
posted: 05.02.05
Trần
Chung Ngọc trích dịch: Trong cuốn A New Christianity For A New World (Một Ki-tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới), Chương 10, từ trang 171 đến trang 184, với đầu đề “Beyond Evangelism and World Mission To a Post-Theistic Universalism”, Giám mục John Shelby Spong đã viết về chính sách và kết quả truyền đạo của Ki-tô Giáo trên thế giới. Giám mục Spong đã phục vụ 45 năm trong Giáo hội Tân Giáo (Episcopal = Giáo hội Ki-tô Anh ở Mỹ) và ngày nay vẫn là một giám mục trong giáo hội này. Ông là người có tư tưởng rất tiến bộ. Những sách ông viết về Ki-tô Giáo nói chung đều thuộc loại sách bán chạy nhất. Một trong những cuốn sách này có tên “Tại Sao Ki Tô Giáo phải Thay Đổi Không Thì Chết?” (Why Christianity Must Change or Die?). Giám mục Spong đã được mời lên TV nhiều lần để bày tỏ tư tưởng của ông, và đã được mời đến thuyết trình ở nhiều đại học. Trong phần mở đầu của cuốn A New Christianity For A New World (Một Ki-tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới), Giám mục Spong đã đưa ra một loạt khẳng định về những điều ông ta không tin về Chúa Cha (God) cũng như về Chúa Con (Dê-su). Tất cả những điều này nằm trong Kinh Thánh và trong giáo lý của các giáo hội Ki-tô. Sau đây là vài khẳng định điển hình trích trong cuốn sách trên, trang 3-7: “Tôi không định nghĩa
Thượng đế như là một đấng (a being = một sinh vật giống như con
người) siêu nhiên. Tôi không tin vào một vị thần có thể
giúp cho một quốc gia thắng chiến tranh, can thiệp và chữa khỏi bệnh tật
của con người, thay đổi thời tiết để làm lợi cho bất cứ ai. Tôi không nghĩ rằng điều thích hợp với
tôi là phải làm bộ (to pretend) tin rằng
những điều trên có thể xảy ra khi mà tất cả những điều tôi biết về
sự xếp đặt thiên nhiên của thế giới mà tôi sống trong đó chứng tỏ
là những điều trên không có thật. Vì tôi không coi Thượng đế như là một đấng, tôi không thể diễn giải Dê-su như là hiện thân dưới thế của vị thần siêu nhiên này, và tôi cũng không thể cho rằng ông ta có những quyền lực giống như của Thượng đế (God-like power) để làm những phép lạ như làm yên một cơn bão tố, đuổi quỷ, đi trên nước, hay biến năm ổ bánh để cho 5000 người, cộng với đàn bà và trẻ con, ăn đủ. Tôi không tin rằng cái
ông Dê-su này có thể, hay thực sự đã làm cho người chết sống lại, chữa
khỏi bệnh liệt đã chẩn định bởi y khoa, hay làm cho người mù sáng lại.
