
posted: 08.2.05
Nguyễn Mạnh
Quang Chính thống
và hay chính nghĩa là tính cách hợp lý, hợp tình và chính đáng của một
nhân vật hay một thế lực có đủ uy tín hay đã tạo được những chiến
công hiển hách khiến cho muôn dân kính mến và triệt để ủng hộ đưa lên
nắm giữ vai trò lãnh đạo đất nước (cũng có thể là của một tổ chức
có những hoạt động liên hệ đến đời sống của nhiều người trong xã
hội). Vì thế cho nên, mỗi khi có cá nhân của một một đảng phái chính
trị xuất hiện người ta không thể không xét đến tư cách chính thống
hay chính nghĩa của cá nhân người lãnh đạo và chính cương của tổ chính
đảng đó. Cũng vì thế mà chính thống và chính nghĩa chính quyền là ưu
tiên quan trọng nhất trong đời sống văn hóa và chính trị của người dân
trong xã hội theo văn minh tam giáo cổ truyền Việt Vấn đề chính
thống và chính nghĩa quan trọng như vậy. Thế nên, trước khi bàn đến vấn
đề này, chúng ta hãy tìm hiểu ý định nghĩa của từ kép “chính thống”
hay “chính nghĩa” để tránh khỏi tình trạng hiểu sai lạc trong những
đề tài liên quan đến chính trị. ĐỊNH
NGHĨA: Thường thường,
khi có một cá nhân hay một thế lực mới lên nắm chính quyền là người
ta thường đặt vấn đề chính thống hay chính nghĩa của cá nhân hay một
thế lực đó. Vi vậy, chúng ta cần phải hiểu rõ định nghĩa của hai từ
kép chính thống và chính nghĩa này. Theo Hán-Việt Tự Điển của ông Đào
Duy Anh thì: “Chính thống là dòng chính của nhà vua hoặc của
môn học, (đồng nghĩa với chính thống) và ‘Chính nghĩa là đạo lý
chính đáng (đồng nghĩa với công đạo = justices).” Theo Việt
Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu thì: “Chính tông là dòng chính nhà vua hay phái chính
một tôn giáo, một học thuyết (đồng nghĩa với chính thống) và “chính
nghĩa là nghĩa vụ chính đáng, việc làm đúng với lẽ phải.” Theo Việt
Nam Tự Điển của Ban Văn Hội Khai Trí Tiến Đức thì: “Chính thống là mối chính, dòng chính (nói về
các đời làm vua)” và “chính tông là chỉ về phái nào đã nối được
chính truyền của một tôn giáo hay học thuyết.” Chúng tôi
không thấy có từ “chính nghĩa” trong
cuốn tự điển này. Trái ngược
với chính thống hay chính nghĩa là “phi
chính nghĩa” hay “bất chính”..
Thiển nghĩ
rằng hai từ kép chính thống và chính nghĩa gần như giống nhau và trong tập
sách này chúng tôi sử dụng hai từ kép này như vậy. Trong phần trình bày
dưới đây, chúng tôi chỉ áp dụng các từ trên đây cho những cá nhân
những người lãnh đạo, các tổ chức hay chính đảng hoặc thế lực
tranh giành quyền chính cai trị đất nước theo truyền thống đạo lý từ
ngàn xưa của các dân tộc Đông Phương trong đó có Việt Theo quy luật
của tạo hóa, gà sinh ra gà, cuốc sinh ra cuốc và cáo sinh ra cáo. Tương tự
như vậy, thói thường, bất chính tất nhiên sẽ sinh ra hàng ngàn thứ bất
chính khác. Đồng thời, bất chính còn là cha đẻ của bất công, bạo ngược
và hung tàn; bất công, bạo ngược và hung tàn sẽ làm cho nhân dân bất
mãn, căm giận và thù ghét. Một khi nhân dân đã bất mãn, căm giận và
thù ghét thì nhân dân sẽ nổi loạn chống lại chính quyền. Đây là quy
luật lịch sử. Câu nói “thượng bất
chính, hạ tắc loạn” là do quy luật này mà ra. Cũng vì thế mà từ
ngàn xưa, các dân tộc Đông Phương luôn luôn đặt chính nghĩa và chính thống
lên hàng ưu tiên số 1 cho những người hay đảng phái chính trị muốn nhẩy
lên nắm quyền quản lý quốc gia. Cũng vì thế mà trong bài Bình Ngô Đại
Cáo của cụ Nguyễn Trãi mới có câu, “Đem
đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”.
