205-giaodiem.gif (5834 bytes)
posted: 19.2.2005

NHỮNG TÀN PHÁ CỦA CHẤT ĐỘC DA CAM

[Les Ravages De L’agent Orange]
Par: Pierre Journoud
Chargé de Recherches au Centre d’Études d’Histoire
de la Défense (CEHD)
Người dịch: Trần Chung Ngọc

Vài Lời Nói Đầu Của Người Dịch:

Vào thượng tuần tháng 4, 2004, nhân dịp phải sang Paris có việc gia đình, tôi mua được tờ báo “Les Collections de L’Histoire” (tạm dịch là Những Bộ Sử), số 23, Avril-Juin 2004, viết đặc biệt về Việt Nam với chủ đề Đông Dương - Việt Nam: Chính Sách Thuộc Địa, Chiến Tranh và Cộng Sản (Indochine – Vietnam: Colonisation, Guerres et Communism), với những bài viết có giá trị về lịch sử Việt Nam, từ chính sách thực dân và sự xâm chiếm Việt Nam của Pháp làm thuộc địa, đến cuộc chiến nhơ bẩn (La Sale Guerre) của Mỹ ở Việt nam, cho đến xã hội Việt Nam ngày nay với 80 triệu dân.  Trong số những bài viết này có nhiều bài mà tôi muốn dịch, nhưng tôi e rằng có những việc làm ưu tiên hơn, nên chỉ có thể dịch nếu tôi có thì giờ:   

Bài Thảm Bại Điện Biên Phủ (Le Désastre de Dien Bien Phu) của Jean Lacouture, một tác giả có uy tín, rất quen thuộc đối với người Việt Nam qua những tác phẩm viết về Việt Nam; hai bài của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn Giảng Danh Dự tại đại học Denis-Diderot- Paris-VII. (Maitre de Conférences Honoraire à L’Université Denis-Diderot-Paris-VII): bài Một Thế Kỷ Thuộc Địa (Un Siècle de Colonisation) và bài L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh (tạm dịch là Người Trở Thành Hồ Chí Minh); bài Người Mỹ ở Việt Nam: Bộ Máy Nghiền Thịt (Les Américains au Vietnam: l’Engrenage) của Jacques Dallos, Thạc Sĩ Sử Học, Tiến Sĩ Sử Học; bài Chiều Sâu của “Cuộc Chiến Nhơ Bẩn” (Au Coeur de la “Sale Guerre”) của André Kaspi, Giáo Sư Đại Học Paris-Panthéon-Sorbonne; bài Những Tàn Phá Của Chất Độc Da Cam (Les Ravages de L’Agent Orange) của Pierre Journoud, Giáo Sư Nghiên Cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Sử Bộ Quốc Phòng (Chargé de Recherches au Centre d’Études d’Histoire de la Défense (CEHD); và bài 80 Triệu Người Việt Nam (80 Millions de Vietnamiens), cuộc phỏng vấn Philippe Papin, Giám Đốc Nghiên Cứu tại Trường Thực Hành Học Vấn Cao Cấp (Directeur d’Études à l’École pratique des Hautes Études).

Đọc những bài nghiên cứu sử ở trên, chúng ta thấy rằng giới khoa bảng Pháp quả thật là xứng đáng với học vị của mình.  Họ phê bình cuộc chiến nhơ bẩn của Mỹ ở Đông Dương nhưng họ cũng không nhân nhượng với chính sách thuộc địa không kém nhơ bẩn của Pháp ở Đông Dương.  Thái độ lương thiện trí thức này khiến người đọc phải khâm phục.

Vì năm 2004 là năm kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ nên hồi cuối tháng Tư, đầu tháng Năm, 2004, tôi đã dịch xong bài Thảm Bại Điện Biên Phủ (Le Désastre de Dien Bien Phu) của Jean Lacouture và định đưa lên trang nhà Giao Điểm.  Bài này cho chúng ta những nét chính về biến cố Điện Biên Phủ, không có những chi tiết lặt vặt rườm rà, nhưng cũng đủ để chúng ta có một cái nhìn tổng quát về những hoạt động chính trị và quân sự của Pháp và Mỹ để cuối cùng đưa tới sự thảm bại ở Điện Biên Phủ.  Đối chiếu với những tài liệu tôi đã đọc về Điện Biên Phủ của những tác giả có thể coi như là trung lập, chuyên dựa vào việc phân tích sự việc, tôi thấy bài của Jean Lacouture rất đứng đắn, khó có ai có thể phủ nhận giá trị học thuật của tác giả. Chưa kịp gửi đăng trên trang nhà Giao Điểm thì vì đọc và góp vài ý kiến về bài “Từ Điện Biên Phủ Đến Geneva” của Tiến sĩ Sử Học Chính Đạo nên tôi đã giữ lại, không muốn đăng lên trang nhà Giao Điểm ngay khi đó, vì có vài vấn đề tế nhị giữa tình quen biết của tôi và sử gia Chính Đạo.

Nay nhân đọc Lời Giới Thiệu của Giao Điểm và đọc cuốn “Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam” của Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn, tôi xin dịch bài Những Tàn Phá Của Chất Độc Da Cam (Les Ravages de L’Agent Orange) của Pierre Journoud, Giáo Sư Nghiên Cứu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Sử Bộ Quốc Phòng (Chargé de Recherches au Centre d’Études d’Histoire de la Défense (CEHD), gọi là để góp thêm một chút tài liệu về di hại của chất độc da cam ở Việt Nam của một học giả Pháp.

*

NHỮNG TÀN PHÁ CỦA CHẤT ĐỘC DA CAM
Par: Pierre Journoud
(Les Collections de L’Histoire, pp. 80-81

Ngay lúc Hoa Kỳ tìm kiếm những vũ khí giết người hàng loạt ở Iraq, một ấn phẩm đã được xuất bản, kết toán những độc hại của chất độc da cam, chất khai quang đã được dùng một cách đại qui mô,trong khoảng 1962-1971, bởi quân lực Mỹ ở Việt Nam. Khoảng từ 2 đến 5 triệu thường dân có thể đã bị nhiễm độc.

[Au moment où les États-Unis recherchaient des armes de destruction massive en Iraq était publié un nouveau bilan des dégâts causés par l’agent Orange, ce défoliant massivement largué, entre 1962 et 1971, par l’armée américaine au Vietnam. Entre 2 et 5 millions de civils pourraient avoir été contaminés.]

Năm 2000, nhiều nhà nghiên cứu Mỹ và Việt đã chính thức phối hợp những nỗ lực của họ để kết toán một cách chính xác những hệ quả tác hại của chất độc da cam đã trải trên miền Nam Việt Nam từ 1962 đến 1971.  Từ đó, vì không có sự thôi thúc quyết định ở cấp các quốc gia (faute d’une impulsion décisive au niveau des états), những hi vọng chính đáng của những hứa hẹn đầu tiên mới chỉ được cất cánh lên một phần.

Nhưng sau một năm, vào tháng 4, 2003, nhiều khoa học gia ở Đại Học Columbia (Mỹ) đã tiết lộ những kết quả điều tra nghiên cứu của họ, bắt đầu từ những quyển ghi lịch trình các phi vụ của các phi công cộng với những kết quả nghiên cứu mới về sự truyền nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam.

Điều ngạc nhiên chính là: cho tới ngày nay, những con số thống kê về số lượng chất độc khai quang đã trải trên Việt Nam, về dung lượng chất độc dioxin trong những thuốc khai quang, và số người bị nhiễm độc đều là những con số ước tính thấp.

Đối với Hoa kỳ, có một nguy cơ nghiêm trọng là phải thú nhận đã thi hành ở Việt Nam, theo nhận định của Đô Đốc Mỹ Elmo R. Zumwalt, chỉ huy các chiến dịch hải quân, “một cuộc chiến tranh thí nghiệm hóa học lớn nhất chưa từng có” (la plus grande guerre chimique expérimentale de tous les temps).   Và có bổn phận phải đền bù về phương diện đạo đức cũng như tài chánh. (Et de devoir en payer le prix moral et financier).

Ngày 30 tháng 11, 1961.  Chính thức là không còn chiến tranh Việt Nam.  Từ những thỏa hiệp Genève vào năm 1954, nước Việt Nam bị chia đôi bởi vĩ tuyến 17.  Ngoài Bắc là Cọng Sản Việt Nam.  Trong Nam, một chính quyền độc tài toàn trị được nâng đỡ bởi Hoa Kỳ, nhưng phải đối diện với một cuộc nội chiến âm ỉ, chưa bùng nổ, từ ngày tổng thống Ngô Đình Diệm bác bỏ cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.

Trong bối cảnh như vậy, tổng thống John F. Kennedy đã chấp thuận chiến dịch “Ranch Hand”.  Chương trình khai quang có một mục tiêu rõ ràng: khai quang những khu đất rậm rạp bao quanh các căn cứ đóng quân [của đồng minh] và những trục giao thông chính của kẻ thù ở Nam Việt Nam để cho Mỹ dễ bề hành động quân sự.

Năm sau, 1962, tổng thống Kennedy leo thang chiến tranh hóa học tuy rằng chịến tranh hóa học bị cấm bởi quy ước Genève năm 1925:  ông ta cho phép hủy diệt hoa mầu cung cấp thực phẩm cho những lực lượng địch. 

Trong khoảng từ 1962 đến 1965, chỉ có vài chất sát trùng được dùng bởi quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam.  Tên chất sát trùng được gọi theo màu sơn ngoài thùng chứa: hồng, xanh v..v..

Nhưng từ năm 1962, chiến tranh Việt Nam mở rộng.  Lyndon B. Johnson, tiếp nối Kennedy làm tổng thống trong tòa Bạch Ốc năm 1963, gánh trách nhiệm một chiến dịch oanh tạc liên miên Bắc Việt và gửi đến Nam Việt Nam những thủy quân lục chiến đầu tiên.  Ưu tiên dành cho việc xử dụng chất sát trùng độc hại nhất: chất độc da cam (l’agent orange).  Đó là một hỗn hợp của hai thành tố hóa học: chất 2,4-D (acide dichloro-phénoxyacétique) và chất 2,4,5-T (acide thrichloro-phénoxyacétique ).  Chất hỗn hợp này chứa một phó phẩm (sous-produit) rất độc: chất 2,3,7,8-TCDD, gọi là “dioxine” mà các khoa học gia nghi ngờ là sẽ vô cùng bền bỉ ở trong đất.

Trước mức độ trải chất độc trên miền Nam Việt Nam, một phong trào chống đối đã thành hình.   Sự chống đối mạnh nhất là ở Mỹ - tháng 2, 1967, một bản kiến nghị chống đối ký bởi trên 5000 khoa học gia Hoa Kỳ, và rồi lan rộng thành một cuộc vận động thế giới chống chiến tranh Việt Nam.

Nhưng chính là do một cuộc nghiên cứu năm 1965 bởi Viện Ung Thư Quốc Gia mà những kết quả chỉ được tiết lộ vào mùa thu năm 1969, đã mang đến một đòn ân huệ (coup de grace) cho chiến dịch “Ranch Hand”.  Cuộc nghiên cứu này chứng tỏ rằng một thành phần của chất độc da cam, chất 2,4,5-T, tác dụng trên những con chuột làm vật nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm, đã sinh ra những con quái chuột, chết yểu, và bị ung thư.  Một cuộc nghiên cứu mới chứng tỏ rằng chính chất TCDD (dioxine) là nguồn gốc độc hại của chất độc da cam.

Đầu năm 1970, một ủy ban nghiên cứu những chất sát trùng được thành lập ở Hoa Kỳ.  Kết luận của ủy ban là sự xử dụng những chất sát trùng này đã có sức tàn phá nhiều hơn là người ta thường tiên đoán: ½ rừng rú của miền Nam Việt Nam sẽ bị phá hại.  Nghiêm trọng hơn nữa, chất dioxine tồn tại trong hoa mầu đất đai, cây cỏ có thể có nhiều hệ quả rất nghiêm trọng trên sức khỏe của dân chúng, qua đường thực phẩm: một số khá cao những cấu tạo bất bình thường của các trẻ sơ sinh và trẻ con chết yểu đã xảy ra ở trong những vùng bị nhiễm chất độc da cam.

Tháng 4, 1970, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ quyết định ngưng dùng chất độc da cam, nhưng vẫn tuyên bố là không có gì chứng minh là có sự liên hệ giữa chất độc da cam và những quái thai trong các vùng được trải.  Quyết định ngưng dùng chỉ được thi hành vào năm 1971.

Để chứng tỏ thành tâm của Hoa Kỳ, tổng thống Gerald Ford ký nghị định-luật số 11850 vào tháng 4, 1975, theo đó thì Hoa Kỳ từ bỏ ý định là nước đầu tiên sẽ dùng những chất sát trùng cho mục đích quân sự.  Hoa Kỳ đã phá hủy những kho chất độc cuối cùng còn lại vào năm 1977.

Vào khoảng 77 triệu lít chất sát trùng đã được trải trên Nam Việt Nam từ 1961 đến 1971 – cao nhất là trong khoảng 1967-1969 – trên nhiều vùng rộng lớn; 65% là chất độc da cam, tối thiểu vào khoảng 365 ki-lô chất dioxine.

Ngày nay, chúng ta biết rằng chất dioxine, chất hóa học độc nhất mà loài người tạo ra (l’agent chimique le plus toxique que l’espèce humaine ait fabriqué), có thể làm con người nhiễm độc qua đường hô hấp, tiếp xúc và nhất là thực phẩm (tôm, cá, thịt, sữa).  Về mức độ nghiêm trọng của ảnh hưởng chất độc da cam trên sức khỏe con người, cuộc tranh luận chưa dứt khoát giữa các chuyên gia, như chúng ta thấy trong hội nghị ở Stockholm về những ảnh hưởng của chiến tranh ở Cam-bod, Lào và Việt Nam (Tháng 7, 2002), nhưng người ta e rằng nó có những ảnh hưởng độc hại nhất.

Kết toán về ảnh hưởng độc hại của chiến dịch “Ranch Hand” khó mà có thể thiết lập một cách chính xác.  Về phương diện môi sinh, chiến dịch này đã làm cho đất đai hết đi mầu mỡ, và không còn các loại sinh vật cũng như các loại cây cỏ trong các vùng mà ngày xưa chúng đã từng có rất nhiều.  Nông nghiệp trong các vùng này bị nhiễu loạn trầm trọng.

Kết toán về sinh mạng con người cũng còn trong vòng bàn cãi.  Nhưng công cuộc nghiên cứu của đại học Columbia (Mỹ) đã đưa ra những con số ở mức cao: hơn 3000 làng trực tiếp bị ảnh hưởng của chất độc da cam qua khoảng 10000 phi vụ trải thuốc độc khai quang, và như vậy, cộng với ảnh hưởng của gió, thì trong khoảng từ 2.1 đến 4.8 triệu người dân bị nhiễm độc trên một dân số được ước tính là 17 triệu ở miền Nam.  Và để cho được đầy đủ, chúng ta phải thêm vào đó số nạn nhân ở Lào và Cam-bod mà cho đến ngày nay cũng chưa biết rõ, nhưng chắc chắn là ít hơn ở Việt Nam.

Trong số những người bị nhiễm độc của chất độc da cam, nhiều đứa trẻ bị dị tật bẩm sinh, thiếu một bộ phận trong thân thể, bị hội chứng Down, ung thư phát triển sớm, điếc, câm v..v..

Chỉ tới tháng 2, 2000, chính phủ Việt Nam mới quyết định trợ cấp, một cách tượng trưng, cho những nạn nhân chất độc da cam.  Sự hầu như im lặng về vấn đề này của chính quyền có sự giải thích của họ: xét về mọi mặt, lợi ích mà Việt Nam có thể rút tỉa từ sự thân thiện với một cường quốc bậc nhất trên thế giới thì nhiều hơn là một sự bất hòa...Về phía chính phủ Washington, họ cho rằng họ không thể làm gì khi mà không có các bằng chứng y khoa bất khả phủ bác.

Người Việt Nam có một đồng minh ngay trên đất Mỹ: những cựu chiến binh Hoa Kỳ trong cuộc chiến ở Việt Nam.  Thật vậy, ở Hoa Kỳ, hơn 100000 (một trăm ngàn) cựu chiến binh bị ung thư vì nhiễm chất độc da cam, 3000 con cái họ bị dị tật bẩm sinh trầm trọng.  Những cựu chiến binh này đã lên án những hãng của Mỹ sản xuất thuốc khai quang (Dow chemical, Mosanto) và các hãng này đã phải xuất ra, năm 1984, 180 triệu đô-la để đền bù cho khoảng 20000 nạn nhân.

Không đủ để đưa những người Mỹ đến chiến thắng (À défaut d’avoir conduit les Américains à la victoire), cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam ít ra cũng làm cho lương tâm thế giới thức tỉnh trước những ảnh hưởng của những loại vũ khí này.  Từ sự thành lập một ủy ban đặc biệt của Liên Hiệp Quốc năm 1972 phụ trách vấn đề giải trừ vũ khí hóa học cho đến khi thành hình một tổ chức có nhiệm vụ ngăn cấm vũ khí hóa học, năm 1979, những sự tiến bộ đã rõ rệt.

Chỉ còn lại vấn đề là, cho phép dùng những vũ khí hóa học một cách bừa bãi ở Việt Nam, cơ quan Hành Pháp Mỹ không thể không biết là họ đã tạo ra một tiền lệ nguy hiểm.

 [Theo những tài liệu tôi đã đọc, tôi thấy cần phải thêm ít chi tiết về sự kiện này.  Trong cuốn “Chất Độc Màu Da Cam Và Cuộc Chiến Việt Nam”, Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn viết, trang 35: “Ngày 30 tháng 11 năm 1961, Tổng thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mĩ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam.  Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống Việt Nam (Cộng Hòa) ủng hộ nồng nhiệt..”.  Giáo sư Tuấn viết đúng nhưng chưa đủ về tội ác của Ngô Đình Diệm.  Trong cuốn “Chemical & Biological Warfare: America’s Hidden Arsenal”, Anchor Books, New York, 1969, tác giả Seymour M. Hersh viết trong Chương 6, “Chiến tranh hóa học và sinh học ở Việt Nam”, như sau:

“Vào cuối năm 1961, một viên chức cao cấp của Bộ Quốc Phòng Mỹ lần đầu tiên tới Nam Việt Nam.   Chương trình khai quang, nhắm vào phá hủy rừng rậm dùng làm nơi trú ẩn của Việt Cộng, đã bắt đầu từ tháng 10, và viên chức này muốn đích thân đến thị sát kết quả.  Sau đó ông ta thuyết trình cho Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Viên chức trên ghi nhớ: Diệm “lấy ra một bản đồ lớn và bắt đầu chỉ cho tôi biết là Việt Cộng đã kiểm soát bao nhiêu phần đất ở miền Nam.  Về sau tôi biết rằng đó là mẫu mực thuyết trình của Diệm cho tất cả các viên chức đến thăm Việt Nam

Quan điểm của Diệm là dùng thuốc khai quang để cho kẻ thù không còn nơi trú ẩn thì hay và tốt (well and good), nhưng để có sự hữu hiệu thực sự thì thuốc khai quang phải được dùng để hủy diệt hoa mầu ngũ cốc của Việt Cộng” (Diem’s point was that the use of defoliants to deny the enemy jungle cover was well and good, but to really effective the chemicals had to be used against the Viet Cong’s crops).

Viên chức của Ngũ Giác Đài nói: “Đây không phải là điều chúng tôi muốn, nhưng chúng tôi đã bắt đầu dùng thuốc khai quang để phá hại mùa màng.”

[updated ngày 25/2/2005, bỏ 3 dòng cuối vì có sự nhầm lẫn của web GĐ. Chân thành cáo lỗi với độc giả]

 

04-print.gif (107 bytes) In ra    @

04-top.gif (163 bytes) top page

 

Home 

© Giao Điểm.  Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com