08_gdmau.jpg (3664 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Trang nghiên cứu & đối thoại tháng 5 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)
 

NHÂN NGÀY 30 THÁNG 4

Hà Dương Dực

     Cuộc chiến hơn ba mươi năm rồi cũng phải chấm dứt.  Chấm dứt chậm hơn 30 năm chăng?  Chiến tranh đã có thể tránh được không? nếu? Chiến tranh đã có thể chấm dứt từ 1955? nếu?  Hay đã không có chiến tranh tiếp nếu năm 1956 đã có bầu cử ? và có thể chiến tranh cũng chấm dứt chậm hơn và khác hơn ? nếu ? Chấm dứt chậm hơn?

     Lịch sử sẽ bàn luận nhiều về các điều kiện nếu.  Nhưng là bàn luận thôi, không thể đi ngược thời gian.  Sự kiện đã xẩy ra.  Từ nạn đói năm Ất Dậu tới sự cố vượt biển sau 75 dân Việt Nam đã chết bao nhiêu triệu người?

     Người chết đói rải rác trên hè phố; phủ Ninh Giang tỉnh Hải Dương. Người chết oai hùng ở Điện Biên Phủ.   Người tan xác trên dãy Trường Sơn.  Trẻ con trên bờ ruộng Mỹ Lai.  Người lớn trong Tết Mậu Thân, trong những cuộc bỏ bom tàn bạo.  Nạn nhân đấu tố, nạn nhân tố Cộng.  Người trôi bồng bềnh trên biển Thái Bình Dương.   Người chết tức tưởi trong các trại cải tạo.   Tổng   số phải lên đến mấy triệu?

     Một người chết đã đau lòng nói chi tới hàng triệu.

     Khởi đi từ 25 triệu người trong một nước nông nghiệp bị đô hộ, không làm nổi một viên đạn mà vượt qua sự thử lửa với Pháp Nhật Tàu Mỹ, ngày nay VN đã thống nhất Độc Lập với gần 80 triệu người.  Tranh đấu để giành Độc Lập và thống nhất (1) chúng ta không thiếu người tài giỏi; người sẵn sàng hy sinh tài sản và sinh mệnh có thừa, người có công, kẻ có tội, người vừa có công vừa có tội, đôi khi thờ ơ cũng là một tội, tội thờ ơ.

     Nhưng tại sao nhiều người phải hy sinh như vậy? và quá nhiều người chết oan như vậy?

     Tổng kết lại ta làm sao giải thích sự phức tạp, vô lý, tàn nhẫn của chiến tranh, sự hào hùng của dân tộc VN và sự mù quáng của những thành phần không nhỏ của dân tộc trong hơn 30 năm đó?  Hy vọng góp một phần rất nhỏ trong tìm hiểu đó, chúng tôi xin liệt kê một vài sự kiện:

I. Việc bỏ chữ Hán Nôm.

     Hoàn tất việc chiếm VN năm 1883, đến năm 1915 (?) thì người Pháp bỏ các cuộc thi cử của VN bằng chữ Hán Nôm.   Bỏ thi cử Pháp đã làm sụp đổ hệ thống giáo dục của nước ta từ thế kỷ thứ 11.  Theo VN sử lược của cụ Trần Trọng Kim, nước ta có thi cử từ thời Lý Nhân Tông năm 1075.  Năm 1076 nhà Vua đặt trường Quốc Tử Giám ở kinh đô để cho con cháu các quan viên và những người thường dân có khả năng vào học tập; mở nhà học và đặt thầy dạy nho học ở các phủ và các lộ.

     Ở làng thì có các vị gọi là Hương Sư dạy học.  Thông thường các vị nầy là những người đã thi trượt nhiều lần, hoặc chỉ đỗ Tú Tài thôi, hoặc có đỗ đạt mà không muốn làm quan, do một hay nhiều nhà giàu trong làng mời về dạy chung cho tất cả trẻ con trong làng.  Nhiều khi cũng có các vị đã ra làm quan, bây giờ từ quan về quê mở trường dạy học.  Với các vị đã từ quan học trò học được văn chương thi cử, phương pháp và kinh nghiệm cai trị dân.  Với các vị Hương Sư học trò cũng học được văn chương thi cử và quan trọng là học được tinh thần phê phán độc lập. Các vị Hương Sư phần lớn là những người đã không may mắn trên đường công danh, nên ít nhiều cũng có tinh thần bất mãn, tinh thần độc lập.  Tất cả các vị này ( kể cả các vị đã từ quan về hưu) ngoài việc dạy học trò một số sách vở kinh điển (Tứ thư Ngũ kinh ...) thì họ đều rất độc lập trong việc giảng dạy, phê phán miễn là không phạm húy (không nói tới tên Vua chúa).  Các vị Hương Sư không ăn lương của Vua quan, không do nhà Vua bổ nhiệm.

