
posted: 05.02.05
Trần Mạnh
Hảo Trong
bộ giáo trình khá đồ sộ, khá công phu gồm hai tập, với gần một
nghìn trang sách của Phó Giáo Sư Nguyễn Lộc : " Văn học Việt Nam - nửa cuối thế kỷ thứ
XVIII, nửa đầu thế kỷ thứ XIX", do NXB Đại học và Giáo dục
chuyên nghiệp tái bản 1992, trong đó có chương thứ hai "Cung oán ngâm
khúc", từ trang 283 đến trang 316 còn khá nhiều điều bất cập, nhiều
nhận xét và đánh giá chưa tương xứng với giá trị đích thực của thi
phẩm lớn lao trên ( Bộ giáo trình này lại vừa được tái bản năm 1999
). Chúng tôi viết bài này nhằm trao đổi với PGS Nguyễn Lộc về chương
thứ hai "Cung oán ngâm khúc". Còn một số chương khác trong XII chương
của bộ giáo trình trên ví như những chương viết về "Chinh phụ ngâm",
"Truyện Kiều", Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát...
chúng tôi sẽ có bài phê bình trong một dịp khác. Với
"Cung oán ngâm khúc", quả tình Nguyễn Gia Thiều phần nào có bị
ảnh hưởng tinh thần và cảm hứng nghệ thuật nơi bản Việt ngữ "Chinh Phụ ngâm" của Đoàn Thị
Điểm dịch từ Hán tự của Đặng Trần Côn. Cũng như sau này, chúng ta
tìm thấy một phần ảnh hưởng của
hơi thơ lục bát Đoàn Thị Điểm và nhất là của Nguyễn Gia Thiều trong
"Truyện Kiều " của Nguyễn Du, góp phần đưa thể thơ này tới
tuyệt đỉnh nghệ thuật. Đoàn Thị Điểm phải thông qua bản chữ Hán của
Đặng tiên sinh mới có tuyệt tác song thất lục bát. Nguyễn Du phải
thông qua cốt truyện của Thanh Tâm tài nhân bên Trung Quốc mới có được
hồn Việt ngữ diệu kỳ của đại kiệt tác "Truyện Kiều". Nguyễn
Gia Thiều không cần thông qua một môi giới Trung Hoa nào cả, ông tự sáng
tác ra 356 câu thơ song thất lục bát tuyệt vời bằng chữ Nôm. Đấy là một
ưu thế, một nét nổi trội rất đáng ghi nhận của Nguyễn Gia Thiều so với
Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Du. Nguyễn Gia Thiều qua "Cung oán ngâm khúc
" với nghệ thuật cung đình, nghệ thuật quý tộc tột đỉnh, rất đài
các, hàn lâm kiểu "Trải vách quế
gió vàng hiu hắt", lại nâu sồng dân dã tựa "Lau nhau ríu rít cò con cũng tình", đã
làm một bước đột phá từ tâm thức Hán, thi pháp Hán sang tâm thức
Nôm, thi pháp Nôm. Đấy là công đầu, công khai mở lớn nhất của Nguyễn
Gia Thiều với quá trình phát triển của nghệ thuật thi ca Việt Trong
bài viết của mình, Nguyễn Lộc đã phần nào nhìn nhận giá trị nội
dung và "nghệ thuật bậc thầy" của "Cung oán ngâm khúc".
