205-giaodiem.gif (5834 bytes)

posted: 14.02.05

NHỮNG TRƯỜNG HỢP LÀM MẤT CHÍNH NGHĨA [font: tahoma]

Nguyễn Mạnh Quang

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng, tạo được chính nghĩa lến nắm chính quyền đã là một việc làm vô cùng khó khăn, nhưng giữ (duy trì) được chính nghĩa để tiếp tục nắm quyền cai trị nhân dân cũng không phải là dễ, và thường thường còn khó khăn hơn cả việc tạo nên chính nghĩa để lên nắm chính quyền. :

Có hai trường hợp làm mất chính nghĩa để rồi rơi vào tình trạng không còn xứng đáng tiếp tục nắm quyền lãnh đạo quốc dân. Hai trường hợp này là :

A.- Không làm tròn nhiệm vụ của người lãnh đạo quốc dân. Những nhiệm vụ này là:

1.- Phải hết lòng tận tâm tận sức lo cho phúc lợi của nhân dân đúng như Nho giáo đã dạy: “Dân chi sở ố, ố chi; dân chi sở hiếu, hiếu chi; sở vị dân chi phụ mẫu.” và phải vui sau khi dân vui và lo trước khi dân lo, phải biết cùng chìm nổi với nhân dân.

2.- Phải biết bảo toàn lãnh thổ của đất nước. Làm vua một nước hay làm tổng thống lãnh đạo quốc dân cũng giống như một ông tướng giữ thành. Thành mất thì phải chế theo thành.

B.- Làm dụng quyền hành.  Những hình thức cụ thể như gây bè kết đảng, ưu đãi bọn tay sai để củng cố quyền lực, áp bức và bóc lột nhân dân, giết hại dân lành và những người bất khuất để duy trì quyền lực.  Trường hợp này xẩy ra rất thường trong lịch sử nhân loại. Lý do dế hiểu là vì một khi đã có quyền lực trong tay rồi thì chính quyền lực là miếng mồi xô đẩy những người có quyền lực vào việc sử dụng các phương tiện của nhà nước để biệt đãi  một nhóm thiểu số tay sai (thiên vị)  nhằm gây bè kết đảng. Người cầm quyền có thói quên coi việc nước như việc riêng của cá nhân và gia đình, gây nên bất công trong xã hội. Một khi chính quyền đã làm những việc bất công thì nhân dân sẽ  bất mãn và chống đối. Khi đó  thì nhà lãnh đạo chính quyền và những nhân vật nắm giữ những chực vụ quan trọng trong chính quyền đó đã hoàn toàn mất   hết chính nghĩa rồi, không còn có cơ may nào cứu vãn được nữa.

Lịch sử nhân loại đã có nhiều trường hợp lên nắm chính quyền và có quyền hành quay ra lạm quyền, gây ra những tội ác trời không dung đất không tha, tức là làm mất chính chính nghĩa. Như vậy là ở vào cái thế không còn xứng đáng tiếp tục ở lại chính quyền quản lý công việc cai trị nhân dân.

Cái sai lầm vĩ đại của những người cầm quyền cai trị đất nước và giai cấp thống trị là họ hay lầm tưởng rằng đã ngồi vào trong ngai vàng hay ở trong  chức vụ tổng thống là có thể:

1.- Ăn nói ngược ngạo.

2.- Làm bất cứ điều gì theo ý muốn của mình mà không cần biết đến những nỗi thống khổ của nhân dân. Nói một cách rõ ràng hơn là làm những việc làm tội ác hại dân hại nước.

Dưới đây là một vài  trường hợp điển hình đã xẩy ra trong lịch sử.

A.- KHÔNG LÀM TRÒN NHIỆM VỤ CỦA NHÂN DÂN GIAO PHÓ

Đây là trường hợp của vua Tự Đức của nhà Nguyễn bất lực trong việc chống quân thù xâm lược để bảo vệ chủ quyền độc lập của đất nước. (Nước ta lúc bấy giờ còn được gọi là Đại Nam.) Khởi đầu  của việc bất lực này là nhà vua đã cúi đầu chấp nhận Hiệp Ước Nhâm Tuất 1862 (ký ngày 5/6/1862 tức ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất) với những điều khoản do Liên Minh Xâm Lược Pháp - Thập Ác Vatican đưa ra một cách trịch thượng và ngang ngược. Dưới đây là những điều khoản này:

1.- Từ nay trở đi các nước Pháp Lan Tây, Tây Ban Nha và Đại Nam vĩnh viễn giao hiếu với nhau.

2.-Người Pháp và Tây Ban Nha được tự do đến giảng đạo Thiên Chúa tại Đại Nam. Dân muốn theo đạo tùy ý, không có sự cấm đoán và cũng không có sự gì ép buộc.

