
Hoàng Nguyên Nhuận Chuyến về của
Thiền sư đã hơn được nửa đường. Hà Nội, rồi! Sài Gòn, rồi!
Giờ là Huế và Bình Định . Thiền
sư không đủ thì giờ để đi
Tây nguyên, Miền Tây chưa có cơ duyên đón chào Thiền sư. Xin chờ lần
tới. Jamais un sans deux. Đây là lý do tại sao Hoàng tôi xin mượn
ý của Trịnh công Sơn làm đề tựa cho một vài cảm nghĩ quanh chuyến về
này. Thiền sư Nhất
Hạnh đã về được một lần, Thiền sư sẽ trở lại, bởi quê hương cần
Thiền sư và Thiền sư cũng cần quê hương. Mấy mươi năm rồi, Thiền
sư đã chọn một pháp tu dễ nhất mà cũng là khó nhất đó là yêu mình bằng
cách yêu quê hương đồng bào. Yêu mình thì dễ, ngay cả yêu cái ước
vọng Niết Bàn giải thoát, nhưng tự giải thoát bằng cách giải thoát kẻ
khác là điều đại khó. Thiền sư là người đã thực chứng phương
trình yêu mình = yêu đạo + yêu nước. Nghĩ rằng
tu là ngồi yên một chỗ nhắm mắt hít thở chờ giải thoát là hoang tưởng.
Nếu Phật ngày xưa chỉ sống với phương trình yêu mình = yêu đạo thì sau khi
giác ngộ, Phật cứ thẳng đường nhập Niết Bàn, mắc chi phải ôm bình
bát lang thang bụi đời ngót nửa thế kỷ trước khi tịch diệt? Hoa Sen Thực Sự
Nở Trong Lò Lửa Bằng phương
trình yêu mình = yêu đạo + yêu nước, mấy chục
năm qua, Thiền sư Nhất Hạnh không tu dùm, Thiền sư chỉ tu cùng và tu với. Quá trình
đó gắn liền với Hoa Sen Trong Biển Lửa và Nói Với Tuổi Hai Mươi.
Trở về quê hương lần này, Thiền sư hẳn thấy hoa sen thực sự đã
nở trong lò lửa. Lò lửa của bao nhiêu năm chinh chiến với những cập
lụy oan khiên của nhân họa và thiên tai. Còn tình thương, còn tình
người, còn ước vọng tự lực thăng tiến, còn tự trọng tự ái dân tộc
là còn tất cả. Một số người Do Thái trở thành thiên tài vì tuyệt vọng
mất quê hương. Thiền sư Nhất Hạnh trở thành thiên tài vì Thiền sư
thấy Thiền sư có quê hương, một quê hương không hận thù, không phụ rảy,
một quê hương cần Thiền sư trong lúc đang ngoi lên từ cảnh đói cơm rách
áo, để tiến tới ăn no mặc ấm trong ước vọng ăn ngon mặc đẹp. Tăng đoàn gồm
hơn hai mươi quốc tịch khác nhau tháp tùng phù trợ Thiền sư trong chuyến
về này không phải là một biểu hiện của quốc tế chủ nghĩa trong đó
lòng ái quốc và Việt tính sẽ bị lên án như một chủ nghĩa dân tộc cực
đoan. Phật pháp không phân biệt biên giới quốc gia chủng tộc, nhưng
Phật giáo không phải là một tôn giáo đòi hỏi người ta phải quên quê
hương đồng bào. Phật giáo là Phật giáo Việt Nam, chứ không phải
là Phật giáo tại Việt Nam và tầng lớp lãnh đạo sơn môn không cần
phải qua Ấn Độ, Trung quốc hoặc
một nơi nào khác để được phong Tăng Thống,
Hoà thượng, Thượng Tọa, Đại Đức mới đủ tư cách sống đạo và
hành đạo. Tôn giáo không tự trị thì sẽ chỉ có những nhà tu bị
trị, những thừa sai hành động theo lệnh tha nhân. Phật Giáo Là Đạo
Của Thời Đại Ý nghĩa thứ
hai trong chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh là tăng niềm tin của Phật
tử Việt Nam về một cách hành trì, tu tập và phục vụ thích hợp không
