
Ý Nghĩa Của
Vụ Fallujah
The Meaning
of Fallujah
Source: http://www.worldnetdaily.com/news/article.asp?ARTICLE_ID=38349
by Patrick J. Buchanan
Anh Du dịch
Dựa theo một số hãng truyền hình, họ cho rằng vụ Fallujah giống
như Trận Stalingrad, điều này không đúng. Tại Stalingrad có những 500 trăm
ngàn Hồng quân bị chết, cùng với 147 ngàn lính Đức. Chưa kể 91 ngàn
hàng binh Đức, sau này ít người trong họ còn trông thấy trở về.
Không thể
đúng được, vụ Fallujah không như ở Stalingrad. Cũng không giống như trận
Bull Run đầu tiên vào năm 1861 tại đó các đoàn thể phụ nữ đi xem quân
nổi loạn và chứng kiến Bắc quân lũ lượt tháo chạy trên đường về
Washington trong cơn hoảng hốt. (Trong thời Nội chiến, năm 1861 Bắc Quân dưới
sự chỉ huy của Irvin McDowell được lệnh của Abraham Lincoln tiến chiếm
Bull Run lần thứ nhất. Thomas Jackson cùng với dân chúng Virginia cố thủ,
sau đó phản công đánh bại Bắc quân phải bỏ chạy về Washington--lời
người dịch). Phe Nam quân và Bắc quân chết ở Bull Run gần 900.
Tại
Fallujah, Hoa Kỳ tử thương chỉ vài chục là nhiều lắm.
Dẫu vậy,
trận Stalingrad là khúc quanh của cuộc chiến và trận Bull Run mang ý nghĩa
Lincoln phải chiến đấu trong cuộc chiến dai dẳng hơn hoặc để mặc phía
Nam quân tự tung tự tác. Vụ Fallujah có thể xem như là một mặt trận quyết
định về chức tổng thống và cuộc chiến của Bush.
Việc ám hại
những công nhân và cắt xẻo thân thể họ, chúng ta được báo sự trừng
phạt là chắc chắn và phải có. Nếu Fallujah từ chối giao các hung thủ,
nó sẽ bị tấn công. Khi mà một siêu cường đưa ra một tối hậu thư, mọi
chuyện phải được thực thi tốt.
Tuy vậy khi
quân nổi dậy công khai chống trả lại các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến
(TQLC), và TQLC sửa soạn tiến vào dứt điểm 1500 tay súng, cấp chỉ huy
Hoa Kỳ ra lệnh rút lui. Tuần qua, một viên tướng Vệ Binh Cộng Hòa được
gởi đến Fallujah để dàn xếp cho ổn thỏa mọi chuyện.
Quân nổi
loạn diễu cợt thiện chí đề nghị ngừng bắn bằng việc gởi một xe vận
tải nhỏ chở toàn vũ khí hư hỏng. Chúng gia tăng các cuộc tấn công vào
TQLC vào buổi tối. Và sau khi TQLC rút khỏi, hình ảnh về quân địch hân
hoan, nhẩy múa trình chiếu khắp vùng Trung Đông. Bản thông điệp gởi đến
cho thế giới Hồi Giáo: Siêu Cường cũng có thể bị thách thức, coi thường.
Fallujah hoàn
toàn thuộc về quân nổi dậy. Quân thù đã và đang thiết lập một khu cấm
địa, một căn cứ thuộc vùng chiếm đóng của Mỹ trong khu vực chiến
tranh, như vùng Najaf có giáo sĩ cấp
tiến Shi’ite Moqtada al-Sadr.
Bản thông
điệp từ Fallujah cho thấy rằng hoặc người Mỹ sợ thương vong, hoặc là
họ sợ gây thương vong nặng nề cho dân Iraq trong trận chiến ở thành phố
vì e ngại rằng những tấm ảnh trưng bầy những đền thờ bị tàn phá
và đàn bà trẻ con bị chết có thể biến chiến thắng có tầm mức chiến
thuật của TQLC thành cái thất bại chiến lược của Mỹ trong mặt trận
tranh thủ lòng người.