Nói về
chính thống hay chính nghĩa, ông Richard J. Hardy trong cuốn Government In America viết như sau: "Quyền lực và quyền thế không phải là những
lý do độc nhất mà nhân dân phải tuân hành các chính sách của chính quyền.
Nhân dân tuân hành những chính sách của chính quyền vì họ tin rằng
chính quyền có chính thống (chính nghĩa hay hợp pháp). Như vậy có nghĩa là
nhân dân chấp nhận quyền thế và cái quyền của chính quyền được lãnh
đạo đất nước. Một chính quyền có đủ quyền lực có thể tồn tại
được thường thường là dựa vào bạo lực dù là nhân dân không chấp
nhận cái chính quyền này. Nhưng nếu muốn có một chính quyền ổn định,
hữu hiệu và bền vững lâu dài thì tính cách chính thống (chính nghĩa hay
hợp pháp) là cần thiết." (Nguyên văn: "Power and authority
are not the only reasons people comply with the policies of their government. People
follow these policies because they believe the government has legitimacy. That is, people
accept its authority and its right to lead them. A government enough power can exist for a
while, usually by force, even if the people do not accept it. But legitimacy is necessary
if the government is to be stable, effective, and lasting." [1]
Cuốn sách Government In America là một trong những cuốn
giáo khoa về môn "Công Dân" (Civics) được rất nhiều trường
trung học ở Hoa Kỳ chọn làm sách giáo khoa dạy trong các lớp 12. Môn
công dân là một trong những môn học bắt buộc học sinh phải học. Xem như
thế cũng đủ biết nhân dân Hoa Kỳ coi việc rèn luyện cho các em học
sinh phải hiểu thấu đáo tính các chính thống hay chính nghĩa hoặc hợp
pháp của một chính quyền và của người lãnh đạo nhân dân. Ngoại trừ
các nước nằm dưới ách thống trị của Giáo Hội La Mã hay các chế độ
đạo phiệt Hồi Giáo và quân phiệt, hầu như tất cả các nước theo chế
độ dân chủ tự do (thực sự) như ở Bắc Mỹ và Tây Âu đều có cùng
quan niệm về chính thống và chính nghĩa giống như ở Hoa Kỳ. Riêng ở Việt
Nam ta, tùy theo hoàn cảnh của đất nước, tiêu chuẩn về chính thống hay
chính nghĩa của một chế độ hay cá nhân người cầm quyền trị quốc đã
trở thành truyền thống của dân tộc là phải có điều kiện hay tiêu chuẩn
như sau: 1.- Nếu đất
nước đang ở trong thời quân chủ chuyên chế như các triều đại Đinh,
Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Phúc thì người
con nào được vua cha hay hội đồng hoàng tộc (thường là vua cha) chỉ định
lên kế nghiệp thì người đó sẽ được lên cầm quyền và được coi là
có chính thống hay chính nghĩa. Đây là trường hợp Vua Gia Long chọn trước
Thái tử Đảm vào năm 1816 và vua Thiệu Trị chọn Thái tử Hồng Nhậm
lên kế vị trước khi băng hà vào năm 1847. Trong trường hợp vua cha từ
trần đột ngột mà không để di chiếu lại cho người con nào lên kế
nghiệp thì sẽ có hai trường hợp: Trường hợp
A.- Người con trai lớn nhất sẽ được đưa lên kế nghiệp như trường hợp