Tôi cũng không tin là ông ta có thể làm cho một người khi mới sinh ra đã
vừa câm vừa điếc nghe được. Tôi không tin rằng Dê-su đi vào thế giới
này bằng phép lạ sinh ra từ một nữ trinh, hoặc phép lạ này đã xảy
ra bất cứ ở đâu trừ trong những huyền thoại. Tôi không tin điều mà những người Ki Tô ăn
mừng vào dịp Phục Sinh là sự hồi lại của thân xác Dê-su sau khi đã chết
đi ba ngày, và tôi cũng không tin
là đã có một ai nói chuyện với Dê-su sau khi Dê-su sống lại, cho ông ta
ăn, sờ vào da thịt ông ta cũng như đi bộ cùng với ông ta. Tôi cũng không tin là sự sống lại của
Dê-su có những dấu hiệu như là động đất, sự loan báo của thiên thần,
hay là ngôi mồ trống. Tôi không tin rằng Dê-su, sau thời gian tại
thế, đã trở về với Thượng đế bằng cách bay lên thiên đường ở một
chỗ nào đó trên những tầng mây. Sự
hiểu biết của tôi về vũ trụ ngày nay đã khiến cho quan niệm trên trở
thành hoàn toàn vô nghĩa. Tôi không tin rằng Dê-su đã lập nên một
giáo hội hoặc ông ta đã thiết lập một hệ thống giáo quyền bắt đầu
với 12 tông đồ và truyền thừa cho đến ngày nay. Tôi không tin rằng ông ta đã lập ra những
bí tích như là những phương tiện ân huệ đặc biệt của Thượng đế và
những phương tiện ân huệ này là, và có thể là, bằng cách nào đó nằm
trong vòng kiểm soát của giáo hội, và chỉ có thể thực hiện bởi các
giáo sĩ. Tất cả những điều trên đối với tôi
chỉ là những toan tính của con người để tạo quyền lực cho mình và
cho định chế tôn giáo riêng của họ. Tôi không tin là con người sinh ra trong tội lỗi
và rằng, trừ phi đã được rửa tội hoặc cứu rỗi bằng cách nào đó,
họ sẽ bị vĩnh viễn không được hưởng nhan thánh Chúa. Tập trung việc sa ngã của của con người
vào trạng thái tội lỗi và dạy rằng tội lỗi này chỉ có thể cất bỏ
bởi thần quyền khôi phục đời sống con người về tình trạng tiền-sa-ngã
chưa bao giờ xảy ra, đối với tôi là những quan niệm kỳ lạ, chính là để phục vụ và tạo dựng quyền
lực cho một định chế tôn giáo. Tôi không tin rằng cuốn Kinh Thánh là những “lời của Thượng đế”. Tôi không coi nó như là nguồn mạc khải chính yếu của thần linh. Tôi không tin là Thương đế đã đọc cho con người viết cuốn Kinh Thánh và ngay cả gây cảm hứng cho con người viết nó. Đối với tôi, cuốn Kinh Thánh là sự pha trộn của trí tuệ cổ xưa của những nhà thông thái trong nhiều thế kỷ cới những giới hạn về nhận thức của con người ở một thời điểm đặc biệt của lịch sử nhân loại. Sự pha trộn này đã ghi vào lòng tin tôn giáo của chúng ta như là một chứng nhân lẫn lộn, tổ hợp nô lệ và giải thoát, bạo hành dị giáo và khám phá thần học, tự do và áp bức. “ 1 Có lẽ chúng ta không thể không đặt câu hỏi: “Tại
sao một Giám mục Ki-tô lại có thể bác bỏ hầu hết những niềm tin
trong Ki-tô Giáo về Thượng đế, về Dê-su, về Kinh Thánh v..v..”. Đối với những đầu óc của đa số tín
đồ Ki-tô Việt Đã có rất nhiều tài liệu nói về sự bành trướng của Ki-tô Giáo trên thế giới, nhưng phần lớn là của các học giả, chuyên gia nghiên cứu tôn giáo. Rất hiếm khi mà chúng ta thấy một bậc lãnh đạo trong Ki-tô Giáo nói về bản chất và thực chất sách lược truyền đạo của Ki-tô Giáo. Do đó, sau đây là phần trích dịch những đoạn liên hệ tới công cuộc truyền giáo của Ki-tô Giáo trên thế giới mà Giám mục John Shelby Spong đã viết trong cuốn A New Christianity For A New World . * Khi mà vị Thần trong quá khứ của chủ thuyết hữu thần
đã bị bác bỏ thì những lời tự nhận về quyền lực nhân danh Thần đó
cũng phải dẹp bỏ. Mục đích chính
trị chính của những lời tự nhận về quyền lực này là để cho một
định chế đặc biệt khẳng định là chỉ có định chế đó nắm giữ
trong tay chân lý, và cho rằng những người nào không ở trong cộng đồng
những người có cùng một đức tin đặc biệt đó thì bị lạc trong vòng
tối tăm của những sai lầm của chính họ.
