08_gdmau.jpg (3664 bytes)
 
whiteball.gif (923 bytes) Nghiên cứu & đối thoại tháng 5 năm 2004 whiteball.gif (923 bytes)
Vài lời mở đầu của GĐ: Theo chỗ chúng tôi hiểu (vắn tắt), trong ba lãnh vực của khoa học xã hội ‘Văn-Triết-Sử’ thì, Văn là thể hiện hiện thực sáng tạo qua ngôn ngữ, bút pháp; Triết cung cấp một phương pháp luận về tư duy, hệ thống hóa tư tưởng; Sử là khoa học khảo sát sự kiện, phân tích dữ kiện lịch sử quá khứ. Cả ba bộ môn đều hổ trợ cho nhau, nên thiết nghĩ nhà nuớc Việt Nam hiện nay đã xếp đặt ba bộ môn này đi chung với nhau là điều hợp lý; qua nó chúng ta có thể xây dựng một tổng thể nền văn hóa dân tộc và khai phóng... Trong hơn một thập niên qua, chúng tôi thấy về lãnh vực văn học, văn chương đã có một sự giao lưu từ trong ra ngoài nước và ngược lại. Nhưng trong hai lãnh vực kia thì chưa hiện hữu, dù đã thấy những dấu hiệu hé mở. Chính vì vậy, khi đăng loạt bài “Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva” là một phần trong cuốn sách mới của tác giả Chính Đạo, chúng tôi đã kêu gọi sự đóng góp ‘nhận xét, phê bình’ của các giới thức giả, đặc biệt trong nước. Rất tiếc, cho đến nay chúng tôi chưa nhận được hồi đáp vì các lý do nào đó. Trong khi đó, bài “Nhận định...” của tác giả Lê Trọng Văn ở hải ngoại và lá thư “gián tiếp trả lời” của tác giả Chính Đạo đã vô tình đi ra ngoài quỹ đạo của ý hướng tốt đẹp mà Giao Điểm muốn nhắm tới. Hôm nay 9/5/2004, chúng tôi nhận được bài “Tôi Đọc ‘Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva’” của tác giả Trần Chung Ngọc, qua nội dung tác giả chỉ nêu lên một vài khía cạnh cốt lõi, nhưng tựu trung bài viết thể hiện được tinh thần mà chúng tôi mong ước. Chúng tôi chợt trộm nghĩ, không chừng bài viết trở thành mốc thời gian để chúng ta cân nhắc lại về các tiêu chuẩn trong đối thoại và tranh luận ? Xin giới thiệu với bạn đọc và cảm ơn tác giả. Phụ trách web Giao Điểm

______________________________________________________

 TÔI ĐỌC “TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỚI GENEVA” Của “Chính Đạo”

Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu: 

     Đọc bài “Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva” của Chính Đạo, tôi đã muốn viết lên vài điều để góp ý kiến về hai biến cố quan trọng trong lịch sử Việt Nam:  Chiến Thắng Điện Biên Phủ và Hiệp Định Genève.  Nhưng vì chưa có thì giờ, và Giao Điểm chỉ muốn phản ứng và phê phán từ trong nước, nên tôi còn đang suy nghĩ không biết có nên viết hay không.  Nhưng nay có bài phê bình của ông Lê Trọng Văn, và rồi bài trả lời của tác giả qua một bức thư gửi thân hữu, và theo tinh thần câu “Những sự thật lịch sử luôn luôn hữu ích cho thế hệ tương lai.” trong phần giới thiệu của Giao Điểm, nên tôi nghĩ có lẽ tôi cũng nên hi sinh chút thì giờ góp thêm vài ý kiến, góp cho vui mà thôi, tôi xin nhấn mạnh: cho vui mà thôi, nếu được Giao Điểm cho phép.

     Chính Đạo là một trong những bút hiệu của anh Vũ Ngự Chiêu, thường được biết nhiều hơn với danh hiệu Nhà Văn Nguyên Vũ, người đã thành đạt ở Hoa Kỳ với hai bằng Tiến Sĩ: Tiến Sĩ Sử Học và Tiến Sĩ Luật.  Tôi biết Chính Đạo từ khi anh ta còn đang học Sử ở Đại Học Madison – Wisconsin.  Kỳ nào có dịp xuống Houston tôi đều ghé thăm anh ta và chúng tôi ngồi uống trà với nhau, hàn huyên vài câu chuyện thời sự.  Cho nên bài viết này là của một người bạn, không phải của một người đối lập hay kẻ thù.  Tôi chỉ là một người “đọc sử” với tất cả giới hạn của một người không được “học sử”, không biết các phương pháp viết sử, cho nên xin tác giả, nếu có đọc, cũng như các độc giả khác, coi đây chỉ là những ý kiến cá nhân và nếu có điều chi sai sót, xin đánh cho hai chữ “đại xá”.