Vua Lê Thái Tông chết đột ngột vào năm 1442. Nếu không làm như vậy thì
triều chính sẽ trở thành rối loạn rồi biến thành đại họa cho nhân
dân. Trường hợp
B.- Nếu có sự tranh giành quyền lực giữa các người con của nhà vua
(hoàng tử và công chúa) thì phe nào thắng sẽ được coi như là đã giải
quyết xong chuyện rắc rối này. Nhưng nếu vị tân vương này trở thành
thứ “quân phi quân” hay “bạo chúa” coi quần thần hay các viên chức
chính quyền như một thứ băng đảng hay một bầy gia nô và coi nhân dân
như chó ngựa, lạm dụng quyền chính, ưu đãi bà con và phe đảng của mình
để làm lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ rồi tự tung tự tác, biến
chính quyền thành bộ máy đàn áp, tra tấn và thủ tiêu những người bất
đồng chính kiến, đàn áp và khủng bố những người không chịu khuất
phục. Ở vào trường hợp như vậy, nếu trong dòng họ nhà vua (hoàng tộc)
không còn có ai lập tức đứng lên phát cờ dấy binh khởi nghĩa để diệt
trừ tên quốc tặc này, thì kể như là cái dòng họ nhà vua này không còn
chính thống hay chính nghĩa nữa. 2.- Nếu đất
nước ở vào trường hợp B trên đây, thì bất kỳ người dân nào có khả
năng đứng lên chiêu binh mãi mã kéo quân về khử diệt tên bạo chúa
đương quyền và phe đảng gia nô này thì người đó được coi như là có
chính thống hay chính nghĩa nắm quyền lãnh đạo quốc dân. Đây là các trường
hợp của Vua Lê Đại Hành vào năm 980, của ông Lý Công Uẩn vảo năm
1009, của anh em nhà Tây Sơn trong thập niên 1770. Tính cách chính thống này
được ghi rõ trong kinh điển của Nho giáo và đều được các nhà viết sử
ghi lại trong các tác phẩm lịch sử của họ. Một bậc trí giả người
Âu Mỹ có nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt "Nếu người làm vua áp bức nhân dân thì người
đó không còn xứng đáng được đối xử như là vua nữa. Cá nhân ông vua
đó không còn thiêng liêng nữa, và trừ khử ông vua đó không còn là một
tội ác. Nổi loạn giết một tên bạo chúa như vậy không những là một
việc làm hợp lý mà còn là một việc làm đáng được ca tụng, và người
đứng ra trừ diệt tên bạo chúa đó xứng đáng được đưa lên nắm quyền
lãnh đạo đất nước, cai trị muôn dân.” (If the sovereign oppressed the
people, he no longer deserved to be treated as the sovereign. His person was no longer
sacred, and to kill him was no longer crime Revolt against such tyranny not only was
reasonable but was ameritorious act and conferred upon its author the right to take over
the power of the sovereign.) [2]
Cụ Trần Trọng
Kim cũng viết trong sách Nho Giáo như sau: "Nếu ông vua nào trị dân mà yêu cái của dân
ghét và ghét cái của dân yêu, là làm những điều trái lòng dân, tức là
trái mệnh trời, thì người khác được quyền "điếu dân phạt tội",
nghĩa là cứu dân mà đánh người có tội, như vua Thang đánh vua Kiệt, vua
Vũ Vương đánh vua Trụ vậy." [3] Vấn đề này
sẽ được trình bày đầy đủ trong tiểu mục “Những Trường Hợp Làm
Mất Chính Nghĩa” ở phần sau. 3.- Nếu đất