Sĩ Tử học trong không khí đó và sinh hoạt ở làng quê.  Làng quê VN thời xưa lại có sinh hoạt khá tự do. (2)

     Hệ thống giáo dục trong khung cảnh đó đã đào tạo ra tầng lớp mà sau nầy ta quen gọi là Sĩ Phu Bắc Hà.  Tầng lớp trí thức nầy là một thành phần xã hội quan trọng trong các triều đại quân chủ ở VN.

     Bỏ chữ cũ trong khi chữ Việt mới vẫn chưa hoàn chỉnh và sách vở cũ của ta thì không hề được dịch sang chữ mới.  Như Luật Gia Long, Luật Hồng Đức, sử ký của Lê Văn Hưu.  Sách thuốc (như cuốn Hồng Giác Tự Y của Tuệ Tĩnh, Nguyễn Bá Tinh đời Trần nói về công dụng của 630 vị thuốc, lý luận cơ bản về chuẩn đoán học và mạch học.) hay sách vở thơ văn của Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú..

      Có thể nói cả kho tàng văn hóa, lịch sử vài ngàn năm văn hiến của VN đã bị bỏ quên và không được phát triển thêm.

     Từ khi chữ nôm bị bỏ đến 1941 các sách vở về lịch sử và văn hóa VN  viết bằng chữ mới có thể nói là đếm được trên đầu ngón tay. (Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim 1921.  Cổ Học Tinh Hoa của cụ Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân 1925.  Việt Nam Văn Hóa sử cương của Cụ Đào Duy Anh 1938.  Việt Nam Văn Học sử yếu của cụ Dương Quảng Hàm 1941..). Và phải đợi tới thập niên 30 ta mới thấy văn chương tiểu thuyết viết bằng chữ mới được phát triển với nhóm Tự Lực Văn Đoàn. 

     Cụ Trần Trọng Kim đã biết rõ tai hại của việc thay đổi chữ viết mà không dịch sách xưa nên trong bài tựa quyển Nho Giáo cụ cũng đã viết: “Một ngôi nhà cổ rất đẹp, lâu ngày không ai sửa chữa, để đến nỗi bị cơn gió bão đánh đổ bẹp xuống.. thì ta cũng vẽ lấy cái bản đồ để người đời sau biết rằng cái nhà ấy khi xưa đẹp đẽ là thế.”

     Trí thức thời đó được Pháp đào tạo hay được du học ở Pháp đã không thể đọc được chữ nôm.  Ngoại trừ một số ít do gia phong hay may mắn thì còn có thể hiểu được văn hóa dân tộc, hiểu được lề lối sống và cư sử của nhân dân, hiểu được người dân.  Có thể nói không quá đáng là các nhà trí thức yêu nước của ta thời đó lạc lõng trên chính quê hương mình, không biết cội nguồn của mình ra sao, ở đâu, có cái gì hay cái gì dở.  Học giả Đào Duy Anh đã viết trong cuốn Nhớ Nghĩ Chiều Hôm (trang 49): “ Ở vào đầu những năm 30 ở các trường bảo hộ lúc đó, học sinh phải học tiếng Pháp là chính, chữ Quốc ngữ bị coi là thứ yếu, và do đó, lớp thanh niên được đào tạo ở những trường này hầu hết đều bị cắt rời khỏi cái nền Hán học.  Đấy là chưa kể đến những người “du học” bên Pháp về mà không ít người trở thành “mất gốc” .