chỉ cho quốc gia mà cả cho những người ngoài biên giới và truyền thống
Việt Nam chứ không chỉ là Phật giáo tiền Genève như ở Miền Bắc, hay
tiền Paris như ở Miền Nam. Thật vậy, trong khi Phật giáo Miền Bắc
còn lấn cấn với tình trạng sống đạo của thời tiền thống nhất 1951
thì Phật giáo Miền Nam lận đận với ước vọng độc lập quốc gia và
hòa bình dân tộc cho đến khi hòa bình độc lập và thống nhất được
phục hồi. Năm 1975 đánh dấu một khúc quanh lịch sử, đất nước có những nhu cầu mới, những định hướng mới đòi hỏi Phật sự phải thích ứng và cập nhật. Phương thức hành trì tu tập mà Thiền sư Nhất Hạnh xướng xuất là một cách đáp ứng những đòi hỏi Phật sự đó. Cho nên, nếu trước năm 1975, Thiền sư đã can đảm và mạnh dạn lên tiếng phản đối nạn kỳ thị đàn áp tôn giáo, lên tiếng phản đối chiến tranh kêu gọi hòa bình thì pháp âm của Thiền sư cũng đã vang lên trước nghịch cảnh huynh đệ tương tàn ở Do Thái-Palestine, khi hai cao ốc WTC bị đánh sập, khi chiến tranh Iraq bùng nổ và khi những tsunami cuồng nộ tàn phá một phần Á châu… Thiền sư cũng là người
biết cách nói cho người Trung quốc hiểu để cởi trói văn hóa cho dân tộc
Tây Tạng, để hòa hợp hòa giải với Đài Loan, để thực thi một chính
sách tôn giáo tự trị vượt khỏi mọi thao túng và khuynh loát quốc tế.
Đoàn tăng thân quốc tế với nhiều quốc tịch khác nhau tháp tùng
Thiền sư trong chuyến về này chứng tỏ phần nào tinh thần tiếp hiện nhập
thế mà Thiền sư muốn chia xẻ không chỉ với quê hương mà cho cả nhân
loại. Hợp Tác và Bất
Hợp Tác Ngày trước,
Thiền sư Nhất Hạnh và Phật giáo tại Miền Nam đã bị những thành phần
CCCB-CCCĐ lên án là tiếp tay làm sụp đổ Miền Nam, trong khi những thành
phần cực đoan ở Miền Bắc lúc thì xem Phật giáo như một bộ phận thành
thị của MTDTGP hay của Miền Bắc, nghĩa là âm vang hay cái bóng của
CHXHCN, lúc lại tố cáo Phật giáo là công cụ ngoại quốc. Lịch sử
đã và đang chứng minh cả hai điều không phải như thế. Phật giáo
là Phật giáo, không là bóng hình âm vang của ai cả. Phật giáo có
con đường riêng của Phật giáo để chấm dứt chiến tranh, thực hiện thống
nhất hòa bình. Con đường đó là độc lập quốc gia, hòa bình
dân tộc và cách mạng xã hội. Chừng nào các chính quyền Miền
Nam, MTDTGP hay chính quyền Miền Bắc theo đuổi những mục tiêu đó thì tất
nhiên phải thừa nhận và ủng hộ Phật giáo, đi xa những mục tiêu đó
thì tất nhiên phải phủ nhận và tìm cách khuynh loát triệt hạ Phật
giáo. Và quả thật có lúc Phật giáo đã tứ bề thọ khổ. Nếu chính quyền
và Phật giáo hôm nay có những điểm tương đồng khả dĩ đối thoại và
hợp tác, như đang xảy ra trong chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh, thì
đó chính là các điểm độc lập, hòa bình và cách mạng vừa nêu trên.
Và chừng nào chính quyền vẫn theo đuổi thực hiện những điểm
tương đồng đó thì Phật giáo sẽ hợp tác và hỗ trợ, phải hợp tác
và hỗ trợ. Đó không phải là điều kiện, đó là quy luật lịch sử.