nước đã nằm dưới ách thống trị quân thù xâm lược thì bất kỳ cá
nhân hay thế lực nào trong nhân dân có khả năng chiêu binh mãi mã, huy động
nhân dân cùng lăn xả vào cuộc chiến đánh đuổi quân thù ra khỏi giang sơn,
khi thành công, cá nhân hay thế lực đó sẽ có chính thống hay chính nghĩa
lên nắm quyền cai trị đất nước. Đây là các trường hợp của Vua Ngô
Quyền vào năm 939, của Vua Lê Lợi vào năm 1427, của Vua Quang Trung vào năm
1789, của Việt Minh vào năm 1954. Đây là quy luật lịch sử thiết tưởng
bất kỳ người dân nào đã học qua bậc tiểu học cùng đều biết. Dựa
vào quy luật lịch sử này, Giáo sư Lê Xuân Khoa viết trong cuốn Việt “Tình hình chính trị Việt Nam vào thời điểm
1945-1946 cho thấy rằng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã
giành được chính nghĩa chống Pháp và lôi cuốn được sự ủng hộ của
đông đảo quần chúng.” ; ”Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chính nghĩa
chống Pháp đã được dồn hết sang phía chính phủ kháng chiến do Hồ
Chí Minh lãnh đạo.” [4]
Truyền thống
của dân tộc Việt 4.- Nếu đất
nước đã giành lại độc lập rồi và theo thể chế dân chủ tự do giống
như các nước dân chủ tự do ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản và Ấn Độ,
thì việc chọn người lên nắm quyền lãnh đạo quốc dân được quyết
định bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do, bỏ phiếu kín và không
có gian lận. Cá nhân hay chính đảng nào được đa số phiếu nhân dân
tín nhiệm thì được coi như là có chính thống hay chính nghĩa, hợp pháp,
hợp lý và hợp tình lên nắm quyền cai trị quốc dân. Sở dĩ người
viết nhấn mạnh đến cụm từ “tuyển
cử tự do, bỏ phiếu kín và không có gian lận” là vì trong thời
kỳ 1954-1975, tuy rằng, chế độ miền Nam Vỉệt Nam manh danh hiệu theo đuổi
lý tưởng tự do dân chủ, người dân miền Nam có quá nhiều kinh nghiệm
về bầu cử gian lận do chính quyền chủ mưu. Sự kiện này hãy còn
có các nhân chứng sống, và các nhà viết sử đều ghi lại rõ ràng trong
những tác phẩm của họ. Giáo-sư Lê Xuân Khoa ghi lại trong cuốn Việt “Ngày 23 tháng Mười (1955), một cuộc trưng cầu
dân ý được tổ chức để dân chúng miền “Khi thành
lập chính phủ cũng như trong những lần cải tổ nội các, Ngô Đình Diệm
đều không muốn có sự tham dự của Phan Huy Quát, một lãnh tụ Đại Việt
cũng được Hoa Kỳ tin cậy. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến tháng
Ba 1956, ứng cử viên đối lập Phan Quang Đán đắc cử nhưng không được
công nhận vì “gian lận”, và bị thua ứng cử viên chính phủ
trong lần bầu lại. Năm 1959, ông Đán ra tranh cử lần nữa và trúng cử với
đa số phiếu nhưng vẫn bị loại vì ”vi phạm luật bầu cử.” Một
ứng cử viên đối lập khác là Nguyễn Trân cũng đắc cử với ông Đán
ở Sàigòn cũng bị loại cùng một lý do.” [5] Đến đây,
thiết tưởng cũng nên nói sơ qua về tiểu sử ông Gia-tô Ngô Đình Diệm.
Thân phụ của Ngô Đình Diệm là tên đại Việt gian Gia-tô Ngô Đình Khả.
