205-giaodiem.gif (5834 bytes)
 

posted: 08.2.05

      QUAN NIỆM CỔ TRUYỀN VỀ CHÍNH THỐNG
  VÀ CHÍNH NGHĨA CỦA NGƯỜI LÊN CẦM QUYỀN
    (trích đọan Chương 3 trong sách sắp xuất bản)

Nguyễn Mạnh Quang

Chính thống và hay chính nghĩa là tính cách hợp lý, hợp tình và chính đáng của một nhân vật hay một thế lực có đủ uy tín hay đã tạo được những chiến công hiển hách khiến cho muôn dân kính mến và triệt để ủng hộ đưa lên nắm giữ vai trò lãnh đạo đất nước (cũng có thể là của một tổ chức có những hoạt động liên hệ đến đời sống của nhiều người trong xã hội). Vì thế cho nên, mỗi khi có cá nhân của một một đảng phái chính trị xuất hiện người ta không thể không xét đến tư cách chính thống hay chính nghĩa của cá nhân người lãnh đạo và chính cương của tổ chính đảng đó. Cũng vì thế mà chính thống và chính nghĩa chính quyền là ưu tiên quan trọng nhất trong đời sống văn hóa và chính trị của người dân trong xã hội theo văn minh tam giáo cổ truyền Việt Nam thường ưu tư..

Vấn đề chính thống và chính nghĩa quan trọng như vậy. Thế nên, trước khi bàn đến vấn đề này, chúng ta hãy tìm hiểu ý định nghĩa của từ kép “chính thống” hay “chính nghĩa” để tránh khỏi tình trạng hiểu sai lạc trong những đề tài liên quan đến chính trị.

ĐỊNH NGHĨA:

Thường thường, khi có một cá nhân hay một thế lực mới lên nắm chính quyền là người ta thường đặt vấn đề chính thống hay chính nghĩa của cá nhân hay một thế lực đó. Vi vậy, chúng ta cần phải hiểu rõ định nghĩa của hai từ kép chính thống và chính nghĩa này. Theo Hán-Việt Tự Điển của ông Đào Duy Anh thì:

Chính thống là dòng chính của nhà vua hoặc của môn học, (đồng nghĩa với chính thống) và ‘Chính nghĩa là đạo lý chính đáng (đồng nghĩa với công đạo = justices).”

Theo Việt Nam Tự Điển của ông Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu thì:

Chính tông là dòng chính nhà vua hay phái chính một tôn giáo, một học thuyết (đồng nghĩa với chính thống) và “chính nghĩa là nghĩa vụ chính đáng, việc làm đúng với lẽ phải.”

Theo Việt Nam Tự Điển của Ban Văn Hội Khai Trí Tiến Đức thì:

Chính thống là mối chính, dòng chính (nói về các đời làm vua)” và “chính tông là chỉ về phái nào đã nối được chính truyền của một tôn giáo hay học thuyết.

Chúng tôi không thấy có từ “chính nghĩa” trong cuốn tự điển này.

Trái ngược với chính thống hay chính nghĩa là “phi chính nghĩa” hay “bất chính..

CHÍNH THỐNG HAY CHÍNH NGHĨA
KHI LÊN NẮM CHÍNH QUYỀN
CỦA MỘT CÁ NHÂN HAY MỘT THẾ LỰC

Thiển nghĩ rằng hai từ kép chính thống và chính nghĩa gần như giống nhau và trong tập sách này chúng tôi sử dụng hai từ kép này như vậy. Trong phần trình bày dưới đây, chúng tôi chỉ áp dụng các từ trên đây cho những cá nhân những người lãnh đạo, các tổ chức hay chính đảng hoặc thế lực tranh giành quyền chính cai trị đất nước theo truyền thống đạo lý từ ngàn xưa của các dân tộc Đông Phương trong đó có Việt Nam ta. Cá nhân hay chính đảng nào có chính thống hay chính nghĩa thì được nhân dân ủng hộ, nguợc lại, nếu cá nhân hay chính đảng nào dựa vào bạo lực hay dựa và quyền lực của ngọai bang nhảy lên cầm quyền thì sẽ bị coi là không có chính nghĩa, tức là phi chính nghĩa hay bất chính.

