
NHÂN NGÀY 30 THÁNG 4
Hà Dương Dực
Cuộc chiến hơn ba mươi
năm rồi cũng phải chấm dứt. Chấm
dứt chậm hơn 30 năm chăng? Chiến
tranh đã có thể tránh được không? nếu? Chiến tranh đã có thể chấm dứt
từ 1955? nếu? Hay đã không có chiến
tranh tiếp nếu năm 1956 đã có bầu cử ? và có thể chiến tranh cũng chấm
dứt chậm hơn và khác hơn ? nếu ? Chấm dứt chậm hơn?
Lịch sử sẽ bàn luận nhiều về các điều kiện nếu. Nhưng là bàn luận thôi, không thể đi
ngược thời gian. Sự kiện đã xẩy
ra. Từ nạn đói năm Ất Dậu tới sự
cố vượt biển sau 75 dân Việt Nam đã chết bao nhiêu triệu người?
Người chết đói rải rác trên hè phố; phủ Ninh Giang tỉnh Hải Dương.
Người chết oai hùng ở Điện Biên Phủ. Người
tan xác trên dãy Trường Sơn. Trẻ con
trên bờ ruộng Mỹ Lai. Người lớn
trong Tết Mậu Thân, trong những cuộc bỏ bom tàn bạo. Nạn nhân đấu tố, nạn nhân tố Cộng. Người trôi bồng bềnh trên biển Thái
Bình Dương. Người chết tức tưởi
trong các trại cải tạo. Tổng số phải lên đến mấy triệu?
Một người chết đã đau lòng nói chi tới hàng triệu.
Khởi đi từ 25 triệu người trong một nước nông nghiệp bị đô hộ,
không làm nổi một viên đạn mà vượt qua sự thử lửa với Pháp Nhật
Tàu Mỹ, ngày nay VN đã thống nhất Độc Lập với gần 80 triệu người. Tranh đấu để giành Độc Lập và thống
nhất (1) chúng ta không thiếu người tài giỏi; người sẵn sàng hy sinh
tài sản và sinh mệnh có thừa, người có công, kẻ có tội, người vừa
có công vừa có tội, đôi khi thờ ơ cũng là một tội, tội thờ ơ.
Nhưng tại sao nhiều người phải hy sinh như vậy? và quá nhiều người
chết oan như vậy?
Tổng kết lại ta làm sao giải thích sự phức tạp, vô lý, tàn nhẫn
của chiến tranh, sự hào hùng của dân tộc VN và sự mù quáng của những
thành phần không nhỏ của dân tộc trong hơn 30 năm đó? Hy vọng góp một phần rất nhỏ trong tìm
hiểu đó, chúng tôi xin liệt kê một vài sự kiện:
I. Việc
bỏ chữ Hán Nôm.
Hoàn tất việc chiếm VN năm 1883, đến năm 1915 (?) thì người Pháp bỏ
các cuộc thi cử của VN bằng chữ Hán Nôm.
Bỏ thi cử Pháp đã làm sụp đổ hệ thống giáo dục của
nước ta từ thế kỷ thứ 11. Theo
VN sử lược của cụ Trần Trọng Kim, nước ta có thi cử từ thời Lý
Nhân Tông năm 1075. Năm 1076 nhà Vua đặt
trường Quốc Tử Giám ở kinh đô để cho con cháu các quan viên và những
người thường dân có khả năng vào học tập; mở nhà học và đặt thầy
dạy nho học ở các phủ và các lộ.
Ở làng thì có các vị gọi là Hương Sư dạy học. Thông thường các vị nầy là những người
đã thi trượt nhiều lần, hoặc chỉ đỗ Tú Tài thôi, hoặc có đỗ đạt
mà không muốn làm quan, do một hay nhiều nhà giàu trong làng mời về dạy
chung cho tất cả trẻ con trong làng. Nhiều
khi cũng có các vị đã ra làm quan, bây giờ từ quan về quê mở trường dạy
học. Với các vị đã từ quan học
trò học được văn chương thi cử, phương pháp và kinh nghiệm cai trị
dân. Với các vị Hương Sư học trò
cũng học được văn chương thi cử và quan trọng là học được tinh thần
phê phán độc lập. Các vị Hương Sư phần lớn là những người đã
không may mắn trên đường công danh, nên ít nhiều cũng có tinh thần bất
mãn, tinh thần độc lập. Tất cả
các vị này ( kể cả các vị đã từ quan về hưu) ngoài việc dạy học
trò một số sách vở kinh điển (Tứ thư Ngũ kinh ...) thì họ đều rất
độc lập trong việc giảng dạy, phê phán miễn là không phạm húy
(không nói tới tên Vua chúa). Các vị
Hương Sư không ăn lương của Vua quan, không do nhà Vua bổ nhiệm.