Trần Chung Ngọc

* * * * *

     Không ai có thể phủ nhận bài “Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva” của Chính Đạo là kết quả của một công cuộc khảo cứu, sưu tầm tài liệu vô cùng phong phú rất công phu, kể cả những tài liệu chưa được giải mật, như chính tác giả đã khẳng định, một điều mà tôi cho là không phải ai cũng làm được. Nhưng giá trị của những tài liệu, cách sử dụng tài liệu như thế nào, đó lại là một chuyện thường gây tranh cãi.  Tại sao vậy?   Bởi vì, như giáo sư sử Mortimer T. Cohen viết trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, một cuốn mà tôi cho là rất đặc sắc về lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam, từ Hai Bà Trưng đến hai cuộc chiến chống Pháp và Mỹ ở Việt Nam: “Chúng ta chỉ khảo sát những tài liệu lượm lặt bởi những người đã ở Việt Nam hoặc chưa từng ở Việt Nam, rồi chọn ra những dữ kiện phù hợp với những quan niệm đã có trước trong đầu chúng ta.” (We simply examine material gathered by those who were in Vietnam and those who were not, and we pick out that data which supports our own preconceptions.). Điều này có nghĩa là những tài liệu mà chúng ta viện dẫn là những tài liệu chọn lọc, bỏ qua những tài liệu không phù hợp với tiên kiến của chúng ta.  Tuy nhiên, nếu những tài liệu chọn lọc này đúng với sự thật và vô tư thì không nói làm gì.  Nhưng nếu không đúng hoặc không có căn bản thuyết phục, thì đây lại là vấn đề giá trị của học thuật.

      Đọc bài Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva của Chính Đạo, tôi thấy nhận định của Giáo sư Mortimer T. Cohen có phần nào đúng, tuy tác giả Chính Đạo đã khẳng định là bài viết của anh chỉ “nhằm tái dựng lại hai biến cố Điện Biên Phủ và Hiệp ước Geneva trong ánh sáng khách quan lịch sử.”   Thế nhưng, Gaetano Salvemini có nói một câu rất ý nhị về các sử gia: “Sử gia nào mà nghĩ rằng mình hoàn toàn khách quan thì bị mắc cái bệnh mặc cảm [tự tôn] của Thượng Đế” (Any historian who thinks he is fully objective suffers from a God-complex).  Và tôi thì tôi không tin là anh bạn Chính Đạo của tôi lại mắc cái bệnh oái ăm của Thượng đế này.  Nói cách khác, tác giả không hẳn là hoàn toàn khách quan khi viết sử, điều mà chỉ có Thượng đế của Ki Tô Giáo, với mặc cảm tự tôn, mới có thể làm được. Thật vậy, trong phần Dẫn Nhập, tác giả Chính Đạo đã giới thiệu tập biên khảo “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng 1945-1975” gồm có 5 bài, và tác giả viết, nguyên văn:   

      “Bài thứ năm, “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long”, trình bày về hành động và âm mưu ve vãn Hà Nội của họ Ngô, dẫn đến cuộc đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết (hoặc thảm sát, nếu muốn) ba anh em họ Ngô của các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa.”

     Quả thật, tôi “ăn không ngon, ngủ không yên” mất vài ngày [nói vậy mà không phải vậy] sau khi đọc câu trên.  Thứ nhất, “Phiến Cộng”,   theo tôi, tự nó đã nói lên cảm tính phe phái rồi, khoan kể đó là những từ không có mấy ai dùng trong một bài viết với tinh thần “khách quan lịch sử”, khoan nói đến chuyện ý nghĩa có thích hợp hay không.   Trong tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh “phiến” có nhiều nghĩa nhưng tôi không tìm thấy một nghĩa nào khả dĩ có thể coi là thích hợp với cụm từ “phiến Cộng”.  Nghĩa sát nhất có lẽ tác giả muốn dùng là “xúi dục”, thí dụ như “phiến loạn Tin Lành” ở Tây Nguyên có nghĩa Tin Lành xúi dục làm loạn ở Tây Nguyên, nhưng theo nghĩa này thì “Phiến Cộng trong dinh Gia Long” trở thành vô nghĩa.  Thứ nhì, tôi tự hỏi, nếu nội dung của bài là để: “trình bày về hành động và âm mưu ve vãn Hà Nội của họ Ngô, dẫn đến cuộc đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết (hoặc thảm sát, nếu muốn) ba anh em họ Ngô của các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa.”  thì có liên hệ gì tới cái gọi là “Phiến Cộng trong dinh Gia Long”?  Có thể tác giả dùng cụm từ này với một nghĩa khác mà tôi không biết đến.