3.- Đại Nam nhường đứt cho Pháp ba tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa. Thuyền bè của nước Pháp được tự do đi lại trên sông Cửu Long và các rạch miền Tây.

4.- Kể từ ngày hiệp ước ký kết xong, nếu có nước nào gây sự với Đại Nam thì nước Nam phải cho nước Pháp biết để liệu sự giúp đỡ. Nếu có việc cắt đất giảng hòa cũng phải có nước Pháp thỏa thuận mới được

5.- Công dân Pháp, Tây Ban Nha được ra vào buôn bán ở các cửa bể Đà Nẵng, Ba-lạt, Quảng Yên miễn là có nạp thuế theo lệ định. Công dân Việt Nam cũng đuợc đối đãi như vậy trên đất Pháp và Tây Ban Nha. Nếu người nước khác đến buôn bán, chính quyền Đại Nam không được ưu đãi họ hơn và nếu người nước này được hưởng điều lợi ích gì về thương mại thì công dân Pháp và Tây Ban Nha cũng được như vậy.

6.- Nếu có công việc gì khẩn yếu  thì mỗi nước cử một khâm sai đại thần để hội thảo tại kinh đô nước Nam hay tại kinh đô hai nước Pháp và Tây Ban Nha. Tầu Pháp, Tây Ban Nha đến nước Nam sẽ đậu ở Đà Nẵng rồi quan khâm sai sẽ do đường bộ tiến lên kinh.

7.- Đôi bên cùng trả ngay tức khắc các người bị bắt và tất cả tài sản của họ cùng của thân tộc  họ.

8.- Đại Nam bồi thường chiến tranh cho hai nước Pháp, Tây Ban Nha 4 triệu nguyên hạn trong 10 năm phải trả xong, mỗi năm phải nộp 400.000 (4 trăm ngàn) cho vị đại diện Pháp ở Gia Định. Hiện nay nước Pháp đã nhận được 100.000 (một trăm ngàn) đồng bạc đến khi nộp sẽ trừ số tiền này đi.

9.- Giặc cướp quấy nhiễu ở các đất thuộc Pháp lẩn trốn qua đất Việt cũng như giặc cướp ở các địa phương của Đại Nam chạy qua đất Pháp sẽ được đôi bên giải nộp cho các nhà cầm quyền sở quan.

10.- Từ ngày nghị hòa, dân chúng ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên muốn qua lại đất Nam thuộc Pháp làm ăn phải theo luật lệ của nước Pháp và nước Nam, không được chuyên chở binh lính và vũ khí qua các đất đã nhượng cho Pháp.

11.- Nước Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho Đại Nam nhưng tạm thời còn đóng binh tại đây cho tới khi bình định xong ba tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa.

12.- Hiệp ước này hạn trong một năm để hoàng đế ba nước duyệt lãm và phê chuẩn hỗ giao ở kinh đô Đại Nam.” [1] 

Nhận xét về hiệp ưỡc trên đây, sử gia Phạm Văn Sơn viết:

Hiệp Ước Nhâm Tuất có tính cách thế nào? Dĩ nhiên nó thiếu tính cách bình đẳng. Nó là một văn kiện ngoại giao trong đó kẻ mạnh ra lệnh, kẻ yếu phải cúi đầu tuân phục, và nhà sử học có thể viết thêm rằng: Đáng lẽ Hiệp Ước Nhâm Tuất phải ra chào đời sớm, vì tình thế nước nhà đã quá suy nhược. Hiệp ước bất bình đẳng này còn là hiệp ước đầu tiên của ta ký với Pháp. Hiệp ước này mở đầu cho cuốn vong quốc sử Việt Nam.” [2]

Việc ký nhận những điều kiện của Thỏa Hiệp Nhâm Tuất 1862 trên đây chứng tỏ Vua Tự Đức đã:

1.- Không còn đủ khả năng bảo vệ sự nghiệp của tổ tiên để lại cho dân tộc Việt Nam ta,

2.- Cúi đầu chấp nhận những điều kiện của Liên Quân Xâm Lược  Pháp – Vatican đưa ra,

3.- Vì quyền lợi riêng tư của cá nhân và triều đình, nhà Vua đã cúi đầu cắt đất nhường cho giặc để tiếp tục an tọa trong ngôi vị bù nhìn chủ tể của đất nước.

Đáng lý ra vua tôi nhà Nguyễn phải chủ động và tích cực học hỏi chiến lược, chiến thuật, đem hết khả năng về nhân lực, vật lực và tinh thần ra động viên nhân dân và điều binh khiển tướng để chống giặc tới cùng, nhưng tiếc rằng họ đã  không làm như vậy. Họ chỉ biết co lại trong đám quần thần thủ cựu tính chuyện bảo vệ quyền lợi riêng của họ hơn là quyền lợi của đất nước. Sự tính toán ích kỷ này đã khiến cho triều đình Huế đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, rồi cuối cùng nhường luôn cả nước cho giặc nắm quyền trị nước để được an toàn giữ lại cái ngôi vị bù nhìn làm trang trí và tay sai cho người ngoại bang.