Chính những người hữu trách đương nhiệm cũng phải nhận rằng trong ba mươi năm kháng chiến, khi nào theo đúng truyền thống dân tộc và giữ đúng Việt tính thì chính quyền thành công, khi nào nhắm mắt vội vàng áp dụng những chủ trương chính sách ngoại nhập thì vấn đề xuất hiện, và xuất hiện một cách trầm trọng đau thương dai dẳng. Miền Bắc làm gì có giai tầng kulak đại địa chủ và nông nô theo quan niệm của Trung quốc hay Nga Xô, tại sao cải cách ruộng đất và chính huấn lại được đem ra thi hành ồ ạt? Tại sao phải rập khuôn cái bẫy Bách Hoa Tề Khai của Trung quốc để bày ra Trăm Hoa Đua Nở với một mùa gặt ác bi đát? Chiến tranh Việt Những thành phần hữu trách sáng suốt đương nhiệm còn thấy được điều ấy thì làm sao những người Phật tử hữu tâm có thể chấp nhận, ủng hộ khoan nói là hợp tác với những vọng ngoại sai lầm lịch sử đó. Những nhận định và phê phán cần thiết đó quả thực cũng chẳng mới lạ gì. Nhưng lâu nay một số nhận định và phê phán ồn ào nhất lại phát xuất từ những người cũng có một quá trình vọng ngoại không kém, do đó đã bị nghi ngờ như là thua cay, cơ hội chủ nghĩa hay công cụ ngoại lai. Thật vậy, cho đến hôm
nay thì những người này mới ‘đấu tranh’ cho nhân quyền, tự do dân chủ,
tự do tôn giáo và không giải thích tại sao Pháp đến họ theo Pháp, Mỹ
đến họ theo Mỹ. Họ cầu nguyện hòa bình cho Việt Nam nhưng trong
chiến tranh khi Mỹ ngưng oanh tạc Miền Bắc để tạo điều kiện hòa đàm
thì họ phản đối, cũng như khi Pol Pot và Đặng tiểu Bình đánh phá biên
giới thì họ hồ hởi khấp khởi đợi
chờ. Và hoà bình, nhân
quyền kiểu gì khi quân đội Mỹ tấn công Iraq, thay vì "chắp tay nguyện
cầu cho bồ câu trắng" thì họ lại (ảo tưởng) nguyện cầu cho quân
đội Mỹ thẳng đường trở lại Việt Nam! Người Tạo Thời
Cơ Ý nghĩa thứ
ba trong chuyến về này là tác dụng khả hữu của Thiền sư Nhất Hạnh đối
với tuổi trẻ Việt Thế hệ trẻ hôm nay sẽ có cơ duyên thực chứng những
quan hay công án thường thấy nơi Thiền sư như ý nguyện tiếp hiện,
phong cách tỉnh giác, thư thái, nghệ thuật, không gò ép khổ hạnh, tu để
thấy vui và thấy vui mà tu, tu như sống và sống như tu, mình vì mọi người
mọi người vì mình. Đem tuổi trẻ Việt Và Thiền sư Nhất Hạnh chắc sẽ làm được. Thiền sư Nhất Hạnh hẳn sẽ có cơ duyên khai thị cho thế hệ trẻ Việt Nam thấy rõ họ là thành phần chủ lực và chủ động để triển khai những điểm mạnh mà Việt Nam đang may mắn có được để kiên trì góp phần xây dựng một Việt Nam đủ sức, đủ tài trí để ‘anh dũng oai hùng chen chân thế giới’ như một lời nhạc của Nguyễn văn Đông. Chỉ cần lớp trẻ quyết tâm, và chắc chắn Thiền sư Nhất Hạnh có cách nhắc nhở họ điều ấy. Bởi Thiền sư Nhất Hạnh là người có biệt tài tạo ra biến cố. Chưa ai quên là chỉ một
bài Giọt Mưa Trên Lá, Thiền sư đã quạt bùng lên cả một phong
trào thơ, văn, nhạc phản chiến mơ hòa bình. Chỉ một bài Bông Hồng
Cài Áo cũng đủ tạo thành truyền thống ghi khắc và ca ngợi tình gia