     Bây giờ, chúng ta hãy lướt qua vài điểm trong bài.  Về hai biến cố Điện Biên Phủ và Hiệp Định Genève, tác giả Chính Đạo viết:

     “Đã có nhiều nghiên cứu giá trị về hai biến cố trên, bằng nhiều loại ngôn ngữ. Trong thập niên 1980-1990, do sự giải mật một số tài liệu của hai Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] và Cộng Sản Trung Hoa [CSTH], (2) cùng những tài liệu văn khố Mỹ, Bri-tên và Pháp, các học giả đã tái dựng khá trung thực hai biến cố trên. (3)” và tác giả đã nêu rõ:

      “Hai biên khảo xuất sắc sử dụng tài liệu Trung Cộng là Quang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill, Univ. of North Carolina Press, 2000); Chen Jian, “China and the First Indochina War, 1950-54;” China Quarterly (Aug. 1993), pp. 105-110.”

     Nhưng có lẽ tác giả vẫn chưa hài lòng với những nghiên cứu có giá trị và tái dựng khá trung thực hai biến cố trên, và dĩ nhiên là không tin mấy học giả Tàu ở đại học Mỹ, dùng tài liệu Trung Cộng, chắc chắn là để đề cao Trung Cộng, để viết về trận Điện Biên Phủ cách đây vừa đúng 50 năm, cho nên vẫn coi hai biến cố trên là những vấn nạn, nghi án chưa được giải đáp thích đáng, Bởi vậy tác giả đã viết về bài Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva của mình như sau:

     “Bài “Từ Điện Biên Phủ tới Geneva,” tóm lược hai biến cố quân sự và chính trị năm 1954 đánh dấu một khúc quanh trọng đại của lịch sử, nhưng rất ít người tường tận... Tài liệu mới giải mật hoặc công bố cho phép tác giả vững tin để tái dựng lại hai biến cố này một cách gần sát sự thực nhất.”  

hàm ý tác giả là một trong số rất ít ngưởi biết tường tận.  Sự biết tường tận của tác giả nằm trong gần 200 tài liệu mà tác giả đã dùng và liệt kê ở cuối bài, lẽ dĩ nhiên, vì tôi tin rằng tác giả cũng như tôi, đều không có mặt ở Điện Biên Phủ năm 1954.  Nhưng những tài liệu đó có phải là tất cả đều có giá trị và chính xác?  Chưa chắc.  Chúng ta hãy duyệt sơ vài điểm.  Tác giả viết:

     “Theo Giáp, trước ngày N, Pháp bắt được một cán bộ VM. Ngày giờ tấn công bị lộ, nên Giáp đình hoãn 24 tiếng. Ngày 25/1, Giáp cũng đổi ý: Muốn đánh chắc, tiến chắc [steady progress]. Ngày 26/1, Giáp gặp Vi Quốc Thanh, đề nghị tạm hoãn tấn công, lùi về vị trí tập kết. Bỏ lối đánh nhanh, thắng nhanh [quick solution] rồi đánh chắc, tiến chắc. (42) Theo tài liệu Trung Cộng, chính cố vấn TC đã chủ trương đánh chắc, tiến chắc, không tán thành lối đánh biển người của Giáp.”

     Chúng ta thấy rằng ở đây, tác giả đã đưa ra song song hai tài liệu về chủ trương “đánh chắc, tiến chắc” trong trận Điện Biên Phủ, một của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một của các tác giả Tàu viết theo tài liệu Trung Cộng, và không kết luận tài liệu nào là đúng, để cho độc giả muốn tin theo tài liệu nào thì tin.  Nhưng nếu chúng ta nối câu này với câu của tác giả ở trên: “Hai biên khảo xuất sắc sử dụng tài liệu Trung Cộng là...”, thì có vẻ như tác giả đã ngả về phía tài liệu của Trung Cộng rồi.   Chúng ta có thể thấy điều này bàng bạc trong bài khi tác giả viết về vai trò của Trung Cộng trong cuộc chiến ở Việt Nam.

     Vậy chúng ta hãy tìm hiểu xem chủ trương “đánh chắc, tiến chắc” là của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp hay của cố vấn Trung Cộng.  Nếu chúng ta biết chút ít về cuộc chiến tranh Triều Tiên, và những trận đánh ở Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1950, khi mà quân đội nhân dân Việt Nam còn nhiều khó khăn về tổ chức, về chiến lược, chiến thuật v..v.. và còn đang rút kinh nghiệm, thì có lẽ vấn đề không có gì là khó giải quyết.

