08_gdmau.jpg (3664 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Trang nghiên cứu & đối thoại tháng 5 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)

Một Câu Hỏi Lớn

Những câu hỏi lớn không bao giờ được thỏa mãn với những câu trả lời dễ dàng   --Paul Samuelson

Đào Viên 

iraq died in fallujaTuần lễ vừa qua – tuần lễ thứ hai của tháng Tư, 2004 – đã là tuần lễ đẫm máu, không những chỉ cho nhân dân Irắk với lối 600 người chết mà đa số là thường dân, mà cũng cả cho Liên Quân Chiếm đóng Hoa Kỳ với 61 binh sĩ thiệt mạng. Đây là con số tử vong hàng tuần lớn nhất kể từ khi Tổng Thống Bush hãnh diện tuyên bố cuộc hành quân tiến đánh Irắk chấm dứt trên Hàng Không Mẫu Hạm Abraham Lincoln, một năm trước đây. Và ở Hoa Kỳ, người ta bắt đầu nói nhiều tới những cụm từ đã từng ám ảnh dân Hoa Kỳ trong nhiều năm như: Việt Nam, Sa lầy, Tết Mậu Thân vân vân... Irắk có sẽ là một Việt nam khác cho chính phủ Bush không, thì không phải là đối tượng của bài này. Điều đó chỉ nói lên mối quan tâm lớn lao của chính giới và dân chúng Hoa Kỳ trước phong trào nổi dậy chống Mỹ, không ngờ tới, mới xẩy ra tại Irắk.

Tất cả khởi đầu bằng sự đóng cửa tờ báo al-Hawza ngày 28 tháng 3, 2004, một tờ báo địa phương (tỉnh Najaf) rất nhỏ, không có ảnh hưởng tầm mức quốc gia. Tờ báo này hay đăng những bài pháp thoại của ông đạo Islam tên là  Moktada al-Sadr, một ông đạo thuộc giáo phái Shi’ite, nhưng bài Mỹ, ra mặt chỉ trích quân đội chiếm đóng ngay từ đầu. Ông Toàn Quyền Bremer thấy rằng không thể dung túng tờ báo này được vì có hại cho uy tín của Hoa Kỳ, mặc dầu đây chỉ là một tờ báo địa phương rất nhỏ. Tiếp theo đó là Hoa Kỳ đã lùng bắt Sheik Yacoubi, một cộng sự viên thân tín của ông đạo al-Sadr, và 11 người khác, với tội danh là có dính líu đến vụ ám sát một ông đạo Islam khác, ông al-Khoie, cũng thuộc giáo phái Shi’ite, ở ngoại quốc về cùng với quân đội chiếm đóng, và thân Hoa Kỳ. Ông al-Sadr đã phản ứng lại một cách mạnh mẽ, bằng cách kêu gọi dân chúng Irắk đứng lên chống lại quân đội chiếm đóng. Thế là một cuộc nổi dậy của nhân dân Irắk, với nòng cốt là lực lượng võ trang riêng của al-Sadr, đội quân Madhi (có khoảng 5,000 người), đã bùng lên, không phải chỉ ở Najaf, là nơi Moktada al-Sadr hay thuyết pháp, mà cả tại Bagdah, tại Fallujah, tại Ar Ramadi, tại Al Kut, tại Nasyria, và tại Basra. Cả hàng chục ngàn người, với nhiều thanh niên đeo băng trắng trên đầu, thấm đầy máu, vì đã dùng dao dài hay xiềng xích, tự hành hạ mình theo truyền thống tôn giáo để tỏ lòng ủng hộ người lãnh đạo tinh thần. Họ vừa đi vừa gào lên: “Moktada, Moktada, chúng con sẵn sàng tử vì đạo!”, “Đả đảo bọn xâm lược! Hoa Kỳ hãy cút ra khỏi Irắk!”.

