
| Vài lời
mở đầu của GĐ: Theo chỗ chúng tôi hiểu (vắn tắt |
______________________________________________________
TÔI ĐỌC “TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỚI GENEVA”
Trần Chung Ngọc
Vài Lời Nói Đầu:
Đọc bài “Từ Điện Biên Phủ Tới
Geneva” của Chính Đạo, tôi đã muốn viết lên vài điều để góp ý
kiến về hai biến cố quan trọng trong lịch sử Việt Nam: Chiến Thắng Điện Biên Phủ và Hiệp Định
Genève. Nhưng vì chưa có thì giờ, và
Giao Điểm chỉ muốn phản ứng và phê phán từ trong nước, nên tôi còn
đang suy nghĩ không biết có nên viết hay không.
Nhưng nay có bài phê bình của ông Lê Trọng Văn, và rồi bài trả lời
của tác giả qua một bức thư gửi thân hữu, và theo tinh thần câu “Những sự
thật lịch sử luôn luôn hữu ích cho thế hệ tương lai.” trong phần
giới thiệu của Giao Điểm, nên tôi nghĩ có lẽ tôi cũng nên hi sinh chút
thì giờ góp thêm vài ý kiến, góp cho vui mà thôi, tôi xin nhấn mạnh: cho
vui mà thôi, nếu được Giao Điểm cho phép.
Chính Đạo là một trong những bút hiệu của anh Vũ Ngự Chiêu, thường
được biết nhiều hơn với danh hiệu Nhà Văn Nguyên Vũ, người đã thành
đạt ở Hoa Kỳ với hai bằng Tiến Sĩ: Tiến Sĩ Sử Học và Tiến Sĩ Luật. Tôi biết Chính Đạo từ khi anh ta còn
đang học Sử ở Đại Học Madison – Wisconsin.
Kỳ nào có dịp xuống Houston tôi đều ghé thăm anh ta và chúng tôi
ngồi uống trà với nhau, hàn huyên vài câu chuyện thời sự. Cho nên bài viết này là của một người
bạn, không phải của một người đối lập hay kẻ thù. Tôi chỉ là một người “đọc sử” với
tất cả giới hạn của một người không được “học sử”, không biết
các phương pháp viết sử, cho nên xin tác giả, nếu có đọc, cũng như các
độc giả khác, coi đây chỉ là những ý kiến cá nhân và nếu có điều
chi sai sót, xin đánh cho hai chữ “đại xá”.
Trần Chung Ngọc
* * * * *
Không ai có thể phủ nhận bài “Từ
Điện Biên Phủ Tới Geneva” của Chính Đạo là kết quả của một
công cuộc khảo cứu, sưu tầm tài liệu vô cùng phong phú rất công phu, kể
cả những tài liệu chưa được giải mật, như chính
tác giả đã khẳng định, một điều mà tôi cho là không phải ai cũng làm
được. Nhưng
giá trị của những tài liệu, cách sử dụng tài liệu như thế nào, đó
lại là một chuyện thường gây tranh cãi. Tại
sao vậy? Bởi vì, như giáo sư sử
Mortimer T. Cohen viết trong cuốn From Prologue
To Epilogue In Vietnam, một cuốn mà tôi cho là rất đặc sắc về lịch sử
chống ngoại xâm của Việt Nam, từ Hai Bà Trưng đến hai cuộc chiến chống
Pháp và Mỹ ở Việt Nam: “Chúng ta chỉ khảo
sát những tài liệu lượm lặt bởi những người đã ở Việt Nam hoặc
chưa từng ở Việt Nam, rồi chọn ra những dữ kiện phù hợp với những
quan niệm đã có trước trong đầu chúng ta.” (We simply examine material
gathered by those who were in Vietnam and those who were not, and we pick out that data
which supports our own preconceptions.). Điều này có nghĩa là những tài liệu
mà chúng ta viện dẫn là những tài liệu chọn lọc, bỏ qua những tài liệu
không phù hợp với tiên kiến của chúng ta.
Tuy nhiên, nếu những tài liệu chọn lọc này đúng với sự thật
và vô tư thì không nói làm gì. Nhưng
nếu không đúng hoặc không có căn bản thuyết phục, thì đây lại là vấn
đề giá trị của học thuật.
Đọc bài Từ Điện Biên Phủ Tới
Geneva của Chính Đạo, tôi thấy nhận định của Giáo sư Mortimer T.