Sĩ Tử học trong không khí đó và sinh hoạt
ở làng quê. Làng quê VN thời xưa lại
có sinh hoạt khá tự do. (2)
Hệ thống giáo dục trong khung cảnh đó đã đào tạo ra tầng lớp
mà sau nầy ta quen gọi là Sĩ Phu Bắc Hà. Tầng
lớp trí thức nầy là một thành phần xã hội quan trọng trong các triều
đại quân chủ ở VN.
Bỏ chữ cũ trong khi chữ Việt mới vẫn chưa hoàn chỉnh và sách vở
cũ của ta thì không hề được dịch sang chữ mới. Như Luật Gia Long, Luật Hồng Đức, sử ký
của Lê Văn Hưu. Sách thuốc (như cuốn
Hồng Giác Tự Y của Tuệ Tĩnh, Nguyễn Bá Tinh đời Trần nói về công dụng
của 630 vị thuốc, lý luận cơ bản về chuẩn đoán học và mạch học.)
hay sách vở thơ văn của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú..
Có thể nói cả kho tàng văn hóa, lịch sử vài ngàn năm văn hiến của
VN đã bị bỏ quên và không được phát triển thêm.
Từ khi chữ nôm bị bỏ đến 1941 các sách vở về lịch sử và văn
hóa VN viết bằng chữ mới có thể
nói là đếm được trên đầu ngón tay. (Việt Nam Sử Lược của cụ Trần
Trọng Kim 1921. Cổ Học Tinh Hoa của
cụ Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân 1925.
Việt Nam Văn Hóa sử cương của Cụ Đào Duy Anh 1938. Việt Nam Văn Học sử yếu của cụ
Dương Quảng Hàm 1941..). Và phải đợi tới thập niên 30 ta mới thấy văn
chương tiểu thuyết viết bằng chữ mới được phát triển với nhóm Tự
Lực Văn Đoàn.
Cụ Trần Trọng Kim đã biết rõ tai hại của việc thay đổi chữ viết
mà không dịch sách xưa nên trong bài tựa quyển Nho Giáo cụ cũng đã viết:
“Một ngôi nhà cổ rất đẹp, lâu ngày
không ai sửa chữa, để đến nỗi bị cơn gió bão đánh đổ bẹp xuống..
thì ta cũng vẽ lấy cái bản đồ để người đời sau biết rằng cái
nhà ấy khi xưa đẹp đẽ là thế.”
Trí thức thời đó được Pháp đào tạo hay được du học ở Pháp
đã không thể đọc được chữ nôm. Ngoại
trừ một số ít do gia phong hay may mắn thì còn có thể hiểu được văn hóa
dân tộc, hiểu được lề lối sống và cư sử của nhân dân, hiểu được
người dân. Có thể nói không quá đáng
là các nhà trí thức yêu nước của ta thời đó lạc lõng trên chính
quê hương mình, không biết cội nguồn của mình ra sao, ở đâu, có
cái gì hay cái gì dở. Học giả Đào
Duy Anh đã viết trong cuốn Nhớ Nghĩ Chiều
Hôm (trang 49): “ Ở vào đầu những
năm 30 ở các trường bảo hộ lúc đó, học sinh phải học tiếng Pháp là
chính, chữ Quốc ngữ bị coi là thứ yếu, và do đó, lớp thanh niên được
đào tạo ở những trường này hầu hết đều bị cắt rời khỏi cái nền
Hán học. Đấy là chưa kể đến những
người “du học” bên Pháp về mà không ít người trở thành “mất gốc”
.