Nhưng nếu
điều đó là điều tổng thống muốn, thì làm sao chúng ta có thể thắng
cuộc chiến này được? Làm sao chúng ta có thể ngăn chận các vụ khiêu
khích ở Fallujah? Làm thế nào chúng ta đáp trả các vụ tấn công gia tăng
ở những thành phố thánh ở Najaf và Fallujah.
Nếu người
Mỹ với tất cả hỏa lực đang có lại không muốn tiêu diệt hay tước bỏ
vũ khí của quân nổi dậy, đám dân quân và các tay súng nước ngoài, thì
lấy đâu ra điều chúng ta mong muốn có một chế độ dựng nên bởi Liên
Hiệp Quốc (LHQ) để làm cho xong công chuyện?
“Tháng Tư là tháng khốc liệt nhất,”
như nhà thơ T.S Eliot vịnh, “vun bón hoa lilac từ mảnh đất chết” Tháng
Tư gợi ra hy vọng và điều hứa hẹn khi mà chẳng có điều nào thấy là
đúng. Thử nhìn xem tháng Tư đã đem đến cho ta những gì:
- Nhiều thương
vong của người Mỹ hơn con số chúng ta bị thiệt hại trong lúc bắt đầu
xâm lăng và chiếm đóng.
- Nhậ thấy
những thất bại của Mỹ ở Fallujah và Najaf, nơi quân địch nấp trốn
sau khi tung ra các cuộc tấn công giết người vào lính Mỹ.
- Mấy cuộc
nghiên cứu trong dân chúng Iraq thấy rằng, không kể dân Kurd vùng phía Bắc,
có những 81 phần trăm dân Sunni và Shi’ite coi chúng ta như kẻ chiếm đóng,
hai-phần-ba muốn chúng ta rời khỏi đất nước họ, và một nửa nữa
nghì rằng nếu có cơ hội họ muốn người Mỹ bị giết.
- Mấy cuộc
thăm dò dư luận cho thấy một-phần-ba người Mỹ giờ đây tin rằng Iraq
không hề là sự đe dọa cho nước Mỹ. Một nửa tin rằng cuộc chiến này
là một sự nhầm lẫn, 41 phần trăm tin rằng chính sách của Bush đã gia tăng
thêm nạn khủng bố, và 71 phần trăm nói rằng
chính sách của ông ta làm thiệt hại hình tượng của chúng ta
trong thế giới Ả Rập.
- Sự xung
đột chiến sự gia tăng vào sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Iraq, việc sút
giảm sự ủng hộ cuộc chiến ở trong nước đã ghi nhận được trước
khi những chuyện khủng khiếp và mấy tấm hình đầy ấn tượng lòi ra về
vụ lính Mỹ bạc đãi người tù Iraq theo kiểu lăng nhục và sa đọa nhất.
Tổng thống
của Ai Cập tuyên bố rằng Hoa Kỳ chưa bao giờ bị căm ghét hơn như hiện
nay. Vua của Jordan đã từ chối đến White House để phản đối điều mà
các nước Ả rập nhận ra là sự phản bội của Bush về dân Palestine đối
với Sharon.
Các vấn đề
nêu ra qua những biến cố của tháng Tư là có tính cách lâu dài và được
ghi vào lịch sử. Phải chăng Hoa Kỳ sắp thua ở Iraq? Có phải chính sách
của Mỹ ở Trung Đông đang phá sản?
Với sự căm
thù Mỹ và xung đột chiến sự đến với chúng ta như cơn dịch lớn, còn
bao lâu nữa chúng ta ở lại Iraq? Có còn cơ may nào để Bush có thể xây dựng
một chính phủ tự do, dân chủ, thân Mỹ và sẵn sàng cho phép sự hiện
diện thường trực của các căn cứ Mỹ trên đất Iraq không? Giờ ai đang
thắng cuộc chiến ở Trung Đông, Bush hay là bin Laden?
Người ta tự hỏi có khi nào tổng thống tự vấn mình: Sao chẳng có ai trong hội đồng chiến tranh cảnh báo ông ta để giờ này nên nông nỗi này.
Anh Du 7/5/2004
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net