 Sau khi vừa ký xong hiệp ước này, toàn dân ta lên án triều đình đã lừa dối nhân dân. Hai người đại diện cho triều đình Huế ký vào hiệp ước này là hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bị nhân dân ta coi như là những quân bán nước: “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân[3]. Bài thơ thất ngôn dưới đây của Cụ Phan Văn Trị nói lên niềm đau xót  của nhân dân ta trong việc triều đình Huế cúi đầu nhận chịu các điều kiện nhục nhã nhượng đất  cho Liên Minh Xâm Lược  Pháp – Vatican - Tây Ban Nha:

       Tò le kèn thổi tiếng năm ba,
       Nghe lọt vào tai luống xót xa.
       Uốn khúc sông rồng mù mịt khói.
       Vẳng ve thành phụng ủ sầu hoa.
       Tan nhà cám nỗi câu ly hận.
       Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa.
       Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ.
       Ngậm cười hết nói nỗi quan ta. [4]

Nhà Nguyễn đã mất hết chính nghĩa nắm quyền cai trị nhân dân. Ký Hiệp Định Nhâm Tuất 1862 nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican, nhà  Nguyền đã tỏ ra bất lực, không còn đủ khả năng để  bảo vệ lãnh thổ của tiền nhân để lại. Lãnh thổ đất nước là di sản của tiền nhân để lại cho cả  dân tộc và là của chung của dân tộc. Nếu người lãnh đạo quốc dân bất lực không làm tròn sứ mạng bảo toàn lãnh thổ của đất nước thì không còn xứng đáng tiếp tục ở lại ngội vị lãnh đạo quốc dân nữa. Người biết tự trọng phải biết tự động rút lui hay thoái vị nhường chỗ cho người khác có đủ tài đức lên thay thế để đảm đương việc nước. Nếu không tự động thoái lui thì nhân dân sẽ vùng lên đạp đổ và đưa người có khả năng thế vào đó.

Cũng may là dân tộc ta có tinh thần bất khuất với truyền thống chống giặc ngoại xâm qua lời dạy  Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Lời dạy này đã ăn sâu vào não tủy trong cơ thể của từng con dân nước Việt. Không thể khoanh tay ngồi yên để cho quân cướp xâm lăng hoành hành giầy xéo giang sơn, các nhà ái quốc miền Nam, rồi miền Trung và miền Bắc quyết tâm từ bỏ mái ấm gia đình lên đường vào chiến khu chiêu mộ các anh hùng nghĩa sĩ, tổ chức lực lượng nghĩa quân đuổi giặc cứu nước. Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Mai Xuân Thưởng, và hàng triệu con dân đất Việt khác, tất cả đều quyết tâm đem hết đời trai hay quãng đời còn lại hiến dâng cho tổ quốc để đòi lại quyền tự chủ cho quê hương và quyền làm người cho dân tộc.

Cũng vì lý do này mà ngay từ khi có một vị anh hùng hô hào liều thân chống giặc cứu nước thì toàn thể nhân dân, từ em bé 15 tuổi cho đến cụ già đầu bạc phơ phơ trên toàn lãnh thổ Việt Nam đều hăng hái lao đầu vào cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương. Đây là cuộc chiến vô cùng gay go kéo dài cả gần một thế kỷ. Một bên là liên quân giặc Pháp và Thập Ác Vatican với những đạo quân tinh nhuệ liên kết chặt chẽ với  nhóm tín đồ Gia-tô bản địa đã được biến thành các đạo quân thập ác bản địa và được trang bị bằng những  vũ khí hiện đại tối tân. Một bên là toàn thể nhân dân ta được võ trang bằng những vũ khi cổ điển và thô  sơ nhất, ngoại trừ một số tối thiểu tín đồ Gia tô cuồng tín trong đó có các đạo quân dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Trần Lục ở Phát Diệm và những tóan lính đại do tên Việt gian Gia-tô tuyển mộ và các làng đạo ở rải rác trong tòan quốc . Đây cũng là cuộc chiến hào hùng, oai dũng và hiển hách nhất trong lịch sử chiến tranh đánh đuổi quân thù độc ác nhất của nhân loại là đế quốc Vatican. Ngày nay, hầu như tất cả mọi người dân Việt Nam, từ em học sinh lớp 3 trở lên, không mấy ai là không sung sướng và hãnh diện khi nghe được nghe những dòng thơ lịch sử với những chiến công anh dũng đi kèm theo với những địa danh mà ngày nay không mấy ai là không biết: 

       Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
       Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.
      