Theo quy luật của tạo hóa, gà sinh ra gà, cuốc sinh ra cuốc và cáo sinh ra cáo. Tương tự như vậy, thói thường, bất chính tất nhiên sẽ sinh ra hàng ngàn thứ bất chính khác. Đồng thời, bất chính còn là cha đẻ của bất công, bạo ngược và hung tàn; bất công, bạo ngược và hung tàn sẽ làm cho nhân dân bất mãn, căm giận và thù ghét. Một khi nhân dân đã bất mãn, căm giận và thù ghét thì nhân dân sẽ nổi loạn chống lại chính quyền. Đây là quy luật lịch sử. Câu nói “thượng bất chính, hạ tắc loạn” là do quy luật này mà ra. Cũng vì thế mà từ ngàn xưa, các dân tộc Đông Phương luôn luôn đặt chính nghĩa và chính thống lên hàng ưu tiên số 1 cho những người hay đảng phái chính trị muốn nhẩy lên nắm quyền quản lý quốc gia. Cũng vì thế mà trong bài Bình Ngô Đại Cáo của cụ Nguyễn Trãi mới có câu, “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”.

Nói về chính thống hay chính nghĩa, ông Richard J. Hardy trong cuốn Government In America viết như sau:

"Quyền lực và quyền thế không phải là những lý do độc nhất mà nhân dân phải tuân hành các chính sách của chính quyền. Nhân dân tuân hành những chính sách của chính quyền vì họ tin rằng chính quyền có chính thống (chính nghĩa hay hợp pháp). Như vậy có nghĩa là nhân dân chấp nhận quyền thế và cái quyền của chính quyền được lãnh đạo đất nước. Một chính quyền có đủ quyền lực có thể tồn tại được thường thường là dựa vào bạo lực dù là nhân dân không chấp nhận cái chính quyền này. Nhưng nếu muốn có một chính quyền ổn định, hữu hiệu và bền vững lâu dài thì tính cách chính thống (chính nghĩa hay hợp pháp) là cần thiết." (Nguyên văn: "Power and authority are not the only reasons people comply with the policies of their government. People follow these policies because they believe the government has legitimacy. That is, people accept its authority and its right to lead them. A government enough power can exist for a while, usually by force, even if the people do not accept it. But legitimacy is necessary if the government is to be stable, effective, and lasting." [1]

Cuốn sách Government In America là một trong những cuốn giáo khoa về môn "Công Dân" (Civics) được rất nhiều trường trung học ở Hoa Kỳ chọn làm sách giáo khoa dạy trong các lớp 12. Môn công dân là một trong những môn học bắt buộc học sinh phải học. Xem như thế cũng đủ biết nhân dân Hoa Kỳ coi việc rèn luyện cho các em học sinh phải hiểu thấu đáo tính các chính thống hay chính nghĩa hoặc hợp pháp của một chính quyền và của người lãnh đạo nhân dân. Ngoại trừ các nước nằm dưới ách thống trị của Giáo Hội La Mã hay các chế độ đạo phiệt Hồi Giáo và quân phiệt, hầu như tất cả các nước theo chế độ dân chủ tự do (thực sự) như ở Bắc Mỹ và Tây Âu đều có cùng quan niệm về chính thống và chính nghĩa giống như ở Hoa Kỳ. Riêng ở Việt Nam ta, tùy theo hoàn cảnh của đất nước, tiêu chuẩn về chính thống hay chính nghĩa của một chế độ hay cá nhân người cầm quyền trị quốc đã trở thành truyền thống của dân tộc là phải có điều kiện hay tiêu chuẩn như sau:

1.- Nếu đất nước đang ở trong thời quân chủ chuyên chế như các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Phúc thì người con nào được vua cha hay hội đồng hoàng tộc (thường là vua cha) chỉ định lên kế nghiệp thì người đó sẽ được lên cầm quyền và được coi là có chính thống hay chính nghĩa. Đây là trường hợp Vua Gia Long chọn trước Thái tử Đảm vào năm 1816 và vua Thiệu Trị chọn Thái tử Hồng Nhậm lên kế vị trước khi băng hà vào năm 1847. Trong trường hợp vua cha từ trần đột ngột mà không để di chiếu lại cho người con nào lên kế nghiệp thì sẽ có hai trường hợp:

Trường hợp A.- Người con trai lớn nhất sẽ được đưa lên kế nghiệp như trường hợp Vua Lê Thái Tông chết đột ngột vào năm 1442. Nếu không làm như vậy thì triều chính sẽ trở thành rối loạn rồi biến thành đại họa cho nhân dân.

Trường hợp B.- Nếu có sự tranh giành quyền lực giữa các người con của nhà vua (hoàng tử và công chúa) thì phe nào thắng sẽ được coi như là đã giải quyết xong chuyện rắc rối này. Nhưng nếu vị tân vương này trở thành thứ “quân phi quân” hay “bạo chúa” coi quần thần hay các viên chức chính quyền như một thứ băng đảng hay một bầy gia nô và coi nhân dân như chó ngựa, lạm dụng quyền chính, ưu đãi bà con và phe đảng của mình để làm lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ rồi tự tung tự tác, biến chính quyền thành bộ máy đàn áp, tra tấn và thủ tiêu những người bất đồng chính kiến, đàn áp và khủng bố những người không chịu khuất phục. Ở vào trường hợp như vậy, nếu trong dòng họ nhà vua (hoàng tộc) không còn có ai lập tức đứng lên phát cờ dấy binh khởi nghĩa để diệt trừ tên quốc tặc này, thì kể như là cái dòng họ nhà vua này không còn chính thống hay chính nghĩa nữa.

2.- Nếu đất nước ở vào trường hợp B trên đây, thì bất kỳ người dân nào có khả năng đứng lên chiêu binh mãi mã kéo quân về khử diệt tên bạo chúa đương quyền và phe đảng gia nô này thì người đó được coi như là có chính thống hay chính nghĩa nắm quyền lãnh đạo quốc dân. Đây là các trường hợp của Vua Lê Đại Hành vào năm 980, của ông Lý Công Uẩn vảo năm 1009, của anh em nhà Tây Sơn trong thập niên 1770. Tính cách chính thống này được ghi rõ trong kinh điển của Nho giáo và đều được các nhà viết sử ghi lại trong các tác phẩm lịch sử của họ. Một bậc trí giả người Âu Mỹ có nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam là sử gia Bernard F. Fall đã ghi nhân sự kiện này như sau:

"Nếu người làm vua áp bức nhân dân thì người đó không còn xứng đáng được đối xử như là vua nữa. Cá nhân ông vua đó không còn thiêng liêng nữa, và trừ khử ông vua đó không còn là một tội ác. Nổi loạn giết một tên bạo chúa như vậy không những là một việc làm hợp lý mà còn là một việc làm đáng được ca tụng, và người đứng ra trừ diệt tên bạo chúa đó xứng đáng được đưa lên nắm quyền lãnh đạo đất nước, cai trị muôn dân.” (If the sovereign oppressed the people, he no longer deserved to be treated as the sovereign. His person was no longer sacred, and to kill him was no longer crime Revolt against such tyranny not only was reasonable but was ameritorious act and conferred upon its author the right to take over the power of the sovereign.) [2]

Cụ Trần Trọng Kim cũng viết trong sách Nho Giáo như sau:

"Nếu ông vua nào trị dân mà yêu cái của dân ghét và ghét cái của dân yêu, là làm những điều trái lòng dân, tức là trái mệnh trời, thì người khác được quyền "điếu dân phạt tội", nghĩa là cứu dân mà đánh người có tội, như vua Thang đánh vua Kiệt, vua Vũ Vương đánh vua Trụ vậy." [3]

Vấn đề này sẽ được trình bày đầy đủ trong tiểu mục “Những Trường Hợp Làm Mất Chính Nghĩa” ở phần sau.