Ví Dụ : Giới
bác sĩ có nhẽ là điển hình của giới trí thức thời đó thì đã không
hề biết tới cái hay của ngành đông y mà còn coi các vị lang đông y là
lang băm( Lang băm là tiếng mỉa mai có tính cách khinh miệt giới đông y sĩ
của dân thành thị thời đó, điều này một phần cũng do giới báo chí
mà ra). Học cái mới mà không quên
cái cũ ( những cái hay của văn minh xưa) để tổng hợp và tiến lên chứ
không phải là bỏ hẳn cái cũ.
Người dân làm sao tin tưởng ở giới trí thức khi chính các vị đó
đoạn tuyệt với quá khứ của dân tộc.
Tinh thần vọng ngoại phát triển lúc đó
và còn mãi tới bây giờ. Và cũng chính
vì thế mà suốt trong nhiều thập niên từ 30 tới 80 thành phần trí thức
đã không có tiếng nói xứng đáng được chú trọng, không có ảnh hưởng
nhiều tới công việc của đất nước mặc dầu trên bình diện cá nhân
thì có rất nhiều vị đã có những đóng góp quan trọng cho đất nước.
Vụ Nhân Văn giai phẩm là tiếng nói lần cuối cùng của tầng lớp
sĩ phu được đào tạo theo hệ thống trường xưa của ta.
Nếu có tầng lớp trí thức có bề thế được dân chúng ủng hộ
dám mạnh mẽ lên án chính quyền thì thử hỏi:
1/ Có vụ đấu tố không?
2/ Trong Nam có để xẩy ra chiến dịch Phượng
Hoàng không? (Một chiến dịch do CIA phát động và chỉ huy, diệt đối
phương thì ít, giết dân lành thì nhiều.)
3/ Có vùng Free fire zone không? Vùng oanh kính tự
do, có nghĩa là tha hồ bắn giết.
4/ Có vụ học tập cải tạo sai trái như vậy
không?… (không học bài học hòa thuận trong tuyền thống lịch sử Việt
Nam, làm mất nhân cách con người, đánh đồng cá mè một lứa và quá
lâu)
Hay quan trọng hơn nữa, cuộc chiến từ 1966
tới 1975 có thể đã khác hơn?
Nhiều câu hỏi ta thấy mặc dầu thời gian đã qua không cho phép ta
có câu trả lời nhưng nếu có tầng lớp trí thức đáng mặt sĩ phu thì
có nhẽ vẫn hơn.
Bài học về việc đào tạo trí thức, việc tôn trọng trí thức hay
không tôn trọng trí thức không những giúp ta giải thích một phần nhỏ
chiến tranh VN, ngày nay bài học nầy càng quan trọng hơn bao giờ hết.
II. Sự thiếu nhìn xa của Phật Giáo
Một hậu quả khác của việc bỏ chữ Hán Nôm cũng xẩy ra vì sự
thiếu nhìn xa của các vị Sư Phật Giáo thời đó. Các vị sư thời đó đã không chịu dịch
Kinh Phật ra chữ quốc ngữ. Thứ chữ
mới này các vị Sư cho là của thực dân. Đến
khi chữ Hán Nôm không còn được dạy nữa, ít người còn đọc được,
thì Kinh Phật cũng càng ít người đọc. Lúc
đó đi Chùa nghe Kinh không còn ý nghĩa đích thực của nó, và trở nên như
đi nghe thần chú, vì đọc mà không hiểu. Đạo
Phật lúc đó mất hấp dẫn với trí thức, tinh thần đạo giáo nơi người
trí thức phai lạt dần; thiện căn của họ cũng bị ảnh hưởng không
ít. Với đa số dân chúng đạo Phật
trở nên một thứ bùa chú, xin xâm. Chúng ta nên nhớ thời đó đại đa số
làng VN đều có Chùa, (ngày nay ở Hà Nội cũng còn cả vài chục chùa.) Vậy
mà phải đợi tới năm 1994 mới có 48 bài Kinh Nhật Tụng tiếng Việt được
dịch ra từ các bản chữ Hán hay chữ Nôm.