Tác giả cũng nhận ra giá trị hiện thực và nhân đạo trong nội dung,
cũng như giá trị của nghệ thuật quý tộc đặc trưng phong kiến nơi khúc
ngâm này, điều mà một số nhà nghiên cứu trước ông từng đặt ra. Tác
giả nhấn mạnh đến ý nghĩa nhận thức của thi phẩm, thông qua việc tố
cáo chế độ phong kiến tàn bạo, cũng như lòng thương cảm, xót xa của
Nguyễn Gia Thiều trước số phận hẩm hiu, đau xót của người cung nữ, một
tiếng kêu đòi quyền sống, quyền ân ái. Tuy nhiên, Nguyễn Lộc còn khá
nhiều đánh giá, kết luận, theo chúng tôi là chưa thoả đáng, chủ quan,
áp đặt, thiếu nhãn quan lịch sử tối
thiểu mà một nhà nghiên cứu văn học nhất thiết phải có. Chúng tôi xin
trích một số trong những đánh giá áp đặt của ông: ..."...Những kết luận của nhà thơ không chính
xác, không có ý nghĩa tích cực. Quan niệm về cuộc đời của Nguyễn Gia
Thiều phát biểu trong "Cung oán ngâm khúc" là sự tập hợp những
yếu tố tiêu cực nhất trong tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo. Đó là thứ tư tưởng thường thấy ở giai cấp phong kiến thống trị
trong thời kỳ suy tàn. Nhưng xét cho kỹ, phải nói những triết lý tiêu cực,
thậm chí có thể là phản động nữa, ở Nguyễn Gia Thiều không phải là
cứu cánh của nhà thơ..."(297)...."Nếu gạt đi phần sai lầm trong
nhận thức chủ quan của nhà thơ, "Cung oán ngâm khúc" vẫn cho ta một
ý niệm chân thực, sâu sắc về sự sụp đổ không phương cứu chữa của
xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Đấy là phần còn lại, phần giá trị
nhận thức trong quan niệm về cuộc đời của Nguyễn Gia Thiều trong
"Cung oán ngâm khúc" "(298)...Có thật "Những kết luận của nhà thơ không chính
xác, không có ý nghĩa tích cực. Quan niệm về cuộc đời của Nguyễn Gia
Thiều phát biểu trong "Cung oán ngâm khúc " là tập hợp những yếu
tố tiêu cực nhất của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Đó là thứ tư
tưởng thường thấy ở giai cấp phong kiến thống trị trong thời kỳ suy
tàn " như Nguyễn Lộc kết luận trên ư ? Dù có rào trước đón
sau, nhưng những kết luận áp đặt trên của Nguyễn Lộc với kiệt tác
"Cung oán ngâm khúc" quả tình không thể chấp nhận. Nếu chỉ bằng
kiểu phê bình xã hội học cực đoan như trên của Nguyễn Lộc thì ngay cả
Đặng Trần Côn-Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát...những con người từng bị chi phối bởitư
tưởng tam giáo, chắc thảy họ đều kết luận không chính xác, chắc đều
"không có ý nghĩa tích cực",
đều "tập hợp những yếu tố tiêu cực
nhất" như tác giả áp đặt trên trước tác của Ôn Như hầu ?
Ngay ở chỗ rốt ráo này, Nguyễn Lộc đã thiếu nhãn quan duy vật lịch sử,
nên mới lấy những tiêu chí, những hệ quy chiếu đương thời để áp đặt
lên tác phẩm văn học của thời đại trước. Thực ra, trong "Cung oán
ngâm khúc", ngoài một vài yếu tố tiêu cực như yếm thế, thậm chí
có chút hư vô, ta còn tìm ra rất nhiều mặt tích cực trong chính tư tưởng
nghệ thuật của tác phẩm như lòng thiết tha yêu đời, như tinh thần phản
kháng "muốn đạp đổ tiêu phòng mà ra", đạp đổ những tù hãm
của thời đại tìm đến tự do, vươn tới sự giải thoát toàn diện của
tinh thần Phật, Lão. Chúng tôi rất lấy làm lạ lùng khi PGS Nguyễn Lộc,
một người được coi là chuyên gia có hạng về văn học cổ Việt Nam trên
bục giảng đường đại học trên ba mươi năm nay, lại tỏ ra không hiểu
nổi từng câu thơ cụ thể trong kiệt tác "Cung oán ngâm khúc". Một
phần những câu thơ trong khúc ngâm của
Ôn Như hầu này khi được dẫn ra trong bài viết, đều bị tác giả giảng
giải, chú dẫn chưa đúng với tinh thần câu thơ. Chúng tôi xin dẫn một số
thí dụ làm bằng. Đây
là một đoạn phân tích thơ của Nguyễn Lộc :"Nguyễn Gia Thiều khai thác hình tượng theo cái
nghĩa đen tối nhất của nó. Tiếng khóc chào đời của trẻ thơ đối với
ông là tiếng khóc đưa ma cuộc đời:" Thảo nào khi mới chôn nhau / Đã
mang tiếng khóc ban đầu mà ra / Khóc vì nỗi thiết tha sự thế ..."(294).
