
posted: 14.02.05
NHỮNG TRƯỜNG HỢP
LÀM MẤT CHÍNH NGHĨA Nguyễn Mạnh
Quang Kinh nghiệm
lịch sử cho thấy rằng, tạo được chính nghĩa lến nắm chính quyền đã
là một việc làm vô cùng khó khăn, nhưng giữ (duy trì) được chính nghĩa
để tiếp tục nắm quyền cai trị nhân dân cũng không phải là dễ, và thường
thường còn khó khăn hơn cả việc tạo nên chính nghĩa để lên nắm
chính quyền. : Có hai trường
hợp làm mất chính nghĩa để rồi rơi vào tình trạng không còn xứng đáng
tiếp tục nắm quyền lãnh đạo quốc dân. Hai trường hợp này là : A.- Không làm tròn nhiệm vụ của người lãnh
đạo quốc dân. Những nhiệm vụ này là: 1.- Phải hết
lòng tận tâm tận sức lo cho phúc lợi của nhân dân đúng như Nho giáo đã
dạy: “Dân chi sở ố, ố chi; dân chi sở hiếu, hiếu chi; sở vị dân chi
phụ mẫu.” và phải vui sau khi dân vui và lo trước khi dân lo, phải biết
cùng chìm nổi với nhân dân. 2.- Phải biết
bảo toàn lãnh thổ của đất nước. Làm vua một nước hay làm tổng thống
lãnh đạo quốc dân cũng giống như một ông tướng giữ thành. Thành mất
thì phải chế theo thành. B.- Làm dụng quyền hành. Những hình thức cụ thể như gây bè kết
đảng, ưu đãi bọn tay sai để củng cố quyền lực, áp bức và bóc lột
nhân dân, giết hại dân lành và những người bất khuất để duy trì quyền
lực. Trường hợp này xẩy ra rất thường
trong lịch sử nhân loại. Lý do dế hiểu là vì một khi đã có quyền lực
trong tay rồi thì chính quyền lực là miếng mồi xô đẩy những người có
quyền lực vào việc sử dụng các phương tiện của nhà nước để biệt
đãi một nhóm thiểu số tay sai (thiên
vị) nhằm gây bè kết đảng. Người
cầm quyền có thói quên coi việc nước như việc riêng của cá nhân và
gia đình, gây nên bất công trong xã hội. Một khi chính quyền đã làm những
việc bất công thì nhân dân sẽ bất
mãn và chống đối. Khi đó thì nhà
lãnh đạo chính quyền và những nhân vật nắm giữ những chực vụ quan
trọng trong chính quyền đó đã hoàn toàn mất
hết chính nghĩa rồi, không còn có cơ may nào cứu vãn được
nữa. Lịch sử nhân
loại đã có nhiều trường hợp lên nắm chính quyền và có quyền hành
quay ra lạm quyền, gây ra những tội ác trời không dung đất không tha, tức
là làm mất chính chính nghĩa. Như vậy là ở vào cái thế không còn xứng
đáng tiếp tục ở lại chính quyền quản lý công việc cai trị nhân dân.