      Điều chúng ta biết chắc là, chiến thuật biển người là của Trung Cộng áp dụng ở Triều Tiên, và trong vài trận đánh ở Bắc Việt vào những năm 1951, 1952 (Vĩnh Yên, Mao Khê, Hòa Bình), dưới áp lực của các cố vấn Trung Cộng, Việt Minh đã dùng chiến thuật biển người với nhiều tổn thất nặng nề.  Sau đó Việt Minh đã khôn ra và dùng chiến thuật đánh chắc, đánh lâu dài. Ở Điện Biên Phủ, sau những tổn thất đầu tiên vì muốn đánh mau để kịp tạo một thế mạnh ở Hội nghị Genève, Tướng Võ Nguyên Giáp đã không nghe cố vấn Trung Cộng tiếp tục áp dụng lối đánh biển người của Trung Cộng, như Tướng Peter Macdonald  đã viết trong cuốn Người Chiến Thắng Ở  Việt Nam (The Victor In Vietnam: Giap), trang 129:

     “Theo Tướng Bigeard [một sĩ quan cao cấp Pháp sống sót trong trận Điện Biên Phủ]: Ở Triều Tiên người Tàu đã thường xuyên dùng chiến thuật biển người như là chiến thuật duy nhất để tràn ngập những ổ súng máy; [ở Điện Biên Phủ] họ thuyết phục Giáp là đối với ông ta đó cũng là chiến thuật duy nhất”

     (According to General Biegard: In Korea the Chinese had resorted to human-wave attacks constantly as the only way to overwhelm massed automatic weapons; [In Dien Bien Phu] they persuaded Giap that for him it too was the only way).

      Nhưng Tướng Võ Nguyên Giáp có nghe theo hay không, chúng ta hãy đọc Bernard Fall trong cuốn Phố Buồn (Street Without Joy).  Sau khi tả những trận đánh biển người vào những năm 1951-1952 trong đó Việt Nam bị tổn thất nặng, tác giả viết, trang 47:

      “Võ Nguyên Giáp sau đó không bao giờ quên những bài học mà quân đội của ông phải trả giá quá đắt” [dùng chiến thuật biển người đánh trận địa chiến] (Vo Nguyen Giap was never again to forget the lessons for which his troops had paid so dearly)

và ở trang 105:

      “Cố sức để dàn mặt trận [để dụ Việt Minh tham chiến như ở Điện Biên Phủ] đã trở thành một điều ám ảnh của các vị Tổng Tư Lệnh Pháp ở Đông Dương cho đến ngày chiến tranh chấm dứt.  Nhưng Giáp, vị chỉ huy Cộng Sản, đã một lần phạm sai lầm, năm 1951, đối với de Lattre, và ông ta sẽ không tái phạm.  Trong nhiều lần đụng độ với địch với sự tham dự của các đơn vị từ một trung đoàn đến hơn hai sư đoàn, Giáp chọn hi sinh những thành phần đơn vị bị mắc bẫy một cách vô vọng  thay vì để mình bị “hút vào” loại chiến dịch nghiền thịt mà quân đội Mỹ đã thực hiện hữu hiệu đối với những cuộc tấn công biển người của Bắc Hàn và  Trung Cộng ở   Triều Tiên.”

     (This desperate search for the set-piece battle became an obsession of the successive French Commander-in-chief in Indochina until the end of the war.  But Giap, the Communist commander, had made his mistake once, in 1951, agaisnt de Lattre, and he was not going to repeat it.  In dozens of different engagements involving units from single regiments to more than two divisions, Giap preferred to sacrifice those parts of his units which were hopelessly trapped rather than let himself be “sucked” into the type of meat-grinder operation which the Americans could carry out so effectively against the “human wave” attacks of North Korean and Chinese Communists in Korea.)

      Tướng Peter Macdonald và Bernard Fall là 2 nhân vật biết rõ Việt Nam, Tướng Macdonald đã từng sang Việt Nam phỏng vấn Tướng Võ Nguyên Giáp và rất nhiều nhân vật khác, và Bernard Fall là người mà Việt Nam biết đến nhiều qua những tác phẩm có giá trị của ông.  Tôi không nghĩ rằng họ có lý do gì để xuyên tạc sự thật. Vậy mà tài liệu Trung Cộng lại viết ngược hẳn lại, cho là chính các cố vấn Trung Cộng không tán thành lối đánh biển người của Tướng Giáp.  Thực chất giá trị của những tài liệu Trung Cộng về Điện Biên Phủ là như vậy.

     Một điểm khác là khi viết về các đại đơn vị của Việt Nam trong trận chiến Điện Biên Phủ, tác giả Chính Đạo viết: “Từ năm 1951, cố vấn Trung Cộng thi hành một loạt những cuộc chỉnh quân, chỉnh phong, về chính trị cũng như quân sự.”   Tôi thấy rằng, viết câu trên, tác giả có một đầu óc khôi hài tuyệt vời, và đã cố ý viết một câu thuộc loại “viết vậy mà không phải vậy” để thách đố đầu óc độc giả, tuy chưa đến mức tương tự như là mật mã của Jacques Saunière trong The Da Vinci Code.., nhưng cũng đủ làm nhức đầu người đọc.  Thật vậy, chúng ta sẽ  thấy rõ điều này khi phân tích câu trên.

     Trước hết, cố vấn thì chỉ có thể cố vấn, chứ không thể thi hành, trừ phi cố vấn là Bremer của Mỹ ở Iraq hay cố vấn Ngô Đình Nhu của ông Diệm.  Mặt khác, cố vấn là một chuyện, có được nghe theo hay không lại là một chuyện khác.  Thí dụ như chuyện cố vấn Trung Cộng muốn thuyết phục Tướng Võ Nguyên Giáp dùng chiến thuật biển người ở Điện Biên Phủ nhưng Tướng Giáp đã không nghe theo.  Nhưng chúng ta hiểu câu trên như thế nào?  Sự phân tích của tôi sau đây có thể đúng mà cũng có thể sai, hay vừa đúng vừa sai, tùy theo người đọc.

     Có lẽ vì các đại đơn vị của quân đội nhân dân Việt Nam rất là ô hợp, vô kỷ luật [chúng ta biết kỷ luật của quân đội nhân dân Việt Nam là kỷ luật sắt], và không có tác phong đúng cách, nên Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng nổi tiếng trên thế giới và là niềm hãnh diện của dân tộc Việt Nam, phải nhờ đến mấy cố vấn Trung Cộng thi hành việc chỉnh quân (chỉnh đốn lại quân ngũ) và chỉnh phong (sửa lại tác phong) cho các đại đơn vị của mình.  Và không phải chỉ có một lần, mà phải “chỉnh đi, chỉnh lại, chỉnh tái, chỉnh hồi”, vì có cả một loạt chỉnh quân, chỉnh phong.  Lẽ dĩ nhiên, chúng ta không biết một chi tiết nào, và tác giả Chính Đạo cũng không cho biết, về một loạt những cuộc chỉnh quân, chỉnh phong các đại đơn vị Việt Nam mà các cố vấn Trung Cộng thi hành đã được thực hiện như thế nào.

     Điều mà chúng ta biết rõ là nhiều chục ngàn sĩ quan và binh sĩ trong quân đội nhân dân Việt Nam đã được huấn luyện ở Trung Quốc.  Nhưng đó không phải là chỉnh quân và chỉnh phong.  Vậy thế nào là chỉnh quân và chỉnh phong?

     Tôi mường tượng rằng, chỉnh quân có nghĩa là chỉnh đốn lại quân đội, tổ chức sao cho có thể chiến đấu hữu hiệu hơn [hình như Việt Minh cũng đã đưa ra những biện pháp “rèn cán chỉnh quân” từ lâu rồi],  hay là...khi ra trận phải chỉnh tề, xếp hàng cho đều, không được đi đứng lộn xộn. 

      Còn chỉnh phong?

    Theo Thiếu Tướng Peter Macdonald của Anh Quốc, trong cuốn Người Chiến Thắng Ở Việt Nam: Giáp (The Victor In Vietnam: Giap), trang 106, thì tác phong của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đối với người dân đã được qui định trong 7 luật sau đây:

1.      Phải lễ phép (Be polite)

2.      Phải  ngay thẳng, công bằng (Be fair)

3.      Trả lại tất cả những gì đã mượn (Return everything borrowed)

4.      Không được gây hư hại nếu có thể tránh được (Cause no damge if it can be helped)

5.      Nếu đã gây hư hại thì phải đền tiền (If you cause damage then pay for that)

6.      Không được ức hiếp dân chúng (Do not bully people)

7.      Không được thân thiện với phụ nữ (Do not fraternize with women)

     Lẽ dĩ nhiên đây là những luật trong thời chiến của một quân đội nhân dân, sống trong nhân dân và phải nhờ vào nhân dân.  Nhưng có vẻ như thế chưa đủ, cho nên quân đội từ trên xuống dưới, vì do cố vấn Tàu thi hành chỉnh phong, phải có tác phong của quân đội Tàu, không được mặc quần áo xốc xếch, phải đi đứng nghiêm trang, ăn nói lịch sự lễ phép, không được nhổ bậy xuống đường, và nhất là không được đi đến đâu cướp bóc đến đấy. Nhưng chắc là không phải như vậy, và La Quý Ba và Vi Quốc Thanh có vẻ như đã đi chuyến tàu suốt từ lâu rồi hãy đã nằm 6 bộ dưới đất (6 feet under), nên không kiếm ra đâu mà hỏi về tác phong của quân đội Tàu: từ quân đội của Lư Hán sang giải giới Nhật cho đến quân đội của “đàn anh sang dạy cho đàn em” vào năm 1979, khi rút lui đã làm những gì và để lại đàng sau những gì ở vùng biên giới Bắc Việt..  Vậy thì việc chỉnh quân, chỉnh phong các đại đơn vị của Việt Nam bởi cố vấn vĩ đại Trung Cộng, cho tới bây giờ, đối với tôi, vẫn là một ẩn số vĩ đại.    

     Ở hải ngoại, người ta, tôi không nói là Chính Đạo, thường đề cao vai trò của các cố vấn Tàu, và đôi khi của cả quân lính Tàu nữa, ở Điện Biên Phủ, để “dìm” chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, quên rằng trước Điện Biên Phủ, Việt Nam đã có những trận Bạch Đằng, Đống Đa với Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ. Điều này chúng ta thấy đầy trên những tờ báo lá cải và trên Internet.

      Khi xưa, cả Tướng Navarre của Pháp lẫn Ngoại Trưởng Foster Dulles của Mỹ cũng đều cho rằng Trung Cộng đóng một vai trò tích cực ở Điện Biên Phủ.  Chúng ta hãy đọc lời bình luận của Giáo sư Mortimer T. Cohen về việc này trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 201-202:

     Ngày 5 tháng 4, 1954, trước ủy ban ngoại vụ của quốc hội, Dulles như cuồng loạn trước sự viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam và nói đó là một sự can thiệp trực tiếp.   Phản ứng của Mỹ “có thể không chỉ thu hẹp ở Đông Dương”.

     Ông ta đe dọa Trung Quốc với chiến tranh.

     Gốc rễ vấn đề của Dulles là nếu Việt Minh đang đánh bại Pháp, và nước Việt Nam của người Việt Nam - bất cứ nước nào khác lấy quyền gì để vào đó đánh cho Pháp?  Câu trả lời của Dulles là không phải là người Việt đánh bại Pháp mà là người Tàu.  Người Tàu đã xâm lược Việt Nam và Pháp đã chống lại sự xâm lược, giống như Hoa Kỳ đã chống lại sự xâm lược ở Triều Tiên.

     Chỉ có điều là - chẳng có tí sự thực nào trong đó.  Không có Tàu ở Điện Biên Phủ như Dulles đã khẳng định.  Bộ Tổng Tham Mưu của Pháp nói rằng không có một tù binh nào, sống cũng như chết, là Tàu.  Năm 1959, một viên chức Nam Việt Nam – khó có thể là thân Cộng bị tuyên truyền – nói về “lực lượng tối tân và mạnh mẽ của Pháp bị đánh bại bởi những chiến sĩ Việt Nam trang bị yếu kém về vũ khí mà..chưa từng có sự tiếp tay của quân đội Nga hay Tàu.”

     Pháp, với sự viện trợ của Mỹ lên tới nhiều trăm triệu đô la, bị đá khỏi Đông Dương bởi những dân bản xứ, với quân cụ cung cấp bởi  Trung Quốc và Nga Sô, và Mỹ toan tính can thiệp vì cho là sự tiếp nhận viện trợ của Việt Minh từ các nước khác là một tội ác đối với nhân loại, với nền văn minh Tây phương, và Ki Tô Giáo.

     Tướng Navarre cũng phụ họa luận điệu là Trung Quốc đã can thiệp, cho rằng Trung Quốc không có quyền vào Việt Nam như Pháp.

     Jules Roy tóm tắt thật hay như sau:

      “Những lời tuyên bố của John Foster Dulles và Tướng Navarre về những chuyên viên Trung Quốc đơn giản chỉ là truyền cảm ý muốn bào chữa cho những sự thất bại của họ.”

     (5 April before the House Foreign Affairs Committee Dulles got hysterical about Chinese aid to the Vietminh and said it amounted to direct intervention.  American reaction to this “might not be confined to Indochina.

     He was threatening China with war.

     The root of Dulles’ problem was that if the Vietminh were beating the French, and if Vietnam belonged to the Viets – what the hell right did any other nation have to come in and fight for France?   Dulles’ answer was that the Viets were not beating France – it was the Chinks.  They had invaded Vietnam and France was resiting their invasion, as the US resisted the invasion of South Korea.

     Only trouble – there wasn’t a word of truth toit.  There were no Chinese at Dien Bien Phu, as Dulles claimed.  The French General Staff said no prisoners, wounded or dead had been identified as Chinese.   In 1959 a South Vietnamese – hardly prone to pro-Communist propaganda – spoke of “powerful modern French armies defeated by poorly armed Vietnamese fighters who...never were helped by Russian or Chinese troops.”

     The French, with hundreds of millions in American aid, were getting kicked out of Indochina by the natives, who got thei supplies from China and Russia, and the US was trying to intervene as if the acceptance of aid by the Vietminh from other nations constituted a crime against humanity, Western civilization, and Christianity.

     General Navarre also echoed the line that the Chinese were “intervening” as if China has less right to be in Vietnam than the French.

     Jules Roy summed it up well.

    “ ....The statements made by John Foster Dulles and General Navarre about Chinese technicians were simply inspire by their desire to explain away their failures.”)