linh My died Hoa Kỳ thấy không thể để cho tình thế bất ổn lan rộng, tuột khỏi tầm kiểm soát của mình như vậy được. Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ được lệnh tấn công nhóm phản loạn. Điều này càng làm cho sự chống đối gia tăng. Sự chống đối không còn là việc riêng của nhóm ông đạo Shi’ite al-Sdar nữa, mà đã lan sang nhóm Shi’ite ôn hòa của ông đạo Ayatollah Ali Sistani. Ấy là chưa kể đến những người Irắk thuộc giáo phái Sunni, gốc của cựu Tổng Thống Saddam Hussein, vẫn bài Mỹ theo truyền thống. Nhiều đoàn xe vận tải tiếp tế dầu hỏa, lương thực cho quân đội chiếm đóng bị tấn công. Một trường hợp kinh khủng nhất đã xẩy ra khi một chiếc xe vận tải của một hãng thầu Mỹ - một chi nhánh của Halliburton, hãng dầu hỏa lớn ở Texas, mà Phó Tổng thống Dick Cheney từng làm Chủ Tịch Tổng Giám Đốc một thời gian – bị  tấn công phát hỏa, và nhóm bạo đông đã lôi ra 4 cái xác đã cháy đen, kéo lê trên đường phố để rồi treo hai cái xác trên cây cầu vắt qua thành phố. Hành động dã man này nói lên sự căm thù của nhóm chống đối với người Hoa Kỳ, đồng thời cũng đem lại niềm phẫn nộ cho Hoa Kỳ. Quân đội chiếm đóng quyết định phải trừng phạt đích đáng kẻ chủ mưu và bắt những kẻ gây ra tội ác. Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã mở một cuộc hành quân quy mô tại những thành phố chính như Fallujah, Ramadi, Najaf với mục đích là bắt sống hay giết chết ông đạo al-Sadr, lùng bắt thủ phạm đã giết 4 người của hãnh thầu, và tiêu diệt lực lượng võ trang Mahdi của al-Sadr. Cuộc hành quân này đã dẹp yên được nhiều nhóm chống đối nhưng đồng thời cũng đưa đến những thảm sát rất đông thường dân vô tội, khiến cho mọi người Irắk, thuộc tất cả các giáo phái, tất cả những xu hướng chánh trị, bài Mỹ hay thân Mỹ, lên tiếng phản đối. Theo ước lượng của tướng Mark Kimmit thì cứ mỗi tử vong Hoa Kỳ thì phải có khoảng 10 tử vong Irắk, tác chiến hay không tác chiến. Có bốn ông thành viên của Hội Đồng Hành Pháp Irắk (Government Coucil), do Mỹ chỉ định ra, đã từ chức để phản đối hành động trả đũa quá lố của Hoa Kỳ. Vì không chống trả nổi với đội quân tinh nhuệ của Hoa Kỳ, nhóm phản loạn đã quay sang bắt cóc những người ngoại quốc thuộc các quốc gia ủng hộ Hoa Kỳ, đang làm việc tại Irắk, để hòng đánh đổi tù binh.

Quyết định dùng võ lực của ông Toàn Quyền Bremer đã đưa đến nhiều bất ngờ. Bất ngờ đầu tiên là sự đồng tâm nhất trí hòa hợp giữa hai giáo phái Sunni và Shi’ite, từ trước đến nay vẫn kình địch nhau. Dân Irắk đã có thể gác bỏ những bất đồng phe phái, tôn giáo mà cùng đứng lên chống kẻ xâm lăng đang chiếm đóng nước mình và giết hại biết bao đồng bào vô tội. Bất ngờ thứ hai là sự phản kháng mãnh liệt của dân Irắk đã tỏ ra quá sự tiên liệu của quân đội chiếm đóng, khiến cho bộ chỉ huy tại Irắk phải xin tăng viện, thêm 20,000 quân nữa, với Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, và yêu cầu tạm thời đình chỉ   chương trình rút bớt quân về nước, đặc biệt những đội quân trừ bị, như Vệ Binh Đoàn (National Guard), sau khi đã phục vụ đủ số thời gian quy định. Bất ngờ thứ ba, đáng lo ngại hơn là nền an ninh xứ này - mà Hoa Kỳ rất tin tưởng là đang ổn định mỗi ngày, và dựa trên đó, Hoa Kỳ đã có chương trình rút lui khỏi Irắk không bị mất mặt - dường như đang trở nên quá tồi tệ. Nếu kéo dài, sẽ có thể có ảnh hưởng xấu đến cuộc tái cử Tổng Thống của ông Bush vào cuối năm. Không những thế, tình trạng này sẽ làm cho những ủng hộ quốc tế khó khăn hơn.