Cái sai lầm
vĩ đại của những người cầm quyền cai trị đất nước và giai cấp thống
trị là họ hay lầm tưởng rằng đã ngồi vào trong ngai vàng hay ở trong chức vụ tổng thống là có thể: 1.- Ăn nói
ngược ngạo. 2.- Làm bất
cứ điều gì theo ý muốn của mình mà không cần biết đến những nỗi thống
khổ của nhân dân. Nói một cách rõ ràng hơn là làm những việc làm tội
ác hại dân hại nước. Dưới đây
là một vài trường hợp điển hình
đã xẩy ra trong lịch sử. A.- KHÔNG
LÀM TRÒN NHIỆM VỤ Đây là trường
hợp của vua Tự Đức của nhà Nguyễn bất lực trong việc chống quân
thù xâm lược để bảo vệ chủ quyền độc lập của đất nước. (Nước
ta lúc bấy giờ còn được gọi là Đại “1.- Từ nay trở đi các nước Pháp Lan Tây,
Tây Ban Nha và Đại 2.-Người
Pháp và Tây Ban Nha được tự do đến giảng đạo Thiên Chúa tại Đại 3.- Đại 4.- Kể từ
ngày hiệp ước ký kết xong, nếu có nước nào gây sự với Đại 5.- Công
dân Pháp, Tây Ban Nha được ra vào buôn bán ở các cửa bể Đà Nẵng, Ba-lạt,
Quảng Yên miễn là có nạp thuế theo lệ định. Công dân Việt 6.- Nếu có
công việc gì khẩn yếu thì mỗi nước
cử một khâm sai đại thần để hội thảo tại kinh đô nước 7.- Đôi
bên cùng trả ngay tức khắc các người bị bắt và tất cả tài sản của
họ cùng của thân tộc họ. 8.- Đại
Nam bồi thường chiến tranh cho hai nước Pháp, Tây Ban Nha 4 triệu nguyên hạn
trong 10 năm phải trả xong, mỗi năm phải nộp 400.000 (4 trăm ngàn) cho vị
đại diện Pháp ở Gia Định. Hiện nay nước Pháp đã nhận được 100.000
(một trăm ngàn) đồng bạc đến khi nộp sẽ trừ số tiền này đi. 9.- Giặc
cướp quấy nhiễu ở các đất thuộc Pháp lẩn trốn qua đất Việt cũng
như giặc cướp ở các địa phương của Đại Nam chạy qua đất Pháp sẽ
được đôi bên giải nộp cho các nhà cầm quyền sở quan. 10.- Từ
ngày nghị hòa, dân chúng ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên muốn qua lại
đất Nam thuộc Pháp làm ăn phải theo luật lệ của nước Pháp và nước
Nam, không được chuyên chở binh lính và vũ khí qua các đất đã nhượng
cho Pháp. 11.- Nước
Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho Đại Nam nhưng tạm thời còn đóng
binh tại đây cho tới khi bình định xong ba tỉnh Gia Định, Định Tường
và Biên Hòa. 12.- Hiệp
ước này hạn trong một năm để hoàng đế ba nước duyệt lãm và phê chuẩn
hỗ giao ở kinh đô Đại Nhận xét về
hiệp ưỡc trên đây, sử gia Phạm Văn Sơn viết: “Hiệp Ước Nhâm Tuất có tính cách thế nào?
Dĩ nhiên nó thiếu tính cách bình đẳng. Nó là một văn kiện ngoại giao
trong đó kẻ mạnh ra lệnh, kẻ yếu phải cúi đầu tuân phục, và nhà sử
học có thể viết thêm rằng: Đáng lẽ Hiệp Ước Nhâm Tuất phải ra
chào đời sớm, vì tình thế nước nhà đã quá suy nhược. Hiệp ước bất
bình đẳng này còn là hiệp ước đầu tiên của ta ký với Pháp. Hiệp ước
này mở đầu cho cuốn vong quốc sử Việt Nam.” [2]
Việc ký nhận
những điều kiện của Thỏa Hiệp Nhâm Tuất 1862 trên đây chứng tỏ Vua
Tự Đức đã: 1.- Không
còn đủ khả năng bảo vệ sự nghiệp của tổ tiên để lại cho dân tộc
Việt 2.- Cúi đầu
chấp nhận những điều kiện của Liên Quân Xâm Lược Pháp – 3.- Vì quyền
lợi riêng tư của cá nhân và triều đình, nhà Vua đã cúi đầu cắt đất
nhường cho giặc để tiếp tục an tọa trong ngôi vị bù nhìn chủ tể của
đất nước. Đáng lý ra
vua tôi nhà Nguyễn phải chủ động và tích cực học hỏi chiến lược,
chiến thuật, đem hết khả năng về nhân lực, vật
lực và tinh thần ra động viên nhân dân và điều binh khiển tướng để
chống giặc tới cùng, nhưng tiếc rằng họ đã
không làm như vậy. Họ chỉ biết co lại trong đám quần thần thủ
cựu tính chuyện bảo vệ quyền lợi riêng của họ hơn là quyền lợi của
đất nước. Sự tính toán ích kỷ này đã khiến cho triều đình Huế đi
từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, rồi cuối cùng nhường luôn cả
nước cho giặc nắm quyền trị nước để được an toàn giữ lại cái
ngôi vị bù nhìn làm trang trí và tay sai cho người ngoại bang. Sau khi vừa ký xong hiệp ước này, toàn
dân ta lên án triều đình đã lừa dối nhân dân. Hai người đại diện
cho triều đình Huế ký vào hiệp ước này là hai ông Phan Thanh Giản và
Lâm Duy Hiệp bị nhân dân ta coi như là những quân bán nước: “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân”
[3].