Ngô Đình Khả được Giáo Hội La Mã đưa sang chủng viện Pénang huấn luyện
làm nghề thông ngôn một thời gian rồi được đưa về Việt Nam tiếp tay
cho Liên Minh Pháp – Vatcian đặc trách việc dẫn đường chỉ điểm trong
những chiến dịch tấn công đánh chiếm Việt Nam và những chiến dịch
tiêu diệt các lực nghĩa quân kháng chiến Việt Nam. Một trong những tội
ác của Ngô Đình Khả là cùng với Nguyễn Thân dẫn quân thập tự bản
địa đi đánh phá và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến Văn Thân
của cụ Phan Đình Phùng ở Vụ Quang. Sau khi cụ Phan đã qua đời vì bệnh
kiết lị, lực lượng nghĩa quân Văn Thân suy yếu, Nguyễn Thân và Ngô Đình
Khả thừa thắng xông lên tiến chiếm căn cứ nghĩa quân và đào mả cụ
Phan lấy xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng bắn xuống sông
Lam Giang theo đúng truyền thống của đạo Gia-tô. [6] Do thành
tích dã man này mà Ngô Đình Khả được giặc thăng quan, cho nắm giữ chức
Tổng Quản Cấm Vệ Thành với nhiệm vụ vừa theo dõi ông vua bù nhìn
Thành Thái vừa biến ông vua gỗ này thành một tín đồ Gia-tô. Nhờ làm
việc đắc lực cho liên minh giặc và nắm giữ chức vụ Tổng Quản Cấm
Vệ Thành, đàn con của Ngô Đình Khả cũng được ban thưởng nhiều đặc
quyền đặc lợi. Ngô Đình Khôi được cho làm quan tri phủ Tùy An cho giặc
vào năm 1917, năm 1920 được thăng lên chức Bố Chánh Bình Định, năm 1926
thăng lên chức Tuần Vũ Quảng Ngãi, tới năm 1930 được đưa lên giữ chức
Tổng Đốc Quảng Nam. Ngô Đình Thục được cho đi học làm linh mục rồi
được thăng chức giám mục vào năm 1938. Ngô Đình Diệm đuợc hưởng qui
chế tập ấm, được đặc cách cho theo học Trường Hậu Bổ và sau đó
được bổ nhậm làm tri huyện huyện Hải Lăng, rồi được thăng chức vù
vù, tới năm 1932 được cho giữ chức Thượng Thư Bộ Lại. Ngô Đình Nhu
được gửi đi du học ở Pháp. Bản thân
Ngô Đình Diệm cũng là một tên Việt gian làm việc đắc lực cho liên
minh giặc (Pháp – Vì đã biết
rõ bộ mặt thật của Vatican với kinh nghiệm lịch sử ở ngay chính quốc
Nhật từ thế kỷ 17 (sẽ nói rõ ở Phần IV trong tập sách này), cho nên
khi hất Pháp ra khỏi sân khấu chính trị Việt Nam vào chiều tối ngày
9/3/1945, Nhật cương quyết giữ ông Bảo Đại làm vua gỗ cho Nhật, và
dùng ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng, chứ nhất định không đưa ông
Gia-tô Cường Để về làm vua bù nhìn và cũng không dùng Gia-tô ông Ngô Đình
Diệm làm thủ tướng dù rằng hai ông Gia-tô này đã thậm thụt chạy chọt
với Nhật đã từ nhiều năm trước. Năm 1954, nhờ có
Tòa Thánh Vatican chạy chọt với siêu cường Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm được
đưa về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho cả hai thế lực này. Như vậy
là cả đời hai cha con Ngô Đình Khả và Ngô Đình Diệm đều cùng là Việt
gian phản quốc. Tới khi được Vatican và Hoa Kỳ cho lên cầm quyền, Diệm
lại tiếp tục làm hàng ngàn việc làm bất chính khác. Việc làm bất
chính đầu tiên của Diệm là gian lận bầu cử như đã nói trên. Diệm
không những đã gian lận (vi phạm luật bầu cử) mà lại còn vu cáo cho
các ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân “vi
phạm luật bầu cử”. Như vậy, Ngô Đình Diệm không những đã hành