Đây là những bản kinh quen thuộc của Phật Giáo VN. Cho đến nay chùa ở VN vẫn còn tổ chức
ngày lễ và các khóa giảng đạo theo các ngày rằm (ngày 15) và ngày cuối
tháng. Như vậy cũng không sao, nhưng
thiết nghĩ các ngày nghĩ thứ bảy và chủ nhật nhà chùa cũng cần có
các khóa giảng đạo, và cũng cần ngắn gọn (trong vòng một tiếng, vừa
lễ Phật vừa nghe Kinh vừa nghe giảng.) thì mới đáp ứng được nhu cầu
của đa số dân chúng thành thị càng ngày càng đông đi làm theo thời
khóa biểu quốc tế. Xã hội mới đòi
hỏi đa số dân không tin dị đoan mà chú trọng vào những sự thương yêu,
thành thật, tin cậy và giúp đỡ lẫn nhau.
Đó là những điều mà xã hội trông cậy vào tôn giáo nhiều hơn là
chính quyền và luật pháp, và đó là những điều cần được rao giảng hàng
tuần cho người kẻ chợ.
Trí thức không đủ hậu thuẩn của dân để can thiệp với chính
quyền.
Tôn giáo không đóng đủ vai trò xoa dịu đau khổ và hận thù trong
xã hội, không hướng dẫn xã hội trên con đường thiện lương…
Chiến tranh nếu không phải vì thế mà kéo dài thì đau khổ của dân
tộc chắc chắn đã vì thế mà không bớt.
(Hiện nay Phật giáo cũng như các tôn giáo dân tộc khác đang phát
triển mạnh trở lại ở VN, hy vọng các tôn giáo sẽ tìm lại được vai
trò chính đáng của mình trong một xã hội đang thay đổi rất nhiều và rất
nhanh)
III. Nạn đói năm Ất Dậu.
Khác với hai yếu tố trên, nạn đói năm Ất Dậu mặc dầu làm chết
khoảng 2 triệu người nhưng lại là yếu tố thuận lợi để đẩy mạnh
cuộc tranh đấu giành độc lập. Nếu
nửa dân chúng tỉnh Thái Bình chết vì đói thì nửa còn lại bùng lên
theo cách mạng dành độc lập (Theo thống kê thì dân Thái Bình theo kháng
chiến chống Pháp đông nhất). Làm
cho dân khổ (về vật chất hay tinh thần) thì dân sẽ bùng dậy, và
lúc đó thì không có lực nào cản được.
(Theo David G. Marr trong quyển VIETNAM
1945 The Quest For Power thì cuộc nổi dậy năm 1945 là của toàn dân và
có tính cách bộc phát, Đảng Cộng Sản dành được quyền lãnh đạo chứ
không phải là do đảng CS trù tính trước)
IV. Hội truyền bá quốc ngữ.
Từ các năm 1943, 1944 (?) Cụ Nguyễn Văn Tố và nhiều người khác đã
tổ chức Hội Truyền Bá Quốc Ngữ cốt để dạy dân chúng biết đọc và
viết. Phong trào này được đẩy mạnh
hơn sau khi nước nhà tuyên bố độc lập vào năm 1945. Chính quyền phát động chiến dịch đưa
thanh niên thành thị về thôn quê để dạy dân chúng học. Thời đó phong trào rất thành công, vì
nam phụ lão ấu ai cũng đi học, coi đi học là một bổn phận. Nhiều làng đặt ra các rào cản ở đường
đi vô làng để sát hạch người dân , ai không biết chữ thì phải đi học.
Một trong các lý do thành công của phong trào có nhẽ là đã biết tận
dụng thể ca dao lục bát cổ truyền để đặt các câu vè dạy dân, chúng
tôi còn nhớ:
I tờ có móc cả hai
I ngắn có chấm tờ dài có ngang.
hay:
O trông như quả trứng gà
hoặc
Ô
Ô
Cũng nên nhớ rằng chữ Việt là chữ tương đối dễ học.
Đi vào cuộc chiến với đa phần dân chúng biết đọc và viết đã
là một lợi khí rất lớn. Chính phủ
dễ dàng truyền đạt tin tức và mệnh lệnh, dễ dàng tuyên truyền. (nên nhớ là thời đó radio còn rất hiếm,
TV, điện thoại thì chưa có)
Việc thay đổi chữ viết đã rất có hại, nhưng khi nó đã hoàn chỉnh
và ta đã biết dùng nó thì đã mang lại lợi ích rất lớn.