3.- Nếu đất nước đã nằm dưới ách thống trị quân thù xâm lược thì bất kỳ cá nhân hay thế lực nào trong nhân dân có khả năng chiêu binh mãi mã, huy động nhân dân cùng lăn xả vào cuộc chiến đánh đuổi quân thù ra khỏi giang sơn, khi thành công, cá nhân hay thế lực đó sẽ có chính thống hay chính nghĩa lên nắm quyền cai trị đất nước. Đây là các trường hợp của Vua Ngô Quyền vào năm 939, của Vua Lê Lợi vào năm 1427, của Vua Quang Trung vào năm 1789, của Việt Minh vào năm 1954. Đây là quy luật lịch sử thiết tưởng bất kỳ người dân nào đã học qua bậc tiểu học cùng đều biết. Dựa vào quy luật lịch sử này, Giáo sư Lê Xuân Khoa viết trong cuốn Việt Nam 1945-1975 như sau:

Tình hình chính trị Việt Nam vào thời điểm 1945-1946 cho thấy rằng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã giành được chính nghĩa chống Pháp và lôi cuốn được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng.” ; ”Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chính nghĩa chống Pháp đã được dồn hết sang phía chính phủ kháng chiến do Hồ Chí Minh lãnh đạo.”  [4]

Truyền thống của dân tộc Việt Nam nói riêng, và các nước theo văn minh Nho Giáo là như vậy. Nếu một cá nhân hay một thế lực nào lên cầm quyền cai trị nhân dân mà không ở vào một trong 3 truờng hợp trên đây là phi chính nghĩa. Đã phi chính nghĩa hay bất chính thì rồi thế nào cũng lạm dụng quyền hành để làm rất nhiều điều bất chính, thất nhân tâm khác nữa. Ở vào trường hợp này, chính quyền trở thành một băng đảng ăn cướp, hay bạo quyền, người lãnh đạo dù mang tước hiệu là “vua” hay “tổng thống” thì cũng chỉ là một tên trùm ăn cướp hay môt tên quốc tặc hay bạo chúa, và tập đoàn nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong chính quyền này cũng chỉ là “những quân ăn cướp ngày” mang tước hiệu các ông quan. Có lẽ cùng vì thế mà người dân Việt Nam ta có thành ngữ “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”. Gặp trường hợp như vậy, bất kỳ người dân nào cũng quyền đứng lên phất cở khởi nghĩa “diệt trừ quốc tặc, đạp đổ bạo quyền”.

4.- Nếu đất nước đã giành lại độc lập rồi và theo thể chế dân chủ tự do giống như các nước dân chủ tự do ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản và Ấn Độ, thì việc chọn người lên nắm quyền lãnh đạo quốc dân được quyết định bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do, bỏ phiếu kín và không có gian lận. Cá nhân hay chính đảng nào được đa số phiếu nhân dân tín nhiệm thì được coi như là có chính thống hay chính nghĩa, hợp pháp, hợp lý và hợp tình lên nắm quyền cai trị quốc dân.

Sở dĩ người viết nhấn mạnh đến cụm từ “tuyển cử tự do, bỏ phiếu kín và không có gian lận” là vì trong thời kỳ 1954-1975, tuy rằng, chế độ miền Nam Vỉệt Nam manh danh hiệu theo đuổi lý tưởng tự do dân chủ, người dân miền Nam có quá nhiều kinh nghiệm về bầu cử gian lận do chính quyền chủ mưu. Sự kiện này hãy còn có các nhân chứng sống, và các nhà viết sử đều ghi lại rõ ràng trong những tác phẩm của họ. Giáo-sư Lê Xuân Khoa ghi lại trong cuốn Việt Nam 1945-1975 với nguyên văn như sau:

Ngày 23 tháng Mười (1955), một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức để dân chúng miền Nam lựa chọn theo Bảo Đại hay Ngô Đình Diệm. Khi đó, Bảo Đại đã trở lại thân Pháp và đang ủng hộ Bình Xuyên, do đó chắc chắn là ông phải thất bại vì đã mất hết tín nhiệm trong dân chúng. Tuy nhiên, ban tổ chức trưng cầu dân ý đã sắp đặt cho việc thắng cử của Ngô Đình Diệm qúa bảo đảm đến độ ông được 98.2 phần trăm trong khi Bảo Đại chỉ được 1.1 phần trăm. Bằng chứng gian lận lộ liễu nhất là ở nhiều nơi số phiếu ủng hộ ông Diệm nhiều hơn số cử tri. Chẳng hạn riêng vùng Sàigòn-Chợ Lớn có 450,000 cử tri ghi danh mà số phiếu bầu lên tới 605, 025.” Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1975.” (Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004), tr 432.

 “Khi thành lập chính phủ cũng như trong những lần cải tổ nội các, Ngô Đình Diệm đều không muốn có sự tham dự của Phan Huy Quát, một lãnh tụ Đại Việt cũng được Hoa Kỳ tin cậy. Trong cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến tháng Ba 1956, ứng cử viên đối lập Phan Quang Đán đắc cử nhưng không được công nhận vì “gian lận”, và bị thua ứng cử viên chính phủ trong lần bầu lại. Năm 1959, ông Đán ra tranh cử lần nữa và trúng cử với đa số phiếu nhưng vẫn bị loại vì ”vi phạm luật bầu cử.” Một ứng cử viên đối lập khác là Nguyễn Trân cũng đắc cử với ông Đán ở Sàigòn cũng bị loại cùng một lý do.” [5]

Đến đây, thiết tưởng cũng nên nói sơ qua về tiểu sử ông Gia-tô Ngô Đình Diệm. Thân phụ của Ngô Đình Diệm là tên đại Việt gian Gia-tô Ngô Đình Khả. Ngô Đình Khả được Giáo Hội La Mã đưa sang chủng viện Pénang huấn luyện làm nghề thông ngôn một thời gian rồi được đưa về Việt Nam tiếp tay cho Liên Minh Pháp – Vatcian đặc trách việc dẫn đường chỉ điểm trong những chiến dịch tấn công đánh chiếm Việt Nam và những chiến dịch tiêu diệt các lực nghĩa quân kháng chiến Việt Nam. Một trong những tội ác của Ngô Đình Khả là cùng với Nguyễn Thân dẫn quân thập tự bản địa đi đánh phá và tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến Văn Thân của cụ Phan Đình Phùng ở Vụ Quang. Sau khi cụ Phan đã qua đời vì bệnh kiết lị, lực lượng nghĩa quân Văn Thân suy yếu, Nguyễn Thân và Ngô Đình Khả thừa thắng xông lên tiến chiếm căn cứ nghĩa quân và đào mả cụ Phan lấy xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc súng bắn xuống sông Lam Giang theo đúng truyền thống của đạo Gia-tô. [6]

Do thành tích dã man này mà Ngô Đình Khả được giặc thăng quan, cho nắm giữ chức Tổng Quản Cấm Vệ Thành với nhiệm vụ vừa theo dõi ông vua bù nhìn Thành Thái vừa biến ông vua gỗ này thành một tín đồ Gia-tô. Nhờ làm việc đắc lực cho liên minh giặc và nắm giữ chức vụ Tổng Quản Cấm Vệ Thành, đàn con của Ngô Đình Khả cũng được ban thưởng nhiều đặc quyền đặc lợi. Ngô Đình Khôi được cho làm quan tri phủ Tùy An cho giặc vào năm 1917, năm 1920 được thăng lên chức Bố Chánh Bình Định, năm 1926 thăng lên chức Tuần Vũ Quảng Ngãi, tới năm 1930 được đưa lên giữ chức Tổng Đốc Quảng Nam. Ngô Đình Thục được cho đi học làm linh mục rồi được thăng chức giám mục vào năm 1938. Ngô Đình Diệm đuợc hưởng qui chế tập ấm, được đặc cách cho theo học Trường Hậu Bổ và sau đó được bổ nhậm làm tri huyện huyện Hải Lăng, rồi được thăng chức vù vù, tới năm 1932 được cho giữ chức Thượng Thư Bộ Lại. Ngô Đình Nhu được gửi đi du học ở Pháp.

Bản thân Ngô Đình Diệm cũng là một tên Việt gian làm việc đắc lực cho liên minh giặc (Pháp – Vatican) với những hành động cực kỳ dã man đối với nhân dân ta. Thành tích nổi tiếng nhất của Diệm là trói cột các tù nhân chính trị (các nhà ái quốc bị liên minh giặc bắt được) vào một chiếc ghế có khoét lỗ ở ngay chính giữa chỗ ngồi, rồi đốt đèn cầy (nến) ở dưới để tra khảo nạn nhân lấy khẩu cung. Đây là thời gian còn được Pháp tin cậy. Sau này, Vatican bắt đầu trở cờ kết thân với Phát Xít Ý, rồi Đức Quốc Xã ở Âu Châu khiến cho Liên Minh Pháp – Vatican ở Âu Châu có chuyện cơm không lành canh không ngọt. Cũng vì thế mà có sự tranh chấp quyền lực giữa đám Việt gian làm tay sai cho Pháp là nhóm ông Phạm Quỳnh và đám Việt gian làm tay sai cho Vatican là nhóm đàn con Ngô Đình Khả và hậu quả là Ngô Đình Diệm bị Pháp cho về vườn. Bị thất thế, Diệm quay ra tìm cách liên lệ với tên Gia-tô Cường Để (đang là con bài của Nhật và đang ở Đông Kinh) trong mưu đồ bán nước cho Nhật.

Vì đã biết rõ bộ mặt thật của Vatican với kinh nghiệm lịch sử ở ngay chính quốc Nhật từ thế kỷ 17 (sẽ nói rõ ở Phần IV trong tập sách này), cho nên khi hất Pháp ra khỏi sân khấu chính trị Việt Nam vào chiều tối ngày 9/3/1945, Nhật cương quyết giữ ông Bảo Đại làm vua gỗ cho Nhật, và dùng ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng, chứ nhất định không đưa ông Gia-tô Cường Để về làm vua bù nhìn và cũng không dùng Gia-tô ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng dù rằng hai ông Gia-tô này đã thậm thụt chạy chọt với Nhật đã từ nhiều năm trước.

Năm 1954, nhờ có Tòa Thánh Vatican chạy chọt với siêu cường Hoa Kỳ, Ngô Đình Diệm được đưa về Việt Nam cầm quyền làm tay sai cho cả hai thế lực này. Như vậy là cả đời hai cha con Ngô Đình Khả và Ngô Đình Diệm đều cùng là Việt gian phản quốc. Tới khi được Vatican và Hoa Kỳ cho lên cầm quyền, Diệm lại tiếp tục làm hàng ngàn việc làm bất chính khác. Việc làm bất chính đầu tiên của Diệm là gian lận bầu cử như đã nói trên. Diệm không những đã gian lận (vi phạm luật bầu cử) mà lại còn vu cáo cho các ông Phan Quang Đán và Nguyễn Trân “vi phạm luật bầu cử”. Như vậy, Ngô Đình Diệm không những đã hành động bất chính, mà còn can tội “cáo gian”. Ngòai những việc làm bất chính trên đây, trong gần chín năm cầm quyền, anh em Ngô Đình Diệm và băng đảng Giám-mục và Linh-mục Gia-tô di cư Bắc Kỳ còn làm cả hàng rừng việc làm bất chính khác. Trong cái rừng việc làm bất chính này là lạm dụng quyền thế, Gia-tô hóa chính quyền và cảnh sát hóa bộ máy cai trị. Chế độ ra công thiết lập những tổ chức mật vụ, công an, lực lượng đặc biệt như thiên la địa võng, giết hại những nhà ái quốc thuộc các đảng phái chính trị đối lập. Trong nỗ lực Gia-tô hóa đất nước, chính quyền dùng tiền công quỹ, quân đội và nhân lực chính quyền tổ chức đại lễ hiến dâng nước Việt Nam cho Giáo Hội La Mã vào tháng 2 năm 1959, tàn sát dân lương bất khuất không chịu theo đạo Gia-tô. Chính quyền đã lừa gạt Hoa Kỳ trong chương trình cải cách điền địa (mua lại ruộng đất của điền chủ lớn để phân phối cho tá điền mà không rớ tới 370 ngàn mẫu ruộng của Giáo Hội La Mã), cướp đọat tài nguyên quốc gia, kinh tài bất chính, bóc lột nhân dân, ăn chặn tiền ngọai viện, v.v….