Trời ơi, những câu thơ kiệt xuất trên lại được phân tích thành "Tiếng khóc chào đơi của trẻ thơ đối với
ông là tiếng khóc đưa ma cuộc đời" như thế thì làm sao tiếp nhận
được thi pháp thơ cổ Việt Nam "thi tại ngôn ngoại", nói vậy
không phải vậy. Nghĩa đen câu thơ đã hiện rõ như ban ngày, rằng vì cuộc
đời bể khổ, thảo nào khi mới sinh ra, đứa trẻ đã khóc lên chào đời,
chứ nào phải "khóc đưa ma cuộc đời"
như Nguyễn Lộc phân tích. Tiếng khóc của con người có thể được biểu
lộ ở nhiều trạng thái tình cảm trái ngược. Đau khổ mà khóc. Đến
khi đau khổ quá không còn khóc nổi thì lặng im. Hạnh phúc quá, sung sướng
quá cũng bật khóc. Nguyễn Công Trứ từng viết :" Khi vui muốn khóc buồn tênh lại cười "
đó sao ? Tiếng khóc chào đời của đứa trẻ trong câu thơ Ôn Như hầu
kia bao hàm cả hai yếu tố tình cảm đó, vừa sợ quá, thấy đời khổ quá,
vừa sung sướng quá vì được làm người mà khóc thét lên như muốn báo
hiệu rằng ta đã xuất hiện như một tồn tại không thể phủ nhận. Nhưng
trong nghĩa bóng câu thơ này, chính Nguyễn Gia Thiều đã hướng ta vào ý
nghĩa hạnh phúc quá, sung sướng quá mà khóc lên vì :"Khóc vì nỗi thiết tha sự thế ". Nỗi
"thiết tha sự thế" chính là nỗi niềm xuyên suốt kiệt tác này,
sao Nguyễn Lộc có thể giải thích thành "Tiếng khóc đưa ma cuộc đời" như vậy
được ? Xin hãy
nghe PGS Nguyễn Lộc giải thích rất sai những câu thơ khác của "Cung
oán ngâm khúc " bằng cách chê Nguyễn Gia Thiều không nắm được tâm
lý nhân vật như sau :"Hoặc kiêu căng
về nhan sắc mà nói một cách trắng trợn :" Bóng gương thấp thoáng
trong mành / Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa " thì không thể là
cách kiêu căng của phụ nữ trong xã hội phong kiến, mà chỉ có thể là
cách nói của những người đàn ông thuộc giai cấp bóc lột trong thời kỳ
suy tàn. Ngay cái ý nghĩ bực bội muốn thoát khỏi cảnh cung cấm của người
cung nữ mà diễn tả là :"Dang tay muốn dứt tơ hồng / Bực mình muốn
đạp tiêu phòng mà ra "...thì không phải chỉ cái thế của câu thơ, mà
ngay cái cử chỉ ấy, đúng như có nhà nghiên cứu nhận xét, nó phù hợp
với một võ tướng ( như Nguyễn Gia Thiều) hơn là với người cung nữ chân
yếu tay mềm "(292-293). Phàm những cung tần mỹ nữ được tuyển vào
cung, không ai là người không tự cho mình đẹp nhất, nên khi Nguyễn Gia
Thiều viết ra lời tự kiêu của người cung nữ như sau là rất đúng với
tâm lý nhân vật :" Bóng gương thấp
thoáng trong mành / Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa", sao Nguyễn
Lộc lại chê Nguyễn Gia Thiều "là
cách nói của những người đàn ông thuộc giai cấp bóc lột trong thời kỳ
suy tàn" như vậy được ? Câu thơ "Dang tay muốn dứt tơ hồng / Bực mình muốn
đạp tiêu phòng mà ra" là câu thơ hay nhất của "Cung oán ngâm
khúc " tả khát vọng tự do, muốn đạp đổ ngục tù "tiêu
phòng", "vách quế" của thời đại phong kiến của cung nữ và
của nhà thơ, biểu hiện tinh thần phản kháng, căm hận tộc cùng của con
người trước thực tại buồn đau, rất hợp với tâm lý nhân vật. Hẳn
chúng ta còn nhớ trong sử Trung Hoa có chép chuyện một số cung nữ đã nổi
dậy giết vua Gia Tĩnh triều Minh nhưng không thành đó sao ? Việc Nguyễn