       Hỏa hồng Nhật Tảo, Kiên Giang,
       Gò Công, Đồng Tháp, Vụ Quang oai hùng,
       Hùm thiêng Yên Thế vẫy vùng,
       Thái Nguyên, Yên Bái lẫy lừng ngàn thu.
       Muôn dân quyết chiến đuổi thù...

Một khi mà triều đình không điều khiển và cũng không tài trợ cho các lực lượng vũ trang kháng chiến, toàn dân phải tự động vùng lên chống giặc xâm lăng và phải đương đầu với quân lính của triều đình bù nhìn Huế, thì đương nhiên nhà Nguyễn đã hoàn toàn mất hết chính thống hay chính nghĩa cầm quyền cai trị nhân dân.  Việc mất chính nghĩa của nhà Nguyễn đã xẩy ra  từ khi ký Hiệp Ước Nhâm Tuất 1862. Sau đó, Vua Tự Đức lại còn liên tục nhượng bộ cho liên minh xâm lược Pháp – Vatican nhiều hơn nữa và thỏa mãn hết tất cả những yêu sách của giặc, trong đó có việc phải bổ dụng những tín đồ Gia-tô người Việt. Những người này thực sự chỉ là những tên Việt gian làm gián điệp cho Đế Quốc Vatican lại được nắm giữ những chức vụ quan trọng trong  chính quyền. Ấy thế mà triều đình Huế lại còn phong thưởng tước vị phẩm hàm và mề đay kim khánh cho lũ Việt gian này. Tên Việt gian Linh-mục Trần Lục là một trường hợp điển hình cho tình trạng nhục nhã này.

Sau khi nhà vua băng hà (vào ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, 1883) tình trạng này còn ghê gớm hơn nữa, nghĩa là liên minh giặc không cần phải yêu sách mà là ra lệnh cho nhà vua hay triều đình Huế phải làm những việc gì mà chúng muốn. Rõ rệt nhất là từ năm 1885, khi  hai tên thực dân De Courcy và Silvestre đưa Chánh Mông lên ngài vàng với vương hiệu là Đồng Khánh để làm cảnh và làm tay sai cho chính quyền  bảo hộ của Liên Minh Pháp – Vatican.  Thực trạng này được cụ Nghiêm Kế Tổ ghi nhận trong cuốn Việt Nam Máu Lửa với nguyên văn như sau:

Những ngày tàn của chế độ.- Qua ngót nghìn năm sống hiên ngang với nền tự chủ, đến cuối thế kỷ 19, dân tộc Việt bắt đầu vướng xích xiềng nô lệ. Người Pháp dùng chánh sách Tầm Thực (tầm ăn dâu) chiếm miền Nam nước Việt (Hòa Ước 1862) rồi lấn dần, lập cuộc bảo hộ ở Bắc, Trung (Hòa Ước 1874 và Hòa Ước Harmand 1883). Vòng thuộc địa bắt đầu:

1.- Về chính trị: Bắc, Trung, Nam mỗi xứ có 1 chế độ riêng, 1 tổ chức khác nhau và hình thức có vẻ dân chủ:

A.- Nam Việt có Thống đốc. Thống Đốc lập ra Hội Đồng Thuộc Địa, Hội Đồng Thuộc Địa Hàng Tỉnh, Hội Đồng Thành Phố.

B.- Trung Việt có Khâm Sứ làm việc bên cạnh nhà vua. Khâm Sứ coi việc ngoại giao bằng cách quyết đoán mọi việc và chủ tọa Viện Cơ Mật. Khâm Sứ lập Hội Đồng Dân Biểu và đặt Công Sứ cho mỗi tỉnh.

C.- Bắc Việt có Thống Sứ. Thống Sứ hợp tác với Kinh Lược Sứ Việt Nam thay Vua định việc và chỉ tâu Vua những việc đã làm. Mỗi tỉnh có một Công Sứ trực tiếp cai trị. Thống Sứ lập ra Hội Đồng Hàng Tỉnh, Hội Đồng Dân Biểu…

Việc cái trị ba xứ đặt dưới một ông Toàn Quyền phụ thuộc Bộ Thuộc Địa Pháp.

2.- Về kinh tế: Pháp thành lập Sở Địa Chất, Sở Mỏ đầy đủ để khai thác tài nguyên. Nhân công của thuộc địa nhiều và rẻ tiền khiến Pháp tận lực lợi dụng khai khẩn trồng trọt, mở mang kỹ nghệ nhẹ để thu lợi:

A.- Nào mỏ than ở Hòn Gay, Uông Bí, mỏ vàng  ở Bồng Miêu, mỏ sắt ở Cao Bằng.