Ví Dụ :  Giới bác sĩ có nhẽ là điển hình của giới trí thức thời đó thì đã không hề biết tới cái hay của ngành đông y mà còn coi các vị lang đông y là lang băm( Lang băm là tiếng mỉa mai có tính cách khinh miệt giới đông y sĩ của dân thành thị thời đó, điều này một phần cũng do giới báo chí mà ra).  Học cái mới mà không quên cái cũ ( những cái hay của văn minh xưa) để tổng hợp và tiến lên chứ không phải là bỏ hẳn cái cũ.

     Người dân làm sao tin tưởng ở giới trí thức khi chính các vị đó đoạn tuyệt với quá khứ của dân tộc.

     Tinh thần vọng ngoại phát triển lúc đó và còn mãi tới bây giờ.  Và cũng chính vì thế mà suốt trong nhiều thập niên từ 30 tới 80 thành phần trí thức đã không có tiếng nói xứng đáng được chú trọng, không có ảnh hưởng nhiều tới công việc của đất nước mặc dầu trên bình diện cá nhân thì có rất nhiều vị đã có những đóng góp quan trọng cho đất nước.

     Vụ Nhân Văn giai phẩm là tiếng nói lần cuối cùng của tầng lớp sĩ phu được đào tạo theo hệ thống trường xưa của ta.

     Nếu có tầng lớp trí thức có bề thế được dân chúng ủng hộ dám mạnh mẽ lên án chính quyền thì thử hỏi:

1/ Có vụ đấu tố không?

2/ Trong Nam có để xẩy ra chiến dịch Phượng Hoàng không? (Một chiến dịch do CIA phát động và chỉ huy, diệt đối phương thì ít, giết dân lành thì nhiều.)

3/ Có vùng Free fire zone không? Vùng oanh kính tự do, có nghĩa là tha hồ bắn giết.

4/ Có vụ học tập cải tạo sai trái như vậy không?… (không học bài học hòa thuận trong tuyền thống lịch sử Việt Nam, làm mất nhân cách con người, đánh đồng cá mè một lứa và quá lâu)

Hay quan trọng hơn nữa, cuộc chiến từ 1966 tới 1975 có thể đã khác hơn?

     Nhiều câu hỏi ta thấy mặc dầu thời gian đã qua không cho phép ta có câu trả lời nhưng nếu có tầng lớp trí thức đáng mặt sĩ phu thì có nhẽ vẫn hơn.

     Bài học về việc đào tạo trí thức, việc tôn trọng trí thức hay không tôn trọng trí thức không những giúp ta giải thích một phần nhỏ chiến tranh VN, ngày nay bài học nầy càng quan trọng hơn bao giờ hết.

II.  Sự thiếu nhìn xa của Phật Giáo

     Một hậu quả khác của việc bỏ chữ Hán Nôm cũng xẩy ra vì sự thiếu nhìn xa của các vị Sư Phật Giáo thời đó.   Các vị sư thời đó đã không chịu dịch Kinh Phật ra chữ quốc ngữ.  Thứ chữ mới này các vị Sư cho là của thực dân.  Đến khi chữ Hán Nôm không còn được dạy nữa, ít người còn đọc được, thì Kinh Phật cũng càng ít người đọc.  Lúc đó đi Chùa nghe Kinh không còn ý nghĩa đích thực của nó, và trở nên như đi nghe thần chú, vì đọc mà không hiểu.  Đạo Phật lúc đó mất hấp dẫn với trí thức, tinh thần đạo giáo nơi người trí thức phai lạt dần; thiện căn của họ cũng bị ảnh hưởng không ít.  Với đa số dân chúng đạo Phật trở nên một thứ bùa chú, xin xâm. Chúng ta nên nhớ thời đó đại đa số làng VN đều có Chùa, (ngày nay ở Hà Nội cũng còn cả vài chục chùa.) Vậy mà phải đợi tới năm 1994 mới có 48 bài Kinh Nhật Tụng tiếng Việt được dịch ra từ các bản chữ Hán hay chữ Nôm.  Đây là những bản kinh quen thuộc của Phật Giáo VN.  Cho đến nay chùa ở VN vẫn còn tổ chức ngày lễ và các khóa giảng đạo theo các ngày rằm (ngày 15) và ngày cuối tháng.  Như vậy cũng không sao, nhưng thiết nghĩ các ngày nghĩ thứ bảy và chủ nhật nhà chùa cũng cần có các khóa giảng đạo, và cũng cần ngắn gọn (trong vòng một tiếng, vừa lễ Phật vừa nghe Kinh vừa nghe giảng.) thì mới đáp ứng được nhu cầu của đa số dân chúng thành thị càng ngày càng đông đi làm theo thời khóa biểu quốc tế.  Xã hội mới đòi hỏi đa số dân không tin dị đoan mà chú trọng vào những sự thương yêu, thành thật, tin cậy và giúp đỡ lẫn nhau.  Đó là những điều mà xã hội trông cậy vào tôn giáo nhiều hơn là chính quyền và luật pháp, và đó là những điều cần được rao giảng hàng tuần cho người kẻ chợ.