     Tưởng chúng ta cũng nên đọc thêm nhận định của Giáo sư Mortimer T. Chohen về chiến thắng Điện Biên Phủ:

     “Điện Biên Phủ là sự diễn đạt tinh thần quốc gia và sự hãnh diện của người Việt mạnh nhất về  một biến cố trong dòng lịch sử của họ.  Có một đứa trẻ nào ở trong làng mà không biết đến những chiến thắng đối với Trung Hoa và Mông Cổ - hai lực lượng quân sự mạnh nhất ở Á Châu?  Những biến cố này và cuộc tranh đấu ngàn năm chống ngoại xâm đã được lồng vào trong văn học, ca nhạc, và châm ngôn của họ. Đối với người Việt, Điện Biên Phủ là một trận chiến khác trong đó họ đã đánh bại quân xâm lược.  Và hầu hết mọi người, bất kể là thuộc tôn giáo, tầng lớp xã hội nào, hoặc phục vụ cho quân đội Pháp, đều hãnh diện vì nó.

     Người Mỹ có hiểu được như vậy không?  Người Mỹ có biết gì về Việt Nam và lịch sử, văn hóa Việt Nam không?  Hoàn toàn không.”

     (Dien Bien Phu was the expression of that Viet nationalism and pride which had been the strongest single event in the course of their history.  Was there a village schoolchild who did not know of the victories over the Chinese and Mongols – the two leading military powers in Asia?  These events and the millenium old struggle against foreigners were woven into their literature, their songs, their proverbs.  To the Viets Dien Bien Phu was another battle in which they had defeated the invaders.  And most of them, regardless of religion, social class, or service with the French armed forces, were proud of it.

     Did the Americans understand this?  Did they know anything about Vietnam and its history, its culture?  Nothing. (Mortimer T. Cohen in From Prologue to Epilogue in Vietnam, N.Y., 1979, p. 206))

     Thật ra, chúng ta bàn luận qua lại chỉ để mà chơi, vì cốt lõi của vấn đề nằm trong sự nhận định sâu sắc trên của Giáo sư Mortimer T. Cohen: mọi người Việt Nam đều có quyền hãnh diện với chiến thắng Điện Biên Phủ. Đúng vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ là của nhân dân Việt Nam, đoạt được bằng sự hi sinh xương máu của người Việt Nam, từ Tướng Tá tới các binh sĩ, từ các dân công cho đến các thường dân, bất kể là ai chủ trương đánh chắc tiến chắc. Tất cả những luận bàn trí thức hay không trí thức về vai trò của cố vấn Trung Cộng  ở Điện Biên Phủ, đối với tôi, đều là không thích hợp (irrelevant).

     Đó là vài điểm về Điện Biên Phủ.  Chúng ta hãy sang phần Hiệp Ước Genève.  Tôi sẽ không bàn tới phần này của tác giả nhưng theo ý tôi, Hiệp Ước Genève có hai điều khoản rất quan trọng trong bản Tuyên Cáo chung, nói lên sự kiện tại sao Việt Minh chịu ký trong khi đang thắng thế về quân sự và theo một bản đồ của Navarre năm 1953 thì Việt Minh đã kiểm soát  75% lãnh thổ.  Tôi trích dẫn nguyên văn hai điều khoản này sau đây để chúng ta thấy rõ vấn đề, tạm coi như là để thêm chút ít tài liệu mà tôi cảm thấy thiếu trong phần viết về Hiệp Ước Genève của tác giả Chính Đạo.  

 1.  Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:

 “Hội Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY  ĐẤT ĐAI .  Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”

     (The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY.  The Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in Vietnam.)

2.   Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau:

     “Hội Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị, thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu bầu kín.” [Được ấn định vào tháng 7, 1956].

     (The Conference declares that, so far as Vietnam is concerned, the settlement of political problems, effected on the basis of respect for the principles of independence, unity and  territorial integrity, shall permit the Vietnamese people to enjoy the fundamental freedoms, guaranteed by democratic institutions established as a result of free general elections by secret ballot..)

     Ở miền Nam, người ta thường diễn giải sai lầm đoạn (7) ở trên, và một trong những lý luận biện minh cho sự kiện Tổng thống Ngô Đình Diệm từ chối không tổ chức Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 là cho rằng trong vòng kiểm soát của Việt Minh không có tự do, dân chủ, nên ông Diệm có quyền từ chối, không tuân hành Hiệp Ước Genève, tổ chức tổng tuyển cử.  Nhưng đọc kỹ đoạn trên, chúng ta thấy rằng một cuộc tổng tuyển cử do quốc tế kiểm soát không tùy thuộc vào các định chế tự do, dân chủ ở trong mỗi vùng rút quân, mà tự do dân chủ là những quyền phải được bảo đảm bởi các định chế được thành lập sau kết quả (as a result) của cuộc tổng tuyển cử.

Thay Lời Kết.