B.-Nào đồn điền cà phê ở Yên Bái, Phú Thọ, Chi Nê, đồn điền cao su ở Thủ Đầu Một, Biên Hòa.

C.- Nào nhà máy giấy ở Đáp Cầu, nhà máy đường ở Hiệp Hòa, nhà máy xi măng ở Hải Phòng, nhà máy diêm ở Bến Thủy, nhà máy sợi ở Nam Định, nhà máy Rượu (ở Bình Tây), nhà máy điện, nhà máy nước, v.v…

Việc xuất cảng, nhập cảng do nhà nước nắm trọn quyền. Thuế má, đỉền thổ được cải cách thích hợp theo nguyên tắc muôn thuở của chính sách thực dân.

3.- Về Quân Đội: Một ngân sách to lớn trên 100 triệu đồng được thu lập để tổ chức quân đội, mục đích giữ vững địa vị Bảo Hộ tổng thu quyền lợi kinh tế.

4.- Về giáo dục: Trường công mỗi tỉnh không quá hai trường: Trường tư không cho phép mở tự do. Sự học gián tiếp bị hạn chế chỉ cốt cho đủ số người dùng trong các công tư sở Pháp. Đã vậy, việc học hành lại hết sức khó khăn vì phải đủ nhiều điều kiện cần thiết mới được nhập trường hay thi cử.” [5]

Thực trạng này chứng tỏ tính cách chính thống của triều đình nhà  Nguyễn đã hoàn toàn mất hết. Vì thế cho nên có rất nhiều nho sĩ ái quốc đang làm quan tại triều đình cáo quan lui về ở ẩn. Họ sáng tác thơ văn khích lệ, ca tụng, vinh danh những lực lượng nghĩa quân chống giặc xâm lăng và lên án bọn người tham danh hám lợi đành lòng  tiếp tục ở lại làm quan cho giặc. Đây là trường hợp của các cụ Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Khuyến, v.v... Thiết tưởng rằng, những áng thơ văn của các cụ Phan Văn Trị và Nguyễn Đình Chiểu đã được rất nhiều người biết tới. Thí dụ như bài “Tôn Phu Nhân Qui Thục” và mười bài thơ liên hòan của ông Tôn Thọ Tường được cụ Phan Văn Trị họa lại từng bài với những lời lẽ như mắng nhiếc những người ra làm quan với tân trào.

Trong bài thơ bằng chữ Hán có tựa đề là “Vãn Đồng Niên Vân Đình Tiến Sĩ Dương Thượng Thư”, viết theo thể “ngũ ngôn”, cụ Nguyễn Khuyến đổi cách xứng hô để mỉa mai trách móc người bạn đồng liêu là Cụ Dương Khuê đã vì tham đồng lương hàng tháng mà ở lại tiếp tục làm quan cho giặc (“Miếng đẩu thăng chẳng dám tham trời”). Trong đoạn đầu, cụ gọi người bạn cố tri một cách thân thiết là “quân” (nghĩa là anh, bạn,..Dữ quân thần tịch liên”, “Hữu thời đối quân ẩm).  Nhưng khi đến đọan nhắc tới những năm ông bạn ra hợp tác với tân trào, thì cụ liền chuyển sang gọi là  công(nghĩa là ông, ngài,… như  Dư lão, công diệc lão” “Dư bệnh nghi công tiên”, “Nhi công tranh thượng tiên”,… ) . Về sau, cụ Nguyễn Khuyến chuyển dịch bài thơ này sang tiếng Việt theo thể “song thất lục bát”, và những chữ “quân” và “công” đều được chuyển sang tiếng Việt là “bác”.  Xin xem trang Phụ bản ở phần cuối.

Đặc biệt là khi thấy bọn người “thà mất nước chứ không thà mất Chúa” dựa vào thế giặc nhẩy lên bàn độc hợm hĩnh khoe khoang với đời về địa vị và chức tước được liên minh giặc xí cho, cụ liền mượn lời vợ anh phường chèo mắng thẳng vào mặt lũ người vô liêm sỉ này bằng hai câu thơ: 

       Vua chèo còn chẳng ra  gì,
       Quan chèo, vai nhọ khác chi thằng hề.