Cohen có phần nào đúng, tuy tác giả Chính Đạo đã khẳng định là bài
viết của anh chỉ “nhằm tái dựng lại hai biến cố Điện Biên Phủ và
Hiệp ước Geneva trong ánh sáng khách
quan lịch sử.” Thế nhưng,
Gaetano Salvemini có nói một câu rất ý nhị về các sử gia: “Sử gia nào
mà nghĩ rằng mình hoàn toàn khách quan thì bị mắc cái bệnh mặc cảm [tự
tôn] của Thượng Đế” (Any historian who thinks he is fully objective
suffers from a God-complex). Và tôi thì
tôi không tin là anh bạn Chính Đạo của tôi lại mắc cái bệnh oái ăm của
Thượng đế này. Nói cách khác, tác
giả không hẳn là hoàn toàn khách quan khi viết sử, điều mà chỉ có Thượng
đế của Ki Tô Giáo, với mặc cảm tự tôn, mới có thể làm được. Thật
vậy, trong phần Dẫn Nhập, tác giả
Chính Đạo đã giới thiệu tập biên khảo “Cuộc
Thánh Chiến Chống Cộng 1945-1975” gồm có 5 bài, và tác giả viết,
nguyên văn:
“Bài thứ năm, “Phiến Cộng trong
Dinh Gia Long”, trình bày về hành động và âm mưu ve vãn Hà Nội của họ
Ngô, dẫn đến cuộc đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết (hoặc thảm
sát, nếu muốn) ba anh em họ Ngô của các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa.”
Quả thật, tôi “ăn không ngon, ngủ không yên” mất vài ngày [nói
vậy mà không phải vậy] sau khi đọc câu trên.
Thứ nhất, “Phiến Cộng”, theo tôi, tự nó đã nói lên cảm
tính phe phái rồi, khoan kể đó là những từ không có mấy ai dùng trong một
bài viết với tinh thần “khách quan lịch sử”, khoan nói đến chuyện ý
nghĩa có thích hợp hay không. Trong
tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh “phiến” có nhiều nghĩa nhưng tôi
không tìm thấy một nghĩa nào khả dĩ có thể coi là thích hợp với cụm
từ “phiến Cộng”. Nghĩa sát nhất
có lẽ tác giả muốn dùng là “xúi dục”, thí dụ như “phiến loạn
Tin Lành” ở Tây Nguyên có nghĩa Tin Lành xúi dục làm loạn ở Tây
Nguyên, nhưng theo nghĩa này thì “Phiến Cộng trong dinh Gia Long” trở
thành vô nghĩa. Thứ nhì, tôi tự hỏi,
nếu nội dung của bài là để: “trình
bày về hành động và âm mưu ve vãn Hà Nội của họ Ngô, dẫn đến cuộc
đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết (hoặc thảm sát, nếu muốn) ba anh
em họ Ngô của các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa.” thì có liên hệ gì tới cái gọi là “Phiến
Cộng trong dinh Gia Long”? Có thể tác
giả dùng cụm từ này với một nghĩa khác mà tôi không biết đến.
Bây giờ, chúng ta hãy lướt qua vài điểm trong bài. Về hai biến cố Điện Biên Phủ và Hiệp
Định Genève, tác giả Chính Đạo viết:
“Đã có nhiều nghiên cứu giá trị
về hai biến cố trên, bằng nhiều loại ngôn ngữ. Trong thập niên
1980-1990, do sự giải mật một số tài liệu của hai Đảng Cộng Sản Việt
Nam [CSVN] và Cộng Sản Trung Hoa [CSTH], (2) cùng những tài liệu văn khố Mỹ,
Bri-tên và Pháp, các học giả đã tái dựng khá trung thực hai biến cố
trên. (3)” và tác giả đã nêu rõ:
“Hai biên khảo xuất sắc sử dụng
tài liệu Trung Cộng là Quang Zhai, China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel
Hill, Univ. of North Carolina Press, 2000); Chen Jian, “China and the First Indochina
War, 1950-54;” China Quarterly (Aug. 1993), pp. 105-110.”
Nhưng có lẽ tác giả vẫn chưa hài lòng với những nghiên cứu có
giá trị và tái dựng khá trung thực hai biến cố trên, và dĩ nhiên là
không tin mấy học giả Tàu ở đại học Mỹ, dùng tài liệu Trung Cộng,
chắc chắn là để đề cao Trung Cộng, để viết về trận Điện Biên Phủ
cách đây vừa đúng 50 năm, cho nên vẫn coi hai biến cố trên là những vấn
nạn, nghi án chưa được giải đáp thích đáng, Bởi vậy tác giả đã viết
về bài Từ Điện Biên Phủ Tới Geneva của
mình như sau:
“Bài “Từ Điện Biên Phủ tới
Geneva,” tóm lược hai biến cố quân sự và chính trị năm 1954 đánh dấu
một khúc quanh trọng đại của lịch sử, nhưng rất ít người tường tận...
Tài liệu mới giải mật hoặc công bố cho phép tác giả vững tin để tái
dựng lại hai biến cố này một cách gần sát sự thực nhất.”
hàm ý tác giả là một trong số
rất ít ngưởi biết tường tận. Sự
biết tường tận của tác giả nằm trong gần 200 tài liệu mà tác giả đã
dùng và liệt kê ở cuối bài, lẽ dĩ nhiên, vì tôi tin rằng tác giả cũng
như tôi, đều không có mặt ở Điện Biên Phủ năm 1954. Nhưng những tài liệu đó có phải là tất
cả đều có giá trị và chính xác? Chưa
chắc. Chúng ta hãy duyệt sơ vài điểm. Tác giả viết:
“Theo Giáp, trước ngày N, Pháp bắt
được một cán bộ VM. Ngày giờ tấn công bị lộ, nên Giáp đình hoãn 24
tiếng. Ngày 25/1, Giáp cũng đổi ý: Muốn đánh chắc, tiến chắc [steady
progress]. Ngày 26/1, Giáp gặp Vi Quốc Thanh, đề nghị tạm hoãn tấn công,
lùi về vị trí tập kết. Bỏ lối đánh nhanh, thắng nhanh [quick solution] rồi
đánh chắc, tiến chắc. (42) Theo tài liệu Trung Cộng, chính cố vấn TC đã
chủ trương đánh chắc, tiến chắc, không tán thành lối đánh biển người
của Giáp.”
Chúng ta thấy rằng ở đây, tác giả đã đưa ra song song hai tài liệu
về chủ trương “đánh chắc, tiến chắc” trong trận Điện Biên Phủ, một
của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một của các tác giả Tàu viết theo tài
liệu Trung Cộng, và không kết luận tài liệu nào là đúng, để cho độc
giả muốn tin theo tài liệu nào thì tin. Nhưng
nếu chúng ta nối câu này với câu của tác giả ở trên: “Hai biên khảo xuất sắc sử dụng tài liệu
Trung Cộng là...”, thì có vẻ như tác giả đã ngả về phía tài liệu
của Trung Cộng rồi. Chúng ta có thể
thấy điều này bàng bạc trong bài khi tác giả viết về vai trò của Trung
Cộng trong cuộc chiến ở Việt Nam.
Vậy chúng ta hãy tìm hiểu xem chủ trương “đánh chắc, tiến chắc”
là của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp hay của cố vấn Trung Cộng. Nếu chúng ta biết chút ít về cuộc chiến
tranh Triều Tiên, và những trận đánh ở Việt Nam trong những năm đầu thập
niên 1950, khi mà quân đội nhân dân Việt Nam còn nhiều khó khăn về tổ
chức, về chiến lược, chiến thuật v..v.. và còn đang rút kinh nghiệm,
thì có lẽ vấn đề không có gì là khó giải quyết.
Điều chúng ta biết chắc là, chiến thuật biển người là của
Trung Cộng áp dụng ở Triều Tiên, và trong vài trận đánh ở Bắc Việt
vào những năm 1951, 1952 (Vĩnh Yên, Mao Khê, Hòa Bình), dưới áp lực của
các cố vấn Trung Cộng, Việt Minh đã dùng chiến thuật biển người với
nhiều tổn thất nặng nề. Sau đó Việt
Minh đã khôn ra và dùng chiến thuật đánh chắc, đánh lâu dài. Ở Điện
Biên Phủ, sau những tổn thất đầu tiên vì muốn đánh mau để kịp tạo
một thế mạnh ở Hội nghị Genève, Tướng Võ Nguyên Giáp đã không nghe cố
vấn Trung Cộng tiếp tục áp dụng lối đánh biển người của Trung Cộng,
như Tướng Peter Macdonald đã viết
trong cuốn Người Chiến Thắng Ở Việt Nam (The Victor In Vietnam: Giap),
trang 129:
“Theo Tướng Bigeard [một sĩ quan
cao cấp Pháp sống sót trong trận Điện Biên Phủ]: Ở Triều Tiên người Tàu đã thường xuyên
dùng chiến thuật biển người như là chiến thuật duy nhất để tràn ngập
những ổ súng máy; [ở Điện Biên Phủ] họ thuyết phục Giáp là đối với
ông ta đó cũng là chiến thuật duy nhất”
(According to General Biegard: In Korea the Chinese had resorted to human-wave
attacks constantly as the only way to overwhelm massed automatic weapons; [In Dien Bien
Phu] they persuaded Giap that for him it too was the only way).
Nhưng Tướng Võ Nguyên Giáp có nghe theo hay không, chúng ta hãy đọc
Bernard Fall trong cuốn Phố Buồn (Street
Without Joy). Sau khi tả những trận đánh
biển người vào những năm 1951-1952 trong đó Việt Nam bị tổn thất nặng,
tác giả viết, trang 47:
“Võ Nguyên Giáp sau đó không bao giờ
quên những bài học mà quân đội của ông phải trả giá quá đắt”
[dùng chiến thuật biển người đánh trận địa chiến] (Vo Nguyen Giap was
never again to forget the lessons for which his troops had paid so dearly)
và ở trang 105:
“Cố sức để dàn mặt trận [để
dụ Việt Minh tham chiến như ở Điện Biên Phủ] đã trở thành một điều ám ảnh của các vị
Tổng Tư Lệnh Pháp ở Đông Dương cho đến ngày chiến tranh chấm dứt. Nhưng Giáp, vị chỉ huy Cộng Sản, đã một
lần phạm sai lầm, năm 1951, đối với de Lattre, và ông ta sẽ không tái phạm. Trong nhiều lần đụng độ với địch với
sự tham dự của các đơn vị từ một trung đoàn đến hơn hai sư đoàn,
Giáp chọn hi sinh những thành phần đơn vị bị mắc bẫy một cách vô vọng thay vì để mình bị “hút vào” loại
chiến dịch nghiền thịt mà quân đội Mỹ đã thực hiện hữu hiệu đối
với những cuộc tấn công biển người của Bắc Hàn và Trung Cộng ở
Triều Tiên.”
(This desperate search for the set-piece battle became an obsession of the
successive French Commander-in-chief in Indochina until the end of the war. But Giap, the Communist commander, had made his
mistake once, in 1951, agaisnt de Lattre, and he was not going to repeat it. In dozens of different engagements involving units
from single regiments to more than two divisions, Giap preferred to sacrifice those parts
of his units which were hopelessly trapped rather than let himself be “sucked” into
the type of meat-grinder operation which the Americans could carry out so effectively
against the “human wave” attacks of North Korean and Chinese Communists in Korea.)
Tướng Peter Macdonald và Bernard Fall là 2 nhân vật biết rõ Việt Nam,
Tướng Macdonald đã từng sang Việt Nam phỏng vấn Tướng Võ Nguyên Giáp
và rất nhiều nhân vật khác, và Bernard Fall là người mà Việt Nam biết
đến nhiều qua những tác phẩm có giá trị của ông. Tôi không nghĩ rằng họ có lý do gì để
xuyên tạc sự thật. Vậy mà tài liệu Trung Cộng lại viết ngược hẳn lại,
cho là chính các cố vấn Trung Cộng không tán thành lối đánh biển người
của Tướng Giáp. Thực chất giá trị
của những tài liệu Trung Cộng về Điện Biên Phủ là như vậy.
Một điểm khác là khi viết về các đại đơn vị của Việt Nam
trong trận chiến Điện Biên Phủ, tác giả Chính Đạo viết: “Từ năm 1951, cố vấn Trung Cộng thi hành một
loạt những cuộc chỉnh quân, chỉnh phong, về chính trị cũng như quân sự.” Tôi thấy rằng, viết câu trên, tác
giả có một đầu óc khôi hài tuyệt vời, và đã cố ý viết một câu
thuộc loại “viết vậy mà không phải vậy” để thách đố đầu óc độc
giả, tuy chưa đến mức tương tự như là mật mã của Jacques Saunière
trong The Da Vinci Code.., nhưng cũng đủ làm
nhức đầu người đọc. Thật vậy,
chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi
phân tích câu trên.
Trước hết, cố vấn thì chỉ có thể cố vấn, chứ không thể thi
hành, trừ phi cố vấn là Bremer của Mỹ ở Iraq hay cố vấn Ngô Đình Nhu
của ông Diệm. Mặt khác, cố vấn
là một chuyện, có được nghe theo hay không lại là một chuyện khác. Thí dụ như chuyện cố vấn Trung Cộng muốn
thuyết phục Tướng Võ Nguyên Giáp dùng chiến thuật biển người ở Điện
Biên Phủ nhưng Tướng Giáp đã không nghe theo.
Nhưng chúng ta hiểu câu trên như thế nào?
Sự phân tích của tôi sau đây có thể đúng mà cũng có thể sai, hay
vừa đúng vừa sai, tùy theo người đọc.
Có lẽ vì các đại đơn vị của quân đội nhân dân Việt Nam rất
là ô hợp, vô kỷ luật [chúng ta biết kỷ luật của quân đội nhân dân
Việt Nam là kỷ luật sắt], và không có tác phong đúng cách, nên Đại Tướng
Võ Nguyên Giáp, vị tướng nổi tiếng trên thế giới và là niềm hãnh diện
của dân tộc Việt Nam, phải nhờ đến mấy cố vấn Trung Cộng thi hành
việc chỉnh quân (chỉnh đốn lại quân ngũ) và chỉnh phong (sửa lại tác
phong) cho các đại đơn vị của mình. Và
không phải chỉ có một lần, mà phải “chỉnh đi, chỉnh lại, chỉnh tái,
chỉnh hồi”, vì có cả một loạt chỉnh quân, chỉnh phong. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta không biết một chi
tiết nào, và tác giả Chính Đạo cũng không cho biết, về một loạt những
cuộc chỉnh quân, chỉnh phong các đại đơn vị Việt Nam mà các cố vấn Trung Cộng thi hành đã được thực hiện
như thế nào.
Điều mà chúng ta biết rõ là nhiều chục ngàn sĩ quan và binh sĩ
trong quân đội nhân dân Việt Nam đã được huấn luyện ở Trung Quốc. Nhưng đó không phải là chỉnh quân và chỉnh
phong. Vậy thế nào là chỉnh quân và
chỉnh phong?
Tôi mường tượng rằng, chỉnh quân có nghĩa là chỉnh đốn lại quân
đội, tổ chức sao cho có thể chiến đấu hữu hiệu hơn [hình như Việt
Minh cũng đã đưa ra những biện pháp “rèn cán chỉnh quân” từ lâu rồi], hay là...khi ra trận phải chỉnh tề, xếp
hàng cho đều, không được đi đứng lộn xộn.
Còn chỉnh phong?
Theo Thiếu Tướng Peter Macdonald của Anh Quốc, trong cuốn Người Chiến Thắng Ở Việt Nam: Giáp (The
Victor In Vietnam: Giap), trang 106, thì tác phong của Quân Đội Nhân Dân Việt
Nam đối với người dân đã được qui định trong 7 luật sau đây:
1. Phải
lễ phép (Be polite)
2. Phải ngay thẳng, công bằng (Be fair)
3. Trả
lại tất cả những gì đã mượn (Return everything borrowed)
4. Không
được gây hư hại nếu có thể tránh được (Cause no damge if it can be
helped)
5. Nếu
đã gây hư hại thì phải đền tiền (If you cause damage then pay for that)
6. Không
được ức hiếp dân chúng (Do not bully people)
7. Không
được thân thiện với phụ nữ (Do not fraternize with women)
Lẽ dĩ nhiên đây là những luật trong thời chiến của một quân đội
nhân dân, sống trong nhân dân và phải nhờ vào nhân dân. Nhưng có vẻ như thế chưa đủ, cho nên
quân đội từ trên xuống dưới, vì do cố vấn Tàu thi hành chỉnh phong,
phải có tác phong của quân đội Tàu, không được mặc quần áo xốc xếch,
phải đi đứng nghiêm trang, ăn nói lịch sự lễ phép, không được nhổ bậy
xuống đường, và nhất là không được đi đến đâu cướp bóc đến đấy.
Nhưng chắc là không phải như vậy, và La Quý Ba và Vi Quốc Thanh có vẻ như
đã đi chuyến tàu suốt từ lâu rồi hãy đã nằm 6 bộ dưới đất (6
feet under), nên không kiếm ra đâu mà hỏi về tác phong của quân đội Tàu:
từ quân đội của Lư Hán sang giải giới Nhật cho đến quân đội của
“đàn anh sang dạy cho đàn em” vào năm 1979, khi rút lui đã làm những gì
và để lại đàng sau những gì ở vùng biên giới Bắc Việt.. Vậy thì việc chỉnh quân, chỉnh phong
các đại đơn vị của Việt Nam bởi cố vấn vĩ đại Trung Cộng, cho tới
bây giờ, đối với tôi, vẫn là một ẩn số vĩ đại.
Ở hải ngoại, người ta, tôi không nói là Chính Đạo, thường đề
cao vai trò của các cố vấn Tàu, và đôi khi của cả quân lính Tàu nữa,
ở Điện Biên Phủ, để “dìm” chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt
Nam, quên rằng trước Điện Biên Phủ, Việt Nam đã có những trận Bạch
Đằng, Đống Đa với Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ. Điều này chúng ta
thấy đầy trên những tờ báo lá cải và trên Internet.
Khi xưa, cả Tướng Navarre của Pháp lẫn Ngoại Trưởng Foster Dulles của
Mỹ cũng đều cho rằng Trung Cộng đóng một vai trò tích cực ở Điện Biên
Phủ. Chúng ta hãy đọc lời bình luận
của Giáo sư Mortimer T. Cohen về việc này trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang
201-202:
“Ngày 5 tháng 4, 1954, trước ủy ban
ngoại vụ của quốc hội, Dulles như cuồng loạn trước sự viện trợ của
Trung Quốc cho Việt Nam và nói đó là một sự can thiệp trực tiếp. Phản ứng của Mỹ “có thể không
chỉ thu hẹp ở Đông Dương”.
Ông ta đe dọa Trung Quốc với chiến tranh.
Gốc rễ vấn đề của Dulles là nếu Việt Minh đang đánh bại Pháp,
và nước Việt Nam của người Việt Nam - bất cứ nước nào khác lấy quyền
gì để vào đó đánh cho Pháp? Câu trả
lời của Dulles là không phải là người Việt đánh bại Pháp mà là người
Tàu. Người Tàu đã xâm lược Việt
Nam và Pháp đã chống lại sự xâm lược, giống như Hoa Kỳ đã chống lại
sự xâm lược ở Triều Tiên.
Chỉ có điều là - chẳng có tí sự thực nào trong đó. Không có Tàu ở Điện Biên Phủ như
Dulles đã khẳng định. Bộ Tổng Tham
Mưu của Pháp nói rằng không có một tù binh nào, sống cũng như chết, là
Tàu. Năm 1959, một viên chức Nam Việt
Nam – khó có thể là thân Cộng bị tuyên truyền – nói về “lực lượng
tối tân và mạnh mẽ của Pháp bị đánh bại bởi những chiến sĩ Việt
Nam trang bị yếu kém về vũ khí mà..chưa từng có sự tiếp tay của quân
đội Nga hay Tàu.”
Pháp, với sự viện trợ của Mỹ lên tới nhiều trăm triệu đô la,
bị đá khỏi Đông Dương bởi những dân bản xứ, với quân cụ cung cấp
bởi Trung Quốc và Nga Sô, và Mỹ toan
tính can thiệp vì cho là sự tiếp nhận viện trợ của Việt Minh từ các
nước khác là một tội ác đối với nhân loại, với nền văn minh Tây phương,
và Ki Tô Giáo.
Tướng Navarre cũng phụ họa luận điệu là Trung Quốc đã can thiệp,
cho rằng Trung Quốc không có quyền vào Việt Nam như Pháp.
Jules Roy tóm tắt thật hay như sau:
“Những lời tuyên bố của John Foster Dulles và Tướng Navarre về những
chuyên viên Trung Quốc đơn giản chỉ là truyền cảm ý muốn bào chữa cho
những sự thất bại của họ.”
(5 April before the House Foreign Affairs Committee Dulles got hysterical about
Chinese aid to the Vietminh and said it amounted to direct intervention. American reaction to this “might not be confined
to Indochina.
He was threatening China with war.
The root of Dulles’ problem was that if the Vietminh were beating the French, and
if Vietnam belonged to the Viets – what the hell right did any other nation have to come
in and fight for France? Dulles’ answer
was that the Viets were not beating France – it was the Chinks. They had invaded Vietnam and France was resiting
their invasion, as the US resisted the invasion of South Korea.
Only trouble – there wasn’t a word of truth toit. There were no Chinese at Dien Bien Phu, as Dulles
claimed. The French General Staff said no
prisoners, wounded or dead had been identified as Chinese.
In 1959 a South Vietnamese – hardly prone to pro-Communist propaganda –
spoke of “powerful modern French armies defeated by poorly armed Vietnamese fighters
who...never were helped by Russian or Chinese troops.”
The French, with hundreds of millions in American aid, were getting kicked out of
Indochina by the natives, who got thei supplies from China and Russia, and the US was
trying to intervene as if the acceptance of aid by the Vietminh from other nations
constituted a crime against humanity, Western civilization, and Christianity.
General Navarre also echoed the line that the Chinese were “intervening” as if
China has less right to be in Vietnam than the French.
Jules Roy summed it up well.
“ ....The statements made by John Foster Dulles and General Navarre about Chinese
technicians were simply inspire by their desire to explain away their failures.”)
Tưởng chúng ta cũng nên đọc thêm nhận định của Giáo sư Mortimer
T. Chohen về chiến thắng Điện Biên Phủ:
“Điện Biên Phủ là sự diễn đạt tinh thần quốc gia và sự hãnh
diện của người Việt mạnh nhất về một
biến cố trong dòng lịch sử của họ. Có
một đứa trẻ nào ở trong làng mà không biết đến những chiến thắng
đối với Trung Hoa và Mông Cổ - hai lực lượng quân sự mạnh nhất ở Á
Châu? Những biến cố này và cuộc
tranh đấu ngàn năm chống ngoại xâm đã được lồng vào trong văn học,
ca nhạc, và châm ngôn của họ. Đối với người Việt, Điện Biên Phủ
là một trận chiến khác trong đó họ đã đánh bại quân xâm lược. Và hầu hết mọi người, bất kể là thuộc
tôn giáo, tầng lớp xã hội nào, hoặc phục vụ cho quân đội Pháp, đều
hãnh diện vì nó.
Người Mỹ có hiểu được như vậy không?
Người Mỹ có biết gì về Việt Nam và lịch sử, văn hóa Việt Nam
không? Hoàn toàn không.”
(Dien Bien Phu was the expression of that Viet nationalism and pride which had been
the strongest single event in the course of their history.
Was there a village schoolchild who did not know of the victories over the Chinese
and Mongols – the two leading military powers in Asia?
These events and the millenium old struggle against foreigners were woven into
their literature, their songs, their proverbs. To
the Viets Dien Bien Phu was another battle in which they had defeated the invaders. And most of them, regardless of religion, social
class, or service with the French armed forces, were proud of it.
Did the Americans understand this? Did
they know anything about Vietnam and its history, its culture? Nothing. (Mortimer T. Cohen in From Prologue to Epilogue in Vietnam, N.Y., 1979,
p. 206))
Thật ra, chúng ta bàn luận qua lại chỉ để mà chơi, vì cốt lõi của
vấn đề nằm trong sự nhận định sâu sắc trên của Giáo sư Mortimer T.
Cohen: mọi người Việt Nam đều có quyền hãnh diện với chiến thắng Điện
Biên Phủ. Đúng vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ là của nhân dân Việt
Nam, đoạt được bằng sự hi sinh xương máu của người Việt Nam, từ Tướng
Tá tới các binh sĩ, từ các dân công cho đến các thường dân, bất kể
là ai chủ trương đánh chắc tiến chắc. Tất cả những luận bàn trí thức
hay không trí thức về vai trò của cố vấn Trung Cộng ở Điện Biên Phủ, đối với tôi, đều
là không thích hợp (irrelevant).
Đó là vài điểm về Điện Biên Phủ.
Chúng ta hãy sang phần Hiệp Ước Genève.
Tôi sẽ không bàn tới phần này của tác giả nhưng theo ý tôi, Hiệp
Ước Genève có hai điều khoản rất quan trọng trong bản Tuyên Cáo chung,
nói lên sự kiện tại sao Việt Minh chịu ký trong khi đang thắng thế về
quân sự và theo một bản đồ của Navarre năm 1953 thì Việt Minh đã kiểm
soát 75% lãnh thổ. Tôi trích dẫn nguyên văn hai điều khoản
này sau đây để chúng ta thấy rõ vấn đề, tạm coi như là để thêm
chút ít tài liệu mà tôi cảm thấy thiếu trong phần viết về Hiệp Ước
Genève của tác giả Chính Đạo.
1. Đoạn (6) [Paragraph (6)] nguyên văn như sau:
“Hội
Nghị nhận thức rằng mục đích chính yếu của Thỏa Hiệp về Việt Nam
là dàn xếp những vấn đề quân sự trên quan điểm chấm dứt những đối
nghịch quân sự và rằng ĐƯỜNG RANH GIỚI QUÂN SỰ LÀ TẠM THỜI VÀ
KHÔNG THỂ DIỄN GIẢI BẤT CỨ BẰNG CÁCH NÀO ĐÓ LÀ MỘT BIÊN GIỚI PHÂN
ĐỊNH VỀ CHÍNH TRỊ HAY ĐẤT ĐAI . Hội Nghị bày tỏ sự tin tưởng là thi
hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn này và trong Thỏa Hiệp ngưng
chiến sẽ tạo nên căn bản cần thiết để trong tương lai gần đạt tới
một sự dàn xếp chính trị ở Việt Nam”
(The Conference recognizes that the essential purpose of the Agreement relating to
Vietnam is to settle military questions with a view to ending hostilities and that THE
MILITARY DEMARCATION LINE IS PROVISIONAL AND SHOULD NOT IN ANY WAY BE INTERPRETED AS
CONSTITUING A POLITICAL OR TERITORIAL BOUNDARY. The
Conference expresses its conviction that the execution of the provisions set out in the
present Declaration and in the Agrrement on the cessation of hostilities creates the
necessary basis for the achievement in the near future of a political settlement in
Vietnam.)
2.
Và phần đầu của đoạn (7) nguyên văn như sau:
“Hội
Nghị tuyên cáo rằng, về Việt Nam, sự dàn xếp những vấn đề chính trị,
thực hiện trên căn bản tôn trọng những nguyên tắc về nền độc lập,
sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ khiến cho người dân Việt Nam
được hưởng những quyền tự do căn bản, bảo đảm bởi những định
chế dân chủ được thành lập như là kết quả của một cuộc tổng tuyển
cử bằng phiếu bầu kín.” [Được ấn định vào tháng 7, 1956].
(The Conference declares that, so far as Vietnam is concerned, the settlement of
political problems, effected on the basis of respect for the principles of independence,
unity and territorial integrity, shall permit
the Vietnamese people to enjoy the fundamental freedoms, guaranteed by democratic
institutions established as a result of free general elections by secret ballot..)
Ở miền Nam, người ta thường diễn giải sai lầm đoạn (7) ở trên,
và một trong những lý luận biện minh cho sự kiện Tổng thống Ngô Đình
Diệm từ chối không tổ chức Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 là cho rằng
trong vòng kiểm soát của Việt Minh không có tự do, dân chủ, nên ông Diệm
có quyền từ chối, không tuân hành Hiệp Ước Genève, tổ chức tổng tuyển
cử. Nhưng đọc kỹ đoạn trên,
chúng ta thấy rằng một cuộc tổng tuyển cử do quốc tế kiểm soát
không tùy thuộc vào các định chế tự do, dân chủ ở trong mỗi vùng rút
quân, mà tự do dân chủ là những quyền phải được bảo đảm bởi các
định chế được thành lập sau kết quả (as a result) của cuộc tổng tuyển
cử.
Thay Lời Kết.
Tôi đã đọc một số sách của anh Vũ Ngự Chiêu và đã từng tán
thưởng công phu nghiên cứu tìm tòi tài liệu của anh. Trong bài Từ
Điện Biên Phủ Tới Geneva, số tài liệu dẫn chứng quả là vô cùng
phong phú, một điều mà ít người làm được. Từ đây, người đọc lãnh
hội được một kiến thức với nhiều chi tiết về hai biến cố: Chiến
thắng Điện Biên Phủ và Hiệp Định Genève. Tuy
nhiên tôi phải thú thực rằng, tôi không mấy “chịu” cái lối viết của
anh. Bởi vì, có lẽ vì bản chất là
một “thiên thần mũ đỏ”, là một nhà văn nổi tiếng, và nắm trong
tay hai bằng tiến sĩ của Mỹ, cho nên lối viết của anh rất độc đáo.
Độc đáo ở chỗ nửa Mỹ, nửa Việt, và rất là tùy tiện, tùy hứng.
Điều này chúng ta thấy rõ trong bài trên và trong một số sách của anh
mà tôi đã đọc. Lẽ dĩ nhiên, chuyện
tôi không chịu là chuyện của tôi, và tôi cũng không hề có ý định muốn
anh thay đổi lối viết. Nhưng để
cho vấn đề được rõ ràng, tôi cần phải nói lên là tôi không chịu ở
chỗ nào.
Chúng ta hãy lấy vài thí dụ về cách dùng từ và dịch từ của
anh, chứng tỏ anh ta có một đầu óc rất phóng khoáng, thích viết thế
nào thì viết, không câu nệ những điều nhỏ nhặt trong quy luật viết
văn Việt mà những “Mít” thường không phải là sử gia như chúng ta cứ
phải khư khư tự buộc chặt vào đó, và như vậy, anh không hề quan tâm
đến phản ứng của người đọc.
Trong vấn đề chua tên tiếng Việt cho những địa danh ngoại quốc có
vẻ như anh đã rất tùy tiện và tùy hứng, không nhất quán, có thể gây
khó khăn cho người đọc. Thí dụ,
Ireland anh chua trong dấu ngoặc là Ái Nhĩ Lan, Panmunjon là Bàn Môn Điếm,
Norway là Na-Uy v..v.. , những tên quen thuộc với người Việt, nhưng
Washington lại là “Oat-shinh-tân” thay vì Hoa Thịnh Đốn, Moscow là Mat-scơ-va
thay vì Mạc Tư Khoa, và Philippines thì để nguyên (trong bài: Philippines, Đài
Loan và Nhật). Khi phiên âm thì Britain
(chính ra là Great Britain, nghĩa là Anh quốc) anh phiên âm thành Bri-tên, rất
đúng. Nhưng Geneva là Giơ-neo-vơ và Washington là Oat-shinh-tân thì nghe hơi
chướng, không đúng lối phiên âm. Viết tên các nhân vật lịch sử, khi
thì anh để nguyên, khi thì anh phiên âm, lúc thì anh viết họ (last name),
lúc thì anh viết tên tục (first name), và đặc biệt là viết các tên trống
không theo kiểu Mỹ, có thể làm mất cảm tình của các độc giả người
Việt. Thí dụ, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp thì anh viết là Giáp (first name) trống không, Chủ tịch Hồ
Chí Minh thì anh viết là Hồ (Last name), Mao Trạch Đông là Mao (Last name),
Chu Ấn Lai là Lai (First name) v..v..
Người Mỹ thường có thói quen gọi mọi người, thân cũng như không
thân, không phân biệt địa vị, chức tước, và cả bố mẹ, chú bác, cô
dì, anh chị, bằng tên tục (first name) trống không. Thí dụ Bush (Tổng thống Hoa Kỳ) thế
này, Bush thế nọ. Nhưng người Việt Nam chúng ta ít ai gọi
những người có tên tuổi một cách mà chúng ta thường gọi là xách mé
như vậy. Văn hóa mỗi nước một khác,
tiêu chuẩn lễ phép của mỗi quốc gia cũng khác. Tuy chúng ta là công dân Mỹ, chấp nhận Mỹ
là quốc gia thứ hai, nhưng tôi cho rằng chúng ta không nên viết văn Việt
theo kiểu Mỹ. Nếu ai viết lịch sử
Việt Nam mà viết Đức Trần Hưng Đạo là Đạo trống không, hay Bà Triệu
Ẩu là Ẩu v..v.. thì quả thật tôi không ưa được. Có thể tôi nghĩ như vậy vì đã thuộc lớp
tuổi già, cố chấp, cổ hủ. Nhưng
đó là những ý nghĩ chân thành của tôi và không thiếu thiện chí trong đó.
Cuối cùng, tôi xin có vài lời với trang nhà Giao Điểm. Tôi hi vọng Giao Điểm không phải là diễn
đàn để thảo luận về đời tư của bất cứ ai, hay để chuyển sự
xung đột Quốc-Cộng giữa hai miền Nam Bắc, đã chấm dứt 29 năm rồi, thành
sự xung đột Quốc-Cộng giữa những cá nhân.
Viết xong ngày Mother’s Day,
lúc 13:30, tại Grayslake, Illinois.
In ra @
Modified by Web Giaodiem
CThe best: set screen res. 1024 x 768 | Browser IE v. 5.0 or higher | mail: set Outlook Exp. [copyright:MedSoft]
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: hopthu@giaodiem.net