Bài thơ thất ngôn dưới đây của Cụ Phan Văn Trị nói lên niềm đau xót của nhân dân ta trong việc triều đình Huế
cúi đầu nhận chịu các điều kiện nhục nhã nhượng đất cho Liên Minh Xâm Lược Pháp –
Nhà Nguyễn
đã mất hết chính nghĩa nắm quyền cai trị nhân dân. Ký Hiệp
Định Nhâm Tuất 1862 nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Liên Minh Xâm Lược
Pháp – Vatican, nhà Nguyền đã tỏ ra
bất lực, không còn đủ khả năng để bảo
vệ lãnh thổ của tiền nhân để lại. Lãnh thổ
đất nước là di sản của tiền nhân để lại cho cả dân tộc và là của chung của dân tộc. Nếu
người lãnh đạo quốc dân bất lực không làm tròn sứ mạng bảo toàn
lãnh thổ của đất nước thì không còn xứng đáng tiếp tục ở lại ngội
vị lãnh đạo quốc dân nữa. Người biết tự trọng phải biết tự động
rút lui hay thoái vị nhường chỗ cho người khác có đủ tài đức lên
thay thế để đảm đương việc nước. Nếu không tự động thoái lui thì
nhân dân sẽ vùng lên đạp đổ và đưa người có khả năng thế vào đó. Cũng may là
dân tộc ta có tinh thần bất khuất với truyền thống chống giặc ngoại
xâm qua lời dạy “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.
Lời dạy này đã ăn sâu vào não tủy trong cơ thể của từng con dân nước
Việt. Không thể khoanh tay ngồi yên để cho quân cướp xâm lăng hoành
hành giầy xéo giang sơn, các nhà ái quốc miền Nam, rồi miền Trung và miền
Bắc quyết tâm từ bỏ mái ấm gia đình lên đường vào chiến khu chiêu mộ
các anh hùng nghĩa sĩ, tổ chức lực lượng nghĩa quân đuổi giặc cứu
nước. Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương,
Mai Xuân Thưởng, và hàng triệu con dân đất Việt khác, tất cả đều quyết
tâm đem hết đời trai hay quãng đời còn lại hiến dâng cho tổ quốc để
đòi lại quyền tự chủ cho quê hương và quyền làm người cho dân tộc. Cũng vì lý
do này mà ngay từ khi có một vị anh hùng hô hào liều thân chống giặc cứu
nước thì toàn thể nhân dân, từ em bé 15 tuổi cho đến cụ già đầu bạc
phơ phơ trên toàn lãnh thổ Việt Nam đều hăng hái lao đầu vào cuộc
kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ quê hương. Đây là cuộc
chiến vô cùng gay go kéo dài cả gần một thế kỷ. Một bên là liên quân giặc Pháp và
Thập Ác
Một khi mà
triều đình không điều khiển và cũng không tài trợ cho các lực lượng
vũ trang kháng chiến, toàn dân phải tự động vùng lên chống giặc xâm lăng
và phải đương đầu với quân lính của triều đình bù nhìn Huế, thì
đương nhiên nhà Nguyễn đã hoàn toàn mất hết chính thống hay chính nghĩa
cầm quyền cai trị nhân dân. Việc mất
chính nghĩa của nhà Nguyễn đã xẩy ra từ
khi ký Hiệp Ước Nhâm Tuất 1862. Sau đó, Vua Tự Đức lại còn liên tục
nhượng bộ cho liên minh xâm lược Pháp – Vatican nhiều hơn nữa và thỏa
mãn hết tất cả những yêu sách của giặc, trong đó có việc phải bổ dụng
những tín đồ Gia-tô người Việt. Những người này thực sự chỉ là những
tên Việt gian làm gián điệp cho Đế Quốc Sau khi nhà
vua băng hà (vào ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, 1883)
tình trạng này còn ghê gớm hơn nữa, nghĩa là liên minh giặc không
cần phải yêu sách mà là ra lệnh cho nhà vua hay triều đình Huế phải
làm những việc gì mà chúng muốn. Rõ rệt nhất là từ năm 1885, khi hai tên thực dân De Courcy và Silvestre đưa
Chánh Mông lên ngài vàng với vương hiệu là Đồng Khánh để làm cảnh
và làm tay sai cho chính quyền bảo hộ
của Liên Minh Pháp – Vatican. Thực trạng
này được cụ Nghiêm Kế Tổ ghi nhận trong cuốn Việt Nam Máu Lửa với
nguyên văn như sau: “Những ngày
tàn của chế độ.- Qua ngót nghìn năm sống hiên ngang với nền tự chủ,
đến cuối thế kỷ 19, dân tộc Việt bắt đầu vướng xích xiềng nô lệ.
Người Pháp dùng chánh sách Tầm Thực (tầm ăn dâu) chiếm miền 1.- Về chính
trị: Bắc,
Trung, Nam mỗi xứ có 1 chế độ riêng, 1 tổ chức khác nhau và hình thức
có vẻ dân chủ: A.- B.- Trung Việt
có Khâm Sứ làm việc bên cạnh nhà vua. Khâm Sứ coi việc ngoại giao bằng
cách quyết đoán mọi việc và chủ tọa Viện Cơ Mật. Khâm Sứ lập Hội
Đồng Dân Biểu và đặt Công Sứ cho mỗi tỉnh. C.- Bắc Việt
có Thống Sứ. Thống Sứ hợp tác với Kinh Lược Sứ Việt Việc cái
trị ba xứ đặt dưới một ông Toàn Quyền phụ thuộc Bộ Thuộc Địa Pháp. 2.- Về kinh
tế: Pháp
thành lập Sở Địa Chất, Sở Mỏ đầy đủ để khai thác tài nguyên.
Nhân công của thuộc địa nhiều và rẻ tiền khiến Pháp tận lực lợi dụng
khai khẩn trồng trọt, mở mang kỹ nghệ nhẹ để thu lợi: A.- Nào mỏ
than ở Hòn Gay, Uông Bí, mỏ vàng ở Bồng
Miêu, mỏ sắt ở Cao Bằng. B.-Nào đồn
điền cà phê ở Yên Bái, Phú Thọ, Chi Nê, đồn điền cao su ở Thủ Đầu
Một, Biên Hòa. C.- Nào
nhà máy giấy ở Đáp Cầu, nhà máy đường ở Hiệp Hòa, nhà máy xi măng
ở Hải Phòng, nhà máy diêm ở Bến Thủy, nhà máy sợi ở Nam Định, nhà
máy Rượu (ở Bình Tây), nhà máy điện, nhà máy nước, v.v… Việc xuất
cảng, nhập cảng do nhà nước nắm trọn quyền. Thuế má, đỉền thổ
được cải cách thích hợp theo nguyên tắc muôn thuở của chính sách thực
dân. 3.- Về Quân
Đội: Một ngân
sách to lớn trên 100 triệu đồng được thu lập để tổ chức quân đội,
mục đích giữ vững địa vị Bảo Hộ tổng thu quyền lợi kinh tế. 4.- Về giáo dục: Trường công mỗi tỉnh
không quá hai trường: Trường tư không cho phép mở tự do. Sự học gián
tiếp bị hạn chế chỉ cốt cho đủ số người dùng trong các công tư sở
Pháp. Đã vậy, việc học hành lại hết sức khó khăn vì phải đủ nhiều
điều kiện cần thiết mới được nhập trường hay thi cử.” [5]
Thực trạng
này chứng tỏ tính cách chính thống của triều đình nhà Nguyễn đã hoàn toàn mất hết. Vì thế
cho nên có rất nhiều nho sĩ ái quốc đang làm quan tại triều đình cáo
quan lui về ở ẩn. Họ sáng tác thơ văn khích lệ, ca tụng, vinh danh những
lực lượng nghĩa quân chống giặc xâm lăng và lên án bọn người tham
danh hám lợi đành lòng tiếp tục ở
lại làm quan cho giặc. Đây là trường hợp của các cụ Phan Văn Trị,
Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Khuyến, v.v... Thiết tưởng
rằng, những áng thơ văn của các cụ Phan Văn Trị và Nguyễn Đình Chiểu
đã được rất nhiều người biết tới. Thí dụ như bài “Tôn Phu Nhân
Qui Thục” và mười bài thơ liên hòan của ông
Tôn Thọ Tường được cụ Phan Văn Trị họa lại từng bài với những lời
lẽ như mắng nhiếc những người ra làm quan với tân trào. Trong bài thơ
bằng chữ Hán có tựa đề là “Vãn Đồng Niên Vân Đình Tiến Sĩ Dương
Thượng Thư”, viết theo thể “ngũ ngôn”, cụ Nguyễn Khuyến đổi
cách xứng hô để mỉa mai trách móc người bạn đồng liêu là Cụ Dương
Khuê đã vì tham đồng lương hàng tháng mà ở lại tiếp tục làm quan cho
giặc (“Miếng đẩu thăng chẳng dám tham trời”). Trong đoạn đầu, cụ
gọi người bạn cố tri một cách thân thiết là “quân” (nghĩa là anh, bạn,..“Dữ quân thần tịch liên”, “Hữu
thời đối quân ẩm” ). Nhưng
khi đến đọan nhắc tới những năm ông bạn ra hợp tác với tân trào,
thì cụ liền chuyển sang gọi là “công” (nghĩa là ông, ngài,… như “Dư lão, công diệc lão” “Dư bệnh
nghi công tiên”, “Nhi công tranh thượng tiên”,… ) . Về
sau, cụ Nguyễn Khuyến chuyển dịch bài thơ này sang
tiếng Việt theo thể “song thất lục bát”, và những chữ “quân”
và “công” đều được chuyển sang tiếng Việt là “bác”. Xin xem trang Phụ bản ở phần cuối. Đặc biệt
là khi thấy bọn người “thà mất nước chứ không thà mất Chúa”
dựa vào thế giặc nhẩy lên bàn độc hợm hĩnh khoe khoang với đời về
địa vị và chức tước được liên minh giặc xí cho, cụ liền mượn lời
vợ anh phường chèo mắng thẳng vào mặt lũ người vô liêm sỉ này bằng
hai câu thơ:
Đây là trường
hợp của Pétrus Trương Vĩnh Ký, Trần Bá Lộc, Ngô Đình Khả, Lê Hoan,
Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Diệm, Nguyễn
Bá Tòng, v.v… Nhờ có các tên vua hề phường tuồng này, bọn sử nô
Gia-tô sau này mới có thể đưa ra luận
điệu rêu rao khoe khoang công đức của những tên Gia-tô làm Việt gian bán
nước cho cả Vatican và Pháp một cách trâng tráo và trắng trợn như dưới
đây: “Sau này, trong 34 năm cai quản Phát Diệm, Cụ
Sáu (Linh-mục Trần Lục - NMQ) đã tỏ ra một vĩ nhân có tài thao lược,
văn võ kiêm toàn, là vị cứu nhân độ thế. Bằng chứng là vua Tự Đức
- một ông vua khét tiếng và cấm đạo công giáo – đã phong cho ngài chức
Trấp-an, ban kim-khánh, kim-tiền (hai loại huy chương cao quý của triều đình
Huế). Vua Đồng Khánh phong cho ngài Tham Tri Bộ Lễ sung Khâm Sứ Tuyên Phủ
Sứ. Vua Thành Thái nâng ngài lên chức Lễ Bộ Thượng Thư. Và năm 1925,
vua Khải Định nhớ công ơn ngài đã truy tặng ngài” Phát Diệm Nam Tước.
Phía chính phủ Pháp cũng ân thưởng ngài: Chevalier d’ Honneur, Officier dans
L’ Ordre de la Legion d’ Honneur.” [6]
Việc liên
minh giặc không phế bỏ triều đình Huế và đưa con cháu nhà Nguyễn lên
ngai vàng ngồi làm cảnh là có dã tâm làm cho nhân dân ta lầm tưởng rằng
nước ta vẫn còn độc lập vẫn còn có vua, chứ không phải nước đã mất
vào tay người Pháp và Đế Quốc Vatican. Trong thực tế, thủ đọan gian
manh này chỉ có thể phỉnh gạt được những người ngu dốt ít học và
bọn vong bản phản quê hương chỉ biết tuyệt đối trung thành với Tòa
Thánh Vatican, chứ không thể nào lừa gạt được đại khối dân tộc Việt Chính thống
và chính nghĩa thuộc về các lượng nghĩa quân.- Qua phần
trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, kể
từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Thỏa Hiệp Nhâm Tuất vào ngày 5 tháng 6
năm 1862, chính thống hay chính nghĩa nắm quyền cai trị đất nước đã
chuyển sang tay các nhà lãnh đạo của các lực lượng nghĩa quân kháng chiến
đánh đuổi Liên Quân Xâm Lăng Pháp - Thập Ác Vatican. Cũng từ đó các
nhà ái quốc như các ông Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Mai Xuân Thưởng,
Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến, Trịnh Văn Cấn, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng
Hiền, Nguyễn Thái Học, hay các đảng cách mạng như Tân Việt, Quốc Dân
Đảng, Việt Quốc, Việt Minh, v.v... đều đem hết tài năng, trí óc và hy
sinh cả thân thế để lo việc đánh đuổi quân cướp ngoại thù, đòi lại
quê hương cho dân tộc. Đây là một
cuộc chiến trường cực kỳ cam go và hết sức gian khổ với hai mục
tiêu rõ rệt: 1.- Đánh đuổi
liên quân xâm lăng Pháp – 2.- Đạp đổ
cái triều đình quân chủ chuyên chính thối nát của nhà Nguyễn, một chế
độ phong kiến chuyên chính lỗi thời đã
không làm tròn được sứ mạng bảo vệ đất nước. Từ đầu thập niên 1910, mục tiêu thứ hai
trên đây của cuộc chiến này được chuyển sang khuynh hướng: Giáo dục quần
chúng, nâng cao dân trí cho người dân hiểu rõ chế độ quân chủ phong kiến
chuyên chế đã lỗi thời, cần phải triệt bỏ bằng mọi giá và thực hiện một cuộc cách mạng chính trị
theo mô thức chính quyền dân chủ do các tư tưởng gia Tây Phương như John
Locke (1632-1704), Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Denis
Diderot (1713-1784), Voltaire (1694-1778), v.v…” Chúng
ta có thể tìm thấy Mô thức chính quyền này trong cương lĩnh của tổ chức
Quốc Dân Đảng dưới quyền chỉ đạo của nhà ái quốc Nguyễn Thái Học
và các đông chí của ông. Song song với
khuynh hướng thứ 2 trên đây, các đảng Cộng sản thuộc phe Đế Tứ Quốc
Tế của các nhà ái quốc như Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đoàn Văn
Trương, Hồ Văn Ngà, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Bạch v.v… và thuộc phe Đệ Tam Quốc Tế của các
nhà cách mạng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn
Ái Quốc (Hồ Chí Minh), Trần Văn Giàu, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v.
v… lại có khuynh hướng thực hiện một
cuộc cách mạng xã hội để chấm dứt cảnh người bóc lột người khiến
cho dân ta không còn phải sống trong những “địa ngục trần gian”. Đây
là những thảm cảnh ở trong các đồn điền cao su ở miền Đông Nam Kỳ
và vùng Cao Nguyên Nam Trung Kỳ, các công trường khai thác quặng mỏ ở Cẩm
Phả, Hòn Gay, Uông Bí, v.v… và thảm cảnh đói khổ triền miên mà dân ta
đã kinh qua với hai triệu người chết trong vòng có mấy tháng trong mùa
Xuân năm Ất Dậu. Trong khi đó thì trong các nhà thờ của Giáo Hội thóc
chất đầy kho, băng đảng giám mục, linh mục cùng với bọn Việt gian
quan lại trong chính quyền đương thời thì
không mấy ngày là không có hội hè và yến tiệc, ăn uống phủ phê,
no nê thừa bứa. (Vấn đề này sẽ được trình bầy đầy đủ ở phần
sau.) Ý chí quyết
chiến của nhân dân ta kéo dài tới cả thế kỷ. “Một trăm năm nô lệ giặc Tây”
là một trăm năm dân ta liên tục chiến đấu không ngừng. Kết quả chẳng
những đã làm cho liên minh giặc Pháp - Thập Ác Vatican phải bạt vía kinh
hồn, mà còn làm cho nhân dân thế giới phải kính nể dân tộc Việt Cũng do quy luật lịch sử này, nhân dân ta
đã gọi họ là những vị anh hùng của dân tộc và đã hân hoan tin tưởng
và chấp nhận Mặt Trận Việt Minh là một thế lực có chĩnh nghĩa lãnh
đạo nhân dân. Cho đến nay, tất cả các nhà viết sử chân chính đều
nhìn nhận rằng Mặt Trận Việt Minh quả thật là có chính nghĩa, xứng đáng
được nhân dân tin tưởng trao cho trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến đánh
đuổi Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican ra khỏi quê hương. Xứng đáng
là vì những người lãnh đạo và những cán bộ cao cấp của Mặt Trận
Việt Minh không những là nhà cách mạng trung kiên suốt đời hiến thân
cho đại nghĩa, mà lại còn thấu hiểu được nỗi thống khổ của người
dân dưới ách thống trị của người ngọai bang. Ngòai ra, họ còn biết
khai thác tình hình thế giới và hòan cảnh nước nhà để chớp lấy thời
cơ phất cờ kêu gọi toàn dân đồng lòng vùng lên đi đòi lại chủ quyền
cho dân tộc và quyền làm người dưới ánh áng mặt trời. Sự kiện này được Ông Hoàng Văn Đào viết
trong cuốn Việt Nam Quốc Dân Đảng như sau: “Sau 80
năm bị lệ thuộc, dân tộc Việt Nam chỉ thèm khát độc lập, và không
biết gì đến khuynh hướng chính trị của phe này với nhóm khác. Người
dân Việt Nam nghĩ rằng: miễn là nước được độc lập, còn đảng phái
nào lãnh đạo cuộc tranh đấu giành độc lập hay cầm chính quyền cũng vậy,
cốt là “Nước Việt Đúng như lòng
kỳ vọng của nhân dân ta, Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ
mạng đánh đuổi được thành phần cốt cán trong Liên Quân Xâm Lăng Pháp
- Thập Ác Vatican ra khỏi giang sơn với trận đánh lừng danh “Điện Biên
Phủ” vang dội trên khắp năm châu bốn bể. Với chiến công này, Mặt Trận
Việt Minh nghiễm nhiên có dư thừa chính nghĩa để tiếp tục nắm quyền
lãnh đạo nhân dân theo đuổi cuộc chiến đòi lại một nửa giang sơn còn
nằm trong tay kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc là Giáo Hội La Mã với
cái dù quyền lực của siêu cường Hoa Kỳ. Quy luật lịch sử này cũng
được Giáo-sư Lê Xuân Khoa nhắc đi nhắc lại nhiều lần nơi các trang
206, 210, 189 và 190 trong cuốn Việt Nam 1945-1975 về chính nghĩa
của Mặt Trận Việt Minh. Hai đọan văn trong 2 trang 206 và 210 đã được
trích dẫn ở trên. Dưới đây là 2 đọan văn ở 2 trang 189 và 190: “Cuộc kháng chiến chống Pháp thành công do Việt
Minh lãnh đạo đã chứng tỏ truyền thống bất khuất của dân tộc Việt
“Công bằng
mà nói, thắng lợi này đạt được chính là nhờ sự điều động của
đảng Cộng Sản ở đằng sau Mặt Trận Việt Minh, với những ưu điểm
về tổ chức và tinh thần kỷ luật, lý tưởng cách mạng,
kỹ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tuyên truyền và nhất là sức mạnh lôi cuốn quần chúng của
Hồ Chí Minh qua hình ảnh của một nhà cách mạng một lòng vì dân vì nước,
đã tranh đấu gian nan ở hải ngoại trong suốt mấy chục năm. Chiến tranh
chống Pháp là một chiến tranh có chính nghĩa và Việt Minh đã giành được
chính nghĩa đó.” [8] Dĩ nhiên,
ở vào trường hợp này, không có lý gì mà người có công đánh đuổi
được quân thù ra khỏi quê hương lại ngu xuẩn đến độ trao quyền lãnh
đạo quốc gia cho người kế thừa một triều đình đã không làm tròn bổn
phận của người lãnh đạo quốc dân bảo toàn lãnh thổ và chăm lo phúc lợi cho nhân dân. Đây là
lý do tại sao khi hoàn thành sứ mạng đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất
nước, Bình Định Vương Lê Lợi đã không tái lập ngôi vua cho nhà Trần.
Đây cũng là lý do tại sao Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ được toàn quân
tôn lên làm Hoàng Đế Quang Trung trước khi kéo quân ra tiêu diệt gần 300
ngàn quân Thanh xâm lăng, và sau đó
được toàn thể dân tộc ta kính mến tôn vinh lên là vị đại anh hùng cứu
tinh của đất nước. Tương tự như vậy, cũng vì lý do này, kể từ năm
1862 trở đi, bất kỳ lực lượng nghĩa quân kháng chiến nào thành công
hay hòan thành được sứ mạng đánh đuổi liên minh giặc Pháp – Vatican
ra khỏi quê hương đều có đủ tư cách chính thống và chính nghĩa lên cầm
quyền cai trị nhân dân, và Mặt Trận Việt Minh đã hoàn thành được sứ
mạng cao cả này. Vậy thì chính nghĩa
nắm quyền cai trị nhân dân phải thuộc về Việt Minh. Đến đây, chúng
ta thấy chính tà đã định, và bất cứ người nào, dù là con cháu của
nhà Nguyễn, kể cả ông Bảo Đại, dù là của một tổ chức với những
danh xưng tốt đẹp đến đâu nữa cũng không còn tư cách gì để nhẩy lên
hay được đưa lên nắm chính quyền. Người viết xin khẳng định đây
là quy luật lịch sử. [2] Phạm Văn
Sơn, Sđd., trang 169. [3] Ibid., tr 190 [4] Ibid., tr 190 [5]
Nghiêm Kế Tổ, Việt [6]
Đòan Độc Thư Và Xuân Huy, Giám Mục Lế Hữu
Từ & Phát Diệm (Sàigòn:TXB,
1973), tr 15 . [7] Hoàng Văn
Ðào, Việt [8] Lê Xuân
Khoa, Việt
|
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com