Đây là trường hợp của Pétrus Trương Vĩnh Ký, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Bá Tòng, v.v… Nhờ có các tên vua hề phường tuồng này, bọn sử nô Gia-tô  sau này mới có thể đưa ra luận điệu rêu rao khoe khoang công đức của những tên Gia-tô làm Việt gian bán nước cho cả Vatican và Pháp một cách trâng tráo và trắng trợn như dưới đây:

Sau này, trong 34 năm cai quản Phát Diệm, Cụ Sáu (Linh-mục Trần Lục - NMQ) đã tỏ ra một vĩ nhân có tài thao lược, văn võ kiêm toàn, là vị cứu nhân độ thế. Bằng chứng là vua Tự Đức - một ông vua khét tiếng và cấm đạo công giáo – đã phong cho ngài chức Trấp-an, ban kim-khánh, kim-tiền (hai loại huy chương cao quý của triều đình Huế). Vua Đồng Khánh phong cho ngài Tham Tri Bộ Lễ sung Khâm Sứ Tuyên Phủ Sứ. Vua Thành Thái nâng ngài lên chức Lễ Bộ Thượng Thư. Và năm 1925, vua Khải Định nhớ công ơn ngài đã truy tặng ngài” Phát Diệm Nam Tước. Phía chính phủ Pháp cũng ân thưởng ngài: Chevalier d’ Honneur, Officier dans L’ Ordre de la Legion d’ Honneur.”  [6]

Việc liên minh giặc không phế bỏ triều đình Huế và đưa con cháu nhà Nguyễn lên ngai vàng ngồi làm cảnh là có dã tâm làm cho nhân dân ta lầm tưởng rằng nước ta vẫn còn độc lập vẫn còn có vua, chứ không phải nước đã mất vào tay người Pháp và Đế Quốc Vatican. Trong thực tế, thủ đọan gian manh này chỉ có thể phỉnh gạt được những người ngu dốt ít học và bọn vong bản phản quê hương chỉ biết tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican, chứ không thể nào lừa gạt được đại khối  dân tộc Việt Nam ta. Tương tự như vậy, luận điệu của bọn sử nô Gia-tô lấy việc được những ông vua bù nhìn Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định hay triều đình Huế ban chức tước, phẩm hàm và mề đay kim khánh để  cao rao công đức của tên Việt gian Linh-mục Trần Lục như trên hay bất kỳ tên Việt gian nào khác cũng không thể nào che đậy được cái tội Vịệt gian bán nước cho liên minh giặc của chúng. Lý do rất đơn giản là vì tính cách chính thống và chính nghĩa của triều đình nhà Nguyễn không còn nữa.

Chính thống và chính nghĩa thuộc về các lượng nghĩa quân.- Qua phần trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng,  kể từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Thỏa Hiệp Nhâm Tuất vào ngày 5 tháng 6 năm 1862, chính thống hay chính nghĩa nắm quyền cai trị đất nước đã chuyển sang tay các nhà lãnh đạo của các lực lượng nghĩa quân kháng chiến đánh đuổi Liên Quân Xâm Lăng Pháp - Thập Ác Vatican. Cũng từ đó các nhà ái quốc như các ông Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn,  Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thái Học, hay các đảng cách mạng như Tân Việt, Quốc Dân Đảng, Việt Quốc, Việt Minh, v.v... đều đem hết tài năng, trí óc và hy sinh cả thân thế để lo việc đánh đuổi quân cướp ngoại thù, đòi lại quê hương cho dân tộc.

Đây là một cuộc chiến trường cực kỳ cam go và hết sức gian khổ với hai mục tiêu rõ rệt:

1.- Đánh đuổi liên quân xâm lăng Pháp – Vatican ra khỏi quê hương để đòi lại chủ quyền cho dân tộc.

2.- Đạp đổ cái triều đình quân chủ chuyên chính thối nát của nhà Nguyễn, một chế độ phong kiến chuyên chính lỗi thời  đã không làm tròn được sứ mạng bảo vệ đất nước.

Từ  đầu thập niên 1910, mục tiêu thứ hai trên đây của cuộc chiến này được chuyển sang khuynh hướng:

Giáo dục quần chúng, nâng cao dân trí cho người dân hiểu rõ chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế đã lỗi thời, cần phải triệt bỏ bằng mọi giá và  thực hiện một cuộc cách mạng chính trị theo mô thức chính quyền dân chủ do các tư tưởng gia Tây Phương như John Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), v.v…”  Chúng ta có thể tìm thấy Mô thức chính quyền này trong cương lĩnh của tổ chức Quốc Dân Đảng dưới quyền chỉ đạo của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học và các đông chí của ông.

Song song với khuynh hướng thứ 2 trên đây, các đảng Cộng sản thuộc phe Đế Tứ Quốc Tế của các nhà ái quốc như Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đoàn Văn Trương, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Bạch v.v…  và thuộc phe Đệ Tam Quốc Tế của các nhà cách mạng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), Trần Văn Giàu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v. v…  lại có khuynh hướng thực hiện một cuộc cách mạng xã hội để chấm dứt cảnh người bóc lột người khiến cho dân ta không còn phải sống trong những “địa ngục trần gian”. Đây là những thảm cảnh ở trong các đồn điền cao su ở miền Đông Nam Kỳ và vùng Cao Nguyên Nam Trung Kỳ, các công trường khai thác quặng mỏ ở Cẩm Phả, Hòn Gay, Uông Bí, v.v… và thảm cảnh đói khổ triền miên mà dân ta đã kinh qua với hai triệu người chết trong vòng có mấy tháng trong mùa Xuân năm Ất Dậu. Trong khi đó thì trong các nhà thờ của Giáo Hội thóc chất đầy kho, băng đảng giám mục, linh mục cùng với bọn Việt gian quan lại trong chính quyền đương thời thì   không mấy ngày là không có hội hè và yến tiệc, ăn uống phủ phê, no nê thừa bứa. (Vấn đề này sẽ được trình bầy đầy đủ ở phần sau.)

Ý chí quyết chiến của nhân dân ta kéo dài tới cả thế kỷ. “Một trăm năm nô lệ giặc Tây” là một trăm năm dân ta liên tục chiến đấu không ngừng. Kết quả chẳng những đã làm cho liên minh giặc Pháp - Thập Ác Vatican phải bạt vía kinh hồn, mà còn làm cho nhân dân thế giới phải kính nể dân tộc Việt Nam ta. Tất cả các lực lượng võ trang chống lại liên minh giặc này đều được coi là những lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta. Nếu chẳng may thất bại, họ trở thành  anh hùng dân tộc của đất nước, đúng như Nguyễn Thái Học đã nói “Không thành công thì thành nhân”. Và nếu thành công thì không những họ được nhân dân ta hân hoan suy tôn và vinh danh là những anh hùng cứu tinh của dân tộc, mà họ còn có dư thừa chính thống và chính nghĩa để nắm quyền lãnh đạo đất nước. Sự thật đã xẩy ra như vậy vì đó là quy luật của lịch sử.

Cũng do quy luật lịch sử này, nhân dân ta đã gọi họ là những vị anh hùng của dân tộc và đã hân hoan tin tưởng và chấp nhận Mặt Trận Việt Minh là một thế lực có chĩnh nghĩa lãnh đạo nhân dân. Cho đến nay, tất cả các nhà viết sử chân chính đều nhìn nhận rằng Mặt Trận Việt Minh quả thật là có chính nghĩa, xứng đáng được nhân dân tin tưởng trao cho trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican ra khỏi quê hương. Xứng đáng là vì những người lãnh đạo và những cán bộ cao cấp của Mặt Trận Việt Minh không những là nhà cách mạng trung kiên suốt đời hiến thân cho đại nghĩa, mà lại còn thấu hiểu được nỗi thống khổ của người dân dưới ách thống trị của người ngọai bang. Ngòai ra, họ còn biết khai thác tình hình thế giới và hòan cảnh nước nhà để chớp lấy thời cơ phất cờ kêu gọi toàn dân đồng lòng vùng lên đi đòi lại chủ quyền cho dân tộc và quyền làm người dưới ánh áng mặt trời.  Sự kiện này được Ông Hoàng Văn Đào viết trong cuốn Việt Nam Quốc Dân Đảng  như sau:

“Sau 80 năm bị lệ thuộc, dân tộc Việt Nam chỉ thèm khát độc lập, và không biết gì đến khuynh hướng chính trị của phe này với nhóm khác. Người dân Việt Nam nghĩ rằng: miễn là nước được độc lập, còn đảng phái nào lãnh đạo cuộc tranh đấu giành độc lập hay cầm chính quyền cũng vậy, cốt là “Nước Việt Nam của người Việt Nam!”  Một yếu tố khác nữa, ngót hai triệu đồng bào chết đói vừa qua, là chết để đem linh hồn thức tỉnh ý chí những kẻ còn sống cũng phải phục thù rửa hận cho toàn dân. Đó là hoàn cảnh tạo nên cuộc cách mạng âm ỷ trong đầu óc mọi người dân Việt, khác nào như một kho thuốc nổ, chỉ còn đợi người nào hoặc đoàn thể nào châm ngòi lửa là nổ bùng. Lò thuốc súng đã có người châm, ngòi đã nổ, quần chúng ùa chạy theo Việt Minh Cộng Sản…” [7]