đình mẫu tử. Chưa kể phong trào kibbutz Thanh Niên Phụng Sự
Xã Hội, chưa kể dòng Tiếp Hiện, chưa kể thiền xuống đường,
thiền giữa phồn hoa… Hòa Hợp Hòa Giải
Với Mình Với Người Ý nghĩa thứ tư có thể thấy trong chuyến về này là Phật tử có cơ hội thấy được cuộc ‘nội chiến’ giữa Phật giáo với chính quyền và Phật giáo với Phật giáo lâu nay qua những cặp sắc tướng như thân chính-đối chính, quốc gia-quốc doanh là vô bổ và không lợi gì cho nhu cầu Phật sự cả. Kẹt vào những cặp sắc tướng đó nên Phật giáo đã dậm chân tại chỗ trong khi các tôn giáo khác đủ thời giờ và điều kiện để thực hiện biến động Tây nguyên, chui sâu trèo cao vào mọi cơ cấu chính quyền, dành dân lấn đất ở duyên hải, biến La Vang Quảng Trị thành một Gdansk mơ ngày hiện thực diễn biến hòa bình. Thiền sư Nhất Hạnh
không phải, và chưa hề tự xưng là Hội Chủ, Pháp Chủ, Tăng Thống, Thượng
Thủ, Vô Thượng Sư. Thiền sư chỉ là một Sư ông, một người Thầy, một thiền sư của
Làng Mai. Thiền sư khéo léo từ
chối danh xưng Viện Chủ, Hoà thượng trong các buổi pháp thoại. Nhưng
Phật sự và ảnh hưởng của Thiền sư, của Làng Mai vể mọi phương diện
là điều hiển nhiên. Những quan hệ oan khiên tiêu cực giữa Phật
giáo và chính quyền, ít nhiều vẫn còn đó và cần thời gian cũng như thiện
chí của cả hai phía để tháo gỡ chứ không phải để làm trầm trọng
thêm vì tự ái, vì tư lợi, vì vô minh và sân si. Tiếng Vọng Từ
Đáy Giếng Quanh chuyến về
của Thiền sư Nhất Hạnh, lác đác cũng thấy có một vài lời phản đối.
Thô bạo, dung tục và ồn ào nhất là của Võ văn Ái, phát ngôn viên
của GHPGVNTN Hải Ngoại, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, Pháp, Đức …
của quý ngài Tâm Châu, Hộ Giác, Quảng Ba. Họ hi vọng và đòi hỏi
Thiền sư Nhất Hạnh phải lặp lại những điệp khúc nhân quyền, tự do
tôn giáo, tự do dân chủ của họ. Nhưng Thiền sư Nhất Hạnh là
con phượng trên mây chứ không phải là con gà trên đỉnh núi. Những người chống chuyến về của Thiền sư Nhất Hạnh cũng không từ nan dùng đến những đòn bá đạo như tung hỏa mù về chuyện đời tư, tiền bạc. Phải dùng đến những đòn bá đạo đó thì cũng đủ thấy họ đã bế tắc, bất lực và tuyệt vọng như thế nào. Võ văn Ái còn thác lời HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ rằng hai vị này đã tẩy chay không gặp Thiền sư Nhất Hạnh. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên, bởi lý hai vị này mà gặp Thiền sư Nhất Hạnh mới là điều ngạc nhiên. Gặp Thiền sư là xác nhận những điều lâu nay họ lên án như vi phạm nhân quyền, chà đạp tự do tôn giáo … là không thực. Bằng chứng là Thiền sư Nhất Hạnh ‘là’ thượng khách của chính quyền, ‘là’ làm lợi cho chính quyền như phát ngôn viên của họ là Võ văn Ái tố cáo, thế mà họ vẫn dám không gặp! Điều đáng ghi nhận
là HT Quảng Độ và TT Tuệ Sĩ tự do không gặp Thiền sư Nhất Hạnh và cũng
tự do không tuyên bố lời nào, ngay cả để giải thích tại sao họ làm
như vậy. Quý vị đó chịu giảm thiểu trận giặc ngôn từ vô bổ