Trong cả trăm yếu tố, chúng tôi vừa kể qua 4 yếu tố mà chúng
tôi nghĩ là có ảnh hưởng nhiều tới cuộc chiến 30 năm qua và chúng ta
có thể học hỏi được kinh nghiệm đó.
Việt Nam ở trên con đường quan trọng trong mậu dịch quốc tế, VN
có nhiều tài nguyên, quặng, mỏ. Trên
đường tranh đấu giành Độc Lập và thống nhất, VN đã tự mình và đã
bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp quốc tế, tranh chấp về kinh tế rồi về
ý thức hệ.
Ngày nay với trào lưu thông tin và mậu dịch quốc tế chúng ta đang
bị lôi cuốn để hội nhập với quốc tế, một cuộc lôi cuốn mà ta chắc
chắn không thể tránh khỏi. Ta sẽ phải
hội nhập cũng như thời Gia Long, Tự Đức, đáng lý ra ta đã phải giao thương
với nhiều nước.
Cuộc hội nhập này cần dân chúng đoàn kết, mức độ đoàn kết cần
phải cao hơn là thời chống xâm lăng bằng võ lực. Để hội nhập cần phát huy sức mạnh tự
tại nhiều hơn là thời chiến tranh. Làm
sao có đại đoàn kết? làm sao phát huy “nội lực”? Làm sao để chính
quyền mỗi ngày một tốt hơn, tránh được những sai lầm tai hại như
trong thời gian 30 năm chiến tranh, và nhiều năm sau đó. Có cả trăm câu hỏi và trăm ý kiến, vậy
khởi đi từ đâu?
Có nhẽ nên đi lại từ đầu: trong Tuyên Ngôn Độc Lập của ta có
nói:
“Tất
cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ có quyền không ai có thể
xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự
do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.”….. “Nhân dân cả
nước đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước VN Dân Chủ Cộng
Hòa.”
Ngày nay đã độc lập và không còn chiến tranh, ta cần thực hiện
điều mong ước đó; mong ước đã được long trọng đọc ở Ba Đình. Thực hiện một VN có bình đẳng, có tự
do, và một VN Dân Chủ Cộng Hòa ( không hơn không kém).
Chỉ hy vọng đạt được các điều mong ước trong Tuyên Ngôn Độc
Lập khi nhân dân cả nước được tham gia vào việc quản trị, điều hành
công việc của đất nước.
Giữ cái hay cũ, cộng cái hay mới, thêm phần khai phá hiện đại tạo
bối cảnh không cấm đoán, bình đẳng, minh bạch , để toàn dân
cùng tham gia.
Đó là bổn phận của chính phủ, tôn giáo, trí thức... của toàn
dân.
Ngày 30 tháng 4 đáng ghi nhớ; để một cách khoa học nhìn lại lịch
sử, khai triển các bài học của hơn 30 năm đau khổ đã qua, để tiến tới
trong tinh thần Việt Nam.
Chú
Thích:
Chúng tôi quan niệm cuộc chiến của VN khởi
đầu là giành độc lập. Đến năm
1954 khi các lực lượng quốc tế bắt ta chia đôi thì cả hai miền Bắc
Nam đều có bổn phận thống nhất đất nước.
Thi hành bổn phận đó cách nào? nên vào thời điểm nào? có nên
dùng võ lực không? và có nên nhờ ngoại quốc hay không? ... là những vấn
đề khác chúng tôi không bàn luận ở đây.
Trong bài này chúng tôi chỉ nêu lên vài dữ kiện có ảnh hưởng
chung cho cả 2 giai đoạn chính đó.
Ít ra là từ thế kỷ thứ 15 các làng mạc ở VN đã
có quyền tự tuyển chọn Lý Trưởng và Trương Tuần (Mayor and Chief
Police). Mọi vấn đề được thông
báo cho dân làng biết qua 1 viên chức gọi là ông Mõ. Và tất cả dân làng đều có quyền
phát biểu ý kiến trong buổi họp việc làng ở đình làng. Mỗi làng lại có một ban cố vấn, gồm
1 số các vị bô lão và vị hương sư, cho các viên chức thi hành. Nếu có dịp chúng tôi sẽ cố頧ắng đào sâu vào vấn đề này hơn.
In ra @
Modified by Web Giaodiem
CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net