Bài toán Irắk đã không đơn giản như Hoa Kỳ đã tưởng tượng từ lúc đầu. Hoa Kỳ nghĩ rằng khi Hoa Kỳ tấn công Irắk lật đổ chính thể độc đoán hà khắc thất nhân tâm của Tổng Thống Saddam Hussein là dân chúng Irắk phải biết ơn Hoa Kỳ mà sẵn sàng tiếp tay với Hoa Kỳ lập nên một chính phủ thân Tây Phương, thân Hoa Kỳ. Phó Tổng Thống Dick Cheney đã từng đoan chắc, khi nói chuyện với các nhà báo, rằng quân đội Hoa Kỳ tiến vào Bagdah sẽ được dân chúng đón tiếp như đoàn quân giải phóng mà họ chờ đợi bao lâu nay. Điều này đã không xẩy ra. Tất cả mọi người, kể cả những người thuộc giáo phái Shi’ite, nạn nhân của chế độ Saddam Hussein, đáng lẽ phải biết ơn quân đội chiếm đóng, đều nhìn Hoa Kỳ với con mắt nghi ngờ. Bởi sao? bởi vì người Muslim - người dân Irắk, cũng như dân trong nhiều quốc gia khác trong thế giới Islam, đều cảm thấy họ là người Muslim trước khi là người Irắk, một quốc gia đầy mâu thuẫn do Đế Quốc Anh lập nên, trái với ý muốn của họ - đã từng thấy Hoa Kỳ hành xử không phải như họ nói.

Hoa Kỳ cũng nghĩ rằng Tự do, Dân Chủ mà Hoa Kỳ hứa hẹn sẽ đem lại cho dân Irắk, và là điều mà họ thèm khát từ lâu, sẽ khiến cho dân Irắk thấy hảo tâm của Hoa Kỳ mà tìm thấy hạnh phúc bên cạnh nước này. Những hứa hẹn này, ngoại trừ những lãnh tụ lưu vong, được Hoa Kỳ mang về cho làm một Hội Đồng Kỳ Mục, đã không được dân chúng cũng như những lãnh tụ chính trị hay tôn giáo bản xứ đón tiếp nồng nhiệt. Họ đều nhìn Hoa Kỳ với con mắt nghi ngờ. Bởi sao? bởi nếu quá khứ đảm bảo cho tương lai thì họ không thể tin Hoa Kỳ được. Gia dĩ, quyền lợi và nhu cầu, do đó lòng tham, của Hoa Kỳ ở vùng này lại quá lớn (dầu hoả). Do đó, người dân Irắk  khó mà tin được là Hoa Kỳ có thể hành xử một cách bất vụ   lợi chỉ vì hạnh phúc của người khác được.

Người Irắk cũng như mọi người Muslim, thấy gì? Họ không quên được rằng Đế Quốc Anh - bây giờ là đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ chiếm đóng Irắk - sau Đệ Nhất Thế Chiến, đã là nguồn gốc của nỗi thống khổ triền miên của nhân dân Irắk. Người Anh, cùng với Pháp, sau khi thắng Đức và dẹp tan Đế Quốc Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ thân Đức, đã vào miền Trung Đông, dể  kiểm soát nguồn lợi kinh tế quan trọng là dầu hỏa của xứ này và để nắm vững được trục giao thông đến Ấn Độ. Người Anh đã lập nên xứ Irắk bằng cách, một mặt cắt một phần đất phía nam của Basra, có nhiều quặng dầu hỏa, mà lập nên xứ Kuwait riêng biệt (một hành động chia để mà trị) và mặt khác, xát nhập những vùng đất của ba bộ lạc khác nhau, vẫn chống đối nhau, Kurd ở phía Bắc, Sunni ở giữa, và Shi’ite ở phía Nam, bất chấp những khác biệt truyền thống, nếu không nói là những mâu thuẫn, lịch sử tôn giáo, mà ép buộc ba giống người đó phải sống chung với nhau, tạo nên một vùng đất không bao giờ yên ổn và phát triển được. Anh và Pháp đã chia nhau thống trị cả vùng Trung Đông của người Ả Rập để bảo vệ và khuyếch trương quyền lợi kinh tế, nhất là nguồn lợi dầu hỏa, của mình.