Những lời tự nhận về quyền
lực này tăng gia áp lực cải đạo người khác vào trong cái định chế
đó bằng cách hứa hẹn những người sắp cải đạo một phần thưởng
“cứu rỗi” mà người nào không phải là “tín đồ sùng tín” hay ở
trong “giáo hội chân thật” thì không thể nào được hưởng. Hệ thống này vạch rõ cho tất cả những
ai còn buồn ngó vào hệ thống này, là ai “ở trong” và ai “ở ngoài.” Nó tạo nên một tâm cảnh hội tụ vào
thông điệp của hệ thống tín ngưỡng của định chế cho đến khi nó đạt
tới một cường độ nóng bỏng (a white-hot intensity). Nó gây nên truyền thống hệ phái và
riêng biệt, cho phép tôn giáo của một người nào đó cai quản mặc cảm
thiếu sót của người đó. Những lời
khẳng định duy nhất để cho “God của tôi và truyền thống của tôi”
(for my God and my tradition) đã là dấu chỉ đặc biệt của hệ thống tôn
giáo chủ trương bành trướng và truyền giáo trên khắp thế giới. Tất cả
những chủ trương này đều sẽ phải dẹp bỏ trong công cuộc cải cách mới. Cái tâm cảnh nhân bản và bộ lạc này nằm trong nội dung Kinh điển của mỗi hệ thống tôn giáo. Trong Do Thái Giáo, những khẳng định trên được ghi
trong 10 Điều Răn trong Kinh Torah (5 Kinh đầu trong Cựu Ước của Ki-tô
Giáo. TCN): “Ta là Chúa, vị Thần của các
ngươi đã mang các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, ra khỏi vòng nô lệ. Các ngươi không được thờ Thần nào
khác trước mặt Ta” (Exod. 20:2) (I am the Lord your God who brought you out of
the Trong Hồi Giáo, tính cách duy nhất của Hồi Giáo được khẳng định trong câu ca thiêng liêng của Hồi Giáo: “Chỉ có một God Allah mà thôi và Mohammed là tiên tri của ông ta” (There is but one God [Allah] and Mohammed is his prophet). Kinh Koran củng cố sự khẳng định này, biện minh cho những hành động tiêu cực đối với những người không phải là tín đồ Hối giáo là phù hợp với lời của Thần Allah. Jihad là tên của những hành động đó. Những khẳng định về tính cách duy nhất của Ki-tô Giáo thường được viện từ một câu trong Phúc Âm của John, một câu mà người ta cho là của Dê-su nói: “Ta là con đường, là sự thật và sự sống, không ai đến được với Cha Ta mà không qua Ta” (John 14: 6) [I am the way, and the truth and the life, no one comes to the Father but by Me). Cái chủ nghĩa đế quốc này và những sự đau khổ tuôn ra từ một câu trên thật quá lớn lao để có thể đo được. Cái tâm cảnh này cũng còn có trong khẳng định của hệ phái Ca-tô nhiều hơn là Tin Lành, rằng nhận một số bí tích của Ki-tô Giáo thì “cần thiết cho sự cứu rỗi” (necessary for salvation). Không có những bí tích đó, con người đã tự đánh mất mình, một số phận hiển nhiên là áp dụng cho toàn thể thế giới của những người phi-Ki-tô. Số phận của những người không rửa tội đã được bàn cãi trong truyền thống Ki-tô suốt trong chiều dài lịch sử của Ki-tô Giáo, nhưng không một người nào trong cuộc bàn cãi này ủng hộ việc bao gồm những người không rửa tội vào trong sự cứu rỗi, do đó những người này là những kẻ không được vào trong vương quốc của God. “Không có sự cứu rỗi ở ngoài giáo hội”, một câu thường nghe thấy trong vòng các giáo sĩ. “Giáo hội” (Church) trong câu trên rõ ràng có nghĩa là Giáo Hội Ca-tô Rô-ma chứ không phải là giáo hội chung (“Church” in this phrase clearly means the Roman Catholic Church, not the church catholic.). Đó là một tự nhận về quyền lực. Về phía Tin Lành của Ki-tô Giáo, rửa tội thường được hoãn để dùng như một hình thức nhập đạo, nhưng những lời tự nhận về tính cách duy nhất, tuy khác với Ca-tô Giáo, vẫn thường được dùng. Sự cứu rỗi trong truyền thống này đòi hỏi tín đồ phải “chấp nhận Dê-su là đấng cứu chuộc của riêng mình,” (accepting Jesus as one’s personal savior). Do đó thiên đường chỉ để cho những ai khẳng định đức tin đó. Mọi người khác đều sẽ không được cứu rỗi. Những người không rửa tội và những người không chấp nhận Dê-su là đấng cứu chuộc cho riêng mình sẽ phải đối diện với một sự trừng phạt chung cùng là vĩnh viễn không được hưởng nhan thánh Chúa hoặc vĩnh viễn bị đầy đọa xuống hỏa ngục... Những người Ki-tô giáo thường coi giáo hội như là một
đoàn quân đi chinh phục thế giới (an army out to conquer the world). Thêm vào đó, có những đòi hỏi tín đồ
phải làm cho toàn thể thế giới biết đến Dê-su, tin chắc rằng mình thuộc
đám người được Chúa chọn hoặc được cứu
chuộc. Tất cả những ý tưởng trên được bắt rễ
từ chủ thuyết hữu thần đế quốc (an imperialistic theism) đã từng dựa
vào các Phúc Âm, và khi mà chủ thuyết hữu thần chết, thì những ý tưởng
trên cũng phải dẹp bỏ. Đó là trạng thái tâm lý đã tạo thành dấu ấn của Ki-tô Giáo trong những thế kỷ qua. Dấu ấn này vẫn còn tồn tại trong sự khoa trương hoa mỹ của các giáo hội bảo thủ, Ca-tô cũng như Tin Lành. Nhiệm vụ của các tín đồ Ki-tô mà đức tin được định nghĩa bởi trạng thái tâm lý trên là phải làm những chứng nhân của Chúa đối với những người ngoại đạo. Họ có bổn phận long trọng là phải hỗ trợ các nhà truyền giáo, ngoại quốc cũng như bản địa, những người nhân danh giáo hội mang thông điệp cứu rỗi của đấng Ki-tô đến những người “ngoại giáo”, danh từ họ thường gọi những người phi-Ki-tô (non-Christians) trên thế giới. Không làm như vậy là bằng chứng chứng tỏ tín đồ không yêu Chúa đủ, hoặc không yêu những người lạc Chúa đủ. [Cũng vì vậy mà tiến sĩ Lê Anh Huy thách thức tôi đối thoại về thuyết Tiến Hóa và kết luận sự thách thức bằng câu “mong tôi trở lại với Chúa” tuy chưa bao giờ tôi lạc Chúa hay đã chấp nhận Chúa rồi bỏ Chúa như hàng ngàn linh mục, mục sư và hàng triệu tín đồ Ki-tô Giáo] Trong những thời đại trước, có rất nhiều chuyện thêu dệt về hoạt động truyền giáo của Ki-tô Giáo. Những nhà truyền giáo về nước nghỉ xả hơi đã gây sự thích thú trong đám tín đồ qua những câu chuyện mô tả sự thành công của họ và với những thống kê về số linh hồn đã kiếm được cho Chúa (regaled believers with tales of their successes and with statistics of souls won for Christ)... Đã có thời không ủng hộ những hoạt động bành trướng trên thì bị coi như là từ bỏ Ki-tô Giáo. Nhưng, nhìn kỹ và đúng vào cái xí nghiệp truyền giáo của giáo hội (A closer look and less romantic look at the missionary enterprise of the church) chúng ta sẽ thấy một mặt đen tối hơn của những niềm tin tôn giáo đó mà giáo hội không thấy rõ. Đối diện với cái mặt đen tối này là điều không thể tránh được, khi chúng ta muốn đi quá chủ thuyết hữu thần để đi vào thời kỳ hậu-hữu-thần (post-theism). Kenneth Scott Latourette, sử gia nổi tiếng về lịch sử
bành trướng của Ki-tô Giáo, coi thế kỷ 19 là “thế kỷ truyền giáo vĩ
đại” (great missionary century). Nhưng điều này không làm chúng ta không ghi
nhận là thế kỷ này cũng là thế kỷ thực dân vĩ đại của Âu Châu đi
chinh phục thế giới. Tìm kiếm những
tài nguyên thiên nhiên trên thế giới để tăng sự giầu có, những thế lực
chính của Âu Châu đã thống trị các miền đất kém mở mang, biến chúng
thành những phần của các đế quốc Âu Châu hoặc, ít nhất cũng là những
phần trong “vòng ảnh hưởng” của các đế quốc. Anh, Pháp, Hà Lan, và Tây Ban Nha là những nước thắng thế đầu tiên ở Bắc Mỹ trước khi ảnh hưởng của Anh chiếm ưu thế khắp nơi trừ Quebec và Mexico. Tây Ban Nha
và Bồ Đào Nha chia nhau Trung Mỹ và Nam Mỹ.
Sau khi Đức ra khỏi Phi Châu, lục địa đó trở thành thuộc
Pháp ở Bắc Phi và miền duyên hải phía Tây, thuộc Anh ở Trung Phi, và
ngay cả Congo cũng thuộc Bỉ. Ở Nam
Phi, Hà Lan và Anh tranh dành quyền lực, sau cùng Anh chiếm ưu thế. Bồ Đào Nha cắm dùi ở Anh là thế lực chính ở Trung Đông, kiểm soát kênh Hầu hết những sự biện minh cho những hành động thực
dân và chinh phục được giải thích bởi những lời khoa trương hoa mỹ tôn
giáo của Ki-tô Giáo. Những quốc gia Tây phương không phải là những
nước thù nghịch đi chinh mục mà là mang lại “văn minh và Ki-tô Giáo”
cho những dân tộc mọi rợ trong những vùng trên thế giới chưa được đến
ánh sáng của Ki-tô Giáo. Ngay cả
những chuyện bắt cóc và rồi nô lệ hóa những người Phi Châu để lao
động trong các đồng áng ở miền Tuy vậy, sự kiện là,
tất cả những hoạt động truyền giáo, hỗ trợ bởi thế lực kinh tế,
chính trị và quân sự của các quốc gia thực dân, tương đối không mấy
thành công. Bất cứ ở nơi nào mà có một truyền thống
tôn giáo mạnh, thống nhất, thí dụ như ở Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản
v..v.., sự len lỏi của Ki-tô Giáo vào các quốc gia này chỉ ở mức tối
thiểu. Hồi Giáo, tuy sinh sau Ki-tô
Giáo lâu, đã nhanh chóng tạo thành một lực lượng tôn giáo đáng kể, trở
thành tôn giáo quan trọng nhất không chỉ ở Trung Đông mà còn lan ra xa tới
Pakistan và Indonesia. Hồi Giáo cũng còn
đi vào Âu Châu - ở Tây Ban Nha và vùng đất nằm giữa Hi Lạp và nước
Ý, thường được biết dưới nhiều tên khác nhau như Yugoslavia, Macedonia,
Croatia, và Serbia. Ấn độ giáo vẫn là tôn giáo quan trọng nhất
của tiềm lục địa Á Châu, và cho đến ngày nay, Phật Giáo là tôn giáo
quan trọng vượt trội nhất ở Trung Quốc và Đông Đó là nhưng dữ kiện cho chúng ta thấy rất rõ là mục đích cải đạo thế giới cho đấng Ki-tô (Christ) đã là một sự thất bại ở khắp nơi, những lời khoa trương hoa mỹ của giới truyền giáo thường sai sự thật. Thật ra, ngày nay, Ki-tô Giáo có một tỷ lệ tín đồ nhỏ hơn là trong lịch sử lúc đầu của tôn giáo này. Tôi cho rằng những nỗ lực bành trướng cải
đạo đó đã sai lầm ngay từ ban đầu, vì những nỗ lực đó không gì hơn
là một sự ngụy trang của mưu đồ đuổi theo quyền lực, vật chất, bắt
nguồn từ quan niệm duy ngã (self-centered), mà chúng ta thừa hưởng từ quá
trình tiến hóa. Đó là những chiến
thuật để phục vụ một vị thần bộ lạc và nhập nhằng với uy quyền
của Phúc Âm. Nếu những người Ki-tô có đủ can đảm để cho những hoạt đồng truyền giáo cải đạo mà gốc rễ của nó là từ thời tiền hiện đại (pre-modern) chết đi một cách tự nhiên không than khóc, không luyến tiếc, không kéo dài hơi thở bằng những bộ máy nhân tạo (artificial respiration), thì sau đó chúng ta có thể khám phá ra những điều mà tôi cho hấp dẫn hơn nhiều ... Tư tưởng của chủ nghĩa thờ thần, nguồn hỗ trợ những hoạt động truyền giáo cải đạo, ngày nay đã chết. Người Ki-tô chúng ta biết rõ rằng chúng ta không nắm trong tay chân lý, chúng ta biết rằng chúng ta không nắm trong tay con đường duy nhất đi tới Thượng đế, vì không có con đường nào là con đường duy nhất cả. 1 I do not define God as a supernatural
being. I do not believe in a deity who can
help a nation win the war, intervene to cure a love one’s sicknessor, affect the weather for anyone’s benefit. I do not think it is appropriate for me to pretend
that those things are possible when everything I know about the natural order of the world
I inhabit proclaims that they are not. Since I do not see God as a being, I
cannot interpret Jesus as the earthly incarnation of this supernatural deity, nor can I
with credibility assume that he possessed sufficient Godlike power to do such miraculous
things as stilling the storm, banishing demons, walking on water, or expanding five loaves
to provide sufficient bread to feed five thousand men, plus women and children. I do not believe that this Jesus
could or did in any literal way raise the dead, overcome a medically diagnosed paralysis,
or restore sight to a person born blind... Nor do I believe he enabled one who was mute
and profoundly deaf since birth to hear. I do not believe that Jesus entered
this world by the miracle of a virgin birth or that virgin birth occur anywhere except in
mythology... I do not believe that the experience
Christians celebrate at Easter was the physical resuscitation of the three-days-dead body
of Jesus, nor do I believe that anyone literally talk with Jesus after the resurrection
moment, gave him food, touched his resurrected flesh, or walked in any physical manner
with his risen body... I do not believe that Jesus’
resurrection was marked in a literal way by an earthquake, an angelic pronouncement, or an
empty tomb. I do not believe that Jesus, at the
end of his earthly sojourn, returned to God by ascending in any literal sense into a
heaven located somewhere above the sky. My
knowledge of the size of this universe reduces that concept to nonsense. I do not believe that this Jesus
founded a church or that he established an ecclesiastical hierarchy beginning with the
twelve apostles and enduring to this day. I do
not believe that he created sacraments as special means of grace or that these means of
grace are, or can be, somehow controlled by the church, and thus are to be presided only
by the ordained. All of these things represent
to me attempts on the part of human beings to accrue power for themselves and their
particular religious institution. I do not believe that human beings
are born in sin and that, unless baptized or somehow saved, they will forever banned from
God’s presence...To concentrate on the fall of humanity into a state of sinfulness and
to suggest that this sinfulness can be overcome only by a divine initiative that will
restore human life to a pre-fallen status it never had are to me strange concepts indeed,
serving primarily, once again, to build institutional power. I do not believe that the Bible is the “word of God” in any literal sense. I do not regard it as the primary source of divine revelation. I do not believe that God dictated it or even inspired its production in its entirely. I see the Bible as a human book mixing the profound wisdom of sages through the centuries with the limitations of human perceptions of reality at a particular time in human history. This combination has marked our religious convictions as a mixed witness, combining both slavery and emancipation, inquisitions and theological breathrough, freedom and oppression. |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com