Đúng như lòng kỳ vọng của nhân dân ta, Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ mạng đánh đuổi được thành phần cốt cán trong Liên Quân Xâm Lăng Pháp - Thập Ác Vatican ra khỏi giang sơn với trận đánh lừng danh “Điện Biên Phủ” vang dội trên khắp năm châu bốn bể. Với chiến công này, Mặt Trận Việt Minh nghiễm nhiên có dư thừa chính nghĩa để tiếp tục nắm quyền lãnh đạo nhân dân theo đuổi cuộc chiến đòi lại một nửa giang sơn còn nằm trong tay kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc là Giáo Hội La Mã với cái dù quyền lực của siêu cường Hoa Kỳ. Quy luật lịch sử này cũng được Giáo-sư Lê Xuân Khoa nhắc đi nhắc lại nhiều lần nơi các trang 206, 210, 189 và 190 trong cuốn Việt Nam 1945-1975  về chính nghĩa của Mặt Trận Việt Minh. Hai đọan văn trong 2 trang 206 và 210 đã được trích dẫn ở trên. Dưới đây là 2 đọan văn ở 2 trang 189 và 190:

Cuộc kháng chiến chống Pháp thành công do Việt Minh lãnh đạo đã chứng tỏ truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam quyết chống lại mọi sự đô hộ của ngoại bang để giành lại quyền tự chủ. Trong suốt tám năm trời kháng chiến, các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam, dưới danh nghĩa Mặt Trận Việt Minh và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, luôn luôn nêu cao mục tiêu tranh đấu cho độc lập, tự do và giải phóng dân tộc ra khỏi chế độ cai trị bóc lột tàn ác của đế quốc thực dân. Đó là chính nghĩa đã lôi cuốn được đông đảo nhân dân, quân đội và cán bộ đã hết lòng chiến đấu, chịu đựng bao nhiêu gian lao, hi sinh bao nhiêu của cải và xương máu cho công cuộc cứu nước…

“Công bằng mà nói, thắng lợi này đạt được chính là nhờ sự điều động của đảng Cộng Sản ở đằng sau Mặt Trận Việt Minh, với những ưu điểm về tổ chức và tinh thần kỷ luật, lý tưởng cách mạng, kỹ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tuyên truyền nhất là sức mạnh lôi cuốn quần chúng của Hồ Chí Minh qua hình ảnh của một nhà cách mạng một lòng vì dân vì nước, đã tranh đấu gian nan ở hải ngoại trong suốt mấy chục năm. Chiến tranh chống Pháp là một chiến tranh có chính nghĩa và Việt Minh đã giành được chính nghĩa đó.” [8]

Dĩ nhiên, ở vào trường hợp này, không có lý gì mà người có công đánh đuổi được quân thù ra khỏi quê hương lại ngu xuẩn đến độ trao quyền lãnh đạo quốc gia cho người kế thừa một triều đình đã không làm tròn bổn phận của người lãnh đạo quốc dân bảo toàn lãnh thổ  và chăm lo phúc lợi cho nhân dân. Đây là lý do tại sao khi hoàn thành sứ mạng đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất nước, Bình Định Vương Lê Lợi đã không tái lập ngôi vua cho nhà Trần. Đây cũng là lý do tại sao Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được toàn quân tôn lên làm Hoàng Đế Quang Trung trước khi kéo quân ra tiêu diệt gần 300 ngàn quân Thanh xâm lăng, và  sau đó được toàn thể dân tộc ta kính mến tôn vinh lên là vị đại anh hùng cứu tinh của đất nước. Tương tự như vậy, cũng vì lý do này, kể từ năm 1862 trở đi, bất kỳ lực lượng nghĩa quân kháng chiến nào thành công hay hòan thành được sứ mạng đánh đuổi liên minh giặc Pháp – Vatican ra khỏi quê hương đều có đủ tư cách chính thống và chính nghĩa lên cầm quyền cai trị nhân dân, và Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ mạng cao cả này.  Vậy thì chính nghĩa nắm quyền cai trị nhân dân phải thuộc về Việt Minh. Đến đây, chúng ta thấy chính tà đã định, và bất cứ người nào, dù là con cháu của nhà Nguyễn, kể cả ông Bảo Đại, dù là của một tổ chức với những danh xưng tốt đẹp đến đâu nữa cũng không còn tư cách gì để nhẩy lên hay được đưa lên nắm chính quyền. Người viết xin khẳng định đây là quy luật lịch sử.  


CHÚ THÍCH: 

[1] Phạm Văn Sơn. Việt Sử Tân Biên – Quyển V  (Saigon, TXB (?), 1962), tr1 68-169.

[2] Phạm Văn Sơn, Sđd., trang 169.

[3] Ibid., tr 190

[4] Ibid., tr 190

[5] Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam Máu Lửa (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), tr  20-22.

[6] Đòan Độc Thư Và Xuân Huy, Giám Mục Lế Hữu Từ & Phát Diệm  (Sàigòn:TXB, 1973), tr 15 .

[7] Hoàng Văn Ðào, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Saigon: TXB, 1970), tr 255-256.

[8] Lê Xuân Khoa,  Việt Nam 1945-1975 - Tập I (Bethesda, MD: Tiên R?ng, 2004),  tr  189 và 190.

 


04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com