Đến đây, chúng ta thấy rõ cái quy luật lịch sử “bất chính tất nhiên sẽ sinh ra hàng ngàn bất chính khác…”  áp dụng cho trường hợp ông Ngô Đình Diệm và chế độ đạo phiệt Gia-tô của ông ta đúng phóc trăm phần trăm, không sai một li nào.  


[1] Richard J. Hardy, Government In America (Boston, MA: McDougal Litell/Houghton Mifflin, 1996), p 6.

[2] Beranrd B. Fall, The Two Vietnams (New York: Ferederick A. Praeger,1964), tr 18.

[3] Trần Trọng Kim, Nho Giáo Tập 1 (Bộ Giáo Dục, 1971), trang 132 (Ấn bản Tân Việt, tr 168.

[4] Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1975  ( Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004), tr 206 và 210

[5] Ibid., tr 437.

[6] Cũng nên biết đạo Gia-tô có truyền thống trả thù người đã chết bằng cách đào mà nạn nhân lấy xác đốt thành tro đã có ở Âu Châu từ thời Trung Cổ: 

Vào thế kỷ 13, dân vùng Toulouse, miền Nam nước Pháp ngày nay, nhận thấy Jehovah (Chúa Cha) độc ác, đúng là quỉ Satan mạo nhận là thiên chúa, chớ không phải là thiên chúa thật. Họ thấy vị thần ấy gớm ghiếc quá, bỏ không thờ nữa tuy họ vẫn kính thờ Jesus; họ lập thành giáo hội Cathari. Giáo Hội Công La (Công Giáo La Mã) kết họ tội tà đạo. Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh thánh chiến để diệt họ. Vua chúa ở miền Bắc đất Pháp, ở đất Đức tuân lời, phái binh lính đến làm thành thập tự quân để đánh bọn tà đạo. Rât đông tín đồ Giê-su phe giáo hoàng tới trợ lực thập tự quân. Đám quân này, dưới quyền giáo sĩ Arnaud Amauri, đại diện giáo hoàng, bao vây thành Béziers. Thành bị hạ ngày 22/7/1209, toàn dân ở trong thành bị giết hết, kể cả đàn bà, trẻ con. Tòa án đạo Jesus theo đuổi trừng phạt cả những người bị kết tội là tà đạo dù họ đã chết. Chẳng hạn, năm 1309, tòa án đạo Jesus ở Carcassonne cho đào mả bẩy người phạm tội tà giáo móc xác lên đốt đi; của cải của họ bị tịch thu, dòng dõi họ bị trừng phạt.”  Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (Wesminster, CA: Đồng Thanh & Văn Nghệ, 1996), tr 132-133.  

Cõ lẽ vì truyền thống này, các Tòa Án Dị Giáo (Inquisitions) của Giáo Hội La Mã mới xử tử những người bị kết án là “tà giáo” bằng cách trói nạn nhân vào một cái cọc, rồi chụm củi khô và châm lửa hỏa thiêu.

 

 

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Copyright web Giao Điểm. Thư từ, bài vở xin gởi về: giaodiem@giaodiem.com