động bất chính, mà còn can tội “cáo gian”. Ngòai những việc làm bất
chính trên đây, trong gần chín năm cầm quyền, anh em Ngô
Đình Diệm và băng đảng Giám-mục và Linh-mục Gia-tô di cư Bắc Kỳ còn
làm cả hàng rừng việc làm bất chính khác. Trong cái rừng việc
làm bất chính này là lạm dụng quyền thế, Gia-tô hóa chính quyền và cảnh
sát hóa bộ máy cai trị. Chế độ ra công thiết lập những tổ chức mật
vụ, công an, lực lượng đặc biệt như thiên la địa võng, giết hại những
nhà ái quốc thuộc các đảng phái chính trị đối lập. Trong nỗ lực
Gia-tô hóa đất nước, chính quyền dùng tiền công quỹ, quân đội và
nhân lực chính quyền tổ chức đại lễ hiến dâng nước Việt Nam cho Giáo
Hội La Mã vào tháng 2 năm 1959, tàn sát dân lương bất khuất không chịu
theo đạo Gia-tô. Chính quyền đã lừa gạt Hoa Kỳ trong chương trình cải
cách điền địa (mua lại ruộng đất của điền chủ lớn để phân phối
cho tá điền mà không rớ tới 370 ngàn mẫu ruộng của Giáo Hội La Mã),
cướp đọat tài nguyên quốc gia, kinh tài bất chính, bóc lột nhân dân,
ăn chặn tiền ngọai viện, v.v…. Đến đây,
chúng ta thấy rõ cái quy luật lịch sử “bất
chính tất nhiên sẽ sinh ra hàng ngàn bất chính khác…” áp dụng cho trường hợp ông Ngô Đình Diệm
và chế độ đạo phiệt Gia-tô của ông ta đúng phóc trăm phần trăm, không
sai một li nào. [1] Richard J.
Hardy, Government In [2] Beranrd B.
Fall, The Two [3]
Trần Trọng Kim, Nho Giáo Tập 1 (Bộ
Giáo Dục, 1971), trang 132 (Ấn bản Tân Việt, tr 168. [4] Lê Xuân
Khoa, Việt [5]
Ibid., tr 437. [6]
Cũng nên biết đạo Gia-tô có truyền thống trả thù người đã chết bằng
cách đào mà nạn nhân lấy xác đốt thành tro đã có ở Âu Châu từ thời
Trung Cổ: “Vào thế kỷ 13, dân vùng Toulouse, miền Nam nước
Pháp ngày nay, nhận thấy Jehovah (Chúa Cha) độc ác, đúng là quỉ Satan mạo
nhận là thiên chúa, chớ không phải là thiên chúa thật. Họ thấy vị thần
ấy gớm ghiếc quá, bỏ không thờ nữa tuy họ vẫn kính thờ Jesus; họ lập
thành giáo hội Cathari. Giáo Hội Công La (Công Giáo La Mã) kết họ tội tà
đạo. Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh thánh chiến để diệt
họ. Vua chúa ở miền Bắc đất Pháp, ở đất Đức tuân lời, phái binh
lính đến làm thành thập tự quân để đánh bọn tà đạo. Rât đông tín
đồ Giê-su phe giáo hoàng tới trợ lực thập tự quân. Đám quân này, dưới
quyền giáo sĩ Arnaud Amauri, đại diện giáo hoàng, bao vây thành Béziers.
Thành bị hạ ngày 22/7/1209, toàn dân ở trong thành bị giết hết, kể cả
đàn bà, trẻ con. Tòa án đạo Jesus theo đuổi trừng phạt cả những người
bị kết tội là tà đạo dù họ đã chết. Chẳng hạn, năm 1309, tòa
án đạo Jesus ở Carcassonne cho đào mả bẩy người phạm tội tà giáo móc
xác lên đốt đi; của cải của họ bị tịch thu, dòng dõi họ bị trừng
phạt.” Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (Wesminster, CA: Đồng
Thanh & Văn Nghệ, 1996), tr 132-133. Cõ lẽ vì truyền thống này, các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) của Giáo Hội La Mã mới xử tử những người bị kết án là “tà giáo” bằng cách trói nạn nhân vào một cái cọc, rồi chụm củi khô và châm lửa hỏa thiêu. |
In ra @
© Copyright web Giao Điểm. Thư từ, bài vở
xin gởi về: