt, đề nghị lập thêm một cứ điểm ở Mương Then (Điện Biên Phủ) và dời thủ phủ của Liên bang Thái tự trị [ZANO] từ Lai Châu về đây. (10)

      Tháng 6/1953, chính phủ Mayer bị đổ. Joseph Laniel (6/1953-6/1954) lên thay. Thời gian này, cuộc chiến Triều Tiên (1950-1953) đã tạm ngưng tiếng súng; Mỹ và Trung Cộng đồng ý ngồi vào bàn hội nghị Panmunjon (Bàn Môn Điếm). Ngày 27/7/1953, hai phe lâm chiến ký Hiệp ước đình chiến Panmunjon. Triều Tiên tạm thời chia làm hai nước, ranh giới là vĩ tuyến 38.

Dưới mắt các chiến lược gia Pháp, Bắc Kinh sẽ rảnh tay hơn trong việc trợ giúp Việt Minh. Hơn nữa, đa số chính khách đều kết luận rằng Pháp chẳng còn lối giải quyết nào hơn thương thuyết. Ngay trong nội các Laniel, một số Bộ trưởng muốn thảo luận trực tiếp với Hồ Chí Minh; một số muốn Mỹ trực tiếp tài trợ hoàn toàn cuộc chiến, đổi lấy việc Pháp tham gia cộng đồng phòng thủ Âu châu [communauté européenne de défense hay CED]; một số lại muốn dùng CED để áp lực Liên sô Nga hầu giải quyết cuộc chiến. Một số khác nữa muốn thương thuyết với Bắc Kinh, trao đổi việc chấm dứt chiến tranh bằng viện trợ kinh tế cho Trung Cộng. (11)

      Laniel chủ trương không bỏ rơi Đông Dương, và phải thương thuyết trên thế mạnh, sau khi Pháp giành được thế chủ động trên chiến trường. Laniel trông cậy Mỹ gia tăng viện trợ để chống lại khuynh hướng thương thuyết tức khắc, và bằng mọi giá.(12)

      Ngày 3/7/1953—đúng ngày Laniel  tuyên bố kiện toàn nền độc lập của QGVN để tạo kích xúc tâm lý (13)—Navarre về nước, vận động cho kế hoạch quân sự 1953-1954. Ngày 24/7, Navarre ra điều trần trước Hội Đồng Quốc Phòng. Tuy nhiên, Laniel chỉ tăng viện cho Navarre được 10 tiểu đoàn tác chiến, kể cả một tiểu đoàn đang tham chiến tại Triều Tiên. (14)

Ngoài ra, Laniel cũng cho Navarre biết ý định tìm cách ngưng bắn như trường hợp Triều Tiên, và Navarre không cần bảo vệ Thượng Lào.

      Kế hoạch “Letourneau-Navarre” được cải danh thành “Laniel-Navarre” khi Laniel xin thêm 400 triệu Mỹ Kim viện trợ cho năm 1954. Về quân viện Mỹ, không gặp trở ngại. Ngày 12/7, Ngoại trưởng Dulles chấp thuận trên nguyên tắc với Bidault.(15) Ngày 30/7, Quốc Hội Mỹ biểu quyết quân viện thêm 150 tỉ francs (400 triệu MK) cho tài khoá 1953-1954 như Laniel yêu cầu. (16)

      Ngày 5/8, BNG Mỹ biện minh cho việc thêm quân viện như sau: nội các Laniel là “chính phủ Pháp cuối cùng còn muốn tiếp tục cuộc chiến Đông Dương,” việc mất Đông Dương “rất quan trọng [critical] cho nền an ninh Mỹ”; nếu Cộng Sản kiểm soát Đông Dương sẽ làm nguy hiểm “nguồn cung cấp nguyên liệu thô quan trọng [vital raw material sources];” sẽ khiến các quốc gia Đông Nam Á giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của phương Tây; gây khó khăn và tốn kém cho việc phòng thủ Philippines, Đài Loan va Nhậtvà khiến việc xây dựng kinh tế Nhật thêm phức tạp. “Nếu Pháp quyết định rút lui, Mỹ phải suy xét rất kỹ là có nên thay thế hay chăng [If the French actually decided to withdraw, the US would have to consider most seriously whether to take over in this area].” (17)

      Tại Đông Dương, trong tháng 7/1953, Pháp tung ra một loạt tấn công chớp nhoáng vào hậu phương của Việt Minh. Ngày 17/7, ba tiểu đoàn Dù nhảy xuống phía Bắc Lạng Sơn, rồi rút về hướng Đình Lập-Tiên Yên (Hành quân Hirondelle [Chim Én hay Nhạn]). Ngày 28/7, Tướng LeBlanc mở cuộc hành quân Camargue, truy đánh Trung đoàn 95 tại vùng Quảng Trị-Thừa Thiên.

     Ngày 2/8, Navarre trở lại Sài Gòn. Sáu ngày sau, Thứ Bảy, 8/8, Pháp bắt đầu rút khỏi Na Sản bằng phi cơ [cho đến ngày 13/8]. Không quân Pháp cũng di tản 10,000 người Thái, tức khoảng 1,800 gia đình.(18) Việc triệt thoái bằng cầu không vận này không gặp sức phản kháng nào của Việt Minh. Mặc dù Quân ủy trung ương Việt Minh đã chọn Na Sản làm một trong những mục tiêu chính của chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, thời gian này các đơn vị đang trải qua giai đoan chính huấn quân sự cũng như chỉnh phong chính trị (tinh thần đấu tranh giai cấp). (19)

      Trong tháng 8/1953, Navarre còn mở hai cuộc hành quân lớn ở châu thổ sông Hồng. Ngày 13/8, Pháp tảo thanh vùng Tri Lễ, Ước Lễ, khoảng 17 cây số Nam tỉnh lị Hà Đông. Từ năm 1952, vùng này trở thành mật khu của Việt Minh, đe dọa khu Đồng Quan. Ngày Thứ Sáu, 28/8, Pháp mở chiến dịch Claude [cho tới ngày 15/9/1953], tảo thanh vùng Tiên Lãng (10 cây số Nam Hải Phòng. Tuy nhiên, ngay sau khi quân Pháp rút lui, VM chiếm lại các căn cứ. Ngày 15/10, Pháp lại mở chiến dịch Mouette [Hải Âu, cho tới ngày 6/11]. Sử dụng 22 tiểu đoàn đánh vùng Rịa / Nho Quan, Tây Nam tỉnh Ninh Bình. Các tiểu đoàn được kết hợp thành hai sư đoàn nhẹ, do Đại tá Christian de Castries và Vanuxem chỉ huy. Việt Minh sử dụng đại đoàn 320 chống trả. Ngày 27/10, hai bên chạm súng nặng. Ngày 6/11, Navarre cho lệnh chấm dứt hành quân. (20)

      Cùng ngày 15/10/1953, Pháp mở cuộc hành quân Pélican [Con bồ nông] ở vùng duyên hải Thanh Hóa. Hôm sau, đổ bộ 500 quân xuống Lạch Trường, rồi rút lui.

Theo Tướng John W. O’Daniel—người được Navarre đích thân cho xem kế hoạch Thu Đông 1953-1954 ngày 29/6/1953—chính phủ Pháp không thực hiện đúng những gì đã ký kết với Mỹ: (a) Pháp không có những kế hoạch tổng quát cho cuộc tấn công mùa Thu 1953 ngoài những cuộc hành quân giới hạn nhằm khiến quân địch bất ngờ [keep the enemy off balance]; (b) việc cải tổ các đơn vị thành Trung đoàn và Sư đoàn vẫn còn trong giai đoạn thiết kế [planning stages]; (c) không khẩn trương huấn luyện các sĩ quan cao cấp Việt và tham mưu, (d) việc tổ chức Bộ chỉ huy huấn luyện đang gap “khó khăn chính trị;” (e) việc tổ chức lực lượng thủy bộ chưa quá giai đoạn thiết kế.” Do đó Đô đốc Arthur Radford, Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đề nghị phải có điều kiện cho việc tăng quân viện: Pháp cần chứng tỏ hành động ở Đông Dương, và tiếp tục chấp nhận và hành động theo cố vấn của Mỹ. Và các cấp của Pháp phải yểm trợ và nỗ lực thực hiện kế hoạch Navarre. (21)

      Kế hoạch nòng cốt của Navarre trong mùa khô 1953 là mặt trận Tây Bắc Bắc Việt và Thượng Lào. Có những dấu hiệu cho thấy các đơn vị chủ lực của Việt Minh đang di chuyển về hướng Lai Châu, đặc biệt là hai Đại đoàn 316 (từ Thanh Hóa) và 308. Điều này chứng tỏ mục tiêu chiến lược của Việt Minh trong dịp Đông Xuân 1953-1954 là vùng Tây Bắc và Thượng Lào hơn vùng châu thổ Bắc Việt.

C. CHIẾN DỊCH CASTOR:

      Ý định tái chiếm Điện Biên làm điểm tiếp vận cho các đơn vị Thái chống Cộng đã được Raoul Salan đưa ra từ ngày 30/12/1952.(22) Trước đó một tháng, ngày 30/11, một tiểu đoàn Lào mới di tản khỏi Mương Then. Khoảng 13,000 dân cư ở lại, lọt vào vòng kiểm soát của Việt Minh. Trung đoàn 148 độc lập của Việt Minh đã có mặt trong khu vực này từ chiến dịch Đông Xuân 1952-1953. Trong tháng 11-12/1952, Trung đoàn 148 tham gia cuộc vây hãm Na Sản, cách Điện Biên khoảng 70 dặm (110 km) về phía Bắc. Bộ Chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn 900 đang có mặt tại Điện Biên. Ngày 7/1/1953, Ban Tham mưu của Salan đã thảo kế hoạch tái chiếm Điện Biên. Tuy nhiên, vì tình hình suy thoái ở miền Bắc, chưa có cơ hội thực hiện. Ngày 25/5, tức ba ngày trước khi bàn giao cho Navarre,  Salan vẫn nhấn mạnh vào sự cần thiết tái chiếm Điện Biên.

      Như đã lược nhắc, ngày 16/6, chính Trung tướng Cogny, Tư lệnh miền Bắc, đề nghị tái chiếm Điện Biên  làm thủ phủ Liên bang Thái tự trị. Sau khi Navarre thuyết trình trước Hội đồng Quốc Phòng ngày 24/7/1953, hôm sau, 25/7, Ban Tham mưu của Navarre soạn chỉ thị số 563 về kế hoạch chiếm Điện Biên để ngăn chặn việc quân Việt Minh tiến qua Thượng Lào. (23)

      Tuy nhiên, trong tháng 8/1953 nỗ lực của Pháp tại Bắc Việt là cuộc di tản bằng hàng không khỏi Na Sản 9,000 binh sĩ Pháp và thân nhân. Mãi tới ngày 2/11, Phụ tá Hành quân của Navarre mới ra chỉ thị (số 852) về hệ thống chỉ huy chiến dịch Castor, dự trù sẽ bắt đầu từ ngày 15 tới 20/11/1953, nhưng không thể chậm hơn ngày 1/12/1953. Hai ngày sau, 4/11, Ban Tham Mưu của Cogny viết Tờ trình phản đối chỉ thị chiếm Điện Biên, vì nơi đây sẽ trở thành “máy nghiền các tiểu đoàn.” Ngày này, Cogny thư cho Navarre phản đối.(24) Dẫu vậy, ngày 11 và 12/11/1953, Cogny vẫn chỉ thị cho các đơn vị thi hành kế hoạch hành quân Castor.

      Thứ Bảy, 14/11, Navarre ra lệnh hành quân cuối cùng về Điện Biên. Cogny và Đại tá Boucher de Crèvecoeur, Tư lệnh Lào, được lệnh phối hợp hành quân. Hôm sau, 15/11, Ban Tham mưu của Navarre báo động về sự hiện diện tại vùng Tây Bắc của Đại đoàn 316—đại đơn vị này có 2 trung đoàn 174 và 176 tuyển mộ từ các sắc tộc trong khu Thái tự trị. Hai ngày sau, 17/11, khi Bộ trưởng Các Quốc Gia Liên Kết Marc Jacquet, cùng Navarre, Maurice Dejean và Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tới thăm Hà Nội, đích thân Cogny trình bày về chiến dịch "Castor" sắp tới. Jacquet không hề phản đối hay bận tâm báo cáo về Paris. Điều này chứng tỏ các cấp chỉ huy Pháp không ngại đương đầu với Việt Minh tại Điện Biên. Họ vững tin ở khả năng không vận của Pháp, và sự khó khăn của Việt Minh về tiếp vận cũng như hỏa lực tại một trận địa cách hậu cứ trên 500 cây số rừng núi. (25)

      Thứ Sáu, 20/11, Chiến dịch Castor bắt đầu. Tướng Jean Gilles chỉ huy sáu tiểu đoàn Dù, kể cả Tiểu đoàn 5 Dù Việt Nam, nhảy xuống Điện Biên trong ba ngày 20-23/11. Các đơn vị truyền tin, thiết giáp, pháo binh, công binh cũng được thả dù hay không vận tới trận địa.

D. TRIỆT THOÁI LAI CHÂU:

      Từ ngày 4/11, Pháp quyết định bỏ Lai Châu (Mường La), và di tản chính phủ Thái tự trị của Đèo Văn Long xuống Điện Biên Phủ. Ngày 13/11, Cogny thông báo cho Chỉ huy trưởng Lai Châu, Trung tá Trancart, biết chi tiết cuộc Hành quân "Pollux" này. Binh đoàn lưu động Thái số 1 (GMPT 1) của Đại úy Bordier lập tức di chuyển từ Lai Châu xuống Điện Biên, nhưng bị Trung đoàn 148 chận đánh và khuấy nhiễu dọc đường. Ngày 22/11, một cánh quân Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù (II/1 RCP) phải rời Điện Biên lên đón. Hôm sau, 23/11, Liên đoàn Thái lưu động 1  bắt tay được Tiểu đoàn 1 Dù (II/1 RCP) ở phía Bắc Điện Biên khoảng 7 cây số. Từ ngày này, cờ Thái tự trị—ngôi sao đỏ 16 cánh trên nền xanh da trời, trắng, xanh da trời—phất phới khắp thung lũng. (26)

Ngày Thứ Bảy, 28/11, Navarre bay ra Hà Nội. Cogny đề nghị tấn công hậu cứ Việt Minh vì các đại đoàn 304, 312 và 351 đang hướng về Tây Bắc, nhưng Navarre không chấp thuận. Hôm sau, Navarre cùng Cogny tới thị sát Điện Biên. Đại tá Christian de Castries, một sĩ quan Kị binh từng theo Navarre nhiều năm, được chọn làm Tư lệnh cứ điểm chiến lược Tây Bắc này. Trước sự tập trung đông đảo của quân Việt Minh, ngày 30/11, Cogny ra chỉ thị tổ chức phòng thủ Điện Biên lâu dài. Ba ngày sau, 3/12, phần nào do lời nghị hòa của Hồ Chí Minh ngày 29/11, Navarre cho lệnh de Castries giữ Điện Biên bằng mọi giá. Chiến dịch Castor cải danh thành Mặt trận Tây Bắc [GONO]. (27)

E. MẶT TRẬN THƯỢNG LÀO:

      Ngày Thứ Tư, 25/11, Đại tá Boucher de Crèvecoeur, Tư lệnh Lào, mở chiến dịch Ardèche, tung 6 tiểu đoàn đánh chiếm Mường Ngòi, Mường Khoa (Thượng Lào). Mục đích nhằm xây dựng một hành lang chiến lược dài theo sông Nam Ou [Nậm U] nối liền Luang Prabang với Điện Biên.

      Ngày 3/12, Pháp cũng mở cuộc hành quân Regate từ Điện Biên xuống, và Luang Prabang lên, hợp điểm ở Sop Nao. Liên đoàn GAP 2 của Trung tá Langlais tới Sop Nao không gặp trở ngại, nhưng trên đường về, phải vượt rừng núi trở lại Điện Biên vì Trung đoàn 148 VM đang bám sát. Hành lang chiến lược nối liền với Luang Prabang, dọc theo sông Nậm U, để di tản Điện Biên khi cần thiết hầu như  trở  thành ảo vọng vào dịp Giáng Sinh 1953. (28)

Ghi chú:

1. Xem, chẳng hạn, George C. Herring, America’s Longest War: The United States and Viet-Nam, 1950-1975 (New York: John Wisley & Sons, 1978).

2. Xem, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam [CHXHCNVN], Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua (Hà Nội: Sự Thật, 1979); Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam (Hà Nội: NXB QĐND, 1996); Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Đỗ Thận ghi (Hà Nội: NXB QĐND, 1994); Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ: Điểm hẹn lịch sử, Hữu Mai viết (Hà Nội: NXB QĐND, 2001); Idem., Điện Biên Phủ (Hà Nội: NXB CTQG, 1994).

3. Hai biên khảo xuất sắc sử dụng tài liệu Trung Cộng là Quang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill, Univ. of North Carolina Press, 2000); Chen Jian, “China and the First Indochina War, 1950-54;” China Quarterly (Aug. 1993), pp. 105-110. Trong số những tác giả sử dụng tài liệu văn khố lục quân Pháp, tác phẩm xuất sắc nhất là Bernard B. Fall, Hell in A Very Small Place: The Siege of Dien Bien Phu [Địa ngục trong một nơi rất nhỏ bé: Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ] (New York: Vantage Books, 1966,1968).

4. Tư liệu chính chúng tôi sử dụng gồm SHAT (Vincennes), Indochine, 10H 179 [“Fiche de Renseignements,” 3ème Bureau], 246-248; Edmond Chabani, “Notes sur l’histoire des hauts pays du Nord-Ouest Vietnam (Lau chau, 25 mai 1951); Ibid., 10H 1040; Ibid., 1K 233 [Tư liệu Ely], cartons 1, 39, 40; US Department of Defense, US-Vietnam Relations, 1945-1967, 12 tập (Washington, DC: GPO, 1971), Bk 9; US Department of State, Foreign Relations of the United States [FRUS], vol XVI, Geneva; và Great Britain, House of Commons, Documents relating to the discussion of Korea and Indo-China at the Geneva Conference. " Miscellaneous No.16 (1954) ", Cmd. 9186.

5. Theo Thủ tướng Tâm ngày 9/11/1953, trên tổng số 21,063,543 dân, chính phủ QGVN kiểm soát hoặc bán kiểm soát được 39.8%, tức 8,388,693 người. Chia ra như sau: (1) Kiểm soát hoàn toàn được 6,431,453 người (30.5%): Bắc, 1,642,560 / 10,298,337 (15.9%); Trung, 1,552,000 / 6,466,800 (24%); và, Nam, 3,236,893 / 4,298,406 (75.3%); (2) Số dân sôi đậu: Bắc, 1,449,583 (14.1%); Nam, 507,657 (11.8%); (3) Số dân do VM kiểm soát hoàn toàn lên tới 12,676,513 người (60.2%), chia ra như sau: Bắc: 7,207,857 (70%); Trung: 4,914,800 (76%); Nam: 553,856 (12.9%); Tờ trình ngày 9/11/1953, Ban Tham Mưu Đặc Biệt; SHAT (Vincennes), 10H 243, 254.

6. Xem Pierre Darcourt, De Lattre au Vietnam (Paris: La Table Ronde, 1965), tr. 257-265.

7. FRUS, 1952-1954, XIII:705.

8. Henri-Eugène Navare, Agonie de l’Indochine (tr. 67);  Fall. Hell, 1968:ix; Giáp, Điện Biên Phủ, 2001:17-18; Tấn 1994:279-280.

9.  Ngày 31/12/1953, QĐQGVN có 198,020 người, chia ra 151,020 chính qui và 47,000 phụ lực; VNCH, Bộ TTM, Quân sử, IV, 1972:196.

10. The Pentagon Papers (Gravel) 1971, I:496; Fall, Hell, 1968:31-32.

11. Jean Chauvel, “L’Armistice de Genève;” Historia (Paris), hors série No. 25 (1972), tr. 146.

12. CĐ 2110, 30/11/1953, Dillon gui BNG; FRUS, 1952-1954, XIII: 887-888. Mỹ đã viện trợ cho Pháp tại Đông Dương 568 triệu MK năm 1953 (33% tổng số chiến phí) và dự trù 1.313 tỉ MK cho năm 1954 (61% tổng số chiến phí. The Pentagon Papers (Gravel) 1971, I:408. Từ 1950 tới 31/3/1954, Mỹ đã viện trợ 785 triệu MK cho quân viễn chinh Pháp và quân đội ba QGLK; Ibid., I:498.

13. Ngoại trưởng Bidault không hài lòng với quyết định trao độc lập hoàn toàn cho Việt Nam. FRUS, 1952-1954, XIII:706-9.

14. FRUS, 1952-1954, XIII:704.

15. Ngày 21/7/1953, nhật báo Le Monde tiết lộ nội dung buổi mật đàm giữa Bidault và Dulles ngày 12/7/1953 tại Oat-shinh-tân.

16. FRUS, 1952-1954, XIII:701-703.

17. Báo cáo của BNG ngày 5/8/1953 để sử dụng cho phiên họp NSC ngày 6/8/1953; The Pentagon Papers (Gravel) 1971, I:405-407 [Tài liệu 16]).

18. Có tài liệu ghi từ ngày 7 tới 12/8/1953; 10H 282.

19. Giáp, Điện Biên Phủ, 2001:12-14. Theo Lê Trọng Tấn, các đơn vị Việt Minh đang qua đợt chỉnh quân từ tháng 6/1953. Ngày 7/8, tiến hành chỉnh quân chính trị; Tấn 1994:272-273. Tấn từng đi lính Không quân Pháp, đá bóng cho đội Avionton (?); Ibid., 1994:273.

20. Giáp, Điện Biên Phủ, 2001:31-39. Ngày 4/11/1953, Nixon thăm các đơn vị đang tham dự cuộc hành quân Mouette. Theo Pháp, Sư đoàn 320 VM thiệt hại trên 20% quân số ; FRUS, 1952-1954, XIII:860.

21. Phiếu trình [Memorandum] của Radford ngày 28/8/1953; The Pentagon Papers (Gravel) 1971, I:411.

22. Ngày 30/12/1952 Salan ra chỉ thị số 40, cho lệnh tái chiếm Điện Biên Phủ ngày 10/1/1953; Fall, Hell, 1968:25.

23. Fall , Hell, 1968:33.

24. Fall, Hell, 1968:35-36. Thủ tướng Laniel cho rằng đây chỉ là sự phản kháng chiếu lệ để tránh trách nhiệmo:p>

25. Ngày 6/11/1953, Tướng O'Daniel thăm Đông Dương [cho tới ngày 15/11]. Sau những buổi bàn thảo với Navarre, hoàn toàn ủng hộ kế hoạch Navarre. Ngày 20/11, Navarre xin Heath thêm phi cơ vận tải C-47. Ngày 23/11, Mỹ đồng ý gửi thêm 25 phi cơ C-47 trước ngày 12/12/1953. Đây là quà tặng cho Laniel và Bidault trước khi Hội nghị Bermuda khai mạc ngày 4/12/1953; FRUS, 1952-1954, XIII:882-3.

26. SHAT (Vincennes), 10H 179; Fall, Hell, 1968:19-20.

27. Fall, Hell, 1968:39-40.

28. Fall, Hell, 1968:73-76.

Mark_03.gif (833 bytes) Đọc tiếp (phần II): Kế hoạch Đông Xuân và các Mặt Trận hỗ trợ

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net