     Tôi đã đọc một số sách của anh Vũ Ngự Chiêu và đã từng tán thưởng công phu nghiên cứu tìm tòi tài liệu của anh.  Trong bài Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva, số tài liệu dẫn chứng quả là vô cùng phong phú, một điều mà ít người làm được. Từ đây, người đọc lãnh hội được một kiến thức với nhiều chi tiết về hai biến cố: Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp Định Genève.  Tuy nhiên tôi phải thú thực rằng, tôi không mấy “chịu” cái lối viết của anh.  Bởi vì, có lẽ vì bản chất là một “thiên thần mũ đỏ”, là một nhà văn nổi tiếng, và nắm trong tay hai bằng tiến sĩ của Mỹ, cho nên lối viết của anh rất độc đáo. Độc đáo ở chỗ nửa Mỹ, nửa Việt, và rất là tùy tiện, tùy hứng. Điều này chúng ta thấy rõ trong bài trên và trong một số sách của anh mà tôi đã đọc.  Lẽ dĩ nhiên, chuyện tôi không chịu là chuyện của tôi, và tôi cũng không hề có ý định muốn anh thay đổi lối viết.  Nhưng để cho vấn đề được rõ ràng, tôi cần phải nói lên là tôi không chịu ở chỗ nào.

       Chúng ta hãy lấy vài thí dụ về cách dùng từ và dịch từ của anh, chứng tỏ anh ta có một đầu óc rất phóng khoáng, thích viết thế nào thì viết, không câu nệ những điều nhỏ nhặt trong quy luật viết văn Việt mà những “Mít” thường không phải là sử gia như chúng ta cứ phải khư khư tự buộc chặt vào đó, và như vậy, anh không hề quan tâm đến phản ứng của người đọc.

     Trong vấn đề chua tên tiếng Việt cho những địa danh ngoại quốc có vẻ như anh đã rất tùy tiện và tùy hứng, không nhất quán, có thể gây khó khăn cho người đọc.    Thí dụ, Ireland anh chua trong dấu ngoặc là Ái Nhĩ Lan, Panmunjon là Bàn Môn Điếm, Norway là Na-Uy v..v.. , những tên quen thuộc với người Việt, nhưng Washington lại là “Oat-shinh-tân” thay vì Hoa Thịnh Đốn, Moscow là Mat-scơ-va thay vì Mạc Tư Khoa, và Philippines thì để nguyên (trong bài: Philippines, Đài Loan và Nhật).  Khi phiên âm thì Britain (chính ra là Great Britain, nghĩa là Anh quốc) anh phiên âm thành Bri-tên, rất đúng.  Nhưng Geneva là Giơ-neo-vơ  và Washington là Oat-shinh-tân thì nghe hơi chướng, không đúng lối phiên âm. Viết tên các nhân vật lịch sử, khi thì anh để nguyên, khi thì anh phiên âm, lúc thì anh viết họ (last name), lúc thì anh viết tên tục (first name), và đặc biệt là viết các tên trống không theo kiểu Mỹ, có thể làm mất cảm tình của các độc giả người Việt.  Thí dụ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì anh viết là Giáp (first name) trống không, Chủ tịch Hồ Chí Minh thì anh viết là Hồ (Last name), Mao Trạch Đông là Mao (Last name), Chu Ấn Lai là Lai (First name) v..v..   

           Người Mỹ thường có thói quen gọi mọi người, thân cũng như không thân, không phân biệt địa vị, chức tước, và cả bố mẹ, chú bác, cô dì, anh chị, bằng tên tục (first name) trống không.  Thí dụ Bush (Tổng thống Hoa Kỳ) thế này, Bush thế  nọ.  Nhưng người Việt Nam chúng ta ít ai gọi những người có tên tuổi một cách mà chúng ta thường gọi là xách mé như vậy.  Văn hóa mỗi nước một khác, tiêu chuẩn lễ phép của mỗi quốc gia cũng khác.  Tuy chúng ta là công dân Mỹ, chấp nhận Mỹ là quốc gia thứ hai, nhưng tôi cho rằng chúng ta không nên viết văn Việt theo kiểu Mỹ.  Nếu ai viết lịch sử Việt Nam mà viết Đức Trần Hưng Đạo là Đạo trống không, hay Bà Triệu Ẩu là Ẩu v..v.. thì quả thật tôi không ưa được.  Có thể tôi nghĩ như vậy vì đã thuộc lớp tuổi già, cố chấp, cổ hủ.  Nhưng đó là những ý nghĩ chân thành của tôi và không thiếu thiện chí trong đó.

     Cuối cùng, tôi xin có vài lời với trang nhà Giao Điểm.  Tôi hi vọng Giao Điểm không phải là diễn đàn để thảo luận về đời tư của bất cứ ai, hay để chuyển sự xung đột Quốc-Cộng giữa hai miền Nam Bắc, đã chấm dứt 29 năm rồi, thành sự xung đột Quốc-Cộng giữa những cá nhân.

Viết xong ngày Mother’s Day, lúc 13:30, tại Grayslake, Illinois.

    


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

Modified by Web Giaodiem

CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home  |  Về trang mục lục

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net