     Trí thức không đủ hậu thuẩn của dân để can thiệp với chính quyền.

     Tôn giáo không đóng đủ vai trò xoa dịu đau khổ và hận thù trong xã hội, không hướng dẫn xã hội trên con đường thiện lương…

     Chiến tranh nếu không phải vì thế mà kéo dài thì đau khổ của dân tộc chắc chắn đã vì thế mà không bớt.

     (Hiện nay Phật giáo cũng như các tôn giáo dân tộc khác đang phát triển mạnh trở lại ở VN, hy vọng các tôn giáo sẽ tìm lại được vai trò chính đáng của mình trong một xã hội đang thay đổi rất nhiều và rất nhanh)

III.  Nạn đói năm Ất Dậu.

     Khác với hai yếu tố trên, nạn đói năm Ất Dậu mặc dầu làm chết khoảng 2 triệu người nhưng lại là yếu tố thuận lợi để đẩy mạnh cuộc tranh đấu giành độc lập.  Nếu nửa dân chúng tỉnh Thái Bình chết vì đói thì nửa còn lại bùng lên theo cách mạng dành độc lập (Theo thống kê thì dân Thái Bình theo kháng chiến chống Pháp đông nhất).   Làm cho dân khổ (về vật chất hay tinh thần) thì dân sẽ bùng dậy, và lúc đó thì không có lực nào cản được.  (Theo David G. Marr trong quyển VIETNAM 1945 The Quest For Power thì cuộc nổi dậy năm 1945 là của toàn dân và có tính cách bộc phát, Đảng Cộng Sản dành được quyền lãnh đạo chứ không phải là do đảng CS trù tính trước)

IV.  Hội truyền bá quốc ngữ.

     Từ các năm 1943, 1944 (?) Cụ Nguyễn Văn Tố và nhiều người khác đã tổ chức Hội Truyền Bá Quốc Ngữ cốt để dạy dân chúng biết đọc và viết.  Phong trào này được đẩy mạnh hơn sau khi nước nhà tuyên bố độc lập vào năm 1945.  Chính quyền phát động chiến dịch đưa thanh niên thành thị về thôn quê để dạy dân chúng học.  Thời đó phong trào rất thành công, vì nam phụ lão ấu ai cũng đi học, coi đi học là một bổn phận.  Nhiều làng đặt ra các rào cản ở đường đi vô làng để sát hạch người dân , ai không biết chữ thì phải đi học.

     Một trong các lý do thành công của phong trào có nhẽ là đã biết tận dụng thể ca dao lục bát cổ truyền để đặt các câu vè dạy dân, chúng tôi còn nhớ:

I tờ có móc cả hai

I ngắn có chấm tờ dài có ngang.

hay:

O trông như quả trứng gà

hoặc

Ô, O hai chữ giống nhau

Ô thời đội nón, O thì thêm râu.

     Cũng nên nhớ rằng chữ Việt là chữ tương đối dễ học.

     Đi vào cuộc chiến với đa phần dân chúng biết đọc và viết đã là một lợi khí rất lớn.  Chính phủ dễ dàng truyền đạt tin tức và mệnh lệnh, dễ dàng tuyên truyền.  (nên nhớ là thời đó radio còn rất hiếm, TV, điện thoại thì chưa có)

     Việc thay đổi chữ viết đã rất có hại, nhưng khi nó đã hoàn chỉnh và ta đã biết dùng nó thì đã mang lại lợi ích rất lớn.