Tình trạng ấy kéo dài cho đến khi có Ðệ Nhị Thế Chiến xẩy ra. Thế lực của Anh và Pháp giảm đi vì vai trò lãnh đạo của Mỹ trong cuộc thế chiến. Hoa Kỳ với một đất đai rộng lớn, chưa khai thác hết, tiềm năng dư thừa, không cần đến thuộc địa như Anh và Pháp. Nhưng với một nền kinh tế rồi rào, một nền công kỹ nghệ mạnh mẽ, Hoa Kỳ cần dầu hỏa để phát triển, cần thị trường để khuyếch trương nền tư bản, mà tư bản chính là huyết mạch của sự sống còn của xứ này. Người Mỹ đã thay thế người Anh và người Pháp giữ gìn trật tự thế giới với một chính sách đế quốc mới mẻ hơn. Họ gây áp lực vào các quốc gia khác một cách gián tiếp, qua những lảnh tụ mà họ đặt lên hoặc khống chế các quốc gia ấy qua những biện pháp trừng phạt kinh tế tai hại cho nước ấy. Người ta đã thấy rất rõ rệt chính sách này tại nhiều nước ở Nam và Trung Mỹ. Người Mỹ đã trực tiếp can thiệp vào nội bộ các nước trong vùng (Chile, Panama, Nicaragua, Granada, Santo Domingo, Cuba…), hoăc ủng hộ các chính phủ quân nhân tàn bạo (Argentina, Chile, Peru…), để quyền lợi của Mỹ được bảo đảm. Ở Trung Đông thì ngay chính thể tàn bạo của T.T Saddam Hussein xứ Irắk cũng đã từng được Hoa Kỳ ủng hộ, giúp đỡ khi Irắk đánh nhau với Iran, vì đó là quyền lợi của Hoa Kỳ.

Ở Trung Đông, Hoa Kỳ thay thế Đế Quốc Anh, tiếp tục chính sách bành trướng thế lực kinh tế của mình, và nhất là phải đảm bảo được nguồn cung cấp dầu hỏa cần thiết cho sự khuyếch trương nền công kỹ nghệ của mình. Hoa Kỳ ủng hộ những chính phủ phản động, cực hữu, thất nhân tâm, như chế độ quân chủ của Sha Hoàng Palawi ở Ba Tư (Persia, tức Iran ngày nay), chế độ của triều đại bộ lạc Saul ở Saudi Arabia, nơi có quặng dầu hỏa nhiều nhất thế giới, chế độ bộ lạc ở Kuwait, một nơi mà nguồn lợi chính là dầu hỏa.

Một mặt Hoa Kỳ ve vuốt mấy chế độ bảo thủ, độc tài, bộ lạc trị, mặt khác lại ủng hộ hết mực Do Thái trong cuộc chiến chống các nước Ả Rập trong vùng, sau đó giúp và dung túng Do Thái lấn đất của dân Palestine. Trong lịch sử cận đại thế giới, cá lớn nuốt cá bé, nước lớn chèn ép bắt nặt nước nhỏ, là chuyện thường, nhưng có lẽ không có dân tộc nào bị nhục nhã hơn dân Palestine, một dân tộc rất nghèo khổ(1). Từ bao nhiêu năm nay, đất đai bị chiếm đóng, cả trăm ngàn dân di cư ra nước ngoài, hiện sống lay lứt tại các trại tỵ nạn, không được phép trở về, đời sống kinh tế hoàn toàn trong tay Do Thái, muốn bóp chết hay cho sống lúc nào tùy Do Thái(1), ho hoe phản đối liền bị trừng trị đích đáng, bằng võ lực áp đảo, bằng đủ mọi cách như: bắt bớ, giam cầm, bắn giết, phá nhà, thiết quân luật, hạn chế đi lai, chẹn các đường giao thông…Nhục nhã nhất có lẽ là sự việc Do Thái, với sự đồng ý – đúng hơn là sự phản đối lấy lệ - của Hoa Kỳ, đã thẳng tay bắn giết, ám sát các lãnh tụ Palestine, ngoại trừ ông Chủ Tịch Yassir Arafat. Nhưng ông này lại bị giam lỏng trong một tòa nhà trụ sở đã bị Do Thái phá gần hết, không dám đi đâu, vì nếu đi, thí dụ đi họp đi hành, thì sẽ bị  Do Thái cản đường không cho trở về. Số phận của một lãnh tụ đã khốn nạn như vậy, số phận của đám dân đen còn khốn nạn hơn, thì làm sao mà người Ả Rập nói chung và người Palestine nói riêng có thể nhìn Hoa Kỳ với thiện cảm được? Họ đã thấy Hoa Kỳ, với sự toa rập của Anh, chính là đầu mối của sự thống khổ của dân Ả Rập. Họ làm gì được đối trước những nhục nhã, uất ức ấy? Những giới lãnh đạo Ả Rập thì đã bị Hoa Kỳ mua chuộc. Hoa Kỳ, cùng với đồng minh thân tín ở địa phương là Do Thái thì quá mạnh với một lực lượng quân sự áp đảo, đã từng và sẵn sàng dẹp tan những chống đối. Họ chỉ còn đem cái chết ra để phản đối. Những vụ tự sát bằng thuốc nổ, hay xa hơn nữa, biến động 9/11 có xẩy ra cũng chẳng phải là một ngạc nhiên.

Thế nhưng, Hoa Kỳ dường như không nhìn vấn đề Trung Đông như vậy. Ngay sau khi biến cố lịch sử 9/11 xẩy ra, Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush đã lên tiếng trên hệ thống truyền thông toàn quốc trấn an dân chúng và nói lên quyết tâm trừng trị thích đáng những quân khủng bố mà ông vạch ra là tổ chức al-Quaida. Ông đã nêu lên một câu hỏi lớn :”Tại sao họ lại thù ghét chúng ta đến như vậy?”

Chính quyền Bush, hay là những người Hoa Kỳ thuộc loại tân bảo thủ (neocon hay là neo-conservatives) quanh ông T.T Bush đã tìm câu trả lời ở nơi một học giả, chuyên nghiên cứu về các vấn đề Trung Đông, về văn minh Ả Rập. Ông này, tên là Bernard Lewis, 87 tuổi, gốc là một người Anh ở Luân Đôn, di cư sang Hoa Kỳ, dậy học nhiều năm môn Văn Minh Ả Rập tại trường Đại học Princeton(2). Ông ta viết nhiều sách báo về vấn đề Trung Đông. Ngay từ năm 1990, trong một bài báo ông viết trên tờ The Atlantic, ông đã nhận định là sự xung đột giữa Tây Âu (Anh và Mỹ, thêm vào đó Do Thái) với người Ả Rập là một xung đột của hai nền văn minh (Ả Rập và Tây Âu) nhiều hơn là những hành động chính trị đối nghịch. Ông cho rằng người Ả Rập, rất hãnh diện đã có một thời một nền văn minh rất cao, dựa trên Kinh Koran rất đạo đức, đã cảm thấy thua thiệt nhục nhã trước sự lấn át của nền văn minh vật chất của người Tây Âu mà họ cho là vô đạo đức, hèn kém. Từ cảm giác bất lực, thua kém đến phản ứng giận dữ, thù ghét chẳng có bao xa.

Nhóm tân bảo thủ quanh T.T Bush, những người thiết kế chánh sách ngoại giao của Hoa Kỳ đối với thế giới Ả Rập, dựa trên lý thuyết của ông B. Lewis, đã suy ra rằng nguyên ủy của mọi rắc rối xẩy ra với thế giới Ả Rập chỉ là tại người Ả Rập có vấn đề, có những chế độ chính trị lạc hậu, có những nhận định sai lạc đối với Tây Âu, lãnh đạo bởi Hoa Kỳ. Chánh sách của Hoa Kỳ  đối với thế giới Ả Rập không phải là nguyên nhân chính. Do đó, để giải quyết vấn đề, Hoa Kỳ phải thay đổi lối sống, cách suy nghĩ của các quốc gia Ả Rập. Đem lý tưởng Tự Do, Dân Chủ đến cho họ, khởi đầu bằng Irắk, rồi từ đó, lan sang các nước còn lạc hậu Ả Rập khác. Các nước này, khi thấy Irắk trở nên một quốc gia tân tiến, tự do dân chủ, độc lập phú cường, tự khác sẽ bắt chước lấy đó làm gương mà thay đổi đường lối, thay đổi chế độ. Hoặc nếu cần, muốn hay không muốn, với sự giúp đõ nào đó của Hoa Kỳ, thay đổi cả chính phủ, cấp lãnh đạo mà hợp tác với  Hoa Kỳ, Anh Quốc trên đường tiến bộ. Đó là cái “giản lộ đồ” - tạm dịch từ cụm từ tiếng Anh “road map” của T.T Bush - trong vấn đề Trung Đông. Ông B. Lewis và những nhà lãnh đạo tân bảo thủ Hoa Kỳ còn tin tưởng rằng, trong khi thực hiện giản lộ đồ này, đối với những trở ngại gây ra bởi những “phần tử ngu xuẩn, những bọn côn đồ, những kẻ quá khích”, như Hoa Kỳ nhận định đang xẩy ra tại Irắk, thì áp dụng một chút áp lực quân sự tự ngoài vào là điều cần thiết để mọi việc được đâu vào đấy.

Ông Lewis hẳn là một nhà học giả uyên bác được nhiều người kính trọng. Lý thuyết của ông - một giải thích tâm lý Ả Rập chứ không phải một bài trình bầy những sự kiện khách quan - rất phù hợp với suy nghĩ và chánh sách của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ trong vấn đề Ả Rập mà biến cố 9/11 và hai cuộc chiến tiếp theo Afghanistan và Irắk là điển hình. Chánh sách này(3) đưa đến việc dùng võ lực có thừa của Hoa Kỳ để áp đặt ý muốn của mình lên các nước khác.

Giản lộ đồ của T.T Bush để đem lại hoà bình Trung Đông liệu có thực hiện được không? Câu hỏi này rút ngắn lại trở thành: Hoa Kỳ, và đồng minh gần cận nhất là Do Thái, liệu có thể dùng vỏ lực để áp đặt ý muốn của mình hầu đem lại hoà bình vĩnh cửu cho miền Trung Đông không ?

Câu trả lời có thể là có, như ở Afghanistan chẳng hạn, mà cũng có thể là không, như ở Việt Nam. Thời gian mới trả lời được. Chúng ta hãy chờ xem.


(1)                 Để có một khái niệm so sánh về sức mạnh kinh tế, do đó suy ra sức mạnh quân sự của các phe, tổng sản lượng quốc gia tính theo mãi lực mỗi đầu người (per capita ppp) của Do Thái là $US 19,500 (năm 2002), và của dân Palestine, vùng Gaza Strip là $US 600, vùng West Bank là $US 800. Việt Nam, mà theo nhiều người ở  đây vẫn cho là một quốc gia nghèo nhất thế giới, còn được $US 2,300.(Tài liệu của Cơ Quan CIA Hoa Kỳ) thì dân Palestine còn nghèo khổ đến chừng nào?

(2)                 Chỉ ít tháng sau biến cố 9/11, ông B. Lewis đã được Phó Tổng Thống Dick Cheney mời đến nhà dùng cơm và thuyết trình trước một cử tọa gồm nhiều những nhân vật quan trọng trong chánh giới Hoa Kỳ có xu hướnh tân bảo thủ như ông Cheney, về đạo Islam, về thái độ của người Muslim đối với Hoa Kỳ.

(3)                 Chánh sách  này, được chính phủ Bush công bố ngày 20 tháng 9, 2002,  đã được Bác sĩ Y Khoa H. Jack Geiger, Chủ Tịch Tổ Chức các Y Sĩ Trách Nhiệm Xã Hội, tóm lược trong một bài ngắn gọn rất đáng chú ý đăng trên nhật báo New York Times ngày 27 tháng 9, năm 2002 và lược dịch như sau:

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

a-             Chính phủ Bush, với Chiến Lược mới, đã không nhận mọi Hợp Tác Quốc Tế  không phải để thu mình đứng riêng một mình một cách tiêu cực. Ngược lại, Chiến lược này là một bản tuyên ngôn tỏ ý định muốn thống trị thế giới.

b-             Với Chiến Lược này, chính phủ Bush dẵ từ bỏ những Hiệp Ước Quốc Tế đã ký kết về tài giảm binh bị, về tài giảm phòng thủ chống hỏa tiễn, về cấm thử nghiệm võ khí hạch tâm, và tự kiềm chế không không tấn công ai trước. Chính phủ Bush tuyên bố sẽ đơn phương tấn công trước bất cứ nước nào bị coi là mối đe dọa cho Hoa Kỳ.   

c-              Chính phủ Bush tuyên bố sẽ không cho phép quốc gia nào có thể đạt được sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Chúng ta (tức HK) sẽ khuyên bảo họ chớ làm chuyện này. Chính phủ Mỹ đề nghị một nền kinh tế toàn cầu quản trị bởi những cơ chế do chúng ta (tức HK) kiểm soát như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân Hàng Quốc Tế (WB)

d-                   Tóm lại chính quyển Bush xác quyết Chủ Quyền Hoa Kỳ phải ở trên chủ quyền các nước khác.  Hoa Kỳ là Vô Thượng (America uber alles)

 Tháng 4, 2004                     


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net