như thế là điều đáng mừng rồi. Cũng còn một số khác cũng không
muốn Thiền sư Nhất Hạnh về đó là HT Thiện Hạnh, TT Trí Tựu, ĐĐ Chí
Thắng, những tay chủ chốt của Tăng Đoàn, một sản phẩm chia để trị
dùng Tăng Ni chống Tăng Ni của chính quyền các cấp liên hệ thời đó
nhân tang lễ của Thiền sư Đôn Hậu mươi năm trước đây. Từ phía
ngoài, những thành phần CCCB-CCCĐ ngoan cường ngoại đạo dĩ nhiên là
không muốn Thiền sư Nhất Hạnh về. Nhưng họ không dại gì công
khai phản đối vì đã có những Phật tử CCCĐ như Võ văn Ái và những người
liên tôn cả tin làm chuyện đó thay họ rồi. Họ đang dành thời giờ,
phương tiện để chuẩn bị chiến dịch kỷ niệm 30 Năm Mất Nước bằng
ba giai đoạn ở Mỹ, ở Indonesia và ở La Vang Quảng Trị. Trước mắt
họ sẽ làm áp lực buộc chính quyền Việt Nam phải để cho Giáo Hoàng đến
La Vang, và biến nơi này thành một Gdansk để thao dượt kế hoạch diễn
biến hòa bình như ở Ba-lan 25 năm trước.
Thủ bản của kế hoạch có thể nói là quyển Đức Giáo Hoàng
John Paul 2 và Lịch Sử Bị Che Đậy Trong Thời Đại Của Chúng Ta, do
nhà xuất bản Công An Nhân Dân in năm 1997. Đây là bản dịch quyển His
Holiness John Paul 2 and the hidden history of our time của Carl Berstein và Marco
Politi. Trách nhiệm chuyển Việt là Nguyễn Bá Long và Trần Quý Thắng. Hi vọng
Nguyễn Bá Long này không phải
là Nguyễn Bá Long ở Sau hết, một
thành phần khác cũng không muốn chuyền về của Thiền sư có một tác dụng
nào đó là thành phần đã được Hồ Chí Minh cảnh giác khi
đọc bốn vần tắt chỉ Liên Bang Xô Viết có dạng như là CCCP. Hồ Chí Minh đã phiên âm bốn
vần CCCP đó ra thành: còn của cứ phá-các chú cứ phá-các con cứ phá-còn chi cho phá. Tham ô cửa quyền.
Đây không phải là một căn bệnh đặc thù Việt Một Cách Cám Ơn
Thiền Sư Nhất Hạnh Linh hồn của
phong trào Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội là Nhất Chi Mai người đã tự
thiêu vì hòa bình Việt Nhân chuyến về của Thiền
sư Nhất Hạnh, Hoàng tôi trộm nghĩ chính quyền có thể mạnh dạn đi bước
trước bằng một cách ghi nhớ đẹp và khiêm cung nào đó, ví dụ như một
tượng đài, một tên đường, một công viên…, để trợ duyên cho Thiền
sư, Sư Bà Chân Không và Làng Mai trước tiên, thứ nữa là cho Phật tử Việt
Nam tưởng niệm và ghi khắc công đức của một người đã yêu quê hương
bằng thân mạng của chính mình. Tạm Thay Kết Luận Hoàng tôi đã mở đầu
với đề tựa bản nhạc của Trịnh công Sơn. Một cõi đi về. Để
kết luận, xin mượn thêm câu mở đầu trong bản nhạc của Trịnh công Sơn:
Khác chăng là chuyến đi
về này, Thiền sư Nhất Hạnh và đoàn tăng thân tháp tùng đã không phải
gặp những
như Trịnh công Sơn từng
than thở. Bởi đâu đâu Thiền sư và đoàn tháp tùng cũng được đón
chào bằng những nụ cười vui hiền và những bàn tay hình búp sen của những
người cảm mến. Để đón người về, để
tiễn người đi và chờ đợi để đón người về lần nữa, lần nữa và nhiều lần nữa. Hoàng Nguyên Nhuận Trên đường trở về
nơi hạ trại, 2/2005. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com