Gia Thiều phổ nỗi phẫn uất, muốn đạp tung chế độ "cung nữ
" tàn bạo vào câu thơ kia là rất đúng tâm lý nhân vật, sao Nguyễn Lộc
lại cho rằng tinh thần câu thơ đó chỉ có trong viên võ tướng ? Một thí dụ khác về việc lời bình một
nẻo, câu thơ được bình một nẻo khi Nguyễn Lộc bình những câu thơ này
như sau :" thê thảm vất vưởng như bóng
ma không hồn :" Đất bằng bỗng rấp chông gai / Ai đem nhân ảnh nhuốm
màu tà dương"( tác giả trích sai câu thơ khi chữ "mùi tà dương"
lại chép thành màu tà dương)..."và
vô nghĩa vô vị đến cùng cực :"Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ mờ
nhân ảnh như người đi đêm "(295). Trước hết, chúng ta thấy Nguyễn
Lộc hiểu sai cả nghĩa đen câu thơ :"Đất
bằng bỗng rấp chông gai / Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dương" thành
"thê thảm, vất vưởng như bóng ma
không hồn " như thế ? Câu lục bát vào hàng tuyệt tác của thi ca
Việt Nam trong "Cung oán ngâm khúc " :" Cái quay búng sẵn trên trời / Mờ mờ nhân
ảnh như người đi đêm" ngoài triết lý Phật giáo ra còn là triết
lý, là tâm lý, thiên lý của đời sống con người, rất đa nghĩa, đa
thanh như thế chứ nào phải "vô nghĩa,
vô vị đến cùng cực " như Nguyễn Lộc giải thích ? Khi
trích thơ Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn
Lộc lại dẫn giải khá sai lạc tinh thần khổ thơ như sau :" Nhà thơ khi thì hậm hực, khó chịu : "Cuộc
thành bại hầu cằn mái tóc / Lớp cùng thông như đúc buồng gan / Bệnh trần
đòi đoạn tâm can / Lửa cơ đốt ruột , dao hàn cắt da "(296). Nguyễn
Gia Thiều phát hiện ra quy luật cuộc đời bằng cảm xúc thi ca chứ nào
ông có "hậm hực, khó chịu"
gì đâu ? Cũng như thế, nhà thơ hỏi để ngầm trả lời ngay sau đó rằng
cũng chỉ tại cơ trời, tại tạo hóa bày ra cả thôi, chứ nào Nguyễn Gia
Thiều có " hốt hoảng" gì đâu
mà Nguyễn Lộc lại viết như sau :" ...lúc
lại hốt hoảng, kêu lên :" - Ai bày trò bãi bể nương dâu ? - Ai đem
nhân ảnh nhuốm mùi tà dương ? "(296)...Có khi Nguyễn Lộc không hiểu
được tâm cảnh câu thơ Nguyễn Gia Thiều, không hiểu nổi tâm lý người
cung nữ với muôn nghìn thực hư, ảo vọng
được đẩy lên tột cùng ám ảnh dồn nén trong cả nỗi hạnh
phúc mong manh , nên vị PGS đã trách người cung nữ, cũng là trách cứ nghệ
thuật thể hiện của nhà thơ như sau :" Có lúc người cung nữ lại tỏ ra thỏa mãn
và sự thỏa mãn quá đáng nhiều kkhi hóa thành lố lăng, kệch cỡm
:"Dẫu mà tay có nghìn vàng / Đố ai mua được một tràng mộng xuân "(299)...v.v... Chính
vì chưa tiếp nhận được từng câu thơ cụ thể của kiệt tác này, lên
PGS Nguyễn Lộc, dù có lúc ca ngợi nghệ thuật "Cung oán ngâm
khúc" "là một nghệ thuật bậc thầy"(310),
lại dành cho nhà thơ quá nhiều đoạn chê bai cùng tận như thế này được : "Vả
lại, nhận thức của người cung nữ về cuộc đời làm sao giống với nhận
thức của Nguyễn Gia Thiều, một con người học vấn uyên bác, nhiều từng
trải, nhiều suy nghĩ ? Vậy mà nhà thơ muốn tất cả phải thống nhất lại
trong một hình tượng duy nhất. Kết quả là hình tượng người cung nữ của ông thiếu tính nhất quán và kết cấu
tác phẩm của ông có chỗ lỏng lẻo, xộc xệch."(291) "Nguyễn Gia
Thiều thiếu khách quan và nhất quán trong khi biểu hiện tâm trạng nhân vật.
Trong "Cung oán ngâm khúc" khi thì người cung nữ trực tiếp bộc lộ
tâm sự của mình, khi thì có vẻ như tác giả đứng ra miêu tả. Điều đó
hạn chế khả năng rung cảm của hình tượng văn học "(293). "
Nguyễn Gia Thiều muốn gửi gắm tâm sự của mình nhiều quá, cho nên nhiều
khi ông đem tâm lý cá nhân thay thế cho tâm trạng của nhân vật. Làm gì
người cung nữ dưới thời Lê Trịnh, hay bất cứ một thời đại nào
khác lại có cái hợm hĩnh, kiêu căng như
người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều ?"( 292). " Không ai là không
phục cái tài của nhà thơ, nhưng ai cũng thấy mệt mỏi vì một sự bão
hòa, thừa thãi "(313)."Một lối kết cấu đăng đối quá chặt chẽ
như vậy, lại được sử dụng một cách phổ biến , tất yếu sẽ gây ra
ấn tượng nặng nề "(308)." Có điều khác với Hồ Xuân Hương,
nghệ thuật biểu hiện bằng cảm giác của bà lành mạnh, khỏe khoắn.
Còn ở Nguyễn Gia Thiều nghệ thuật biểu hiện bằng cảm giác phần nào
có thiên hướng nhục cảm"(316). Những kết luận có phần phủ nhận
nghệ thuật trác việt của "Cung oán ngâm khúc" như trên của PGS
Nguyễn Lộc quả tình chỉ là những áp đặt chủ quan do chưa nắm được
tinh thần của kiệt tác trên,thể hiện việc hiểu chưa chính xác một số
câu thơ như đã dẫn. Chúng
ta vừa kỷ niệm hai trăm năm ngày mất của thi hào Nguyễn Gia Thiều,người
đã đóng góp cho kho tàng văn học Việt Nam một kiệt tác vô giá, có thể
sánh ngang với các thi hào bậc nhất của dân tộc. Do vậy, việc khôi phục
lại giá trị đích thực của "Cung oán ngâm khúc" trong nhà trường
từ bậc phổ thông tới đại học là việc làm cần kíp lắm thay.PGS Nguyễn
Lộc quả tình đã viết một giáo trình chưa xứng đáng với việc giảng
dạy một kiệt tác như trên nơi giảng đường đại học. Chúng tôi hoàn
toàn không tán thành quan điểm của ông khi đánh giá "Cung oán ngâm
khúc " như sau :" Người ta chiêm ngưỡng
nó mà không ham thích nó"(306). Không có sự "ham thích", say
mê, không thể có văn học. Bởi cái đẹp cuốn hút người ta trước hết
và sau cùng là sự "ham thích" vậy. "Cung oán ngâm khúc" một
giá trị vĩnh hằng của cái đẹp nghệ thuật mãi mãi sẽ còn được các
thế hệ Việt Nam không chỉ "chiêm ngưỡng", mà say mê, "ham
thích" như từng"ham thích" truyện Kiều, "Chinh phụ
ngâm" vậy.,.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14-8-1999
T.M.H. ( Rút
trong tập : “ Văn học –Phê bình-Nhận diện ( Hầu chuyện các giáo sư)
NXB VĂN HỌC –Hà Nội 1999) |
In ra @
© Giao Điểm. Bài vở, thư từ gởi về: giaodiem@giaodiem.com