     Trong cả trăm yếu tố, chúng tôi vừa kể qua 4 yếu tố mà chúng tôi nghĩ là có ảnh hưởng nhiều tới cuộc chiến 30 năm qua và chúng ta có thể học hỏi được kinh nghiệm đó.

     Việt Nam ở trên con đường quan trọng trong mậu dịch quốc tế, VN có nhiều tài nguyên, quặng, mỏ.  Trên đường tranh đấu giành Độc Lập và thống nhất, VN đã tự mình và đã bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp quốc tế, tranh chấp về kinh tế rồi về ý thức hệ.

     Ngày nay với trào lưu thông tin và mậu dịch quốc tế chúng ta đang bị lôi cuốn để hội nhập với quốc tế, một cuộc lôi cuốn mà ta chắc chắn không thể tránh khỏi.  Ta sẽ phải hội nhập cũng như thời Gia Long, Tự Đức, đáng lý ra ta đã phải giao thương với nhiều nước.

     Cuộc hội nhập này cần dân chúng đoàn kết, mức độ đoàn kết cần phải cao hơn là thời chống xâm lăng bằng võ lực.  Để hội nhập cần phát huy sức mạnh tự tại nhiều hơn là thời chiến tranh.   Làm sao có đại đoàn kết? làm sao phát huy “nội lực”? Làm sao để chính quyền mỗi ngày một tốt hơn, tránh được những sai lầm tai hại như trong thời gian 30 năm chiến tranh, và nhiều năm sau đó.  Có cả trăm câu hỏi và trăm ý kiến, vậy khởi đi từ đâu?

     Có nhẽ nên đi lại từ đầu: trong Tuyên Ngôn Độc Lập của ta có nói:

     “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.   Tạo hóa cho họ có quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.”….. “Nhân dân cả nước đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước VN Dân Chủ Cộng Hòa.”

     Ngày nay đã độc lập và không còn chiến tranh, ta cần thực hiện điều mong ước đó; mong ước đã được long trọng đọc ở Ba Đình.  Thực hiện một VN có bình đẳng, có tự do, và một VN Dân Chủ Cộng Hòa ( không hơn không kém).

     Chỉ hy vọng đạt được các điều mong ước trong Tuyên Ngôn Độc Lập khi nhân dân cả nước được tham gia vào việc quản trị, điều hành công việc của đất nước.

     Giữ cái hay cũ, cộng cái hay mới, thêm phần khai phá hiện đại tạo bối cảnh không cấm đoán, bình đẳng, minh bạch , để toàn dân cùng tham gia.

     Đó là bổn phận của chính phủ, tôn giáo, trí thức... của toàn dân.

     Ngày 30 tháng 4 đáng ghi nhớ; để một cách khoa học nhìn lại lịch sử, khai triển các bài học của hơn 30 năm đau khổ đã qua, để tiến tới trong tinh thần Việt Nam.

Chú Thích:

Chúng tôi quan niệm cuộc chiến của VN khởi đầu là giành độc lập.  Đến năm 1954 khi các lực lượng quốc tế bắt ta chia đôi thì cả hai miền Bắc Nam đều có bổn phận thống nhất đất nước.  Thi hành bổn phận đó cách nào? nên vào thời điểm nào? có nên dùng võ lực không? và có nên nhờ ngoại quốc hay không? ... là những vấn đề khác chúng tôi không bàn luận ở đây.  Trong bài này chúng tôi chỉ nêu lên vài dữ kiện có ảnh hưởng chung cho cả 2 giai đoạn chính đó.

Ít ra là từ thế kỷ thứ 15 các làng mạc ở VN đã có quyền tự tuyển chọn Lý Trưởng và Trương Tuần (Mayor and Chief Police).  Mọi vấn đề được thông báo cho dân làng biết qua 1 viên chức gọi là ông Mõ.  Và tất cả dân làng đều có quyền phát biểu ý kiến trong buổi họp việc làng ở đình làng.  Mỗi làng lại có một ban cố vấn, gồm 1 số các vị bô lão và vị hương sư, cho các viên chức thi hành.  Nếu có dịp chúng tôi sẽ cốắng đào sâu vào vấn đề này hơn.


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net